Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI NÓI ĐẦU

Đối với một quốc gia có hơn 80% dân số là nông dân như Việt Nam, việc phát triển sản xuất nông nghiệp chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hội nghị TW lần thứ VI đã khẳng định “Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở ổn định và phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Mọi hoạt động vừa cơ bản, lâu dài, vừa cần kíp trước mắt của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đều cần đến vốn và tín dụng. Đương nhiên vốn và tín dụng không quyết định hết thảy, nhưng không thể không nhấn mạnh rằng, để đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ, nhất định phải có chính sách hỗ trợ có bài bản và cụ thể về vốn, tín dụng, nhất định phải có sự đầu tư thích đáng của Nhà nước, của các ngành, trong đó không thể xem nhẹ vai trò của NHNo&PTNT Việt Nam.

Trong quá trình CNH – HĐH đất nước đặc biệt là quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đảng và Nhà nước ta có rất nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và hộ sản xuất nói riêng. Tuy nhiên trong thực tế cho thấy vấn đề vốn và cho vay ở khu vực nông thôn đang có những khó khăn nhất định mà hiện nay NHNo&PTNT đang phải đảm đương thực hiện nhiệm vụ “ rót vốn” vào khu vực nông thôn, việc mở rộng cho vay hộ sản xuất ngày càng khó khăn do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ bé, chi phí nghiệp vụ cao, khả năng rủi ro ngày càng lớn. Do vậy vấn đề tạo vốn và cho vay có hiệu quả đối với hộ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng, nó đóng vai trò chủ lực chủ đạo trong việc góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Là một Ngân hàng thương mại quốc doanh, NHNo&PTNT Việt Nam đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta nói riêng, mở ra quan hệ tín dụng trực tiếp với hộ sản xuất để không ngừng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, có được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng, một trong những chi nhánh trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Hải Phòng.

Xuất phát từ những luận cứ và thực tế qua khảo sát cho vay vốn đến từng hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng cùng với sự hướng dẫn của PGS-TS Thầy giáo Hà Minh Sơn, em mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng” nhằm mục đích tìm ra những giải pháp để mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu vốn phát triển kinh tế xã hội toàn địa bàn huyện và bảo đảm an toàn vốn đầu tư. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Kết cấu khóa luận đề tài gồm 3 chương:

  • Chương I: Lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay hộ sản xuất của Ngân hàng thương mại
  • Chương II: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng
  • Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Hộ sản xut

1.1.1. Khái niệm hộ sản xuất

Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, thành phần kinh tế hộ rất quan trọng, là một trong những thành phần kinh tế quyết định đến sự thành công của con đường Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước. Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, NHNo&PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định 499A ngày 2/9/1993, theo đó thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như sau: “ Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất của mình”. Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta trong thời gian qua.

1.1.2. Phân loại kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp

Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ hộ gia đình. Việc phân loại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả.

  • Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau: Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Loại thứ nhất: Là các hộ có vốn, có kỹ năng lao động, biết tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hòa nhập với thị trường. Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ trên thị trường.

Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn. Việc vay vốn đối với những hộ sản xuất này hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây chính là các khách hàng mà tín dụng Ngân hàng cần phải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung đồng vốn đầu tư vào đây sẽ được sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời, hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn. Đây là một trong những mục đích mà Ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất tín dụng, thuế …

Loại thứ hai: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng tự lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp phần góp phần giúp các hộ này có khả năng tự chủ sản xuất.

Loại thứ ba: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không biết tính toán làm ăn, gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn, ốm đau và những hộ gia đình chính sách, … đang còn tồn tại trong xã hội. Thêm và đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa cùng với sự phá sản của các nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa.

Phương pháp giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo hoặc qũy trợ cấp thất nghiệp, trách nhiệm và lương tâm cộng đồng, không chỉ giới hạn về vật chất sinh hoạt mà còn giúp họ về phương tiện kỹ thuật đào tạo tay nghề, vươn lên làm chủ cuộc sống, khuyến khích người có sức lao động phải sống bằng kết quả lao động của chính bản thân mình.

