Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất thì giá thành luôn là một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể tái sản xuất và tìm kiếm lợi nhuận. Giá thành chính là thước đo mức chi phí tiêu hao phải bù đắp sau mỗi kỳ kinh doanh, vì trước khi quyết định lựa chọn sản xuất trong bất kỳ một loại sản phẩm nào thì bản thân doanh nghiệp phải nắm bắt được nhu cầu, giá cả thị trường và điều tất yếu phải xác định đúng mức chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải đầu tư. Doanh nghiệp muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh bên cạnh nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm thì hạ giá thành sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu không kém. Để hạ giá thành sản phẩm thì một vấn đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm nhất là tiết kiệm chi phí sản xuất. Do đó, công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp là rất quan trọng.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nói chung và của công ty TNHH bao bì Việt Hưng nói riêng, trong thời gian thực tập tại công ty em đã đi sâu tìm hiểu công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng” làm khoá luận tốt nghiệp với mong muốn trau dồi và củng cố kiến thức về mặt lý luận cũng như học hỏi kinh nghiệm thực tế để hoàn thiện hơn những kiến thức đã học trong trường và phục vụ cho công việc sau này.

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

  • Nghiên cứu để làm rõ những nhận thức chung về tổ chức tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất.
  • Làm rõ thực trạng về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng.
  • Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Đề tài nghiên cứu các khoản mục chi phí được tập hợp để tính giá thành sản phẩm tại công ty trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng.

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

  • Các phương pháp kế toán (phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối).
  • Phương pháp thống kê và so sánh.
  • Phương pháp chuyên
  • Phương pháp điều
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu để kế thừa thành tựu.

5. Kết cấu của khoá luận

Kết cấu của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận tốt nghiệp gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng.
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công trách nhiệm hữu hạn bao bì Việt Hưng.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.

1.1.1 Bản chất của chi phí sản xuất.

Hoạt động kinh doanh tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và mức độ lao động. Đó chính là các yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh.

Các chi phí mà được các doanh nghiệp phải đầu tư rất đa dạng nhưng tựu chung bao gồm các khoản:

  • Chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu.
  • Chi phí về nhân công.
  • Chi phí về khấu hao tài sản cố định.
  • Các chi phí bằng tiền khác.

Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất, tính đa dạng của nó luôn luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản xuất khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau của sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.

1.1.2. Nội dung của chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định ( tháng, quý, năm). Như vậy chi phí sản xuất gồm 2 bộ phận:

Chi phí về lao động sống: Là những chi phí liên quan đến việc sử dụng yếu tố mức lao động như: chi phí về tiền lương, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ).

Chi phí về lao động vật hoá: Là các khoản chi phí liên quan đến việc sử dụng tư liệu lao động, đối tượng lao động như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu…

  • Chi phí sản xuất được hình thành do có sự dịch chuyển giá trị của các yếu tố sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và được biểu hiện trên 2 mặt:

Về mặt định tính đó là bản thân các yếu tố vật chất phát sinh và tiêu hao tạo nên quá trình sản xuất và đạt được mục đích là tạo nên sản phẩm.

Về mặt định lượng đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua các thước đo khác nhau mà thước đo chủ yếu là thước đo tiền tệ.

Cả hai mặt định tính và định lượng của chi phí sản xuất chịu sự chi phối thường xuyên của quá trình tái sản xuất và đặc điểm sản phẩm.

Chi phí mà các doanh nghiệp phải chi trả đều nhằm mục đích là tạo những giá trị sử dụng nhất định cho xã hội biểu hiện thành các loại sản phẩm khác nhau. Nguyên tắc hoạt động đầu tiên của các doanh nghiệp là phải đảm bảo trang trải được các phí tổn đã đầu tư sản xuất sản phẩm. Như vậy khi sản xuất một sản phẩm nào đó thì chi phí dùng để sản xuất ra nó phải nằm trong giới hạn – giới hạn của sự bù đắp. Nếu vượt qua giới hạn này thì doanh nghiệp sẽ phá sản.

Có thể nói chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn – dịch chuyển giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ…).

