Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Lời mở đầu

Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đang từng bước thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, mở ra cho Việt Nam một thị trường mới nhằm nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.

Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá là xu hướng tổng quát bao trùm lên toàn bộ đời sống quốc gia và quốc tế, nó mang lại những thời cơ và thách thức cho các Doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các Doanh nghiệp Nhà nước – thành phần nòng cốt trong nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo định hướng cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.

Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu là do Nhà nước cấp. Và có thể nói vốn là một tiền đề cần thiết không thể thiếu cho việc hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, là một trong những yếu tố quyết định dẫn đến sự thành bại của Doanh nghiệp. Chính vì vậy mà một vấn đề đặt ra cho các Doanh nghiệp chung và Doanh nghiệp Nhà nước nói riêng là phải khai thác tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tránh làm thất thoát, lãng phí nguồn vốn làm cho nền kinh tế đất nước chậm phát triển, ảnh hưởng tới nhiều mặt chính trị, xã hội của đất nước. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong Doanh nghiệp, nên trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng, em đã đi sâu nghiên cứu thực trạng sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn của Công ty và đã chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng”. Kết cấu bài luận văn gồm có:

  • Phần 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh.
  • Phần 2: Thực trạng tình hình sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Công trình Giao thông hải Phòng.
  • Phần 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ Phần Công trình Giao thông Hải Phòng.

Mặc dù đã cố gắng hết sức song do trình độ của em còn nhiều hạn chế nên bài khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Dân lập Hải Phòng đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn – KS. Lê Đình Mạnh để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo của thầy giáo – KS. Lê Đình Mạnh cùng cán bộ công nhân viên của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng đã giúp em hoàn thành tốt bài khoá luận. Với những kiến thức đã được học, sau đây em xin trình bày một số ý kiến nhằm “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng”.

PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG KINH DOANH Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

1.1. Tổng quan về vốn sản xuất kinh doanh trong Doanh nghiệp.

1.1.1. Khái niệm về vốn trong Doanh nghiệp:

Bất kỳ một Doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, trước tiên phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để thực hiện những khoản đầu tư ban đầu cho việc xây dựng nhà xưởng, mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân viên, trả lãi suất và nộp thuế hoặc mua sắm thiết bị mới, mở rộng Doanh nghiệp nhằm đáp ứng sự tăng trưởng của Doanh nghiệp, người ta gọi chung các loại vốn tiền tệ này là vốn sản xuất kinh doanh hay có thể nói toàn bộ giá trị ứng ra cho quá trình sản xuất kinh doanh được gọi là vốn. Vốn sản xuất kinh doanh là một quỹ tiền tệ đặc biệt, là tiềm lực về tài chính của Doanh nghiệp. Trong điều kiện tồn tại một nền kinh tế thị trường, vốn sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức hiện vật và giá trị, nó có những đặc trưng sau:

Vốn được biểu hiện giá trị của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của một Doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, là lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình.

Để đầu tư sản xuất kinh doanh, vốn được tích tụ thành những món tiền lớn. Các nhà quản lý, các nhà đầu tư không chỉ khai thác mọi tiềm năng vốn của Doanh nghiệp mà phải cân nhắc tính toán tìm cách huy động các nguồn khác đủ đảm bảo yêu cầu của sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế của đồng vốn.

Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của Doanh nghiệp nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì tiền phải đưa vào sản xuất kinh doanh và sinh lời. Đồng thời vốn không ngừng được bảo toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi quá trình vận động để thực hiện việc tái sản xuất giản đơn và mở rộng của Doanh nghiệp.

Mỗi đồng vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Bởi lẽ ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.

1.1.2. Vai trò của vốn trong Doanh nghiệp:

Mỗi Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kì quy mô, lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Trên mỗi góc độ khác nhau thì vốn lại có vai trò khác nhau: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

  • Về mặt pháp lý:

Mỗi Doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là Doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của Doanh nghiệp mới được xác lập.

Vốn hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhà nước là do nhà nước giao cho và đề ra phương hướng, đường lối chiến lược hoạt động dài hạn cho Doanh nghiệp.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn của Doanh nghiệp không đạt được những điều kiện mà pháp luật quy định thì Doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản, giải thể hoặc sát nhập. Như vậy vốn có thể xem như là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp trước pháp luật.

