Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing trực tuyến cho Công ty TNHH Hunufa dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.1.1. Thống kê mô tả mẫu khảo sát

Sau khi gửi form khảo sát, nhóm tác giả đã thu về được 140 phiếu khảo sát, trong đó có 9 người chưa từng dùng sản phẩm nên đã dừng khảo sát từ lúc ban đầu nên còn lại 131 phiếu khảo sát. Tiếp theo, nhóm tác giả tiến hành sàng lọc và làm sạch dữ liệu thì còn lại 129 mẫu hợp lệ và đạt yêu cầu để đưa vào phần mềm SPSS 25. Nhóm tác giả thực hiện phân tích thống kê cho 129 người theo mức độ sử dụng sản phẩm dùng 1 lần, độ tuổi, giới tính, ngành nghề kinh doanh, thu nhập hàng tháng và nền tảng tìm kiếm thông tin sản phẩm.

  • Thống kê mô tả theo Mức độ sử dụng sản phẩm dùng 1 lần

Hình 4.1: Biểu đồ thống kê tỷ lệ Mức độ sử dụng sản phẩm dùng 1 lần

Qua Hình 4.1 biểu đồ thống kê trong tổng 129 người khảo sát thì có 90 người Đang sử dụng sản phẩm dùng 1 lần (ly giấy, ly nhựa, tô giấy, tô nhựa…) chiếm 69.8% và 39 người Đã từng sản phẩm sản phẩm dùng 1 lần (ly giấy, ly nhựa, tô giấy, tô nhựa…) chiếm 30.2%. Điều này cho thấy rằng sản phẩm dùng 1 lần (ly giấy, ly nhựa, tô giấy, tô nhựa…) được nhiều người ưa chuộng và lựa chọn dùng.

  • Thống kê mô tả theo Độ tuổi

Hình 4.2: Biểu đồ thống kê tỷ lệ Độ tuổi

Theo thống kê của 129 người khảo sát trên thì độ tuổi từ 25 – 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 37.2% với 48 người khảo sát, tiếp đến là độ tuổi từ 18 – 35 tuổi tỷ lệ cao thứ hai là 36.4% với 47 người khảo sát và thứ ba là độ tuổi từ 35 – 45 tuổi chiếm 21.7% với 28 người khảo sát. Cuối cùng là trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 4.7% có 6 người khảo sát (xem Hình 4.2). Từ đây có thể thấy rằng đối tượng khảo sát chủ yếu rơi vào nhóm tuổi từ 18 đến 35 tuổi vì họ có khả năng tiếp cận và ảnh hưởng nhiều bởi hoạt động marketing trực tuyến, đồng thời cũng phù hợp với nhu cầu sử dụng sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa.

  • Thống kê mô tả theo Giới tính

Hình 4.3: Biểu đồ thống kê tỷ lệ Giới tính

Theo thống kê trong Hình 4.3, trong 129 người khảo sát thì có 70 người khảo sát là Nữ chiếm 54.3% và 59 người khảo sát còn lại là Nam chiếm 45.7%. Từ đây có thế kết luận rằng, cả nam và nữ đều có sự quan tâm đến các sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa. Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

  • Thống kê mô tả theo Ngành nghề kinh doanh

Bảng 4.1: Thống kê Ngành nghề kinh doanh

Qua Bảng 4.1 trong 129 người khảo sát thì chủ quán cà phê take away có tỷ lệ cao nhất với 37.2% với 48 người, thứ hai là chủ quán ăn nhỏ với 24.8% với 32 người. Tiếp đến đứng thứ ba là kinh doanh thức ăn với 19.4% với 25 người và kinh doanh đồ uống đứng thứ tư chiếm 15.5% với 20 người. Các ngành nghề kinh doanh khác có tỉ lệ thấp hơn là 0.8%. Nhìn chung, sản phẩm dùng 1 lần được rất ưa chuộng trong ngành kinh doanh đồ ăn và thức uống hiện nay bởi tính tiện lợi của chúng.

  • Thống kê mô tả theo Thu nhập hàng tháng

Hình 4.4: Biểu đồ thống kê tỷ lệ Thu nhập hàng tháng

Qua Hình 4.4, ta nhận thấy trong 129 người khảo sát thì thu nhập 10 – 30 triệu đồng/tháng là cao nhất với tỉ lệ 45.7% của 59 người khảo sát. Thứ hai là thu nhập 30 –50 triệu đồng/tháng có tỷ lệ 34.1% với 44 người khảo sát. Đứng thứ ba là thu nhập 50 –100 triệu đồng/tháng có tỷ lệ 15.5% với 20 người khảo sát và cuối cùng là thu nhập > 100 triệu đồng/tháng có tỷ lệ thấp nhất là 9% với 6 người khảo sát. Từ đây ta có thể thấy rằng do việc khảo sát được thực hiện chủ yếu trong nhóm độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi và ngành nghề kinh doanh là chủ quán cà phê take away nên thu nhập 10 – 30 triệu đồng/tháng là mức trung bình phù hợp với đối tượng khảo sát.