1.2. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

1.2.1 Bản chất của giá thành sản phẩm.

Sự vận động của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau. Một là các chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp đã chi ra, thứ hai là kết quả sản xuất đã thu được những sản phẩm, khối lượng công việc đã hoàn thành trong kỳ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Do đó, khi quyết định sản xuất một loại sản phẩm nào đó doanh nghiệp cần phải tính đến tất cả những khoản chi phí đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó, nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được giá thành sản phẩm. Đề cập đến giá thành chúng ta phải hiểu được bản chất bên trong của chỉ tiêu giá thành. Giá thành được cấu tạo bởi những chỉ tiêu gì và nhìn vào giá thành ta thấy được những gì về hoạt động sản xuất kinh doanh. Ta có thể tìm hiểu về giá thành thông qua một số những quan điểm sau đây:

  • a) Quan điểm 1: “Giá thành là hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá được dùng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hoặc một khối lượng sản phẩm nhất định”.

Đây là quan điểm của nhà kinh tế Xô Viết A.Vaxin nó xuất hiện khi nền kinh tế nước ta phụ thuộc khá lớn vào Xô Viết. Đây là quan điểm có ảnh hưởng lớn đến lý luận nước ta trong một thời gian dài.

Đầu tiên A.Vaxin tiến hành phân tích giá trị của sản phẩm được sản xuất bao gồm 3 bộ phận:

  • Giá trị tư liệu sản xuất đã hao phí để sản xuất sản phẩm.
  • Giá trị lao động sáng tạo ra cho mình.
  • Giá trị lao động sáng tạo ra cho xã hội.

Từ đó ông đưa ra kết luận giá thành sản phẩm được tạo chủ yếu từ 2 bộ phận đầu của giá thành sản phẩm. Ông cũng nêu lên khái niệm của giá thành: “Giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm và một phần giá trị mới sáng tạo ra trả lương cho người lao động dưới hình thức tiền lương” và “ Giá thành sản phẩm là sự phản ánh bằng tiền toàn bộ chi phí có liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp”.

  • b) Quan điểm 2: “Giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm”.

Quan điểm này tiếp cận theo phương diện sự hình thành và phát sinh của các loại chi phí là tổng chi phí cố định và tổng chi phí biến đổi. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Tổng chi phí cố định là toàn bộ những khoản tiền mà doanh nghiệp phải chịu trong mỗi đơn vị thời gian cho các đầu vào cố định. Tổng chi phí cố định sẽ được giữ nguyên ở mức độ không đổi, không cần biết sản lượng sản phẩm sẽ được sản xuất ra trong đơn vị thời gian đó được bao nhiêu. Tổng chi phí cố định còn được gọi là tổng chi phí bất biến.

Tổng chi phí biến đổi là những chi phí mà khối lượng của chúng sẽ tăng giảm cùng với sự tăng giảm của sản lượng sản phẩm sản xuất ra. Do đó khi khối lượng sản phẩm càng cao thì đòi hỏi những đầu vào biến đổi nhiều hơn và vì vậy doanh nghiệp cũng phải chi những khoản tiền lớn hơn. Tổng chi phí biến đổi còn được gọi là tổng chi phí khả biến.

Từ hai khái niệm trên quan điểm này đưa ra khái niệm Tổng chi phí – thực chất là tổng giá thành sản phẩm:

Nói cách khác đó là toàn bộ các đầu vào của các yếu tố vật chất nhằm mục đích tạo ra những đầu vào tương ứng không phân biệt nó nằm trong bộ phận nào của các bộ phận thuộc giá trị sản phẩm.

  • c) Kết luận về mặt bản chất của phạm trù giá thành.

Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, giá thành sản phẩm lại là một chỉ tiêu tính toán không thể thiếu của các nhà quản lý theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, do vậy có thể nói giá thành sản phẩm vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan ở một phạm vi nhất định. Tính khách quan của giá thành sản phẩm thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị của những tư liệu sản xuất và sự hao phí lao động sống trong quá trình thực hiện sản phẩm. Tính chủ quan của giá thành thể hiện ở chỗ việc tính toán đo lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động được thể hiện bằng tiền cho các đối tượng. Và việc tính toán này có chính xác hay không còn phụ thuộc rất lớn vào người làm công tác kế toán của doanh nghiệp.