  • Về mặt kinh tế:

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc, thiết bị dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà còn đảm bảo cho quá trình này được diễn ra thường xuyên liên tục.

Vốn là một yếu tố quan trọng quyết định đến quá trình năng lực sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp và xác lập vị thế của Doanh nghiệp trên thị trường. Điều này càng được thể hiện rõ hơn trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các Doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hoá công nghệ sản xuất để từ đó Doanh nghiệp có được những sản phẩm, dịch vụ mới phong phú, đa dạng với chất lượng cao và giá thành hạ nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn.

Vốn cũng là một yếu tố quyết định đến việc mở rộng quy mô hoạt động của Doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn của Doanh nghiệp phải được sinh lời tức là hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp phải có lãi, đảm bảo đồng vốn kinh doanh được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để Doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất thâm nhập vào thị trường mới, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao uy tín vị thế của Doanh nghiệp trên trị trường.

Như vậy vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để có thể tồn tại và không ngừng phát triển trên thương trường. Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy Doanh nghiệp mới có thể sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

1.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của Doanh nghiệp sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất với tổng chi phí là thấp nhất. Đồng thời có khả năng tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị và có hướng phát triển lâu dài, bền vững trong tương lai.

1.2.2. Quan điểm về việc sử dụng vốn có hiệu quả.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu khách quan để tăng thêm lợi nhuận cũng chính là để bảo toàn và phát triển vốn. Hiệu quả sử dụng vốn được quyết định bởi quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy Doanh nghiệp phải chủ động khai thác triệt để tài sản hiện có, thu hồi nhanh vốn đầu tư tài sản, tăng vòng quay vốn nhằm sử dụng tiết kiệm vốn, tăng doanh thu để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Vốn là điều kiện để các Doanh nghiệp đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro của đồng vốn trong quá trình vận động rất cao bởi sự cạnh tranh khốc liệt của các Doanh nghiệp với nhau về giá thành, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ, vậy các Doanh nghiệp phải chủ động về vốn, có nghĩa là quản lý vốn đảm bảo hợp lý, tiết kiệm, hạn chế rủi ro thì đồng vốn mới sinh lời, vốn mới được bảo toàn.

Hiệu quả sử dụng vốn của Doanh nghiệp phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của đơn vị là tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu…

Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn. Nó phản ánh mối liên hệ tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để Doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Việc nâng cao đó phải đảm bảo các điều kiện sau:

  • Phải khai thác các nguồn lực một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi.
  • Sử dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm.
  • Không để vốn sử dụng sai mục đích, thất thoát do buông lỏng quản lý.
  • Doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục, hạn chế những khuyết điểm và phát huy những ưu điểm. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

1.2.3. Mục đích của việc phân tích tình hình sử dụng hiệu quả vốn.

Tình hình sử dụng vốn là đặc điểm quan trọng nhất và được phân tích ưu tiên số một trong các hoạt động phân tích tài chính nói chung. Phân tích tình hình sử dụng vốn có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đánh giá một cách cụ thể tình hình sử dụng vốn: khả năng thanh toán, chọn lựa nguồn vốn để thanh toán, khả năng hoạt động của vốn, khả năng quản lý vốn vay, khả năng sinh lời của đồng vốn. Việc tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả là điều kiện tiên quyết để đảm bảo yêu cầu hạch toán kinh tế là điều kiện sống còn của Doanh nghiệp.

Phân tích tình hình sử dụng vốn là nhằm mục đích giúp các chủ Doanh nghiệp, các nhà quản trị nắm được tình hình vốn để tìm kiếm lợi nhuận và xem xét khả năng trả nợ của Công ty.

Phân tích tình hình sử dụng vốn nhằm giúp các chủ ngân hàng, các nhà vay tín dụng biết được khả năng trả nợ của Doanh nghiệp. Đặc biệt số lượng vốn của người chủ sở hữu rất được quan tâm vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp Doanh nghiệp gặp rủi ro. Ngoài ra đối với các nhà đầu tư mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như: sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lời, khả năng thanh toán. Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá, cung cấp dịch vụ…cũng giống như chủ ngân hàng, họ cần biết khả năng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới.

