Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần xây dựng Bình Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần xây dựng Bình Minh

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

  • Tên công ty: Công ty xây dựng Bình Minh
  • Địa chỉ: Phòng 1703, nhà 17T4, đường Hoàng Đạo Thuý, khu ĐTM Trung Hoà, Nhân Chính, Cầu Giấy, Hà Nội.
  • Vốn điều lệ: 80.000.000.000 (Tám mươi tỷ đồng)

Công ty cổ phần xây dựng Bình Minh được thành lập từ ngày 11/08/2002 có trụ sở chính ở quận Cầu Giấy – Hà Nội. Công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày 30/4/2004 với ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất gạch ốp lát ceramic

Chỉ sau hơn 4 năm hoạt động, Công ty đã có một bề dày thành tích trong sản xuất kinh doanh, công ty đã chiếm lĩnh một vị trí đáng kể trên thị trường gạch ốp lát. Năng lực sản xuất của nhà máy ngày càng nâng lên rõ rệt, doanh thu hàng năm không ngừng tăng cao: Năm 2005 tổng sản phẩm đạt 2,4 triệu mét vuông, doanh thu 76,5 tỷ; năm 2006 đạt 2,9 triệu mét vuông sản phẩm, doanh thu 96 tỷ; năm 2007 đạt hơn 4 triệu mét vuông sản phẩm, doanh thu 198 tỷ đồng.

Năm 2006, sản phẩm đã được giải thưởng Sao vàng đất Việt, quy trình sản xuất đạt chất lượng ISO 9001:2000. Sản phẩm gạch men đã được xuất khẩu sang các nước như Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc, Angeri, Úc…

Hiện tại Công ty có hai nhà máy đó là nhà máy gạch men Mikado và nhà máy gạch trang trí Mikado đặt tại Huyện Tiền Hải, Thái Bình

Trong thời gian tới Công ty tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển của mình đó là trở thành một trong các Công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng. Công ty sẽ đầu tư các nhà máy sản xuất gạch Granit, sứ vệ sinh, sứ mỹ nghệ xuất khẩu, men màu và chuyển giao công nghệ. Và Công ty đang từng bước khẳng định mình là một trong những thương hiệu mạnh nhất về gạch ốp lát trên thi trường Việt Nam.

2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty

  • Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty

Ghi chú:

  • GĐ SX: Giám đốc Sản xuất GĐ KD: Giám đốc Kinh doanh
  • KHSX: Phòng Kế hoạch Sản xuất PXSX: Phân xưởng Sản xuất PXCĐ: Phân xưởng Cơ điện
  • KD: Phòng Kinh doanh TKM: Phòng Thiết kế mẫu
  • TCKT: Phòng Tài chính Kế toán TCHC: Phòng Tổ chức Hành chính

Chủ tịch hội đồng quản trị

  • Là người có quyền hạn tối cao trong mọi quyết định của Công ty;
  • Chủ trì các cuộc họp quan trọng của HĐQT và các cuộc họp khác của Công ty; giám sát, kiểm tra các hoạt động điều hành Công ty của Ban Giám Đốc;
  • Là người duy nhất ký duyệt các khoản chi về tài chính và chịu trách nhiệm trước HĐQT và pháp luật về thu chi tài chính Công ty;
  • Báo cáo hoạt động kinh doanh về tài chính của Công ty hàng tháng trước HĐQT.

Giám đốc Sản xuất:

  • Tổ chức sắp xếp và điều hành hoạt động của các bộ phận chức năng, các bộ phận sản xuất làm việc theo đúng nội quy, quy định của Công ty;
  • Đề xuất các phương án quản lý, tuyển dụng nhân lực, mua sắm trang thiết bị, điều động tài sản, phương tiện vận tải, vật tư, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nhằm nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất;
  • Tổ chức sắp xếp các phòng ban, phân xưởng tuỳ theo yêu cầu phát triển, thu hẹp quy mô của đơn vị sau khi phương án tổ chức được phê duyệt. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Giám đốc Kinh doanh:

  • Điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty;
  • Kiểm tra giám sát các mặt công nghệ, sản phẩm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ hàng hoá theo các hợp đồng được ký kết với khách hàng;
  • Dự báo nhu cầu thị trường, đề xuất chiến lược sản xuất kinh doanh, kiểm soát tình hình, phê duyệt và ký các hợp đồng.

Phòng Kế hoạch Sản xuất:

  • Lập kế hoạch sản xuất và kế hoạch và kế hoạch giá thành sản phẩm theo tháng, quý, năm;
  • Lập kế hoạch và tổ chức cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại vật tư phục vụ cho sản xuất của Công ty;
  • Thực hiện công tác đầu tư, xây dựng cơ bản, công tác sửa chữa lớn nhỏ về thiết bị, nhà xưởng và các công trình khác của Công ty;
  • Phân tích, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch sản xuất, cung cấp vật tư, làm báo cáo theo định kỳ Báo cáo Giám đốc, Hội đồng quản trị và các đơn vị liên quan.

Phân xưởng Sản xuất:

  • Triển khai tổ chức sản xuất có hiệu quả theo kế hoạch sản xuất;
  • Chịu trách nhiệm quản lý, bảo đảm sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị, nhà xưởng;
  • Quản lý thành phẩm và bán thành phẩm theo đúng quy trình sản xuất;
  • Tham gia công tác kiểm tra, nghiệm thu nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất.

Phân xưởng Cơ điện:

  • Quản lý máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất gạch ốp;
  • Thực hiện công tác sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, nghiên cứu cải tiến để nâng cao hiệu suất làm việc của thiết bị.

Phòng Kinh doanh:

  • Nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại, lập kế hoạch, đề ra các chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm; Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.
  • Cố vấn cho Ban giám đốc về công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh các loại mặt hàng, thực hiện các dự án đầu tư, các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn theo yêu cầu của Công ty;
  • Soạn thảo các hợp đồng kinh tế, nhận các đơn đặt hàng;
  • Báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty hàng tháng, quý, năm trình Ban giám đốc.

Phòng Thiết kế mẫu:

  • Quản lý hồ sơ tài liệu về máy móc thiết bị, công nghệ sản phẩm;
  • Triển khai thiết kế sản phẩm mới, áp dụng sáng tạo và linh hoạt công nghệ khoa học kỹ thuật mới vào mẫu thiết kế;
  • Theo dõi, kiểm tra, giám sát về chất lượng sản phẩm, nguyên vật liệu, dụng cụ, thiết bị đầu vào phục vụ sản xuất.