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay, giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ các khoản hao phí vật chất thực tế cần được bù đắp bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành giá trị sản phẩm.

1.2.2. Chức năng của giá thành.

  • Chức năng thước đo bù đắp chi phí.

Toàn bộ hao phí vật chất của doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải được bù đắp bằng số tiền tiêu thụ về bán sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Bù đắp được hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp, bởi các hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp là khởi điểm của hiệu quả và được coi như là yếu tố đầu tiên để được xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

  • b) Chức năng lập giá. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Trong thời đại kinh tế hiện nay giá thánh sản phẩm được xây dựng dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, biểu hiện mặt giá trị sản phẩm.Yêu cầu đầu tiên xây dựng giá cả đó là phải bù đắp được hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo cho doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được những hao phí để thực hiện quá trình tái sản xuất.

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất, chứng minh được khả năng phát triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý chưa.

Tính tổng hợp còn được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá được toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Do tính chất quan trọng như vậy nên chỉ tiêu giá thành luôn được xem là một trong những chỉ tiêu cần được xác định một cách chính xác, trung thực để giúp các doanh nghiệp có căn cứ xem xét, đánh giá, kiểm tra và đề xuất các biện pháp thích ứng đối với hoạt động kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể.

  • c) Chức năng đòn bẩy kinh tế.

Mục đích kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành. Hạ thấp giá thành để giảm giá bán tăng lợi thế cạnh tranh. Muốn hạ thấp giá bán phải hạ thấp chi phí. Do đó để tăng lợi nhuận người quản lý phải luôn quan tâm, kiểm soát chi phí. Sau khi chi tiêu phải phân tích được sự biến động của chi phí để biết nguyên nhân của tăng, giảm chi phí mà tìm biện pháp tiết kiệm chi phí.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tính chất đòn bẩy kinh tế của giá thành đặt ra yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp hữu hiệu vừa tiết kiệm được chi phí, vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất đối với từng loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN BAO BÌ VIỆT HƯNG

2.1. Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

Công ty TNHH bao bì Việt Hưng được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0202003019 ngày 29 tháng 5 năm 2006 do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp.

Thông tin về công ty:

  • Tên công ty: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN BAO BÌ VIỆT HƯNG
  • anh: VIET HUNG PACKING COMPANY LIMITED
  • Tên công ty viết tắt: VIET HUNG PACKING ,LTD

Ngành nghề kinh doanh: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

  • Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là in bao bì nhãn mác, gia công, sản xuất nguyên, phụ liệu ngành giầy dép, may mặc, Sản xuất dụng cụ ngành in, kinh doanh thiết bị ngành in, Sản xuất bao bì đóng gói.
  • Do tình hình tài chính nên hiện nay công ty chỉ tập trung vào sản xuất dây chuyền bao bì túi nilon PE.

2.1.2. Đặc điểm sản xuất, tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

  • Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất túi nilon PE tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Công ty TNHH bao bì Việt Hưng là doanh nghiệp của quy mô sản xuất vừa và nhỏ. Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu thực hiện trong lĩnh vực bao bì bằng các chất liệu: “ PE ”. Cụ thể là sản xuất các sản phẩm túi nilon, bao bì đóng gói cho các công ty xí nghiêp giày da.

Nguyên vật liệu chính để sản xuất túi nilon là hạt nhựa (LLDPE & LDPE).Quá trình sản xuất túi nilon gồm các công đoạn chính:

  • Thứ nhất: Lựa chọn, phân loại hạt nhựa theo yêu cầu của đơn hàng.
  • Thứ hai: Sau đó sẽ đổ vào phễu của máy thổi, ở nhiệt độ cao khoảng 200 độ c đến 400 độ c cộng hơi sẽ làm đùn màng ni lon lên sau đó sẽ điều chỉnh màng theo kích thước nhất định và đưa vào máy cuộn để cuộn.
  • Thứ ba: Sau khi máy cuộn, cuộn từng dải nilon thành từng cuộn sẽ đưa các cuộn nilon đến máy cắt dán, tại đây máy cắt dán sẽ cắt nilon và dán theo kích thước cụ thể.
  • Thứ tư: Các thành phẩm túi nilon sẽ được đóng gói đi tiêu thụ.