Phân tích tình hình sử dụng vốn cũng đặc biệt quan trọng đối với các cơ quan tài chính, thuế, thống kê, các nhà phân tích tài chính, những người lao động bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của họ, giúp họ nắm chắc tình hình và có kế hoạch hướng dẫn, kiểm tra Doanh nghiệp được hiệu quả.

PHẦN II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG HẢI PHÒNG

2.1. Một số nét khái quát về Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng.

2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng.

Tiền thân là Công ty Cầu đường Hải Phòng được thành lập vào ngày 16/01/1970 theo Quyết định số 2214/UBND của UBND Thành phố Hải Phòng.

Ngày 12/01/1992 Công ty có Quyết định thành lập Doanh nghiệp số 129QĐ/TCCQ của UBND Thành phố Hải Phòng về việc chuyển đổi tên thành Công ty Công trình Giao thông Hải Phòng.

Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Phòng. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

Căn cứ Quyết định số 216/QĐ-UB ngày 14/02/2005 của UBND thành phố Hải Phòng về việc chuyển Công ty Công trình Giao thông Hải Phòng thành Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng theo hình thức bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại Doanh nghiệp kết hợp với phát hành cổ phiếu nhằm thu hút thêm vốn để thành lập Công ty Cổ phần.

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh.

Từ sau khi cổ phần hóa, Công ty đã liên tục có những bước phát triển mạnh mẽ và cho đến nay Công ty đã thành công, mở rộng trên nhiều lĩnh vực:

  • Xây dựng các công trình giao thông: đường giao thông, cầu bê tông, cầu thép, các công trình thoát nước, sân bay, bến bãi…
  • Sản xuất các loại vật liệu: cấu kiện bê tông đúc sẵn, sản xuất bê tông nhựa, sản xuất đá dăm…
  • Kinh doanh máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật tư, nguyên liệu.
  • Kinh doanh bất động sản, thiết kế bản vẽ thi công các công trình giao thông, nhà ở và các công trình dân dụng.
  • Thí nghiệm xác định các chỉ tiêu kĩ thuật, các công trình giao thông, công trình kĩ thuật hạ tầng.
  • Tư vấn quản lý dự án, tư vấn thiết kế kĩ thuật.

2.1.3. Nguồn lực của Công ty.

2.1.3.1. Vốn kinh doanh.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty Cổ phần số 0203001308 do sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp lần đầu ngày 04/04/2005 vốn điều lệ của Công ty là 12.600.000.000 đồng tương ứng với 1.260.000 cổ phần (theo mệnh giá 10.000 đồng/ cổ phần).

2.1.3.2. Nhân lực.

Nguồn nhân lực của mỗi Công ty sẽ phản ánh chính xác nhất tình hình phát triển kinh doanh của Công ty đó. Với Công ty có nguồn nhân lực giỏi, trí thức cao, kinh nghiệm dày dặn và sự nhiệt tình với công việc thì chắc chắn Công ty đó sẽ phát triển.

2.2. Đánh giá tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

2.2.1. Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng.

Từ khi ra đời đến nay Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng đã tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ngày càng phát triển, đời sống của cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện rõ rệt. Những năm gần đây, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của các Công ty cùng ngành xây dựng cùng với sự gia tăng về giá cả của nguyên vật liệu nhưng Công ty vẫn trong đà phát triển.

Để tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng, ta xem xét bảng sau:

Doanh thu năm 2007 là 113.443.013.502 đồng, năm 2008 có sự tăng lên so với năm 2007 là 3.361.890.777 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 2,96%. Có sự gia tăng này là do trong năm Công ty nhận thi công được nhiều công trình. Đây là một kết quả rất tốt ghi nhận sự nỗ lực cố gắng của toàn thể lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty.