  • Thống kê mô tả theo Nền tảng thường sử dụng

Hình 4.5: Biểu đồ thống kê tỷ lệ Nền tảng thường sử dụng

Qua Hình 4.5, ta nhận thấy rằng nền tảng thường được sử dụng nhiều nhất để tìm kiếm thông tin sản phẩm dùng 1 lần là Website chiếm 58.9% với 76 người và đứng thứ hai là Facebook chiếm 31.8% với 41 người. Cuối cùng là Tiktok chiếm 9.3% với 12 người khảo sát.

4.1.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Quy tắc chung: Hệ số tương quan tổng (Item – Total Correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và thang đo được chấp nhận để phân tích trong các bước tiếp theo nên có độ tin cậy Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên.

4.1.2.1. Kiểm định độ tin cậy với thang đo “Tính thông tin”

  • Bảng 4.2: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của Biến độc lập “Tính thông tin”

Từ Bảng 4.2 kết quả phân tích qua ứng dụng SPSS ta thấy có 4 biến quan sát được

đưa vào kiểm định và giá trị Cronbach’s Alpha của thang đo là 0,845 > 0,6 nên thang đo được chấp nhận. Các hệ số tương quan biến đều lớn hơn 0,3 nên các biến đều đạt điều kiện phù hợp.

4.1.2.2. Kiểm định độ tin cậy với thang đo “Sự chú ý”

  • Bảng 4.3: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của Biến độc lập “Sự chú ý”

Qua Bảng 4.3 ta nhận thấy có 4 biến quan sát được đưa vào kiểm định và giá trị Cronbach’s Alpha của thang đo là 0,632 > 0,6 nên thang đo được chấp nhận. Các hệ số tương quan biến đều lớn hơn 0,3 nên các biến đều đạt điều kiện phù hợp.

4.1.2.3. Kiểm định độ tin cậy với thang đo “Sự thích thú”

  • Bảng 4.4: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của Biến độc lập “Sự thích thú”

Đối với khảo sát này có 4 biến được đưa vào và các biến quan sát đều có hệ số tương quan tổng biến phù hợp (Đều ≥ 0,3). Đặc biệt hệ số Cronbach’s Alpha là 0,861 ≥ 0,6 nên đạt yêu cầu về độ tin cậy (xem Bảng 4.4).

4.1.2.4. Kiểm định độ tin cậy với thang đo “Sự uy tín” Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

  • Bảng 4.5: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của Biến độc lập “Sự uy tín”

Ở Bảng 4.5, ta tiếp tục có 4 biến được đưa vào và các biến quan sát đều có hệ số tương quan tổng biến phù hợp (Đều ≥ 0,3). Đối với hệ số Cronbach’s Alpha thì đang ở mức 0,677 ≥ 0,6 nên đạt yêu cầu về độ tin cậy.

4.1.2.4. Kiểm định độ tin cậy với thang đo “Ý định mua sản phẩm dùng một lần của Hunufa”

  • Bảng 4.6: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của Biến độc lập “Ý định mua”

Kết quả kiểm định cho biến Quyết định mua là hoàn toàn phù hợp và đạt yêu cầu về độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha = 0,811 ≥ 0.6, bên cạnh đó hệ số tương quan tổng biến phù hợp (≥ 0.3) (xem Bảng 4.6).

  • Nhận xét tổng quan:

Sau khi nhận được kết quả phân tích ta thấy tất cả các biến quan sát được đưa vào kiểm tra đều có hệ số Cronbach’s Alpha ≥ 0.6. Trong đó sự ảnh hưởng của “Sự chú ý” có hệ số Cronbach’s Alpha thấp nhất là 0,632 và cao nhất là hệ số Cronbach’s Alpha của “Sự thích thú” là 0,861. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các biến với nhau và có giá trị về mặt nghiên cứu khoa học.

Hệ số tương quan biến – tổng của các biến đều lớn hơn 0.3, đạt độ tin cậy khá cao và phù hợp để tiến hành nghiên cứu. Do đó, nhóm tác giả quyết định nghiên cứu sẽ giữ lại tất cả các biến quan sát và tiếp tục phân tích nhân tố khám phá EFA.