1.1.3. Đặc điểm kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy kinh tế hộ sản xuất ở nước ta mang những đặc điểm sau:

Đất đai kinh tế hạn hẹp, manh mún: Trên thực tế tổng diện tích đất đai của các hộ có khoảng 6,5 triệu ha. Bình quân chung của cả nước mỗi hộ có khoảng 0,5 ha quy mô nhỏ bé. Do đó, đất đai canh tác ngày càng trở nên hạn hẹp và do quá trình tách hộ làm cho mức sử dụng đất đai trung bình của mỗi hộ sản xuất ngày càng giảm xuống, điều này mâu thuẫn với yêu cầu của quá trình sản xuất hàng hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.

Công cụ sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất lao động thấp: Trong điều kiện kinh tế thị trường các hộ không nhất thiết phải mua các loại máy móc, công cụ mà thông qua các hoạt động dịch vụ cho thuê các hộ có thể giải quyết được nhu cầu này. Do đó vấn đề cần thiết phải suy nghĩ là phải phát triển dịch vụ nông nghiệp đa dạng như thế nào cho tốt để hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất, muốn làm được điều này cần phải có vốn đầu tư.

Lao động dôi thừa, sản xuất còn lệ thuộc vào tự nhiên: Hiện nay, lực lượng lao động thiếu việc làm ở nông thôn là khá lớn. Đa phần số lao động này còn trẻ, khỏe. Hàng năm, số lao động chưa có việc làm ở nông thôn vào khoảng 26,5%, đây là một lợi thế lớn ở Việt Nam nhưng trong một chừng mực nào đó đây là một áp lực đối với kinh tế nông thôn. Mặt khác, trình độ dân trí ở nông thôn còn thấp, nên sự tiếp thu khoa học vào sản xuất kinh doanh của chủ hộ, các thành viên trong gia đình còn bị hạn chế. Việc sản xuất còn bị phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Đây là một vấn đề cần sớm được khắc phục trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ sản xuất diễn ra chậm: Việc chuyển sang các ngành phi nông nghiệp của các hộ sản xuất còn bị hạn chế, hộ thuần nông vẫn chiếm tỷ lệ lớn.

Vốn kinh doanh nhỏ bé lại luôn thiếu: Qua điều tra cho thấy phần lớn hộ nông dân là thiếu vốn sản xuất. Để giải quyết vấn đề vốn cho hộ sản xuất là một giải pháp hàng đầu để tạo tiền đề cho các hộ khai thác các nguồn lực để đưa vào quá trình tái sản xuất.

Nói tóm lại, hộ sản xuất nước ta vẫn còn nằn trong trạng thái sản xuất nhỏ, năng xuất lao động thấp, sản xuất hàng hóa mới ở bước đầu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm chạm, do đó hộ sản xuất rất lúng túng trước biến động của thị trường đầy rủi ro. Vì vậy, sự giúp đỡ của Nhà nước là cần thiết đặc biệt là sự giúp đỡ về vốn để tạo đà cho sự phát triển kinh tế hộ.

1.1.4. Vai trò của hộ sản xuất trong nền kinh tế ở nước ta

Từ sau đại hội VII những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta được ban hành đã có tác động thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đồng thời chủ động đối phó những khó khăn, tồn tại đang nảy sinh từ kinh tế nông hộ. Mô hình kinh tế hiện nay đã phân định khu vực kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân dưới sự điều hành chung của Chính phủ. Kinh tế hộ đã phát huy được tính ưu việt ngày càng mở rộng và dần tiếp cận với thị trường, khuyến khích được nông dân khơi tăng các nguồn lực, tăng được thu nhập, nhờ đó người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng vụ, vừa đổi mới cơ cấu sản xuất, việc trao quyền tự chủ cho hộ nông dân đã khơi dậy nhiều làng nghề truyền thống, mạnh dạn vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để có hiệu quả kinh tế lớn nhất. Điều này càng khẳng định sự tồn tại khách quan của hộ sản xuất với vai trò là cầu nối trung gian giữa 2 nền kinh tế, là đơn vị tích tụ vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động giải quyết việc làm nông thôn. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

1.1.4.1. Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa

Lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình. Tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ lên kinh tế hàng hóa quy mô lớn, đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ.

Bước chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ sản xuất là một giai đoạn lich sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, giải thoát khỏi tình trạng nền kinh tế kém phát triển.