Phòng Tài chính Kế toán:

  • Lập kế hoạch tài chính, tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của nhà nước, theo điều lệ hoạt động và hướng dẫn của Công ty;
  • Lập báo cáo tài chính phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh theo từng tháng, quý, năm. Báo cáo kịp thời, nhanh chóng, chính xác về tình hình tài chính của Công ty cho Ban Giám Đốc;
  • Tư vấn cho Ban Giám Đốc về các vấn đề tài chính, thuế.

Phòng Tổ chức Hành chính:

  • Tuyển dụng nhân sự phù hợp với yêu cầu của công ty, quản lý hồ sơ lý lịch, hợp đồng lao động của cán bộ công nhân viên toàn Công ty;
  • Đào tạo, quản lý, theo dõi tình hình chấp hành kỷ luật lao động, nội quy Công ty của người lao động;
  • Quản lý lao động tiền lương và các công tác khác liên quan đến người lao động; Thực hiện công tác hành chính trong Công ty theo quy định của nhà nước.

Nhận xét chung về cơ cấu tổ chức:

Với quy mô tổ chức tương đối lớn, Công ty cổ phần xây dựng Bình Minh có cơ cấu tổ chức khá hợp lý, đảm bảo đầy đủ các phòng ban phân chia theo chức năng và chuyên môn hóa theo nghiệp vụ, giữa các phòng ban có sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn.

2.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Công ty cổ phần xây dựng Bình Minh là công ty chuyên sản xuất gạch ốp lát ceramic mang thương hiệu Mikado được cấp chứng chỉ đạt tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 và tiêu chuẩn Châu Âu E159-1984. Ngoài sản phẩm chính là gạch ceramic, công ty còn có các sản phẩm sau bao gồm:

  • Gạch ốp
  • Gạch lát Ceramic
  • Gạch lát Granit
  • Gạch viền trang trí
  • Sơn tường nội – ngoại thất cao cấp
  • Sứ cách điện

2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

  • Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty năm 2022-2024

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty giảm dần qua các năm. Năm 2023 doanh thu giảm từ 150.199,17 triệu xuống còn 130.299,46, giảm tương ứng 13,25% so với năm 2022 và năm 2024 tiếp tục giảm mạnh 26,17% xuống 96.198,09 triệu đồng. Nguyên nhân do năm 2023 và 2024 được coi là một trong những năm kinh tê ́ thế giới gặp nhiều khó khăn. Kinh tế Việt Nam vì thế cũng không tránh khỏi tác động tiêu cực của kinh tế thế giới. Ngành bất động sản – xây dựng trầm lắng, Công ty cổ phần xây dựng Bình Minh chuyên sản xuất gạch ốp lát cũng vì thế mà gặp không ít khó khăn, dẫn tới tổng doanh thu giảm sút qua các năm. Trong khi đó Công ty thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng, không có chiến lược khuyến khích khách hàng tiêu dùng sản phẩm để cạnh tranh trên thị trường, làm giảm số lượng hàng bán ra. Công ty cần có chiến lược thích hợp để thu hút khách hàng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng doanh thu.

Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong ba năm, các khoản giảm trừ doanh thu bằng 0 do trong năm Công ty không có hàng bán bị trả lại và việc giảm giá hàng bán không diễn ra. Điều này chứng tỏ việc quản lý hàng hóa của Công ty tốt qua các năm, hầu hết các sản phẩm được sự chấp nhận của phía khách hàng, đảm bảo đúng yêu cầu do khách hàng đưa ra.

Giá vốn hàng bán: Doanh thu bán hàng giảm kéo theo giá vốn hàng bán giảm qua các năm. Năm 2023 giảm 19.899,71 triệu đồng so với năm trước, tương ứng 13,25%, năm 2024 giá vốn hàng bán tiếp tục giảm 34.101,37 triệu đồng (26,17%). Do Công ty nói riêng và toàn ngành xây dựng – bất động sản nói chung thực sự gặp khó khăn, các doanh nghiệp sản xuất xây dựng hoạt động cầm chừng, không phát huy hết công suất của các nhà máy, sản lượng sản xuất và tiêu thụ đạt thấp.

Doanh thu hoạt động tài chính: Năm 2022 doanh thu tài chính là 135,89 triệu đồng, đến năm 2023 tăng lên đến 517,12 triệu đồng, tăng mạnh 280,54%, nhưng đến năm 2024 lại giảm đột ngột 237,76 triệu đồng. Doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty chủ yếu đến từ khoản thu nhập từ tiền gửi tại ngân hàng và một phần do khoản chiết khấu thanh toán được hưởng từ các nhà phân phối nguyên liệu đầu vào. Qua đây ta có thể thấy công ty chưa chú trọng nhiều vào hoạt động đầu tư tài chính vì doanh thu đến từ khoản mục này chiếm tỷ trọng nhỏ so với doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Chi phí tài chính: Chi phí tài chính của Công ty giảm dần qua các năm. Năm 2022 là 3.200,69 triệu đồng, năm 2023 giảm xuống còn 2.801,84 triệu đồng, và đến năm 2024 tiếp tục giảm 370,48 triệu đồng. Nguyên nhân của việc chi phí tài chính mà cụ thể là lãi vay giảm vì công ty đã hoàn thành tốt nghĩa vụ trả lãi ngân hàng hàng năm. Ngoài ra trong năm 2024, công ty có vay dài hạn để mua thêm máy nghiền bi nhưng công ty được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi và giảm nhiều hơn so với năm 2023, nên gánh nặng về chi phí trả lãi cũng ít hơn. Bên cạnh đó thì công ty không áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán cho khách hàng khi mua sản phẩm nên chi phí tài chính giảm qua các năm. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Chi phí quản lý doanh nghiệp: Năm 2023 tăng 75,79% tương đương tăng 4.375,95 triệu đồng so với năm 2022. Bởi Doanh nghiệp đã không tiết kiệm được trong hoạt động sản xuất như các chi phí điện nước, điện thoại, chi phí cho văn phòng phẩm, tiếp khách… Năm 2024 chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 0,88% so với năm 2023 do hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn nên kéo theo sự cắt giảm nhân sự, do đó chi phí quản ký doanh nghiệp cũng giảm theo. Riêng chi phí quản lý bán hàng của Công ty bằng 0 trong cả ba năm 2024, 2023 và 2022 do Công ty cổ xây dựng Bình Minh là công ty vừa và nhỏ thì chi phí quản lý, bán hàng được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong năm Công ty có phát sinh chi phí quản lý, bán hàng như: tiếp thị, hoa hồng cho khách hàng,.. tuy nhiên chi phí này phát sinh không lớn, chiếm tỷ trọng 10% trong tổng chi phí quản lý doanh nghiệp.