4.1.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

Các tiêu chí trong phân tích EFA:

  • Hệ số KMO phải nằm trong đoạn từ 0,5 đến
  • Kiểm định Bartlett có Sig phải nhỏ hơn 0,05.
  • Giá trị Eigenvalue lớn hơn hoặc bằng
  • Tổng phương sai trích lớn hơn hoặc bằng 50%.

4.1.3.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập

  • Kiểm định KMO và Bartlett’s cho biến độc lập

Bảng 4.7: Kiểm định KMO và Bartlett’s cho biến độc lập

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp. Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Trong kết quả Bảng 4.7 thì hệ số KMO có giá trị là 0.840 (0.5≤ 0.840 ≤1). Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0.05): Đây là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể. Trong kiểm định này, có Sig. = .000 (Sig ≤ 0.05).

Vậy nên cả hai kết quả này đều chỉ ra rằng việc tiến hành phân tích nhân tố trên ma trận tương quan là phù hợp.

  • Kiểm định phương sai trích của các biến độc lập

Bảng 4.8: Kiểm định phương sai trích của các biến độc lập

Trong Bảng 4.8 cho thấy các biến dừng tại dòng thứ 4, điều này cho thấy các biến đưa vào phân tích sắp xếp thành 4 nhóm yếu tố riêng biệt. Tại dòng thứ 4 ta thấy giá trị riêng là 1.048 > 1 và tổng tỷ lệ cộng dồn các cột là 61.042% > 50%. Nghĩa là xem biến thiên là 100% thì giá trị này cho biết phân tích nhân tố đang giải thích được 61.042%.

  • Ma trận nhân tố của các biến độc lập

Bảng 4.9: Ma trận xoay nhân tố các biến độc lập

Từ kết quả phân tích EFA trong Bảng 4.9 cho thấy các biến quan sát đều có hệ số tải > 0.5. Do đó, toàn bộ 16 biến quan sát của 4 biến độc lập đều đạt giá trị hội tụ và có giá trị phân biệt nên được đưa vào phân tích hồi quy.

4.1.3.2. Phân tích EFA cho biến phụ thuộc

  • Kiểm định KMO và Bartlett’s cho biến phụ thuộc

Bảng 4.10: Kiểm định KMO và Bartlett’s cho biến phụ thuộc

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp.

Trong kết quả Bảng 4.10 trên thì hệ số KMO có giá trị là 0.765 (0.5 ≤ 0.765 ≤1). Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0.05) là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể. Trong kiểm định này, có Sig. = .000 (Sig ≤ 0.05). Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Vậy nên cả hai kết quả này đều chỉ ra rằng việc tiến hành phân tích nhân tố trên ma trận tương quan là phù hợp.

  • Kiểm định phương sai trích của nhân tố phụ thuộc

Bảng 4.11: Kiểm định phương sai trích của biến phụ thuộc

Qua Bảng 4.11 ta thấy được rằng hệ số Eigenvalue = 2.600 (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) > 1 thì các nhân tố rút ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất. Hệ số tổng phương sai trích (Total Variance Explained) có giá trị phương sai cộng dồn của yếu tố quyết định mua là 65.006% > 50% đáp ứng tiêu chuẩn. Từ đó kết luận rằng, nhân tố này giải thích được 65.006% biến thiên dữ liệu của 4 biến quan sát tham gia vào phân tích EFA.

  • Ma trận nhân tố của biến phụ thuộc

Bảng 4.12: Ma trận xoay nhân tố của biến phụ thuộc

Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc qua Bảng 4.12 hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều thỏa điều kiện Factor Loading > 0,5 và đều được chấp nhận. Ngoài ra từ bảng trên cho thấy EFA trích ra 1 nhân tố, thang đo đảm bảo được tính đơn hướng, các biến quan sát của biến phụ thuộc hội tụ khá tốt.

Các biến quan sát trong yếu tố “Ý định mua” đã thỏa điều kiện phân tích Cronbach’s Alpha > 0,6 đảm bảo yêu cầu phân tích hồi quy.

4.1.3.3. Tổng hợp các biến sau khi phân tích nhân tố EFA

  • Bảng 4.13: Tổng hợp các biến sau khi phân tích nhân tố EFA

Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA qua Bảng 4.13, các biến quan sát được nhóm thành 5 yếu tố chính. Trong đó, thang đo độc lập gồm 4 yếu tố: Tính thông tin, Sự chú ý, Sự thích thú và Sự uy tín, mỗi yếu tố bao gồm 4 biến quan sát. Thang đo phụ thuộc là yếu tố Ý định mua với 4 biến quan sát. Các yếu tố này sẽ được sử dụng trong các bước phân tích tiếp theo.