Giá vốn hàng bán năm 2008 tăng lên 12.984.063.985 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 13,07% do trong năm 2008, các loại nguyên vật liệu có sự gia tăng đột biến làm cho giá vốn hàng bán cũng tăng lên. Trong tương lai Công ty cần tìm ra những nguồn nguyên vật liệu có chất lượng tốt, giá cả phải chăng sao cho tốc độ tăng của giá vốn hàng bán phải thấp nhất để đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất cho Công ty.

Lợi nhuận gộp năm 2008 giảm xuống so với năm 2007 là 9.622.173.208 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 68,18%. Nguyên nhân là do giá vốn hàng trong năm tăng lên so với năm 2007 nên đã làm cho lợi nhuận gộp năm 2008 giảm xuống khá mạnh.

Chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty năm 2008 có sự giảm xuống so với năm 2007 là 2.754.377.876 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 49,05%. Trong khi doanh thu năm 2008 tăng lên thì chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm xuống so với năm 2007 là một điều rất đáng mừng thể hiện công tác quản lý của Công ty là rất tốt và có hiệu quả.

Lợi nhuận sau thuế năm 2008 giảm xuống 322.791.551 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 19,30% so với năm 2007. Do trong năm 2008 Công ty bắt đầu áp dụng hình thức tính thuế thu nhập Doanh nghiệp nên Công ty sẽ phải tính thêm một khoản chi phí, mặc dù tổng lợi nhuận kế toán trước thuế năm 2008 tăng lên 202.079.649 đồng so với năm 2007 nhưng Công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nên đã làm cho lợi nhuận sau thuế năm 2008 giảm xuống.

2.2.2. Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn.

2.2.2.1. Cơ cấu tài sản: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

Qua bảng phân tích trên ta thấy được cơ cấu phân bố tài sản của Công ty trong năm 2008: Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn 89,43% trong tổng tài sản. Trong đó tài sản ngắn hạn dưới dạng tiền mặt chiếm 0,88%, các khoản phải thu chiếm 52,32%, hàng tồn kho chiếm 34,19%, tài sản ngắn hạn khác chiếm 2,05%.

Tài sản dài hạn chỉ chiếm có 10,57% trong tổng tài sản bao gồm toàn bộ tài sản cố định của Công ty.

Xét sự biến động của tài sản ta thấy so với năm 2007, tổng tài sản năm 2008 tăng lên đáng kể là 1.379.877.553 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 0,98%. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng lên của các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn tăng từ 85,76% năm 2007 lên 89,43% năm 2008 trong khi đó tài sản dài hạn lại giảm từ 14,24% năm 2007 xuống còn 10,57% năm 2008.

  • Vốn bằng tiền:

Ta thấy vốn bằng tiền chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn. Năm 2007 vốn bằng tiền của Công ty chiếm tỷ trọng là 0,66% nhưng đến năm 2008 chiếm 0,88%, tăng về số tuyệt đối là 336.265.623 đồng tương ứng với tỷ lệ là tăng 36,21%. Với mức tăng vốn bằng tiền như vậy cho thấy Công ty vẫn đảm bảo được nhu cầu thanh toán, làm cho độ an toàn trong sản xuất kinh doanh cao hơn. Xét trong cơ cấu vốn bằng tiền, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng năm 2008 chiếm một tỷ lệ tương đối lớn là 96,87% còn lại là tiền mặt tại quỹ chiếm có 3,13%.

  • Các khoản phải thu:

Các khoản phải thu năm 2008 là 74.491.941.369 đồng chiếm 52,32% trong tổng tài sản, so với năm 2007 các khoản phải thu tăng lên 1.865.438.655 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 2,56%, nguyên nhân là do trong năm Công ty tăng khoản trả trước cho người bán. Các khoản phải thu tăng là một điều không tốt đối với các Doanh nghiệp.

Ta thấy trong cơ cấu các khoản phải thu năm 2008, tỷ trọng các khoản phải thu khách hàng là lớn nhất 73,34%, điều này cho thấy Công ty đang bị các Doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn khá nhiều. Tuy nhiên tình trạng này của năm 2008 so với năm 2007 đã giảm đi 4.501.623.604 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 67,61%. Khoản phải thu năm 2008 giảm như vậy là do Công ty đã có chính sách thu hồi công nợ hợp lý, có biện pháp khuyến khích khách hàng trả tiền hàng ngay hoặc trả trong thời gian sớm nhất. Điều này là rất tốt, Công ty cần phát huy hơn nữa để giảm tối đa các khoản phải thu, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn.

