Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thuế ra đời và tồn tại và phát triển cùng sự hình thành và phát triển của Nhà nước là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới, từ những nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.

Ở nước ta, luật thuế GTGT được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX ngày 10/05/1997 và chính thức áp dụng ngày 01/01/1999 thay cho luật thuế doanh thu, thuế lợi tức trước đây. Thuế GTGT ra đời từ rất lâu và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Nhưng đối với nước ra đây là sắc thuế mới, còn non trẻ so với sự vận động của cơ chế kinh tế hiện nay ở nước ta. Trong những năm qua, Nhà nước ta cũng không ngừng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện thuế này. Việc sửa đổi là chính sách thuế có tác động rất lớn đến các doanh nghiệp.

Là một công ty chủ yếu về thương mại, hoạt động mua bán diễn ra nhiều, trong những năm vừa qua, hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH An Thái đã đạt hiệu quả. Bên cạnh đó là công tác kế toán của Công ty luôn cố gắng tuân thủ đúng quy định của Bộ tài chính, đặc biệt trong kế toán về thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng, khi có bất kỳ sự sửa đổi nào về luật thuế GTGT Công ty đều thực hiện đúng theo thông tư hướng dẫn và làm theo các hướng dẫn mới nhất của cơ quan thuế. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đạt được, công tác kế toán thuế của Công ty vẫn còn một số hạn chế như cách sắp xếp bộ máy kế toán, việc tổ chức, sử dụng chứng từ, sổ sách và cách quản lý sử dụng chi phí hợp lý, cần phải khắc phục để công tác kế toán của Công ty ngày càng hoàn thiện, đồng thời giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách nhà nước của Công ty được tốt hơn. . Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với Công ty lúc này là phải làm thế nào để có thể kê khai được các khoản thuế giá trị gia tăng đầu ra, đầu vào chính xác, đầy đủ cũng như công tác hoàn thuế kịp thời đảm bảo vốn cho doanh nghiệp?. Để giải quyết được vấn đề này Công ty cần xây dựng cho mình quy trình ghi chép, kê khai chính xác, phù hợp với doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo phù hợp với chế độ chuẩn mực kế toán của Nhà nước. Vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại trong công tác kê khai và hoàn thuế giá trị gia tăng tại đơn vị là điều cần thiết

Nhận thức được tầm quan trọng đó, sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH An Thái, được tìm hiểu thực tiễn công tác kế toán tại Công ty, đi sâu nghiên cứu công tác kế toán thuế mà cụ thể là thuế GTGT kết hợp với kiến thức đã học tại trường và sự hướng dẫn tận tính của thầy giáo Th.s Nguyễn Văn Thụ, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại Công ty TNHH An Thái” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Kết cấu của bài luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng trong doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái
  • Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Những vấn đề chung về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái quát sự ra đời và phát triển của thuế GTGT Trên thế giới

Cách đây khoảng 50 năm, vào năm 1954, nước Pháp áp dụng thí điểm một loại thuế mà người Pháp gọi là La taxesur la valeur ajoutée, gọi là TVA, còn người Mỹ gọi là Valued aded tax (viết tắt là VAT) gọi tắt là giá trị gia tăng, tạm dịch ra Tiếng Việt là thuế trị giá tăng thêm hay thuế giá trị gia tăng, có người còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ ở khâu trước. Chỉ một năm sau, TAV đã áp dụng chính thức tại Pháp để thay thế thuế sản xuất và một vài sắc thuế gián thu khác. Ngày nay các quốc gia thuộc khối Liên minh châu Âu (EU) và một số cường quốc kinh tế phát triển (như Đức, Nhật, Canada) đã chính thức thực thi thuế TVA tại đất nước mình. Thuế GTGT ngày nay đã được áp dụng ở trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Tại Việt Nam

Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện những đường lối đổi mới chính sách kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, tiến tới xu hướng toàn cầu hóa. Vì thế thuế doanh thu không còn phù hợp nữa và cần được thay thế bằng một loại thuế mới hiện đại đã được áp dụng ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới là thuế GTGT.