4.1.4. Phân tích hồi quy Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

4.1.4.1 Thống kê mô tả các biến trong phân tích hồi quy

  • Bảng 4.14: Thống kê mô tả các biến trong phân tích hồi quy

Qua Bảng 4.14, kết quả cho thấy các đối tượng khảo sát đánh giá thấp nhất nhân tố Sự thích thú trong ý định mua sản dùng 1 lần của Hunufa khi giá trị trung bình chỉ đạt 3.1977. Trong khi đó, nhân tố sự uy tín được đánh giá khá cao trong ý định mua sản dùng 1 lần của Hunufa khi giá trị trung bình đạt 3.9690.

4.1.4.2. Phân tích hệ số tương quan

Mục đích chạy quan tương quan Person nhằm kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập và sớm nhận diện vấn đề đa cộng tuyến khi các biến độc lập cũng có tương quan mạnh với nhau.

  • Ý nghĩa hệ số tương quan

Thông thường, tương quan Pearson có giá trị biến động trong khoảng từ -1 đến +1.

  • Với r = 0: Hai biến trong hệ số không có quan hệ tương quan tuyến tính
  • Với r = 1 hoặc r = -1: Hai biến trong hệ số có quan hệ tương quan tuyến tính tuyệt đối.
  • Nếu r <0: Hệ số tương quan âm. Điều này đồng nghĩa với việc giá trị 2 biến phụ thuộc sẽ đối lập Giá trị biến x giảm thì giá trị biến y tăng và ngược lại, giá trị biến x tăng thì giá trị biến y giảm.
  • Nếu r >0: Hệ số tương quan dương. Điều này đồng nghĩa với việc giá trị 2 biến phụ thuộc nhau song hành Giá trị biến x tăng thì giá trị biến y tăng và ngược lại, giá trị biến y tăng thì giá trị biến x cũng tăng theo.

Lưu ý giá trị các biến: Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

  • r nằm trong khoảng từ 0,05 đến đến ± 1, các biến có mối quan hệ tương quan mạnh.
  • r nằm trong khoảng từ 0,30 đến ± 0,49, các biến có mối quan hệ tương quan trung bình.
  • r nằm dưới ± 29, các biến có mối quan hệ tương quan yếu.

Trên đồ thị Scatter, nếu r = -1 dữ liệu các biến sẽ phân bổ trên một đường thẳng với độ dốc âm, r = 1 dữ liệu sẽ phân bổ trên một đường thẳng với độ dốc dương.

Hệ số tương quan Pearson chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi mức ý nghĩa lớn hơn mức ý nghĩa quan sát, có nghĩa là α = 5% > sig.

Khi Sig < 0,05 thì chỗ hệ số tương quan Pearson chúng ta sẽ thấy ký hiệu * hoặc ký hiệu **:

  • Ký hiệu ** cho biết rằng cặp biến này có sự tương quan tuyến tính ở mức tin cậy đến 99% (tương ứng mức ý nghĩa 1% = 0,01).
  • Ký hiệu * cho biết rằng cặp biến này có sự tương quan tuyến tính ở mức tin cậy đến 95% (tương ứng mức ý nghĩa 5% = 0,05).

Bảng 4.15: Ma trận hệ số tương quan

Qua Bảng 4.15, kết quả ma trận tương quan giữa các biến cho thấy các biến độc lập không có tương quan hoàn toàn với nhau, hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều nhỏ hơn 0.7 và hệ số Sig nhỏ hơn 0.05. Biến phụ thuộc có mối tương quan tuyến tính với cả 4 biến độc lập với hệ số Sig nhỏ hơn 0.05, hệ số tương quan giữa ý định mua sản phẩm dùng một lần của Hunufa và Tính thông tin là cao nhất đạt 0.708 và hệ số tương quan giữa ý định mua sản phẩm dùng một lần của Hunufa với Sự chú ý thấp nhất đạt 0.398. Tiếp theo, nhóm tác giả đưa tất cả các biến vào phương trình hồi quy tuyến tính để phân tích sự ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc.

4.1.4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính

  • Đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy

Để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy, nhóm tác giả đặt giả thuyết H0: R2 =0. Phép kiểm định F được sử dụng để kiểm định giả thuyết này. Kết quả kiểm định: Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

  • Sig < 0,05: Bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là R2 ≠ 0 một cách có ý nghĩa thống kê, mô hình hồi quy là phù hợp.
  • Sig > 0,05: Chấp nhận giả thuyết H0, nghĩa là R2 = 0 một cách có ý nghĩa thống kê, mô hình hồi quy là không phù hợp.

Bảng 4.16: Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy

Kết quả phân tích ANOVA qua Bảng 4.16 cho thấy, giá trị thống kê F = 49.240 được tính từ giá trị R – Square của mô hình đầy đủ, giá trị Sig = 0,000 <0,05 nên bác bỏ giả thuyết H0: R2 = 0 hay nói cách khác mô hình là phù hợp.