Lợi nhuận kế toán sau thuế: Năm 2023 tăng mạnh so với năm 2022 cụ thể là tăng khoảng 59,26% tương ứng với một lượng 265,50 triệu đồng. Đây là một mức tăng khá cao với một Công ty tư nhân có quy mô vừa và nhỏ chuyên về sản xuất gạch ốp lát phục vụ các công trình xây dựng trong tình hình kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn: Nhà nước đang thắt chặt chi tiêu. Nhưng năm 2024 lợi nhuận sau thuế giảm một cách trầm trọng so với năm 2023 là 83,34% tương đương 594,66 triệu đồng, do nhiều doanh nghiệp ngành xây dựng thực sự gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, phải vay vốn từ ngân hàng hoặc dựa vào nguồn vốn huy động từ khách hàng để triển khai dự án, năm 2024 khi thị trường trầm lắng sẽ bị thua lỗ. Thị trường bất động sản đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản mà còn gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, doanh nghiệp xây dựng.

2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần xây dựng Bình Minh Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

2.2.1. Cơ cấu tài sản của công ty

  • Bảng 2.2. Tỷ trọng tài sản của Công ty năm 2022-2024
  • Hình 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty

Nhận xét:

Ta thấy tổng tài sản có sự thay đổi qua ba năm. Năm 2022, tổng tài sản ở mức 171.512,05 triệu đồng. Sang năm 2023, tổng tài sản giảm xuống còn 139.114,28 triệu đồng. Năm 2024, tổng tài sản đã tiếp tục giảm xuống 137.206,51 triệu đồng. Do nền kinh tế gặp khó khăn, Nhà nước thắt chặt chi tiêu công, ngành bất động sản – xây dựng trì trệ kéo theo sự đầu tư tài sản của Công ty cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng giảm sút.

Cùng với sự thay đổi về quy mô tài sản, cơ cấu tài sản cũng có sự thay đổi theo. Cả ba năm, tỷ trọng tài sản dài hạn thấp hơn tỷ trọng tài sản ngắn hạn do Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ốp lát cần lượng lớn nguyên vật liệu dự trữ nên tài sản ngắn hạn lớn để phục vụ cho quá trình sản xuất. Năm 2023, tỷ trọng tài sản ngắn hạn giảm còn tài sản dài hạn thì tăng so với năm 2022, nguyên nhân là năm 2023 Công ty đầu tư thêm tài sản cố định dẫn đến tiền và các khoản tương đương tiền giảm còn tài sản cố định tăng. Nhưng năm 2024, tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng, và tỷ trọng tài sản dài hạn giảm so với năm 2023 do giá trị hao mòn tài sản cố định lớn. Điều này cho thấy, sự mở rộng quy mô tài sản năm 2024 chủ yếu tập trung vào mở rộng quy mô tài sản ngắn hạn.

2.2.2. Thực trạng tài sản ngắn hạn của công ty

  • Bảng 2.3. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2022-2024

Trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty trong ba năm, tiền và các khoản tương đương với tiền luôn chiếm tỷ trọng thấp nhất, tiếp đó là các khoản phải thu ngắn hạn.

Phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, tỷ trọng của từng loại có sự thay đổi qua các năm. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Tiền và các khoản tương đương tiền: Qua các năm, tiền và các khoản tương đương tiền có sự biến động, năm 2022 tỷ trọng là 7,04%, năm 2023 giảm xuống 3,37%, năm 2024 tăng lên 3,50%. Trong cơ cấu tài sản ngắn hạn thì các khoản tiền và tương đương với tiền chiếm tỷ trọng thấp nhất. Năm 2024 tỷ trọng tiền tương đương tiền tăng do công ty mở rộng thêm mặt hàng sản xuất kinh doanh là sứ cách điện nên công ty phải chuẩn bị sẵn sàng một khoản tiền phục vụ cho việc sản xuất loại sản phẩm mới này. Sự tăng này không ảnh hưởng quá nhiều đến cơ cấu tài sản ngắn hạn của Công ty, tỷ trọng tiền và tương đương tiền vẫn ở mức thấp nhất. Có thể thấy Công ty đã có chiến lược quản lý tiền mặt khá hợp lý.

Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn tăng dần qua các năm. Năm 2022, tỷ trọng các khoản phải thu ở mức 36,08%, năm 2023 và 2024 tài sản ngắn hạn có sự giảm sút nhưng tỷ trọng khoản phải thu lại tăng lên đến 42,04% trong cơ cấu tài sản ngắn hạn năm 2023, năm 2024 là 43,96%. Đây là một dấu hiệu không tốt vì nhiều khách hàng đã không thanh toán đúng hạn cho công ty thể hiện việc hoạt động kinh doanh của họ không tốt. Dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế, vẫn còn nhiều doanh nghiệp hoạt động trì trệ, dậm chân tại chỗ, do vậy nên không có vốn để triển khai, thực hiện những dự án, hợp đồng lớn với công ty. Trong năm 2024 công ty có đưa ra thị trường sản phẩm mới, một phần vì lý do đó đã làm tăng phải thu khách hàng, nhiều doanh nghiệp làm ăn tụt dốc, không trả được nợ, giải thể và phá sản nên đối với công ty cũng bị ảnh hưởng lớn. Do đó, tạo ra mức tăng trong khoản phải thu vào cuối mỗi năm. Tỷ trọng khoản phải thu cao nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn ở cả 3 năm. Công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều, làm phát sinh chi phí quản lý nợ, rủi ro nợ khó đòi tăng cao. Mặc dù kinh tế khó khăn, Công ty đã cho khách hàng nợ để góp phần thu hút khách hàng, nhưng để khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều như vậy thực sự rất nguy hiểm, Công ty cũng cần phải có nhiều vốn để đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tránh tình trạng số dư khoản phải thu quá cao khiến cho Công ty thiếu vốn và bị đình trệ sản xuất là cần thiết.

Hàng tồn kho: Trong ba năm, hàng tồn kho tăng, năm 2022 tỷ trọng hàng tồn kho ở mức 29,20%, năm 2023 tăng lên 38,63%, đến năm 2024 thì tăng lên mức 38,74%. Sự tăng lên này là do sự tăng của chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang. Nguyên vật liệu nhập về được sử dụng cho quá trình sản xuất, xảy ra tình trạng dư thừa. Việc dự trữ giúp cho doanh nghiệp trước những biến động thất thường của giá cả nguyên vật liệu, nhưng việc dự trữ cũng làm cho doanh nghiệp mất một khoản chi phí về lưu kho và bảo quản. Do vậy doanh nghiệp cần phải tìm được những nhà cung cấp cho Công ty về nguồn cung giá cả ổn định, hạn chế được lượng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn giảm được chi phí. Công ty còn sản xuất vật liệu xây dựng nên giá trị lưu kho tương đối lớn, để quản lý kho Công ty phải bỏ ra không ít các khoản chi phí như chi phí cho bộ phận quản lý kho, chi phí hao mòn tự nhiên của các vật liệu xây dựng, hàng tháng Công ty còn phải trả tiền lương cho nhân viên bảo vệ trông kho.