2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng

  • Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Bộ máy quản lý tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, gồm các bộ phận sau:

  • Phòng Tài Chính Kế toán:

Về mặt tài chính của Doanh nghiệp, ghi chép, cập nhật và phản ánh kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh về nguyên vật liệu, tình hình tăng giảm tài sản cố định, biến động vốn bằng tiền mặt… Theo dõi tình hình công nợ của khách hàng, tổ chức theo dõi suốt quá trình sản xuất từ khâu mua nguyên vật liệu cho đến khâu sản xuất được hoàn thành và chuyển giao cho khách hàng.

Hạch toán kế toán xác định kết quả kinh doanh, phân tích hoạt động kinh doanh – tài chính của đơn vị. Thực hiện đúng các chế độ chính sách do Bộ tài chính và Nhà nước ban hành. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

  • Phòng kế hoạch quản lý sản xuất:

Tiếp cận các đơn hàng, căn cứ vào đơn đặt hàng của khách hàng, tiến hành xây dựng các dự trù vật tư, cân đối vật tư phục vụ cho sản xuất sau đó sẽ tiến hành đặt vật tư. Tính toán thời gian giao hàng, lập kế hoạch sản xuất cho từng tháng.

2.2. Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất

2.1.1.1. Đặc điểm của chi phí sản xuất tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Chi phí sản xuất ở Công ty TNHH bao bì Việt Hưng được xác định là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm. Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của công ty cũng như các quy định của Nhà nước, Công ty đã phân loại chi phí theo các khoản mục sau:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các khoản chi phí nguyên liệu chính,… sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm như hạt nhựa LLDPE và LDPE.
  • Chi phí nhân công trực tiếp: là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như chi phí tiền lương cho bộ phận tổ…
  • Chi phí sản xuất chung: là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các tổ, bộ phận sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm: Chi phí dụng cụ sản xuất cho phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền như chi phí điện, điện thoại cố định…

2.1.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

2.1.2.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Công ty TNHH bao bì Việt Hưng hiện đang tiến hành sản xuất tập trung với quy mô nhỏ. Chính vì vậy để thuận tiện cho quá trình kế toán chi phí sản xuất, ghi chép, giám sát, phản ánh một cách kịp thời thường xuyên những biến động về chi phí công ty xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất.

2.1.2.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Để xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm thích hợp, bộ phận kế toán chi phí – giá thành phải căn cứ vào quy trình sản xuất và đặc điểm của sản phẩm sản xuất. Để phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất công ty đã xác định đối tượng tính giá thành là túi nilon PE 14×16 cm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

2.1.3. Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá sản phẩm tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

2.1.3.1. Kỳ tính giá thành tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Nhằm giúp tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán trong việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, giúp các nhà lãnh đạo nắm được tình hình sử dụng chi phí một cách kịp thời và chính xác, có cơ sở để đề ra các biện pháp thích hợp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận doanh nghiệp và có những quyết định phù hợp với yêu cầu quản trị cũng như sự phát triển của doanh nghiệp. Căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh Công ty đã thực hiện xác định tính giá thành là tháng.

2.1.3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Xuất phát từ thực trạng sản xuất theo quy mô giản đơn, số lượng mặt hàng ít và chu kỳ ngắn của Công ty TNHH bao bì Việt Hưng. Công ty đã lựa chon phương pháp tính giá thành giản đơn ( Phương pháp trực tiếp ).

2.1.4. Nội dung trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Để minh hoạ cho dòng chạy số liệu, bài viết tập trung mô tả, số liệu liên quan đến tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm túi nilon PE 14×16 cm trong tháng 12 năm 2013 tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

2.1.4.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí nguyên liệu chính sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm như hạt nhựa LLDPE và hạt nhựa LDPE. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

  • Hệ thống chứng từ: Hoá đơn GTGT, phiếu xuất kho, bảng kê xuất …

Tài khoản sử dụng hạch toán:

  • TK 1541: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (được mở chi tiết cho từng loại sản phẩm).
  • TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh

Sổ sách sử dụng để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Sổ nhật ký chung, Sổ cái tài khoản 154, Sổ chi tiết tài khoản 1541( được mở chi tiết cho từng sản phẩm), Bảng tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

  • Nội dung hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ở công ty gồm:

  • Nguyên vật liệu chính: hạt nhựa LLDPE

Trước khi tiến hành sản xuất, phòng kế hoạch quản lý sản xuất tiến hành lập kế hoạch và phương án sản xuất kinh doanh. Căn cứ theo các đơn hàng để lập kế hoạch mua nguyên liệu để phục vụ cho việc sản xuất.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM BAO BÌ VIỆT HƯNG

3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng.

Bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào cũng tìm mọi cách để tối đa hoá lợi nhuận. Và để đạt được mục tiêu đó thì kế toán phải làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cần phải giám sát chặt chẽ chi phí sản xuất gắn liền với quá trình sử dụng vật tư, tài sản cố định, tiền lương phải trả cho người lao động, một cách hiệu quả trên cơ sở tổ chức hạch toán chi phí tốt hơn và hiệu quả hơn. Từ đó cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho các nhà quản lý doanh nghiệp.

Công ty TNHH bao bì Việt Hưng từ ngày thành lập đến nay đã không ngừng phát triển về quy mô, chất lượng sản xuất và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường bằng các sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Sự nhạy bén, linh hoạt trong công tác tổ chức quản lý đã giúp công ty từng bước hoà nhập và phát triển cùng nền kinh tế của đất nước, chủ động trong sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cán bộ, công nhân viên của công ty.

Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH bao bì Việt Hưng kết hợp với các kiến thức đã học em đã hiểu sâu hơn về thực trạng tổ chức kế toán tại công ty như thế nào đặc biệt là thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty. Tuy còn hạn chế về khả năng nhận thức và kinh nghiệm thực tế nhưng qua bài viết này em xin mạnh dạn trình bày một số ý kiến, nhận xét của bản thân về những kết quả đã đạt được và những tồn tại cần được tiếp tục hoàn thiện trong tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.

3.1.1. Ưu điểm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Ngay từ khi thành lập Công ty trách nhiệm bao bì Việt Hưng Ban giám đốc công ty đã có rất nhiều cố gắng, nỗ lực để có được một chỗ đứng trên thị trường. Trong những năm qua quá trình hoạt động kinh doanh của công ty cũng không ngừng được cải thiện, nâng cao. Công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng được ban lãnh đạo đơn vị rất quan tâm để phù hợp với tình hình kinh tế thị trường hiện nay và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, công tác hạch toán chi phí và tính giá thành doanh nghiệp đã đạt được những ưu điểm sau:

  • Thứ nhất: Về tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức bộ máy kế toán:

Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, có mối quan hệ chỉ đạo từ trên xuống giúp cho Ban giám đốc công ty thuận tiện trong việc quản lý điều hành.

Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung: Toàn bộ công tác kế toán tập trung tại phòng kế toán. Chứng từ sau khi được các phòng thu thập, kiểm tra, xử lý được gửi về phòng kế toán. Phòng kế toán sẽ kiểm tra lại tính chính xác, hợp lệ của chứng từ, tổng hợp thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán. Mô hình này phù hợp, đảm bảo quản lý tập trung và thống nhất công tác kế toán, dễ phân công, xử lý và cung cấp thông tin kịp thời giúp lãnh đạo công ty nắm bắt được tình hình hoạt động của công ty.

Bộ máy kế toán của công ty hoạt động có hiệu quả, nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc, tiếp cận kịp thời với chế độ kế toán mới và vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình tại công ty nên phòng kế toán của công ty luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

  • Thứ hai: Về hình thức kế toán áp dụng:

Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung, hình thức này rất phù hợp với chế độ kế toán hiện hành và quy mô sản xuất của công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đối chiếu, kiểm tra chi tiết theo chứng từ.

  • Thứ ba: Về chứng từ và sổ sách sử dụng: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Về việc sử dụng chứng từ, luân chuyển chứng từ tại Công ty thực hiện đúng theo quy định của Bộ tài chính ban hành. Công ty cũng thiết lập hệ thống tài khoản chuẩn do Bộ tài chính quy định.