1.1.4.2. Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn

Lao động là nguồn lực dồi dào nhất nước ta, là yếu tố năng động và là động lực quyết định của nền kinh tế quốc dân. Bởi lao động là một trong những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, lao động là nguồn gốc của giá trị thặng dư, lao động làm tăng của cải vật chất cho mọi quốc gia. Đặc biệt ở Việt Nam có khoảng 80% dân số sống ở mức thấp mặc dù từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế hàng hóa với chủ trương mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua số lượng các công ty liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng, nhưng yêu cầu đối với lao động nông thôn của các doanh nghiệp này đòi hỏi rất cao, do đó rất ít lao động nông thôn có cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp này. Hiện nay, ở nước ta có khoảng 12 triệu lao động chưa được sử dụng và quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn chưa được sử dụng hết. Vì vậy, giải quyết việc làm ở nông thôn chúng ta cần phải phát triển kinh tế hộ sản xuất. Trên thực tế đã cho thấy trong những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.

Mặt khác, quy mô sản xuất nhỏ nên mức đầu tư cho một lao động trong kinh tế hộ sản xuất là thấp. Điều này đặt trong hoàn cảnh đất nước ta là một nước nghèo, vốn tích lũy ít thì càng khẳng định hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lực lượng lao động trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói chung.

1.1.4.3. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá

Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào để trực tiếp quan hệ với thị trường. Để đạt được điều này các đơn vị kinh tế nói chung và hộ sản xuất nói riêng đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà nước có các chính sách khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vươn lên tự khẳng định vị trí trên thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển đầy đủ, đa dạng thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá. Như vậy, với khả năng nhạy bén trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn.

1.1.4.4. Hộ sản xuất thúc đẩy sự phân công lao động dần tới chuyên môn hoá, tạo khả năng hợp tác lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi

Kinh tế hộ đã từng bước tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cố quan hệ sản xuất, tăng cường lực lượng sản xuất tạo sự phân công lao động trong nông thôn từ nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hoá kém phát triển sang sản xuất hàng hoá phát triển hơn. Từ sự phân công lao động dẫn đến quá trình chuyên môn hoá trong các hộ sản xuất. Đối với các hộ kinh doanh dịch vụ thì sự chuyên môn hoá càng cao thì một yêu cầu tất yếu sẽ xuất hiện, đó là sự hợp tác lao động giữa các hộ sản xuất với nhau. Nếu như chuyên môn hoá làm cho năng xuất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác hoá sẽ làm cho quá trình sản xuất hàng hoá được hoàn thiện đáp ứng đầy đủ nhu cầu của chính các hộ sản xuất và từ đó đáp ứng nhu cầu thị trường.

1.2 Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng hàng hoá là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như:

Tín dụng Ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng Nhà nước, tín dụng tiêu dùng.

Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.

Với đặc điểm riêng của mình là: tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư vào mọi lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa mà tín dụng Ngân hàng được ưu tiên hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan trọng.

1.2.2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Để thúc đẩy nông thôn nước ta phát triển, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay và mai sau. Nông thôn và nông dân đang rất thiếu vốn để phát triển sản xuất, mở rộng ngành nghề và dịch vụ.

Vì vậy, đối với việc phát triển kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp, tín dụng Ngân hàng có những vai trò chủ yếu sau:

  • Tín dụng Ngân hàng góp phần hình thành thị trường tài chính ở nông thôn

Nước ta là một nước nông nghiệp với khoảng 80% dân số ở nông thôn, với 10 triệu hộ sản xuất Nông – Lâm – Ngư – Diêm nghiệp đã sản xuất ra gần 50% tổng sản phẩm xã hội. Chuyển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa thì vấn đề đặt ra là phải hình thành thị trường đồng bộ nông thôn vì đây là một địa bàn rộng lớn, nơi có sức mua và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của công nghiệp, và là nơi cung ứng sản phẩm hàng hóa, nông sản cho tiêu dùng cả nước, nguyên liệu cho chế biến và là nơi cung cấp nguồn lao động dồi dào cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc hình thành thị trường tài chính ở nông thôn là một đòi hỏi cần thiết nhằm tạo động lực cho sự phát triển.

Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và hoạt động tín dụng, cho nên tín dụng Ngân hàng là cầu nối trung gian giữa người cần vốn và người cung ứng vốn, nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong phạm vi khác nhau có thể có vùng, khu vực cần vốn và có khu vực khác thì chưa cần vốn, cho nên tín dụng cần phải điều hòa giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn. Trong việc điều hòa vốn này, hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn có nhiều khả năng hơn vì nó có mạng lưới kinh doanh rộng khắp các vùng nông thôn với hệ thống chân rết tới từng huyện, xã và thôn xóm trong cả nước.

  • Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn duy trì sản xuất

Trong quá trình sản xuất hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp. Tín dụng Ngân hàng góp phần phân phối điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất liên tục. Đồng thời tín dụng Ngân hàng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư cho sản xuất, tạo thu nhập cho người có vốn. Nó là động lực thúc đẩy tính tiết kiệm của dân cư và là phương pháp đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất. Nó là nguồn động lực không thể thiếu để các hộ mở rộng sản xuất, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.

Tín dụng Ngân hàng góp phần hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn Vùng nông thôn là vùng sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cả xã hội, đang trong quá trình CNH – HĐH và là ngành chịu sự tác động mạnh nhất của thiên nhiên, cơ sở hạ tầng của nó cần có đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài,… cần được tín dụng ưu đãi.

Đối với hộ nông dân, kết quả của hộ trông chờ trên từng mảnh đất họ canh tác, rủi ro rất lớn. Ở nông thôn trước đây, số lượng lớn các hợp tác xã tín dụng cùng các tổ chức cho vay nặng lãi, góp vốn phát triển mạnh mẽ, hoạt động đan xen lợi dụng lẫn nhau, gây nhu cầu khẩn trương giả tạo về tiền tệ. Do hoạt động không hiệu quả, chủ yếu là lừa đảo chiếm đoạt vốn của bà con nông dân nên hàng loạt các hợp tác xã tín dụng, tỏ chức cho vay nặng lãi tan rã và phá sản.

Trong khi các hợp tác xã tín dụng tan rã, hợp tác xã nông thôn chỉ tồn tại trên danh nghĩa thì chính sách cho vay vốn trực tiếp của Ngân hàng tới sản xuất như nguồn nước mát làm dịu cơn khát vốn của hộ sản xuất nông nghiệp. Tín dụng Ngân hàng cho vay trực tiếp tới hộ, cùng với chế độ lãi suất ưu đãi không chỉ đáp ứng nhu cầu về vốn trong sản xuất mà còn khuyến khích người sản xuất có thể mở rộng đầu tư, làm giàu trên thửa ruộng, mảnh vườn mà họ có quyền sử dụng.

  • Tín dụng Ngân hàng kiểm soát đồng tiền và thúc đẩy hộ sản xuất thực hiện chế độ hạch toán kinh tế

Ngân hàng với tư cách là trung tâm tiền tệ, tín dụng thanh toán, thông qua các nghiệp vụ thanh toán có thể kiểm soát bằng đồng tiền mọi hoạt động của nền kinh tế. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Cũng chính qua việc đầu tư vốn cho các hộ sản xuất, tín dụng Ngân hàng đã giúp cho các hộ làm quen và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế. Bởi vì trong nền sản xuất hàng hóa, còn quan hệ sản xuất hàng hóa tiền tệ thì nền kinh tế còn sử dụng tiền tệ để tính toán hao phí lao động xã hội trong sản xuất và lưu thông. Bất cứ một đơn vị sản xuất nào để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để quá trình hoạt động sản xuất đạt được hiệu quả.

Như vậy, bằng động tác gián tiếp Ngân hàng đã kích thích các hộ sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phải hạch toán kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm chi phí sản xuất để sau khi trả nợ cho Ngân hàng các hộ sản xuất vẫn còn lãi ròng là thành quả gặt hái được sau quá trình lao động sản xuất.

  • Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất hàng hóa

Trước đây, các hộ sản xuất đã quen với tính chất tự cung tự cấp, mọi sản phẩm làm ra để cho tiêu dùng của chính mình. Khi tín dụng Ngân hàng đầu tư cho sản xuất phải tiến đến bước phát triển lớn hơn trong sản xuất nông nghiệp, phải làm quen với hình thức sản xuất hàng hóa. Sản phẩm làm ra không chỉ cung cấp cho tiêu dùng mà còn là hàng hóa bán trên thị trường. Chính quá trình bán hàng hóa trên thị trường, với nền sản xuất hàng hóa và do tác động của cơ chế thị trường đã giúp hộ sản xuất hình thành những biện pháp tốt để tiếp cận và thích nghi với thị trường, như nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi các loại cây trồng, con giống theo thời vụ cho thích hợp, cải tiến các biện pháp kỹ thuật về giống, tiết kiệm vật tư để sản phẩm làm ra đáp ứng với nhu cầu của thị trường, thu được lợi nhuận cao.