2.2.3. Chính sách quản lí tài sản ngắn hạn của công ty Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

  • Nhận xét:

Trong 3 năm qua, tài sản ngắn hạn của công ty luông chiếm tỷ trọng cao so với TSDH của công ty. Điều này, cho thấy công ty tập trung đầu tư vào TSNH nhiều hơn TSDH và liên tục tăng qua các năm. Với tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm phần lớn trong tổng tài sản đã cho thấy công ty đang quản lý tài sản theo chính sách cẩn trọng. Tuy nhiên, việc quản lý tài sản ngắn hạn theo trường phái thận trọng gặp một số những nhược điểm như: Thời gian quay vòng tiền dài hơn, chi phí cao hơn doanh thu thấp hơn kéo theo đó thì EBIT thấp hơn, chiến lược này mang lại rủi ro thấp điều này làm cho tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu cũng ở mức thấp.

Trong 3 năm qua, cơ cấu nguồn vốn cũng có sự thay đổi đáng kể, Tỷ trọng nợ ngắn hạn chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn. Tức là công ty chủ yếu huy động nguồn vốn ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Do trong những năm gần đây nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng. Việc sử dụng vốn ngắn hạn đã làm tăng chi phí trả lãi vay cho công ty từ đó có góp phần làm tăng lợi nhuận của công ty. Doanh nghiệp đang quản lý nợ theo trường phái thận trọng, tức là đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để đầu tư cho các tài sản ngắn hạn. Trong trường hợp này VLĐR > 0 tức TSNH > NNH do đó cân bằng tài chính trong trường hợp này là bền vững và doanh nghiệp sẽ không gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn.

  • Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán:

  • Bảng 2.4. Khả năng thanh toán của Công ty năm 2022-2024

Nhận xét:

Khả năng thanh toán hiện hành: Khả năng thanh toán của công ty tăng từ 1,05 lần năm 2022 lên 1,06 lần năm 2023, nhưng năm 2024 giảm xuống còn 1,04 lần. Nguyên nhân tăng là do tốc độ giảm của nợ ngắn hạn cao hơn so với tài sản ngắn hạn, nhưng năm 2024 nợ ngắn hạn tăng còn tài sản ngắn hạn giảm dẫn đến hệ số này giảm đi vào năm 2024. Như vậy chỉ tiêu này cho biết, trong năm 2022, mỗi đồng nợ ngắn hạn có 1,05 đồng tài sản ngắn hạn có thể sử dụng để thanh toán, năm 2023 mỗi đồng nợ ngắn hạn có 1,06 đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán và năm 2024 tỷ số này là 1,04. Mặc dù hệ số thanh toán hiện hành có sự biến động qua các năm nhưng nhìn chung thì giá trị đều lớn hơn 1. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn này lớn hơn 1 chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn của Công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, điều đó cho thấy tài sản ngắn hạn của Công ty đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Do đó, khả năng thanh toán của Công ty tốt nhưng không ổn định. Nếu đem chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty so sánh với trung bình ngàng vật liệu xây dựng thì có thể thấy rằng công ty cao hơn rất nhiều. điều đó cho thấy công ty vân cx đang có khả năng thanh toán tốt trong ngành, đứng ở mức an toán.

Khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này giảm dần qua các năm. Năm 2023 giảm từ 0,75 lần xuống 0,65 lần và năm 2024 lại tiếp tục giảm xuống còn 0,64 lần. Do tài sản ngắn hạn ngoài hàng tồn kho giảm với tốc độ nhanh hơn độ giảm của nợ ngắn hạn. Nhìn chung tỷ số này qua các năm đều nhỏ hơn 1 cho thấy giá trị tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhanh của Công ty nhỏ hơn giá trị nợ ngắn hạn, chứng tỏ tài sản ngắn hạn có thể sử dụng ngay của Công ty không đủ để đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Do vậy, có thể thấy tình hình thanh khoản của Công ty không tốt trong cả 3 năm và đặc biệt là năm 2024. Tuy nhiên nếu so sánh với trung bình ngành vật liệu xây dựng là 0,4 thì công ty lại đang ở mức cao hơn vì vậy có thể lý giải khả năng thanh toán nhanh của công ty thấp là do xu hướng chung của thị trường ảnh hưởng đến.

Khả năng thanh toán tức thời: Hệ số này cho biết: Trong năm 2022, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,07 đồng tiền mặt, nhưng năm 2023 và 2024 thì giảm. Năm 2023 tiền và tương đương tiền giảm mạnh hơn so với sự giảm của nợ ngắn hạn làm cho hệ số thanh toán tức thời của Công ty giảm so với năm trước. Qua cả 3 năm, hệ số này nhỏ hơn 1 rất nhiều và nhỏ hơn cả khả năng thanh toán của trung bình ngành xây dựng đang ở mức 0,1 chứng tỏ khả năng thanh toán của Công ty không tốt, tài chính kém ổn định, cho thấy khả năng đáp ứng cho việc thanh toán các khoản nợ bằng tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty là cực kỳ kém thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành và các công ty cùng ngành trên thị trường vật liệu xây dựng hiện nay. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Nhóm các chỉ tiêu hoạt động (chỉ tiêu đánh giá các thành phần của TSNH)

  • Bảng 2.5. Chỉ tiêu hoạt động của Công ty năm 2022-2024

Vòng quay tài sản ngắn hạn: Cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu này. Số vòng quay càng cao thì càng tốt đối với doanh nghiệp. Năm 2022 vòng quay TSNH là 0,95 vòng, năm 2023 tăng lên đến 1,04 vòng do mức giảm của tài sản ngắn hạn lớn hơn mức giảm của doanh thu thuần. Năm 2024 vòng quay TSNH lại giảm trầm trọng xuống 0,77 vòng. Điều này cho thấy năm 2023 hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty tốt hơn năm 2022 và năm 2024. Nguyên nhân là do năm 2024 tình hình ngành xây dựng vẫn chưa có tín hiệu phục hồi, trong khi đó chính sách quản lý của Công ty không có nhiều đổi mới, lượng tiêu thụ hàng hóa giảm trầm trọng khiến cho vòng quay tài sản ngắn hạn chậm chạp hơn và doanh thu giảm sút. Công ty cần có chính sách khuyến khích khách hàng tiêu dùng sản phẩm, mặc dù nền kinh tế vẫn còn khó khăn đặc biệt ngành xây dựng bất động sản, các dự án công trình xây dựng bị đình trệ, thắt chặt chi tiêu nên cần phải có chiến lược thực sự hiệu quả trong việc tiêu thụ sản phẩm mới có thể làm tăng doanh thu, từ đó làm tăng lợi nhuận cho Công ty.