Mặt khác phòng kế toán đã xây dựng được hệ thống sổ sách kế toán, cách thức ghi chép, phương pháp hạch toán một cách hợp lý, phù hợp với yêu cầu của chế độ kế toán, vừa giảm bớt khối lượng công việc về ghi chép sổ sách kế toán, vừa tạo được sự chính xác dễ hiểu thông qua các chứng từ sổ sách như: Công ty đã lập sổ chi tiết theo từng đối tượng cụ thể, giúp cho kế toán trưởng và ban lãnh đạo công ty hiểu sâu hơn về quá trình sản xuất kinh doanh của công ty và lập phân tích báo cáo tài chính. Công tác này đã được tiến hành một cách khá tốt đã giúp cho doanh nghiệp có những quyết định kịp thời trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.

Hệ thống chứng từ được tập hợp đầy đủ theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và được lập theo đúng biểu mẫu quy định. Quy trình luân chuyển chứng từ hợp lý góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

  • Thứ tư: Về công tác tập hợp chi phí

Đối với khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Công ty TNHH bao bì Việt Hưng đã lựa chọn phương pháp kê khai thường xuyên để tiến hành tập hợp chi phí sản xuất là hoàn toàn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Phương pháp này giúp kế toán thu thập được thông tin về biến động giá một cách thường xuyên, đầy đủ, kịp thời.

3.1.2. Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm đã được nêu ở trên thì công tác kế toán nói chung, công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty còn có những mặt hạn chế cần khắc phục để hoàn thiện hơn. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập qua thời gian nghiên cứu tại Công ty em xin đưa ra một số những ý kiến sau:

  • Thứ nhất: Về công tác hạch toán kế toán Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng công tác kế toán còn được thực hiện thủ công. Công ty chưa ứng dụng phần mềm kế toán máy vào bất kỳ một phần hành kế toán nào. Vì vậy đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác kế toán, hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm giảm đi sự nhanh chóng, chính xác, đảm bảo thông tin kịp thời cho Ban giám đốc trong việc điều hành sản xuất kinh doanh ở công ty. Mặt khác việc lưu trữ, tra cứu, kiểm tra, đối chiếu các số liệu kế toán – tài chính cũng gặp khó khăn hơn.

  • Thứ hai: Về chế độ kế toán

Hiện tại công ty đang áp dụng chế độ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 – Chế độ Kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. Tuy nhiên hiện tại quy mô của Công ty đã lớn hơn rất nhiều (có 2 cơ sở sản xuất), thì công ty nên áp dụng việc tập hợp chi phí sản xuất theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006.

  • Thứ ba: Về phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho

Phương pháp tính giá hàng tồn kho của công ty đang áp dụng là phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ. Phương pháp này khá đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối mỗi tháng vì thế giá thực tế hàng xuất kho chỉ được xác định sau khi hết tháng. Tuy nhiên công tác kế toán lại bị dồn vào cuối kỳ là khá nhiều, ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Hơn nữa phương pháp này chưa đáp ứng được yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ, ảnh hưởng đến việc theo dõi sự biến động của giá hàng xuất bán.

  • Thứ tư: Về tiền lương và các khoản trích theo lương

Hiện tại công ty trả lương cho công nhân theo hình thức thời gian với mức lương trong hợp đồng lao động ký với người lao động là 105.000 đ/1 ngày công và công ty trích lương theo tối thiểu vùng. Tuy nhiên luật BHXH số 71/2006/QH11 của Quốc hội quy định lao động hưởng lương theo bảng lương thì trích BHXH trên lương cơ bản và phụ cấp có tính chất lương, còn lao động hưởng lương theo hợp đồng của Doanh nghiệp thì căn cứ trích BHXH là số tiền trên hợp đồng. Vì vậy công ty nên thực hiện việc trích BHXH dựa trên tiền lương ký trên hợp đồng của công ty.

  • Thứ năm: Về thiệt hại trong sản xuất

Thiệt hại trong sản xuất là điều khó tránh khỏi trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Những thiệt hại này có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây ra những tổn thất làm chi phí sản xuất tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Các thiệt hại này phải được hạch toán đúng, đủ để đảm bảo giá thành sản phẩm công ty không bị tăng lên quá cao. Do có nhiều loại thiệt hại trong sản xuất với các nguyên nhân khác nhau nên công ty cũng phải có các biện pháp khắc phục phù hợp.