  • Kiểm định mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm dùng một lần của Hunufa

Hệ số R2 thường được dùng để đánh giá sự phù hợp của mô hình. Tuy nhiên, việc đưa càng nhiều biến vào mô hình thì R2 sẽ càng lớn. Do đó, khi đánh giá sự phù hợp của mô hình, giá trị R2 điều chỉnh sẽ được xem xét để tránh sự thổi phồng quá mức sự phù hợp của mô hình (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

R2 hay R2 hiệu chỉnh đều có mức dao động trong đoạn từ 0 đến 1. Nếu R2 càng tiến về 1, các biến độc lập giải thích càng nhiều cho biến phụ thuộc, và ngược lại, R2 càng tiến về 0, các biến độc lập giải thích càng ít cho biến phụ thuộc.

  • Bảng 4.17: Kiểm định mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm sản phẩm dùng một lần của Hunufa

Qua Bảng 4.17, kết quả R bình phương (R Square) và R bình phương hiệu chỉnh để đánh giá mức độ phù hợp mô hình. Giá trị R bình phương hiệu chỉnh bằng 0,601 cho thấy các biến độc lập đưa vào phân tích hồi quy ảnh hưởng 60,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc, còn lại 40% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

Kết quả Bảng 4.17 cũng đưa ra giá trị Durbin-Wastson để đánh giá hiện tượng tự tương quan chuỗi bật nhất. Giá trị DW= 1.860, nằm trong khoản 1,5 đến 2,5 nên kết quả không vi phạm giả định tự tương quan chuỗi bật nhất (Yahua Qiao, 2011).

  • Kiểm định hệ số phóng đại phương sai VIF Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Hệ số VIF là một chỉ số đánh giá hiện tượng cộng tuyến trong mô hình hồi quy. VIF càng nhỏ, càng ít khả năng xảy ra đa cộng tuyến. Hair và cộng sự (2009) cho rằng, ngưỡng VIF từ 10 trở lên sẽ xảy ra đa cộng tuyến mạnh. Nên cố gắng để VIF ở mức thấp nhất có thể, bởi thậm chí ở mức VIF bằng 5, bằng 3 đã có thể xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng. Theo Nguyễn Đình Thọ (2010), trên thực tế, nếu VIF > 2, chúng ta cần cẩn thận bởi vì đã có thể xảy ra sự đa cộng tuyến gây sai lệch các ước lượng hồi quy.

  • Bảng 4.18: Kiểm định hệ số phóng đại phương sai VIF

Trong Bảng 4.18, Hệ số VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10, trong hợp này thậm chí tất cả đều nhỏ hơn 2, do vậy dữ liệu không vi phạm giả định đa cộng tuyến.

Bên cạnh đó, các yếu tố Tính thông tin, Sự chú ý, Sự thích thú, Sự uy tín đều tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm dùng một lần của Hunufa có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Trong đó, yếu tố tác động mạnh nhất đến yếu nhất lần lượt là Thông tin, Uy tín, Sự chú ý và cuối cùng là Sự thích thú.

Do đó, phương trình hồi quy tuyến tính cụ thể như sau: YĐ = 0,449*TT + 0,221*UT + 0,200*CY + 0,170*STT + Ɛ

Các giả thuyết ban đầu được đặt ra lần lượt là:

  • TT: Tính thông tin có tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến.
  • CY: Sự chú ý có tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến.
  • STT: Sự thích thú có tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến.
  • UT: Sự uy tín có tác động tích cực đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến. Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Dựa trên phương trình hồi quy tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập đã được thiết lập, chúng ta có thể nhận thấy rằng: các giả thuyết ban đầu về mối quan hệ cùng chiều giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc là hoàn toàn hợp lý. Điều này có nghĩa là việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua đã mang lại kết quả hoàn toàn như kỳ vọng của nhóm tác giả.

  • Dò tìm các vi phạm trong hồi quy tuyến tính

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), phần dư có thể không tuân theo phân phối chuẩn vì sử dụng sai mô hình, phương sai không phải là hằng số, số lượng các phần dư không đủ nhiều để phân tích. Vì vậy, nghiên cứu xây dựng biểu đồ tần số Histogram để khảo sát phân phối của phần dư.