Thời gian luân chuyển TSNH: Cho biết tốc độ chu chuyển của tài sản ngắn hạn là nhanh hay chậm. Năm 2022, vòng quay TSNH là 0,95 vòng tương ứng với thời gian luân chuyển là 381 ngày. Năm 2023 vòng quay TSNH là 1,04 vòng tương ứng với thời gian thực hiện 1 kỳ luân chuyển là 346 ngày, giảm 35ngày/1 kỳ luân chuyển. Năm 2024, vòng quay là 0,77 vòng tương ứng với thời gian cho 1 kỳ luân chuyển là 468 ngày, tăng 122 ngày/1 kỳ luân chuyển so với năm 2023. Như vậy năm 2024 số vòng quay TSNH giảm trầm trọng tương ứng với thời gian luân chuyển TSNH tăng mạnh. Kết quả này phản ánh lượng tài sản ngắn hạn bị tồn đọng quá lớn trong các khâu sản xuất và lưu thông, Công ty cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao tốc độ luân chuyển TSNH, nâng cao hiệu quả hoạt động để đảm bảo được một chỗ dựa vững chắc và một sự phát triển lâu dài của Công ty.

Suất hao phí của tài sản ngắn hạn: Qua các năm, suất hao phí tài sản ngắn hạn tăng. Năm 2022 Công ty có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần 1,06 đồng giá trị tài sản ngắn hạn, năm 2023 giảm xuống 0,96 đồng và năm 2024 tăng đến 1,30 đồng tài sản ngắn hạn. Chỉ số này có giá trị thấp nhất là năm 2023, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao hơn năm 2022 và 2024, năm 2023 Công ty không cần đầu tư quá nhiều tài sản ngắn hạn nhưng lại tạo ra rất nhiều doanh thu. Chỉ số này tăng vào năm 2024, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản kém, doanh nghiệp đầu tư nhiều tài sản ngắn hạn nhưng lại tạo ra ít doanh thu. Công ty cần có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tạo ra được nhiều doanh thu và lợi nhuận.

  • Bảng 2.6. Khả năng quản lý các khoản phải thu của Công ty năm 2022-2024
  • Hình 2.2. Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu

Nhận xét: Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Vòng quay các khoản phải thu: Qua các năm, vòng quay các khoản phải thu giảm dần, cụ thể năm 2022 là 2,62 vòng, năm 2023 giảm xuống 2,47 vòng do doanh thu thuần giảm nghiêm trọng từ 150.199,17 triệu đồng xuống 130.299,46 triệu đồng, năm 2024 vòng quay các khoản phải thu vẫn giảm trầm trọng xuống 1,75 vòng. Năm 2023 lượng hàng tiêu thụ của Công ty giảm nên kéo theo sự giảm của các khoản phải thu khách hàng nhưng mức giảm của doanh thu thuần lớn hơn mức giảm của các khoản phải thu dẫn đến vòng quay các khoản phải thu giảm trong năm 2023. Năm 2024 mặc dù lượng hàng tiêu thụ được vẫn giảm nhưng các khoản phải thu lại tăng chứng tỏ chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty năm 2024 là kém dẫn đến giảm trầm trọng số vòng quay các khoản phải thu vào năm 2024. Công ty cần có chiến lược quản lý các khoản phải thu một cách hợp lý hơn, có thể Công ty cần nới lỏng chính sách tín dụng để thu hút khách hàng nhằm tăng doanh thu, góp phần làm tăng vòng quay các khoản phải thu nhưng khi thực hiện chính sách tín dụng nới lỏng thì Công ty cũng nên có chiến lược hợp lý để quản lý tốt các khoản phải thu để vừa kích thích đối tác trả tiền nhanh vừa hạn chế tối đa bị chiếm dụng vốn để tránh tình trạng nợ khó đòi xảy ra. Tuy nhiên, đã nói đến kinh doanh thì phải chấp nhận nợ, vấn đề là các nhà quản lý tài chính phải làm thế nào để hạn chế tối đa bị chiếm dụng vốn và xem xét số vốn bị chiếm dụng đó có hợp lý hay không để có biện pháp xử lý thích hợp.

Thời gian thu tiền trung bình: Năm 2022 là 137 ngày, tới năm 2023 tăng lên tới 146 ngày và năm 2024 lại tiếp tục tăng mạnh lên tới 205 ngày. Trong ba năm gần đây, thời gian thu tiền trung bình của năm 2024 cao hơn năm 2022 và 2023, đây là một dấu hiệu không tốt với doanh nghiệp khi mà doanh nghiệp khó thu hồi được tiền. Thời gian thu tiền dài, Công ty bị chiếm dụng vốn lớn và lâu, làm tăng áp lực huy động vốn để Công ty đầu tư. Công ty cần phải có chiến lược hợp lý hơn để quản lý tốt các khoản phải thu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

  • Bảng 2.7. Khả năng quản lý kho của Công ty năm 2022-2024
  • Hình 2.3. chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho: Cho biết một năm kho của công ty quay được bao nhiêu lần. Năm 2022, kho của công ty được luân chuyển tăng 3,24 vòng , năm 2023 chỉ tiêu này là 2,68 vòng. Do năm 2023 hàng tồn kho tăng còn doanh thu thuần giảm mạnh so với năm 2022 nên vòng quay hàng tồn kho của công ty giảm so với năm 2022. Năm 2024 chỉ tiêu này là 1,99 vòng. Do năm 2024 hàng tồn kho giảm rất ít so với mức giảm trầm trọng của doanh thu thuần so với năm 2023. Vòng quay hàng tồn kho càng lớn chứng tỏ rằng hoạt động kinh doanh của công ty càng có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Nhưng trong cả ba năm chỉ số này của công ty giảm, đặc biệt là năm 2024, chứng tỏ rằng lượng sản phẩm mà công ty bán được là ít, nghiêm trọng nhất là năm 2024. Trị giá hàng tồn kho lớn giúp Công ty an toàn hơn trước những biến động thất thường của giá cả nguyên vật liệu. Nhưng hàng tồn kho có tính thanh khoản không cao, dễ xảy ra tình trạng tồn kho ứ đọng. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được lượng tồn kho hợp lý và sử dụng chúng có hiệu quả.