Phần III MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG HẢI PHÒNG.

3.1. Những nguyên tắc cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3.1.1. Đối với vốn cố đinh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

Đặc điểm của vốn cố định là giá trị của vốn sẽ chuyển dần vào giá trị sản phẩm sau nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành chu trình của mình sau khi tài sản cố định khấu hao hết giá trị (hết thời hạn sử dụng). Do đó ta có thể đưa ra một số nguyên tắc để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định như sau:

Lập kế hoạch khấu hao, quản lý và sử dụng quỹ khấu hao tài sản cố định để lựa chọn các quyết định đầu tư đổi mới tài sản cố định trong tương lai. Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định là một nội dung quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của Doanh nghiệp. Thông qua trích khấu hao, Doanh nghiệp có thể thấy được nhu cầu tăng giảm vốn cố định trong năm khấu hao, thấy được khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu đó. Trong mỗi Doanh nghiệp do đặc điểm sản xuất kinh doanh không thể khấu hao đều mà có giai đoạn phải khấu hao nhiều mà cũng có giai đoạn khấu hao ít. Tài sản cố định mới đưa vào sử dụng năng suất cao do đó phải khấu hao nhiều, đến giai đoạn cuối của tài sản cố định lúc này tài sản cố định cũ, năng suất giảm phải khấu hao ít. Vì vậy việc lập kế hoạch khấu hao là rất cần thiết đối với bất kỳ một Doanh nghiệp nào và đó cũng là cơ sở để Doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.

Quản lý sử dụng vốn cố định: vốn cố định của Doanh nghiệp thường được sử dụng cho các hoạt động đầu tư dài hạn như mua sắm, lắp đặt, xây dựng…các tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình được sử dụng cho các hoạt động kinh doanh thường xuyên của Doanh nghiệp. Do đó việc quản lý, sử dụng vốn cố định một cách hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm là rất quan trọng nó sẽ giúp cho Doanh nghiệp giảm được chi phí sử dụng vốn.

Trong các hoạt động đầu tư dài hạn, Công ty cần thực hiện đúng các cơ chế quản lý đầu tư giúp cho Công ty tránh được việc đầu tư kém hiệu quả, bởi quyết định đầu tư dài hạn là quyết định có tính chiến lược, nó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động theo dõi thường xuyên sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và vấn đề quan trọng là nắm bắt những thay đổi về công nghệ hay cải tiến về tài sản cố định mà Doanh nghiệp đang sử dụng. Trong thực tế đã có nhiều Doanh nghiệp vừa đầu tư mua một tài sản cố định mới hiện đại nhưng với sự phát triển của khoa học công nghệ nên chỉ trong một thời gian ngắn tài sản cố định của Doanh nghiệp đã trở lên lạc hậu dẫn đến một tổn thất lớn cho Doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn.

Trong các hoạt động kinh doanh thường xuyên, Công ty cần thực hiện các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn cố định sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thực chất của việc này là luôn đảm bảo duy trì một lượng vốn tiền tệ để khi kết thúc một vòng tuần hoàn, Công ty có thể thu hồi hoặc mở rộng vốn mà mình đã bỏ ra ban đầu để mua sắm tài sản cố định theo thời gian hiện tại.

Bảo toàn vốn cố định là phải bảo toàn về mặt hiện vật và mặt giá trị, trong đó bảo toàn về mặt hiện vật là tiền đề để bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

Bảo toàn tài sản cố định về mặt hiện vật: không chỉ giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quan trọng là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của tài sản cố định. Tức là trong quá trình sản xuất kinh doanh sử dụng tài sản cố định phải tổ chức quản lý chặt chẽ, bảo dưỡng, bảo trì tài sản cố định nhằm nâng cao năng suất hoạt động của tài sản cố định, không để tài sản cố định hư hỏng trước thời gian quy định sử dụng. Ngoài ra, khi sử dụng tài sản cố định đã được khấu hao hết mà vẫn còn khả năng sử dụng, Doanh nghiệp có thể sửa chữa, thay thế hay tận dụng những bộ phận còn lại để sử dụng cho hoạt động đầu tư mới, giúp Doanh nghiệp giảm được chi phí đầu tư.