Đối với biểu đồ Histogram, nếu giá trị trung bình Mean gần bằng 0, độ lệch chuẩn Std.Dev gần bằng 1, các cột giá trị phần dư phân bố theo dạng hình chuông, ta có thể khẳng định phân phối là xấp xỉ chuẩn, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

  • Hình 4.6: Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram

Ở biểu đồ Hình 4.6 trên ta thấy rằng giá trị trung bình Mean = 4,39E – 17 gần bằng 0, độ lệch chuẩn là 0,984 gần bằng 1. Như vậy có thể nói, phân phối phần dư xấp xỉ chuẩn, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Ngoài cách kiểm tra bằng biểu đồ Histogram, thì P-P Plot cũng là một dạng biểu đồ được sử dụng phổ biến giúp nhận diện sự vi phạm giả định phần dư chuẩn hóa.

Đối với biểu đồ Normal P-P Plot, nếu các điểm dữ liệu trong phân phối của phần dư bám sát vào đường chéo, phần dư càng có phân phối chuẩn. Nếu các điểm dữ liệu phân bổ xa đường chéo, phân phối càng “ít chuẩn”.

  • Hình 4.7: Biểu đồ phần dư chuẩn hóa P – P Plot

Từ biểu đồ Hình 4.7, ta thấy rằng các điểm dữ liệu phần dư tập trung khá sát với đường chéo, như vậy, phần dư có phân phối xấp xỉ chuẩn, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Bên cạnh đó ta có thể sử dụng tiếp biểu đồ Scatter Plot để kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính.

  • Hình 4.8: Biểu đồ Scatter Plot Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Ở biểu đồ Scatter Plot qua Hình 4.8 ta thấy các điểm dữ liệu phân bố tập trung xoay quanh tung độ 0 và có xu hướng tạo thành một đường thẳng, giả định liên hệ tuyến tính không bị vi phạm.

4.1.5. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

  • Bảng 4.19: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

TT – Tính thông tin: Với hệ số chuẩn hóa là 0,449, tính thông tin là yếu tố quan tâm thuộc hàng đầu có tác động lớn đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến. Với việc thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận sản phẩm hơn, nắm trong tay những thông tin hữu ích khách hàng sẽ yên tâm và có ý định mua sản phẩm nhiều hơn.

CY – Sự chú ý: Với hệ số chuẩn hóa là 0,200, sự chú ý là yếu tố có tác động thứ ba đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến. Thương hiệu Hunufa đã cố gắng tạo ra các nội dung thu hút và chỉnh chu về mặt hình thức cho người tiêu dùng để có thể thúc đẩy ý định mua sản phẩm của công ty.

STT – Sự thích thú: Với hệ số chuẩn hóa là 0,170, Sự thích thú đã tác động đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến.

UT – Sự uy tín: Với hệ số chuẩn hóa là 0,221, sự uy tín là yếu tố đứng thứ hai có tác động đến ý định mua sản phẩm dùng một lần Hunufa (xem Hình 19). Điều này cho thấy khách hàng coi trọng nhận diện uy tín và danh tiếng của thương hiệu Hunufa trên các nền tảng số khi đưa ra lựa chọn mua. Ý định mua của họ chịu tác động bởi sự uy tín của một doanh nghiệp trên nền tảng kỹ thuật số.

4.1.6. Thống kê mô tả các biến định lượng

  • Bảng 4.20: Thống kê mô tả các biến định lượng

Kết quả qua Bảng 4.20 cho thấy hầu hết các biến quan sát đều có trị trung bình lớn hơn 3,0 và độ lệch chuẩn giao động trong khoảng từ 0,6 đến xấp xỉ 1,0. Điều này thể hiện sự đồng điệu khá cao của nhóm người điền khảo sát. Không có biến quan sát nào có giá trị trung bình dưới 3.0 và giá trị trung bình của biến khảo sát UT2 “Hoạt động của Hunufa trên Facebook/Website/Tiktok luôn hướng tới làm hài lòng khách hàng” đạt giá trị trung bình cao nhất (Mean = 4.04). Điều này thể hiện rằng Hunufa luôn cố gắng tạo ra những giá trị tốt nhất để làm hài lòng khách hàng, thường xuyên có nhiều hoạt động đa dạng trong hoạt động marketing trực tuyến để khách hàng có những trải nghiệm tốt nhất từ đó làm tăng ý định mua sản phẩm dùng 1 lần tại công ty.

4.2. Thảo luận Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có những điểm tương đồng với các nghiên cứu trước đó về chiều tác động của các yếu tố ảnh hưởng nhưng mức độ ảnh hưởng có sự khác biệt nhất định. Những khác biệt này có thể xuất phát từ thời điểm thực hiện nghiên cứu, đặc điểm của đối tượng khảo sát và một số yếu tố khác nên mức độ tác động sẽ có phần khác nhau.