Thời gian luân chuyển kho trung bình: Cho biết trong bao nhiêu ngày thì hàng trong kho được luân chuyển một lần. Năm 2022, cứ 111 ngày thì kho lại được luân chuyển một lần đến năm 2023 là 134 ngày. Năm 2024 là 181 ngày. Thời gian luân chuyển kho trung bình của Công ty trong cả 3 năm đều rất dài, nhất là năm 2024. Việc thời gian luân chuyển kho trung bình dài làm tăng các chi phí liên quan tới việc quản lý kho. Cho thấy hiệu quả sử dụng hàng tồn kho kém, làm giảm tốc độ luân chuyển hàng tồn kho và thời gian luân chuyển kho bị kéo dài thêm. Do nền kinh tế năm 2023 và 2024 chưa có dấu hiệu phục hồi, ngành xây dựng – bất động sản vẫn đóng băng nên các sản phẩm liên quan đến ngành xây dựng đều khó tiêu thụ, thời gian luân chuyển kho tăng. Để nâng cao hiệu quả sử dụng hàng tồn kho Công ty cũng cần quan tâm hơn đến việc bảo quản và luân chuyển hàng tồn kho.

Tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn

  • Hình 2.4. Tỷ suất sinh lời của Công ty cổ phần xây dựng Bình Minh năm 2022-2024

Nhận xét:

Tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản ngắn hạn, bị ảnh hưởng bởi kết quả sản xuất kinh doanh và tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ. Nó cho biết mỗi đơn vị giá trị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng tốt, tài sản ngắn hạn tạo ra càng nhiều lợi nhuận ròng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. So sánh với đối thủ cạnh tranh của Công ty là Công ty cổ phần gạch ốp lát Việt Minh, năm 2022 Công ty Bình Minh với 100 đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra 0,28 đồng lợi nhuận sau thuế, còn Công ty Việt Minh lại tạo ra được 0,85 đồng lợi nhuận sau thuế. Chứng tỏ năm này, Công ty Việt Minh không cần đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn nhưng lại tạo ra nhiều lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Việt Minh tốt hơn Công ty Bình Minh. Nhưng năm 2023 ngành xây dựng – bất động sản đóng băng, các dự án bị đình trệ, kéo theo hàng loạt công ty xây dựng, bất động sản khó khăn, kéo theo hàng loạt công ty liên quan đến ngành xây dựng chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự suy thoái của ngành bất động sản. Công ty Việt Minh cũng nằm trong số đó khi tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn giảm xuống 0,3%, và thật đáng mừng là Công ty Bình Minh đã có chính sách quản lý tài sản ngắn hạn tốt năm 2023 để kịp ứng phó trước sự biến động của thị trường nên tỷ suất sinh lời tăng lên đến 0,57%. Năm 2024 Công ty Việt Minh đã hiệu quả hơn trong sử dụng tài sản ngắn hạn nên tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn tăng lên đến 0,5%, còn công ty Bình Minh giảm xuống 0,1%. Như vậy có thể thấy tỷ suất sinh lời tài sản ngắn hạn của Công ty biến động mạnh qua các năm trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn định, vì vậy Công ty Bình Minh cần có chiến lược độc đáo và hiệu quả trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn, góp phần tăng lợi nhuận để tạo một vị thế vững chắc trên thị trường.

2.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần kỹ thương Thiên Hoàng Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

2.3.1. Kết quả đạt được

Việt Nam đang trên tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc gia nhập một số tổ chức như APEC, AFTA… và đặc biệt là WTO tạo điều kiện cho công ty cổ phần xây dựng Bình Minh có cơ hội mở rộng kinh doanh, mang thương hiệu sản phẩm của mình giới thiệu tới nhiều thị trường lớn trên thế giới. So với nhiều nước trên thế giới Việt Nam là nước có môi trường kinh tế chính trị ít biến động, điều này khiến cho các doanh nghiệp trong nước yên tâm trong việc đầu tư phát triển. Hơn thế nữa, nguồn nhân lực lớn và rẻ được coi là một trong những lợi thế của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong những năm gần đây, tại thị trường Việt Nam có hơn 45 công ty gạch ốp lát đang hoạt động nhưng chỉ có khoảng 10 công ty mạnh, còn lại là những công ty có quy mô nhỏ. Công ty Binh Minh là một trong những thương hiệu mạnh được khách hàng tin dùng. Thực tế chỉ ra có không nhiều thương hiệu trong ngành có thể cạnh tranh với Mikado nên đây là điều kiện thuận lợi để công ty đầu tư mở rộng sản xuất và phát triển hơn nữa. Ngoài ra, các nhà máy sản xuất của công ty được đặt trong khu vực hết sức thuận lợi về mặt giao thông và nằm trong khu vực kinh tế hết sức năng động bao gồm nhiều khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp. Vị thế của Công ty được đánh giá cao nhờ các yếu tố sau:

  • Uy tín của Công ty

Do có uy tín về thương hiệu và chất lượng sản phẩm trên thị trường nên công ty có cơ hội thâm nhập thị trường của các nước nằm trong các tổ chức mà Việt Nam gia nhập, đặc biệt là WTO. Sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu đi hàng chục nước trên thế giới như Pháp,Đài loan, Hàn Quốc…Có được thành công đó là nhờ vào kinh nghiệm hoạt động nhiều năm trong ngành với sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, dịch vụ hậu mãi tốt…

  • Khả năng thanh toán hiện hành tốt

Mặc dù hệ số thanh toán hiện hành có sự biến động qua các năm nhưng nhìn chung thì giá trị đều lớn hơn 1. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn này lớn hơn 1 và lớn hơn so với trung bình ngành vật liệu xây dựng chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn của Công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, điều đó cho thấy tài sản ngắn hạn của Công ty đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán của Công ty tăng từ 1,05 lần năm 2022 lên 1,06 lần năm 2023. Nguyên nhân tăng là do tốc độ giảm của nợ ngắn hạn cao hơn so với tài sản ngắn hạn. Như vậy chỉ tiêu này cho biết, trong năm 2022, mỗi đồng nợ ngắn hạn có 1,05 đồng tài sản ngắn hạn có thể sử dụng để thanh toán, năm 2023 mỗi đồng nợ ngắn hạn có 1,06 đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

  • Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn cao

Nhưng năm 2023 ngành xây dựng – bất động sản đóng băng, các dự án bị đình trệ, kéo theo hàng loạt công ty xây dựng, bất động sản khó khăn, kéo theo hàng loạt công ty liên quan đến ngành xây dựng chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự suy thoái của ngành bất động sản và thật đáng mừng là Công ty Bình Minh đã có chính sách quản lý tài sản ngắn hạn tốt năm 2023 để kịp ứng phó trước sự biến động của thị trường nên tỷ suất sinh lời tăng lên đến 0,57%.