Thêm vào đó, khi được tiếp nhận vốn đầu tư của Ngân hàng một cách kịp thời cùng với chính sách ưu đãi riêng, hộ sản xuất có khả năng ngày càng mở rộng quy mô.

Tóm lại: Tín dụng Ngân hàng có vai trò to lớn đối với hộ sản xuất cả về mặt kinh tế lẫn xã hội, chính trị. Để tín dụng Ngân hàng đến với hộ sản xuất, các Ngân hàng phải ngày càng tự hoàn thiện mạng lưới tổ chức, biện pháp nghiệp vụ của mình để góp phần đáp ứng một cách thuận tiện, kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuất, tạo điều kiện cho hộ sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh.

1.3. Hiệu quả cho vay phát triển kinh tế hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

1.3.1. Quan niệm về hiệu quả cho vay hộ sản xuất

Trong cơ chế thị trường, hệ thống Ngân hàng được phân chia thành 2 cấp, Ngân hàng nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý vĩ mô và các Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh độc lập trên cơ sở hạch toán lỗ lãi “lời ăn lỗ chịu” nguồn vốn trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại giờ đây không còn do Nhà nước bao cấp mà phải tự huy động từ những nguồn nhàn rỗi tạm thời trong xã hội, tiến hành cho hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận bù đắp các chi phí đầu vào trên quy tắc phù hợp với các chế độ chính sách kinh tế xã hội hiện hành của Nhà nước. Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất, mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại (trên 70%) được thực hiện trên cơ sở tính toán về khối lượng các nguồn vốn mà Ngân hàng huy động có thể sử dụng cho vay. Các khoản tín dụng Ngân hàng thương mại cấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh tế, thu hồi được vốn và lãi đúng hạn, lãi thu được không chỉ đủ bù đắp phần lãi mà Ngân hàng phải trả cho người gửi tiền và các chi phí khác trong việc thực hiện khoản cho vay mà còn phải tạo ra lợi nhuận cho hoạt động tín dụng.

Trong hoạt động của Ngân hàng có rất nhiều nghiệp vụ kinh doanh đem lại thu nhập cho Ngân hàng trong đó nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng cần phải chú trọng đến hiệu quả kinh doanh đặc biệt là hiệu quả tín dụng.

Hiệu quả tín dụng có thể được hiểu là Ngân hàng đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho khách hàng của mình và được khách hàng sử dụng đúng mục đích và tạo ra được số tiền lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu, hoàn trả được Ngân hàng cả gốc và lãi theo thoả thuận, đảm bảo thu nhập cho cả Ngân hàng và khách hàng.

Đầu tư tín dụng có hiệu quả được thể hiện đầy đủ, đúng đắn các nguyên tắc và định hướng đầu tư của Nhà nước, đối với các ngành kinh tế, các doanh nghiệp, các hộ dân cư, khi thực hiện quan hệ tín dụng có chất lượng cao thì các khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn đúng mục đích, tăng cường tính khả thi của dự án, sản phẩm sản xuất ra từ dự án có chất lượng cao, giá thành rẻ, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của toàn xã hội. Như vậy khách hàng có lợi nhuận tăng thu nhập cho mình, ổn định đời sống xã hội.

Hiệu quả cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng thực lực theo hướng tích cực của bản thân Ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ đúng hạn và có lãi. Hiệu quả cho vay phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày một tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn trong nền kinh tế.