Bảo toàn tài sản cố định về mặt giá trị: phải duy trì được sức mua của vốn cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu. Điều này do ảnh hưởng về giá trị thời gian của tiền, đồng tiền hôm nay có giá trị hơn đồng tiền trong tương lai. Tức là Doanh nghiệp phải duy trì được sức mua của vốn cố định bất kể có sự ảnh hưởng của giá trị thời gian của tiền, cụ thể hơn là không chịu ảnh hưởng của giá trị, sự thay đổi tỷ giá hối đoái hay ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật. Do đó cần đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định để lựa chọn phương pháp khấu hao cho hợp lý. Để làm được điều này Doanh nghiệp cần xác định được sự hiện đại của giá cả tài sản cố định đang sử dụng. Khi Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục và gây những thiệt hại do ngừng sản xuất, việc thanh toán chậm, hay không có khả năng thanh toán, khó thực hiện các hợp đồng đã kí kết với khách hàng.

3.1.2. Đối với vốn lưu động:

Vốn lưu động của Doanh nghiệp có đặc điểm là dưới hình thức khác nhau, trong các giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản xuất và sau mỗi chu kỳ tái sản xuất nó đã hoàn thành một vòng chu chuyển, tức là chu kỳ chu chuyển của vốn cố định là rất thấp. Vì vậy nguyên tắc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là:

Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cho quá trình sản xuất kinh doanh: xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh là việc làm cần được tiến hành thường xuyên và liên tục, tiết kiệm, có hiệu quả kinh tế cao. Trong điều kiện Doanh nghiệp chuyển sang hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, mọi nhu cầu về vốn Doanh nghiệp phải tự tài trợ thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng và thiết thực cho bản thân mỗi Doanh nghiệp, giúp Doanh nghiệp:

Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm do đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn.

  • Đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.
  • Là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ về nhu cầu vốn lưu động cho Doanh nghiệp.

Nếu Doanh nghiệp xác định nhu cầu về vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh quá cao sẽ không khuyến khích Doanh nghiệp khai thác khả năng tiềm tàng, không tìm biện pháp cản tiến hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, vốn luân chuyển chậm và phát sinh các chi phí không cần thiết, tăng giá thành sản phẩm.

Quản lý vốn lưu động trong kho dự trữ của Doanh nghiệp: vốn lưu động dự trữ trong kho thường tồn tại dưới các dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo các loại hình kinh doanh khác nhau mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ cũng khác nhau. Trong Doanh nghiệp thương mại thì tồn kho chủ yếu là các sản phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ, Doanh nghiệp sản xuất thì bao gồm cả thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên vật liệu, nhiên liệu…mức dự trữ trong kho hợp lý sẽ giúp Doanh nghiệp không bị gián đoạn trọng hoạt động sản xuất kinh doanh, không bị thiếu hàng bán khi tiêu thụ, đồng thời giúp cho việc thực hiện sử dụng vốn tiết kiệm và hợp lý. Muốn làm được điều này Doanh nghiệp cần chú trọng đến hoạt động mua sắm và dự trữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hay hoạt động thương mại dịch vụ.

Quản lý vốn lưu động bằng tiền mặt: tiền mặt là tiền có khả năng thanh toán nhanh nhất ở nước ta hiện nay. Dự trữ tiền mặt trong Doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu giao dịch hàng ngày như: mua sắm hàng hoá, vật liệu…thanh toán các khoản chi phí cần thiết, ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng đối với nhu cầu bất thường, rủi ro bất thường, việc dự trữ mức tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho Doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Thông thường khi hợp tác làm ăn với các Doanh nghiệp thì đối tác cũng rất quan tâm đến vấn đề tiền mặt của Doanh nghiệp.