3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Hoàn thiện kế toán là một biện pháp cấu thành nên hệ thống quản lý của doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là công cụ đắc lực của Nhà nước trong công việc quản lý và chỉ đạo nền kinh tế quốc dân.

Để đảm bảo chức năng quản lý, giám sát một cách toàn diện và có hệ thống mọi hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, hệ thống tài chính kế toán phải thực hiện đúng quy định thống nhất, phù hợp, khoa học, khách quan và thích hợp với yêu cầu quản lý của đơn vị.

Mặt khác, mục tiêu theo đuổi của hầu hết các doanh nghiệp là lợi nhuận. Doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp, nỗ lực, phấn đấu để nâng cao khả năng cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao nhất. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong đó chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn. Tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nhiều Doanh nghiệp. Để góp phần giải quyết vấn đề đó của doanh nghiệp thì công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải được quan tâm, không ngừng đổi và mới hoàn thiện.

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin về chi phí sản xuất, giá thành phục vụ cho việc xác định giá thành phẩm tồn kho, giá vốn, giá bán, lợi nhuận.

Yêu cầu của công tác quản lý nói chung, công tác kế toán nói riêng đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất một cách kịp thời, chính xác. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất phát sinh không chỉ là việc tổ chức, ghi chép, phản ánh một cách đầy đủ, trung thực về mặt hao phí của từng loại chi phí mà cả về mặt tính toán các chi phí bằng tiền theo đúng nguyên tắc về đánh giá và phản ánh đúng giá trị thực tế của chi phí ở thời điểm phát sinh chi phí. Kế toán chính xác chi phí đòi hỏi phải tổ chức việc ghi chép, tính toán và phản ánh từng loại chi phí sản xuất theo đúng địa điểm phát sinh chi phí và theo đúng đối tượng chịu chi phí.

Bên cạnh đó chúng ta cũng biết giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn sử dụng chỉ tiêu giá thành sản phẩm vào quản lý cần thiết phải tổ chức tính đúng, tính đủ giá thành của các loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Tính đúng là tính chính xác và hạch toán đúng nội dung kinh tế của chi phí đã hao phí để sản xuất sản phẩm. Muốn vậy, doanh nghiệp phải xác định đúng đối tượng tính giá thành, vận dụng phương pháp tính giá thích hợp và tính giá thành phải được tính trên cơ sở số liệu kế toán tập hợp chi phí một cách chính xác. Tính đủ là tính toán đầy đủ mọi hao phí đã bỏ ra trên cơ sở hạch toán kinh doanh để tính đầy đủ vào theo đúng chế độ quy định.

Chi phí và giá thành là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng của doanh nghiệp. Vì vậy, việc xác định đúng, đủ chi phí, giá thành có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn để đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn cần được xem xét, đổi mới để phù hợp với điều kiện của Công ty, tìm ra phương hướng hiệu quả hơn đối với việc xây dựng công cụ tính giá thành, đảm bảo mục tiêu tiết kiệm được chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm.

Để đạt được điều này Công ty cần có các biện pháp như: tận dụng tối đa công suất làm việc của máy móc, thiết bị, nâng cao năng suất lao động… Tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được các quyết định tối ưu. Vì vậy, việc hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là yêu cầu khách quan, trọng tâm và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Công ty.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tế cao. Để kế toán phát huy hết hiệu quả của mình trong quản lý kinh tế, việc hoàn thiện công tác kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí tính giá thành sản phẩm nói riêng là một tất yếu khách quan.

Việc nghiên cứu tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH bao bì Việt Hưng đã giúp em hiểu thêm thực tế về công tác hạch toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm và tầm quan trọng của nó tại công ty. Khoá luận đã hệ thống một số vấn đề lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất, nghiên cứu và đánh giá chân thực nhất về tổ chức kế toán này tại công ty đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty.

Tuy nhiên, do thời gian, trình độ cũng như nhận thức của bản thân còn hạn chế nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các bác, các anh chị trong phòng kế toán của Công ty để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Đức Kiên, cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các anh chị trong phòng kế toán của Công ty TNHH bao bì Việt Hưng cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Quản trị kinh doanh và Nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài khoá luận này. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD ở Cty Thủy Sản

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty bao bì […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x