Hiệu quả cho vay vừa cụ thể (Thông qua các chỉ tiêu như kết quả kinh doanh, tỷ trọng nợ quá hạn…) vừa trừu tượng (Khả năng thu hút khách hàng và nền kinh tế…) và có quan hệ đến các nhân tố chủ quan như: Năng lực quản lý, trình độ cán bộ, chính sách tín dụng, kiểm soát nội bộ và các nhân tố khách quan như: Sự thay đổi của chính sách nhà nước, sự thay đổi của giá cả thị trường, môi trường pháp lý, cơ chế chính sách. Có thể nói hiệu quả cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp nó thể hiện năng lực của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Đối với Ngân hàng, tín dụng Ngân hàng là một hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho Ngân hàng. Do đó đánh giá hiệu quả tín dụng sẽ giúp các Ngân hàng, các ngành có liên quan đưa ra được các biện pháp thích hợp để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội đã đề ra là mục tiêu lợi nhuận của bản thân Ngân hàng, hiệu quả tín dụng Ngân hàng được thể hiện trên các mặt sau:

1.3.2.1. Nợ quá hạn

Nợ quá hạn phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không trả được cho Ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì Ngân hàng sẽ chuyển tài khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là nợ quá hạn. Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng.

1.3.2.2. Tỷ lệ nợ quá hạn

Đây là chỉ tiêu tương đối được sử dụng chủ yếu để đánh giá hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. Nếu tỷ lệ này mà cao thì hiệu quả cho vay sẽ thấp bởi điều đó đồng nghĩa với khối lượng tín dụng quá hạn lớn, nguy cơ rủi ro mất vốn tăng lên. Hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng nói riêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn kinh doanh của Ngân hàng. Do vậy việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân hàng liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng.

1.3.2.3. Hệ số sử dụng vốn

Cho biết vốn huy động tham gia vào việc đầu tư tín dụng. Nó còn phản ánh khả năng huy động vốn tại địa phương của Ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này lớn thì thể hiện vốn huy động quá thấp không đáp ứng cho việc đầu tư tại địa phương. Còn nếu chỉ tiêu này nhỏ chứng tỏ Ngân hàng chưa thật sự đưa nguồn vốn huy động vào sử dụng tốt, thực hiện việc sử dụng vốn chưa có hiệu quả. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

1.3.2.4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng, nó phản ánh tần suất sử dụng vốn.Vòng quay vốn tín dụng càng lớn, với số dư nợ tăng chứng tỏ đồng vốn ngân hàng bỏ ra đã được sử dụng một cách có hiệu quả, vốn vay được hoàn trả Ngân hàng đúng thời hạn, tiết kiệm chi phí, tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng.

1.3.2.5. Hệ số thu nợ

Hệ số thu nợ đánh giá khả năng thu hồi nợ từ đồng vốn Ngân hàng cho vay ra. Nếu hệ số thu nợ này cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của Ngân hàng tốt, rủi ro tín dụng thấp. Nếu hệ số này thấp cho thấy việc đầu tư tín dụng có khả năng gặp rủi ro.

1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay hộ sản xuất

Việc nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn đối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng. Do vậy, phải nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên đối với Ngân hàng. Để làm tốt điều đó cần phải xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay hộ sản xuất.

1.3.3.1. Nhân tố khách quan

  • Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất nhất là những hộ sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên. Nếu “mưa thuận gió hoà” thì sản xuất nông nghiệp gặp nhiều thuận lợi, … hộ sản xuất có khả năng tài chính ổn định từ đó khoản tín dụng được đảm bảo. Ngược lại, nếu thiên nhiên lại bất ngờ xảy ra thì sản xuất gặp nhiều khó khăn gây ra thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ sản xuất, … dẫn đến khoản tín dụng có vấn đề.

  • Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả tín dụng hộ sản xuất.

Môi trường kinh tế không ổn định sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, các hộ sản xuất kinh doanh sẽ không có điều kiện để mở rộng sản xuất, thậm chí bị thu hẹp về sản xuất, khi đó đầu tư tín dụng của Ngân hàng cho kinh tế hộ cũng bị giảm sút và kém hiệu quả. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Môi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện cho hộ sản xuất làm ăn có hiệu quả, do vậy hộ sản xuất sẽ vay nhiều hơn, các khoản vay đều được hộ sản xuất sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế. Từ đó, các khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi làm cho hiệu quả cho vay hộ sản xuất được nâng lên.

  • Môi trường chính trị – pháp lý

Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng. Do vậy, việc tạo ra môi trường pháp lý hoàn thiện sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả cho vay. Môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện và cơ sở pháp lý để hoạt động cho vay của Ngân hàng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh cỉa hộ sản xuất được tiến hành một cách thuận lợi. Những quy định cụ thể của pháp luật về cho vay và các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động cho vay là cơ sở để xử lý, giải quyết khi xảy ra các tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệu nhất. Vì vậy, môi trường chính trị – pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay hộ sản xuất.