Quản lý các khoản phải thu, phải trả: trong quá trình kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc thường tồn tại một khoản vốn trong thanh toán, đó là khoản phải thu, phải trả. Nguyên tắc cơ bản là, đối với các khoản phải thu cần có biện pháp nhanh chóng thu hồi lại, đối với các khoản phải trả càng kéo dài thời gian trả nợ càng lâu càng tốt. Doanh nghiệp muốn có được tín dụng thương mại thì Doanh nghiệp phải chiếm dụng vốn của Doanh nghiệp khác và hai việc đó sẽ diễn ra đồng thời trong một giai đoạn sản xuất kinh doanh. Vì vậy Doanh nghiệp phải có kế hoạch theo dõi công nợ thường xuyên, đối chiếu công nợ và có chính sách bán chịu với từng khách hàng, có biện pháp nhanh chóng trong thanh toán để có thể nhanh chóng thu hồi nợ, phân loại các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân để có biện pháp xử lý, đồng thời phải thường xuyên kiểm tra đối chiếu với khả năng thanh toán để chủ động đáp ứng nhu cầu thanh toán. Hơn nữa các chỉ tiêu phải thu, phải trả cũng được các Doanh nghiệp khác chú ý khi họ hợp tác với các Doanh nghiệp.

3.2. Phương hướng phát triển của Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng trong thời gian tới. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

3.2.1. Mục tiêu và định hướng hoạt động kinh doanh.

Mục tiêu hoạt động của Công ty là không ngừng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhồm tối đa hoá lợi nhuận cho các cổ đông, cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và xây dựng Công ty phát triển bền vững, duy trì tốc độ tăng trưởng theo kịp với sự phát triển chung của Thành phố và ngành Giao thông vận tải. Công ty phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình ở mức 10%/năm. Đồng thời, để tăng hiệu quả kinh doanh công ty sẽ kiểm soát và cắt giảm chi phí đặc biệt là giá vốn và chi phí quản lý Doanh nghiệp, nâng cao trình độ sản xuất, nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản lý mọi mặt, từng bước nâng cao thu nhập cho người lao động với mức tăng bình quân 8-10%/năm.

3.2.2. Xây dựng thị trường, địa bàn sản xuất, ngành nghề kinh doanh.

Mở rộng liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài để đấu thầu và tham gia đấu thầu các dự án xây dựng giao thông lớn. Đẩy mạnh công tác tiếp thị, duy trì tốt các điạ bàn đang hoạt động, chú trọng địa bàn tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh đồng thời tiếp tục mở rộng đến nhiều tỉnh và thành phố khác, quan tâm hơn nữa để đầu tư xây dựng các công trình giao thông nông thôn, miền núi.

  • Về ngành nghề kinh doanh:

Tiếp tục duy trì các ngành nghề truyền thống là: xây dựng các công trình giao thông, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, nhà ở, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn, kinh doanh máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…

Nghiên cứu phương án liên doanh với các Tổng công ty hoặc các công ty trong Sở giao thông công chính trong Thành phố, xây dựng một số dự án kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng theo nhiều hình thức đầu tư khác nhau.

Công ty tiếp tục làm đối tác Việt Nam trong Công ty liên doanh TNHH phát triển Đình Vũ, nhằm thực hiện nhiệm vụ của đối tác trong Công ty liên doanh, đồng thời tranh thủ cơ hội kinh doanh cho Công ty. Thời gian tới Công ty liên doanh có kế hoạch dầu tư lớn cho các hạng mục xây dựng trong khu công nghiệp, công ty sẽ hợp tác chặt chẽ với các đối tác nước ngoài để thực hiện nhiệm vụ đầu tư này Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

3.2.3. Đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị.

Đối với một số thiết bị cũ nhưng chất lượng còn tốt nếu có thể hoán cải, cải tiến cho phù hợp công nghệ hiện nay thì đầu tư chuyển đổi nâng cấp. Những thiết bị sử dụng không còn hiệu quả thì nhanh chóng tiến hành thanh lý để thu hồi vốn cho đầu tư thiết bị khác.