4.2.1. Đối với nhân tố “Tính thông tin” (B=0,449)

Đối với nhân tố “Tính thông tin”, kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố này tác động cao nhất và kết quả thống kê mô tả điểm trung bình là 3.6027 cho thấy đối tượng trả lời khảo sát đồng ý với các quan điểm trong thang đo trên. Trong đó, biến quan sát “Dễ dàng tìm kiếm thông tin về sản phẩm Hunufa trên Facebook/Website/Tik tok” đạt giá trị trung bình cao nhất (Mean = 3.67). Điều này cho thấy rằng người tiêu dùng đánh giá cao sự hiện diện rõ ràng và dễ tiếp cận trên các kênh trực tuyến phổ biến của Hunufa. Bên cạnh đó, biến quan sát “Thông tin trên Facebook/Website/TikTok về sản phẩm Hunufa cung cấp đáng tin cậy” cũng có giá trị (Mean = 3.61), phản ánh rằng người tiêu dùng không chỉ tìm thấy thông tin dễ dàng mà còn tin tưởng vào sự chính xác và minh bạch của những nội dung mà công ty đăng tải.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Đinh Yến Oanh và Quách Lý Xuân An về “Thái độ đối với quảng cáo trực tuyến và ý định tiếp tục mua của người tiêu dùng: Một nghiên cứu trong ngành hàng tiêu dùng nhanh”, trong đó nhân tố “Tính thông tin” có hệ số β = 0.262, thể hiện mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa với ý định mua. Trong khi đó, nghiên cứu của Hoàng Ngọc Quang, Nguyễn Thị Kim Oanh, Bùi Thị Thu Phương, Mai Phương Thảo với đề tài “Tác động của quảng cáo qua mạng xã hội đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng thành phố Hà Nội” năm 2022 cũng chỉ ra rằng tính thông tin của quảng cáo trực tuyến là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến ý định mua sắm trực tuyến, với hệ số β = 0.238. Từ đó có thể kết luận, các nghiên cứu trước đây có sự tương đồng về chiều tác động nhưng khác nhau về mức độ tác động.

4.2.2. Đối với nhân tố “Sự uy tín” (B=0,221) Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Khi một thương hiệu xây dựng được sự uy tín, khách hàng có xu hướng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm/dịch vụ mà thương hiệu đó cung cấp. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt với nhiều lựa chọn tương đồng, sự uy tín của thương hiệu trên kênh trực tuyến chính là yếu tố giúp khách hàng rút ngắn thời gian lựa chọn mua hàng và gắn bó lâu dài hơn với doanh nghiệp.

Kết quả khảo sát cho thấy, hai biến quan sát “Hoạt động của Hunufa trên Facebook/Website/Tiktok luôn hướng tới làm hài lòng khách hàng” có giá trị trung bình với Mean = 4.04 và “Chất lượng sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa được giới thiệu qua các kênh trực tuyến khiến tôi tin tưởng” đạt Mean = 3.98. Điều này khẳng định rằng yếu tố uy tín của thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành ý định mua của người tiêu dùng. Một thương hiệu mạnh không chỉ giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận diện mà còn mang lại cảm giác yên tâm khi lựa chọn sản phẩm.

Bên cạnh đó, nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố này, cụ thể nghiên cứu của Nguyễn Đinh Yến Oanh và Quách Lý Xuân An (2018) trong đề tài “Thái độ đối với quảng cáo trực tuyến và ý định tiếp tục mua của người tiêu dùng: Một nghiên cứu trong ngành hàng tiêu dùng nhanh”, với hệ số beta chuẩn hóa β = 0.133. Từ đó có thể nhận định rằng, nghiên cứu trên khẳng định sự tác động tích cực của yếu tố “Sự uy tín”, tuy có sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng và cách đặt tên biến.

4.2.3. Đối với nhân tố “Sự chú ý” (B=0,200)

Đối với nhân tố “Sự chú ý”, kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố này tác động đứng thứ 3 và kết quả thống kê mô tả điểm trung bình là 3.7209 cho thấy đối tượng trả lời khảo sát đồng ý với các quan điểm trong thang đo trên.

Cụ thể, biến “Thường xuyên bắt gặp bài viết về sản phẩm Hunufa” đạt Mean = 3.78 cao nhất trong nhóm cho thấy thương hiệu có mức độ hiện diện trực tuyến tốt. Tiếp đến là biến “Hình ảnh và video trên các kênh trực tuyến về sản phẩm Hunufa có thiết kế đẹp, chỉn chu về mặt hình thức” với Mean = 3.72 khá cao. Từ đó, ta có thể thấy rằng hình ảnh và video trên các kênh trực tuyến của Hunufa thu hút và tạo ấn tượng tích cực. Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

Kết quả phù hợp với các nghiên cứu trước như Lin-Lin Xue, Ching-Cheng Shen, Alastair M. Morrison và Li-Wen Kuo (2014); Silmi Safira, Iqbal Fadli Muhammad, Muhammad Doddy (2019) khẳng định yếu tố “sự chú ý” có ảnh hưởng đến ý định mua của người tiêu dùng. Do đó, Hunufa nên tiếp tục duy trì sự hiện diện thường xuyên, đầu tư hình ảnh chất lượng và nội dung ngắn gọn, hấp dẫn để gia tăng hiệu quả truyền thông.