  • Các đối thủ cạnh tranh

Ngành ngân hàng đang phát triển rất sôi động. Nhiều NHTM, các chi nhánh, phòng giao dịch mới được thành lập trên khắp toàn quốc. Sự cạnh tranh càng trở nên khốc liệt, nó có ảnh hưởng đến thị phần cho vay của mỗi Ngân hàng. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thể hiện vị thế và uy tín của Ngân hàng. Đặc biệt là các Ngân hàng lớn, với tiểm lực vốn mạnh, thị trường lớn, các mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Do vậy trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ và khốc liệt như hiện nay, mỗi Ngân hàng trong quá trình phát triển đều phải xác định chỗ đứng của mình để có được những chiến lược phát triển đúng đắn.

1.3.3.2. Nhân tố chủ quan

1.3.3.2.1. Yếu tố thuộc về khách hàng

  • Phương án sử dụng vốn vay Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Phương án sản xuất kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả cho món vay. Một phương án tốt sẽ sử dụng tốt vốn vay, sẽ đem lại mức lợi nhuận cao cho khách hàng, dòng tiền và kết quả kinh doanh tốt sẽ đảm bảo trả gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng.

  • Năng lực điều hành, quản lý và đạo đức kinh doanh của chủ hộ

Một trong những yêu cầu quan trọng khi xem xét cho vay khách hàng là việc cán bộ tín dụng gặp gỡ trực tiếp và đàm phán với khách hàng. Thông qua quá trình gặp gỡ và trao đổi này thì CBTD có thể hiểu thêm nhiều về đối tượng cho vay, về kinh nghiệm, về kiến thức, về ý thức và quyết tâm kinh doanh. Đây mặc dù là một yếu tố phi tài chính nhưng lại vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay. Khi khách hàng có trình độ chuyên môn cao, năng lực lãnh đạo tốt thì ngay ở khâu đầu tiên là lập dự án đầu tư cũng đã thể hiện khả năng thành công của dự án, khả năng sử dụng vốn vay từ Ngân hàng một cách hiệu quả. Nếu ngược lại, nếu như khách hàng không có đủ trình độ quản lý và kinh nghiệm cần thiết thì khoản vay không phát huy được tác dụng, không đảm bảo được hiệu quả cho vay và kết quả xấu nhất là Ngân hàng mất vốn. Bên cạnh việc xem xét về trình độ chuyên môn của khách hàng, CBTD cũng phải đánh giá khách hàng trên khía cạnh đạo đức. Tính trung thực, mức độ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo khoản vay có hiệu quả.

1.3.3.2.2. Yếu tố thuộc về Ngân hàng

  • Khả năng thẩm định cho vay

Trong quy trình tín dụng của các Ngân hàng, thẩm định cho vay là khâu đầu tiên và quan trọng. Thẩm định là việc đánh giá, thẩm tra, dự đoán về độ chính xác, an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín dụng. Kết quả của quá trình thẩm định sẽ dùng để quyết định xem có thực hiện món vay hay không. Mặc dù không thể tránh được tất cả các sai sót, nhưng làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi đủ cả vốn và lãi một cách đầy đủ, đúng hạn. Quá trình thẩm định không chỉ đòi hỏi việc tuân thủ nghiêm ngặt về hồ sơ và an toàn thông tin mà còn yêu cầu trình độ chuyên môn và sự phán đoán linh hoạt của cán bộ. Đối với cho vay hộ sản xuất, thẩm định cũng đòi hỏi phải nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời phải đảm bảo chính xác và an toàn.

  • Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các văn bản phản ánh cương lĩnh tài trợ của một Ngân hàng, nhằm hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo ra sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.

Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ giúp cho hoạt động cho vay của ngân hàng giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng và do đó hiệu quả của các món cho vay được nâng cao; ngược lại một chính sách tín dụng thiếu chính xác và hợp lý có thể đẩy Ngân hàng vào tình trạng thua lỗ hay nặng hơn là phá sản. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Một chính sách tín dụng được đánh giá là hoàn thiện nếu nó được xây dựng phù hợp với mục tiêu tổng thể của Ngân hàng trong từng thời kì, thực hiện được vai trò định hướng cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, đáp ứng đựơc nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

  • Trình độ cán bộ Ngân hàng

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói riêng cũng như tất cả các ngành và lĩnh vực khác của nền kinh tế, con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất. Chính vì thế, để năng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất, cần phải lấy yếu tố con người là trung tâm. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển, các ngành và lĩnh vực do đó sẽ ngày càng phức tạp và yếu tố chất xám ngày càng tăng. Thêm vào đó, ngành Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt của nền kinh tế, nơi mà các công nghệ hiện đại nhất được sử dụng cùng với tính phức tạp và tinh vi trong việc xử lý các nghiệp vụ luôn đòi hỏi các cán bộ Ngân hàng phải có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động cho vay, trước hết là trong công tác thẩm định, phân tích tín dụng, quản lý tín dụng. Mặt khác, khách hàng của Ngân hàng ngày càng phong phú, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, cán bộ tín dụng cũng phải có trình độ, hiểu biết nhiều lĩnh vực để có thể đánh giá được khách hàng và phương án kinh doanh.

  • Thông tin tín dụng

Vấn đề thông tin là một vấn đề nhạy cảm và có tính quyết định đến thành công hay thất bại của công việc kinh doanh. Điều đó ngày càng được chứng minh trong nền kinh tế phát triển. NHTM hoạt động trong một lĩnh vực rất nhạy cảm với những thay đổi của nền kinh tế và mang tính rủi ro cao. Do vậy, thông tin đối với Ngân hàng là vô cùng quan trọng. Trong quá trình hoạt động của mình, Ngân hàng không thể có được tất cả những thông tin cần thiết: về khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng với những tổ chức tín dụng khác, tài sản đảm bảo, những mối quan hệ khác của khách hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng… Mọi thông tin đều có ảnh hưởng đến quyết định của cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định cho vay. Việc thiếu thông tin tạo ra những rủi ro lớn cho Ngân hàng, tạo ra rủi ro lựa chọn đối nghịch. Do đó, Ngân hàng nào càng nắm được nhiều thông tin chính xác sẽ càng có lợi thế trong cạnh tranh.

  • Công tác tổ chức và quản lý

Tổ chức và quản lý là khâu quan trọng trong mọi hoạt động nói chung. Với hoạt động của Ngân hàng, tổ chức và quản lý có vai trò quyết định đến tính chuyên nghiệp và hiệu quả của hoạt động cho vay.

Công tác tổ chức và quản lý nếu được phối hợp thực hiện chặt chẽ sẽ góp phần làm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung.

1.3.4. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

Đối với hoạt động của NHNo&PTNT: Là một Ngân hàng thương mại với đặc trưng hoạt động là “đi vay để cho vay”, do vậy khi cấp tiền vay, Ngân hàng cần phải tính đến việc thu hồi được vốn (bao gồm cả gốc + lãi) đúng hạn để có khả năng hoàn trả cho khách hàng gửi tiền. Mặt khác, cho vay hộ sản xuất có 1 vị trí quan trọng, đặc biệt nhất là đối với NHNo&PTNT thì đây là một khách hàng truyền thống với xu thế thị phần tín dụng ngày càng tăng, cho vay đảm bảo có hiệu quả là đảm bảo sự tồn tại của chính Ngân hàng.

Đối với hộ sản xuất: Để đáp ứng nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh của khách hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh, bằng các nguồn vốn huy động được trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng đã cung cấp đủ vốn, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời góp phần tăng năng xuất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. . Đồng thời sẽ phát huy được mọi nguồn lực ở nông thôn, từ đó khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, mở rộng và phát triển tiểu thủ công nghiệp, đáp ứng và phù hợp với nhu cầu thị trường.

Đối với nền kinh tế: Để phát triển nền kinh tế tăng thu nhập quốc dân tạo ra tích luỹ từ mỗi cá nhân, doanh nghiệp nhà nước thúc đẩy sản xuất đẩy mạnh sự phát triển của các ngành nghề trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn, ngược lại nền kinh tế càng phát triển càng tạo ra nhiều nguồn vốn. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn tiền nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn tiết kiệm từ các cá nhân trong xã hội. Bằng các nguồn vốn trên Ngân hàng thông qua nghiệp vụ tín dụng đã cung cấp vốn cho mọi họat động cho quá trình sản xuất tăng năng xuất lao động, nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế. Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Agribank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x