  • Đội ngũ lao động

Cùng với sự phát triển của Công ty, Công ty cũng rất quan tâm tơi đội ngũ lao động của Công ty. Ngoài khoản lương là thu nhập chính cho người lao động thì Công ty cũng có khoản tiền thưởng để động viên kịp thời với những cá nhân xuất sắc trong công việc duy trì được sự phấn đấu cho Công ty. Công ty cũng đóng góp đầy đử các khoản bảo hiểm cho người lao động để người lao động yên tâm sản xuất hơn. Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm và trình độ quản lí cao đảm bảo sản phẩm sản xuất ra đúng tiêu chuẩn và chất lượng cao.

  • Mối quan hệ với khách hàng

Công ty tạo được mạng lưới khách hàng thân thiết, trung thành, những đối tác lâu năm do giữ được chữ tín trong kinh doanh, luôn có những dịch vụ chăm sóc, tri ân khách hàng cùng những chính sách sau bán hết sức hấp dẫn.

  • Đầu tư thiết bị

Các nhà máy sản xuất, dây chuyền công nghệ kỹ thuật luôn được chú trọng đầu tư để đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt nhất tới tay khách hàng.

Có thể thấy được thành quả trên là nhờ vào sự năng động, sáng tạo của ban giám đốc cùng với sự cố gắng của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty, đặc biệt là phòng Tài chính – kế toán đã thực hiện tốt vai trò quản lý tài sản, nguồn vốn và cung cấp thông tin chính xác, nhanh chóng cho ban giám đốc.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

  • Hạn chế

Bên cạnh những thuận lợi là những khó khăn trong môi trường kinh doanh tác động tới công ty. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn từ sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Trên sân nhà, gạch ốp lát mang thương hiệu Việt Nam đang bị lấn lướt bởi các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc. Có khá ít các công ty trong ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, ngay cả những doanh nghiệp lớn trong ngành cũng chỉ thu được một tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn.

Tại thị trường nội địa, sản phẩm của công ty cổ phần xây dựng Bình Minh có khá nhiều các đối thủ cạnh tranh như gạch men Viglacera, gạch Đồng Tâm, gạch PiSenZa, gạch Việt Minh…cộng với các sản phẩm ngoại nhập làm cho môi trường cạnh tranh trở nên vô cùng khốc liệt. Thêm vào đó là tình hình lạm phát tăng cao, giá cả leo thang, sự trượt giá của đồng tiền trong nước cùng với lũ lụt, thiên tai đẩy chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí thuê nhân công và các chi phí khác lên cao khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty giảm dần qua các năm Năm 2023 doanh thu giảm từ 150.199,17 triệu xuống còn 130.299,46 năm 2024 tiếp tục giảm mạnh xuống 96.198,09 triệu đồng. Trong khi đó Công ty thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng, không có chiến lược khuyến khích khách hàng tiêu dùng sản phẩm để cạnh tranh trên thị trường, làm giảm số lượng hàng bán ra.

Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty còn kém và thậm chí là giảm dần qua các năm nhưng vẫn ở mức cao hơn so với công ty cùng ngành là Công ty gạch ốp lát Việt Minh. Nhìn tổng thể qua các năm thì hiệu suất sử dụng tài sản là một chỉ số nhỏ hơn 1 và đây là dấu hiệu không tốt, Công ty đã không sử dụng tài sản một cách hợp lý và hiệu quả. Cụ thể năm 2022 thì mỗi đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra 0,88 đồng doanh thu, Nhưng đến năm 2024 thì mỗi đồng tài sản đưa vào đầu tư chỉ tạo ra 0,70 đồng, chứng tỏ Công ty chưa thực sự chú trọng vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.

Khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời qua các năm đều nhỏ hơn 1và hệ số này giảm dần qua các năm. Năm 2023 giảm từ 0,75 lần xuống 0,65 lần và năm 2024 lại tiếp tục giảm xuống còn 0,64 lần. Do tài sản ngắn hạn ngoài hàng tồn kho giảm với tốc độ nhanh hơn độ giảm của nợ ngắn hạn.cho thấy giá trị tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhanh của Công ty nhỏ hơn giá trị nợ ngắn hạn, chứng tỏ tài sản ngắn hạn có thể sử dụng ngay của Công ty không đủ để đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Do vậy, có thể thấy tình hình thanh khoản của Công ty không tốt trong cả 3 năm và đặc biệt là năm 2024. Khả năng thanh toán tức thời của công ty rất thấp chứng tỏ khả năng thanh toán của Công ty không tốt, tài chính kém ổn định, cho thấy khả năng đáp ứng cho việc thanh toán các khoản nợ bằng tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty là cực kỳ kém. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

Vòng quay tài sản, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho của công ty đều giảm. Hàng tồn kho có tính thanh khoản không cao, dễ xảy ra tình trạng tồn kho ứ đọng. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được lượng tồn kho hợp lý và sử dụng chúng có hiệu quả. Về vòng quay các khoản phải thu, năm 2024 mặc dù lượng hàng tiêu thụ được vẫn giảm nhưng các khoản phải thu lại tăng chứng tỏ chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty năm 2024 là kém dẫn đến giảm trầm trọng số vòng quay các khoản phải thu vào năm 2024. Công ty cần có chiến lược quản lý các khoản phải thu một cách hợp lý hơn, có thể Công ty cần nới lỏng chính sách tín dụng để thu hút khách hàng nhằm tăng doanh thu, góp phần làm tăng vòng quay các khoản phải thu nhưng khi thực hiện chính sách tín dụng nới lỏng thì Công ty cũng nên có chiến lược hợp lý để quản lý tốt các khoản phải thu để vừa kích thích đối tác trả tiền nhanh vừa hạn chế tối đa bị chiếm dụng vốn để tránh tình trạng nợ khó đòi xảy ra.

Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn, thời gian thu tiền trung bình, thời gian luân chuyển kho trung bình của công ty tăng cao đặc biệt vào năm 2024 đã làm số vòng quay TSNH, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho của công ty giảm trầm trọng sẽ làm thời gian luân chuyển TSNH,. Kết quả này phản ánh lượng tài sản ngắn hạn, hàng lưu kho, các khoản phải thu bị tồn đọng quá lớn trong các khâu sản xuất và lưu thông, Công ty cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao tốc độ luân chuyển các khoản trên từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động để đảm bảo được một chỗ dựa vững chắc và một sự phát triển lâu dài của Công ty.

Nguyên nhân:

  • Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, Trình độ nguồn nhân lực còn yếu. Nếu một DN chỉ có cán bộ lãnh đạo tốt thì chưa đủ mà quan trọng hơn là DN phải có một đội ngũ người lao động tốt, đủ sức thực hiện các kế hoạch đề ra. Sở dĩ như vậy là vì chính người lao động mới là người thực hiện các kế hoạch đề ra, là người quyết định vào sự thành công hay thất bại của kế hoạch đó. Nếu người lao động có trình độ tay nghề cao, có ý thức kỉ luật, gắn bó hết mình vào sự phát triển của DN thì chắc chắn hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN sẽ cao và thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.

Thứ hai, Năng lực quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vẫn ở mức thấp. Do trình độ quản lý còn thấp, hạn chế về chuyên môn quản lý tài chính, trình độ sử dụng, vận hành máy móc trang thiết bị cũng còn kém. Khiến cho việc tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại còn chậm. Thêm vào đó, còn tồn tại những cán bộ có thái độ chưa nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc quản lý và sử dụng tài sản, cố ý làm sai.

Thứ ba, việc quản lý công nợ còn chưa chặt chẽ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân Công ty chưa có biện pháp thu hồi nợ thích đáng như nhắc nợ khách hàng, đối chiếu công nợ thường xuyên, định kì. Mặt khác khi theo dõi các khoản công nợ Công ty chưa có sự phối hợp đối chiếu thường xuyên giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận tài chính kế toán, dẫn đến số liệu hạch toán không thống nhất, không chính xác, không phản ánh được thực tế càng làm hoạt động thu hồi nợ chậm chạp hơn.

Thứ tư, do đặc điểm của Công ty là doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng và cụ chủ yếu là gạch ốp lát, hàng hoá lại có đặc điểm yêu cầu về chất lượng đứng hàng đầu, đòi hỏi nhiều nguyên phụ liệu, nên hàng tồn kho của Công ty rất đa dạng, lớn về số lượng. Do đó, Công ty không thể tránh khỏi những khó khăn trong quản lý hàng tồn kho. Mặt khác Công ty cũng chưa có định mức dự trữ và tiêu hao nguyên nhiên vật liệu nên quản lý hàng tồn kho chưa được khoa học, còn lỏng lẻo. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

  • Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế các nước, trong đó có Việt Nam. Do tính chất nghiêm trọng và phức tạp của cuộc khủng hoảng nên đã tác động đến nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành xây dựng. Ở nguồn vốn nhà nước, để phục vụ cho tốc độ phát triển của đất nước, trong điều kiện hạ tầng cơ sở của Việt Nam còn đang rất yếu kém; để chuẩn bị cho các năm sắp tới, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, Chính phủ sẽ trình Quốc hội để duy trì và tăng vốn đầu tư với khả năng cao nhất cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (thông qua các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn vay, có hỗ trợ lãi suất, phát hành trái phiếu…).

Thứ hai, về nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong điều kiện thị trường tiêu thụ giảm sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc triển khai các dự án, công trình và xây dựng mới sẽ bị ảnh hưởng, nguồn vốn đầu tư xây cho công trình xây dựng đã bị giảm sút. Còn với ngành vật liệu xây dựng bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng, đặc biệt với các loại vật liệu xây dựng đã đầu tư, đang đầu tư sản xuất có sản lượng cao, cung vượt cầu như xi măng, gạch lát, thép… trong điều kiện thị trường trong nước gặp khó khăn, xuất khẩu bị ảnh hưởng do sự giảm sút đầu tư của thị trường trong và ngoài nước.

Thứ ba, trong điều kiện hội nhập WTO, ngành xây dựng sẽ bị trực tiếp ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh với vật liệu nhập khẩu (thép, gạch lát, kính…); với lực lượng nhập khẩu (cả nhân lực quản lý, công nhân xây dựng), nhất là ở các dự án đấu thầu quốc tế, tổng thầu EPC.

Thứ tư, trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan mới đây, Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho biết, từ năm 2023 đến nay, do tình hình kinh tế có nhiều khó khăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng nói riêng. Đặc biệt, do chủ trương cắt giảm đầu tư công, các dự án bất động sản tạm dừng hoặc giãn tiến độ, nhiều công trình xây dựng không có vốn để triển khai,… đã dẫn đến nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng 5 tháng đầu năm 2024 giảm đáng kể. Cùng với đó, những khó khăn hiện hữu như giá cả nhiên liệu, điện, nguyên liệu đầu vào liên tục tăng, lãi suất ngân hàng cao, tỷ giá ngoại tệ tăng, chi phí tài chính lên đến 20 – 30%, vốn lưu động thiếu đã làm cho các doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải giảm sản lượng hoặc dừng sản xuất, sản phẩm tồn kho khối lượng lớn, kinh doanh thua lỗ; nhiều doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản.

Đối với ngành gốm sứ xây dựng, tồn kho đầu năm 2024 đã tăng lên, nếu tính cả lượng tồn kho lũy kế tại các đơn vị sản xuất và cả tồn kho từ các đại lý chưa bán hàng tới người tiêu dùng thì lượng tồn đã tăng lên tới 20% (Hiện tại hàng hóa tồn kho khoảng trên 40 triệu m2 gạch ốp lát và trên 1 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, tương đương khoảng trên 3.000 tỷ đồng). Sản xuất vật liệu xây không nung cũng không nằm ngoài xu thế đó khi những tháng đầu năm 2024, việc tiêu thụ vật liệu này, đặc biệt là loại vật liệu xây không nung nhẹ vẫn gặp nhiều khó khăn. Các dây chuyền sản xuất gạch bê tông nhẹ mới chỉ được khai thác với một tỷ lệ rất thấp, hầu hết sản lượng sản xuất chỉ đạt 20 – 30% công suất. Việc tiêu thụ vật liệu xây không nung nhẹ còn rất hạn chế, chỉ tiêu thụ được 50 – 60% sản lượng. Một số doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm đã phải dừng sản xuất. Riêng ngành sản xuất thủy tinh xây dựng, đá ốp lát phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu, hàng tồn kho lớn, tiêu thụ chậm, nhiều doanh nghiệp phải dừng sản xuất. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn công ty xây dựng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x