4.2.4. Đối với nhân tố “Sự thích thú” (B=0,170)

Trong nghiên cứu này nhân tố “Sự thích thú” có biến quan sát “Quảng cáo trên các nền tảng số về sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa là hữu ích” có số Mean cao nhất = 3,40. Thông qua số mean trung bình có thể hiểu được khách hàng cảm thấy khá hài lòng với các quảng cáo mà Hunufa đang xây dựng trên môi trường số hóa để cập nhập thông tin đến khách hàng một cách có giá trị, bên cạnh đó là luôn cố gắng tạo ra những nội dung đa dạng.

Các biến quan sát khác được đưa ra trong mô hình nghiên cứu lần này như “Quảng cáo trên các nền tảng số về sản phẩm đồ dùng 1 lần của Hunufa làm tôi thoải mái khi xem”, “Quảng cáo trên các kênh trực tuyến về sản phẩm của Hunufa thu hút tôi” đều có số mean khá ổn lần lượt là 3,26 và 3,10 cho thấy Hunufa nên cố gắng tạo ra những quảng cáo hấp dẫn và hữu ích hơn nữa để thu hút khách hàng. Nên đa dạng về nội dung đăng tải, sử dụng những video và hình ảnh đẹp mắt hơn trên các kênh facebook, tiktok, website.

Hiện tại trong mô hình nghiên cứu này biến quan sát “Quảng cáo trên các nền tảng số về sản phẩm của Hunufa có tính giải trí cao” có số mean = 3,03 thấp nhất cho thấy rằng khách hàng không thực sự đánh giá cao sự giải trí trong những quảng cáo mà Hunufa mang đến, dễ hiểu vì đây là những sản phẩm dùng 1 lần nên những chiến lược quảng cáo thường cố gắng tập trung vào công năng của sản phẩm và nhà marketing vô hình quá gắng tập trung đẩy mạnh về khía cạnh ưu điểm của sản phẩm mà đã bỏ qua tính giải trí trong quảng cáo yếu tố mà người tiêu dùng có thể đánh giá cao và tăng ý định mua, ghi nhớ về thương hiệu Hunufa. Do đó, công ty Hunufa cần tích cực đẩy mạnh khía cạnh này để làm tăng cao ý định mua hàng của khách hàng.

Như vậy, Sự thích thú là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến ý định mua của người tiêu dùng. Nghiên cứu “Hoàn thiện kênh truyền thông marketing online tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiết kế và thi công nội thất Gia Phong” của tác giả Trần Thị Bích Nga dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đăng Hào đến từ Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế đã chỉ ra rằng “Sự thích thú” có mối quan hệ tích cực với ý định mua khi hệ số Beta= 0,184. Nghiên cứu của Nguyễn Đinh Yến Oanh – Trường Đại học Cần Thơ , Việt Nam và Quách Lý Xuân An – Công ty TNHH Siam City Cement , Việt Nam: “Thái độ đối với quảng cáo trực tuyến và ý định tiếp tục mua của người tiêu dùng: Một nghiên cứu trong ngành hàng tiêu dùng nhanh” cũng chỉ ra sự thích thú (trong bài này nhóm tác giả đặc tên là tính giải trí tuy nhiên cùng gần định nghĩa và biến quan sát giống nhau) cũng chấp nhận biến sự thích thú và có hệ số Beta= 0,258.

Kết luận chương 4

Chương 4 nhóm tác giả đã trình bày kết quả nghiên cứu thông qua việc thống kê mô tả các biến nhân khẩu học, kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha và sau đó phân tích nhân tố khám phá (EFA) của các biến độc lập và biến phụ thuộc. Tiếp đến, nhóm tác giả thực hiện việc phân tích hồi quy tuyến tính.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy rằng có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm dùng 1 lần của Hunufa thông qua hoạt động marketing trực tuyến theo mức độ tác động giảm dần như sau: Tính thông tin, Sự uy tín, Sự chú ý và Sự thích thú. Vậy nên các giả thuyết ban đầu đưa ra đều phù hợp.

Chương tiếp theo sẽ thảo luận về những đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến tại Công ty TNHH Hunufa và định hướng phát triển của công ty trong tương lai. Khóa luận: Kết quả NC Marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp marketing trực tuyến cho Công ty Hunufa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993