Đầu tư thêm một số thiết bị thi công nền, mặt đường thế hệ mới để đảm bảo chất lượng, đủ khả năng dự thầu và thi công các dự án lớn đáp ứng yêu cầu cao của Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

3.2.4. Nâng cao năng lực tài chính.

Nhu cầu vốn cho sản xuất là rất lớn, hiện nay Công ty chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay ngân hàng. Thời gian tới Công ty vẫn tiếp tục vay ngân hàng để có vốn cho kinh doanh nhưng cần xây dựng phương án giảm mức vay. Với nhịp độ phát triển sản xuất như hiện nay nếu chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng sẽ không đủ cho nhu cầu đầu tư, sẽ thiếu vốn lưu động và không thể đảm bảo hiệu quả kinh doanh, vì vậy công tác tài chính được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà Công ty cần ưu tiên tập trung giải quyết. Trước mắt cần giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Cải tiến và nâng cao công tác hạch toán từ cơ sở: Trong năm và những năm tiếp theo Công ty sẽ phân cấp quản lý nhiều hơn nữa cho các xí nghiệp, các đội sản xuất. Các đơn vị quản lý sử dụng xe máy thiết bị thi công cũng phải hạch toán cụ thể đến từng đầu thiết bị, thường xuyên tổng kết đánh giá hiệu quả khai thác từng loại thiết bị để có chiến lược đầu tư hợp lý và hiệu quả. Thực hiện tốt việc khoán sản phẩm đến từng tổ, đội sản xuất tăng tính chủ động và tự chịu trách nhiệm, nâng cao năng suất, chất lượng và tiến độ công trình.

Nâng cao trình độ công tác hạch toán ở các đơn vị sản xuất, tập trung thi công các công trình, hạng mục công trình có đủ điều kiện thanh toán và có khả năng thu hồi vốn nhanh.

Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên chức, đầu tư một số thiết bị thi công nhỏ và bổ sung một phần vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kịp thời.

3.2.5. Tuyển dụng và đào tạo lao động.

Để đáp ứng yêu cầu về cán bộ quản lý trong thời gian tới, Công ty dự kiến vẫn sử dụng tối đa nguồn lao động hiện có của Công ty, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo và tuyển dụng thêm kỹ sư chuyên ngành xây dựng, giao thông, công nhân kỹ thuật, công nhân vận hành xe máy thiết bị. Về công tác cán bộ Công ty cần tập trung các vấn đề sau:

Cải tiến phương thức đào tạo: Ngoài kiến thức chuyên môn, cán bộ quản lý được đào tạo về nhiều mặt như: kinh tế thị trường, pháp luật, tin học, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ…đặc biệt là những kĩ năng, khả năng thích ứng trên thương trường.

Cải cách chế độ đãi ngộ cán bộ quản lý: Trong thời gian tới Công ty sẽ áp dụng phương pháp tính thu nhập của cán bộ và người lao động trong Công ty theo nguyên tắc gắn liền với hiệu suất làm việc và kết quả kinh doanh, đồng thời Công ty có chế độ khuyến khích, trả lương thoả đáng đối với những người đã đem lại nhiều lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao cho Công ty.

KỂT LUẬN Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

Vốn là một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định đến sự phát triển của mỗi Doanh nghiệp. Một Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có đủ vốn và có biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả, vừa bảo toàn, vừa phải phát triển số vốn hiện có.

Doanh nghiệp có thể sử dụng những lợi nhuận từ việc sử dụng có hiệu quả của nguồn vốn đem lại để tiến hành tái đầu tư, tái sản xuất mở rộng quy mô, đưa Doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn.

Với mỗi ngành nghề áp lực cạnh tranh là rất lớn vì vậy Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng phải luôn tích cực đẩy mạnh công tác quản lý, đầu tư thêm nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại, nâng cao trình độ của CBCNV ngày càng hoàn thiện về mọi mặt.

Trên đây là tình hình và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ Phần Công trình Giao thông Hải Phòng và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà em đã mạnh dạn đề xuất. Tuy nhiên do trình độ lý luận và kiến thức thực tế còn nhiều hạn chế nên bài khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung ý kiến của các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn – KS Lê Đình Mạnh, cùng toàn thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần Công trình Giao thông Hải Phòng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Giao thông.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Phân tích tình hình tài chính công ty Hoàng Phương

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x