Ngày 05-07-1993, theo quyết định số 486TC/QĐ/BTC của Bộ tài chính, thực hiện thí điểm thuế GTGT ở một số doanh nghiệp quốc doanh thuộc các ngành có quá trình chuyển từ sản xuất đến tiêu dùng thường xuyên phải trải qua nhiều công đoạn (như sản xuất xi măng, sản xuất sợi, dệt, sản xuất đường ). Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Có tất cả 11 doanh nghiệp đăng kí và thực hiện thí điểm. Tiếp theo, Nhà nước liên tục thực hiện cải cách thuế bước 1(1990-1996) và cải cải cách thuế bước 2. Sau một thời gian tổ chức triển khai thực hiện luật thuế GTGT, tại kỳ họp Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 dự thảo luật thuế GTGT đã được thông qua Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các  ban soạn thảo đã tích cực chuẩn bị các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế. Đến ngày 31-12-1998 (trước ngày luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành) về cơ bản đã có đủ cá văn bản hướng dẫn thực hiện luật thuế này. Ngày 1-1-1999 tại Việt Nam, luật thuế GTGT chính thức được áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định số18/1998/NĐ-CP ngày 11-5-1998 và thông tư số 89/1998/TT-BTC

1.1.2 Khái niệm

Giá trị gia tăng ( GTGT) là phần giá trị chênh lệch giữa hàng hóa bán ra và những giá trị những thứ để làm ra hàng hóa đó.

  • Giá trị gia tăng  = Giá đầu ra  – Giá đầu vào

Thuế GTGT là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Thuế GTGT tính trên giá bán chưa có thuế GTGT. Người sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm thu và nộp hộ người tiêu dùng. Người tiêu dùng mua sản phẩm với giá đã có thuế GTGT, vì vậy người tiêu dùng chính là người chịu khoản thuế này.

1.1.3 Đặc điểm của Thuế GTGT

  1. Thuế GTGT là thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng. Nhà sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ chỉ là người nộp hộ.
  2. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất – kinh doanh nhưng chỉ tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở mỗi giai đoạn luân chuyển.
  3. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao
  4. Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rộng, áp dụng cho tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong nước, đối với mọi tổ chức cá nhân thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng hóa và cung ứng dịch vụ.
  5. Thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

1.1.4 Vai trò của thuế GTGT

Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động bộ máy quản lý của nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội,… Trong đó, thuế GTGT là một khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Có thể khái quát các vai trò thành ba vai trò cơ bản sau:

  • Thuế GTGT là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước

Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu ( sản xuất và nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho ngân sách Nhà nước. Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua hàng thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế, giảm thất thu cho ngân sách Nhà nước.

  • Thuế GTGT là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và vi mô của nền kinh tế

Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mới quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất. Trong hoạt động đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải trả khi mua sắm tài sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ và hoàn lại. Còn khi nhập khẩu máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời việc thuế GTGT không tính vào vốn đầu tư đã làm cho giá thành các công trình đầu tư trong nước giảm rất rõ rệt. Do đó, thuế GTGT đã góp phần khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa.

Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước. Hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0% số thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp đã nộp sẽ được Nhà nước khấu trừ hoặc hoàn lại, vì vậy nó là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tăng cường sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Thuế GTGT tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh dễ dàng hơn trên thị trường quốc tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải quyết nhu cầu lao động trong xã hội.

Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Thuế GTGT áp dụng thuế suất cao với các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp mà chỉ những người có thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều, còn đối với các hàng hóa thông thường hoặc có tính chất thiết yếu thì thuế GTGT quy định mức thuế thấp hơn, thông qua điều tiết một phần thu của họ.

Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả hàng hóa được bán ra phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cung cầu, nó phải được người tiêu dùng chấp nhận, người sản xuất khó có thể thay đổi giá cả theo ý muốn của mình. Do đó việc Nhà nước đánh thuế sẽ giảm doanh thu thuần của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, thúc đẩy nên sản xuất phát triển.

Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào cùng việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà nước đã khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra thuế GTGT góp phần phát triển hệ thống thanh toán. Việc thuế GTGT đòi hỏi những doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì mới được hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.

  • Thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện luật thuế GTGT. Để thu được thuế và đảm bảo thực hiện đúng luật thuế, cơ quan thuế và các cơ quan hữu quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô và tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Từ đó mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh cũng như phát hiện ra những khó khăn mà cơ sở gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ. Thuế GTGT còn thúc đẩy mua bán hàng hóa sử dụng hóa đơn, chứng từ hợp lệ tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước.

1.2 Các quy định về thuế giá trị gia tăng trong doanh nghiệp Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

1.2.1 Đối tượng chịu thuế GTGT

Luật thuế GTGT quy định tất cả các hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT trừ đối tượng không chịu thuế theo quy định tại khoản 5 của Luật này.

  • Đối tượng không chịu thuế GTGT bao gồm 25 nhóm mặt hàng, dịch vụ:

Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.

Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, cành giống, củ giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền ở các khâu nuôi trồng, nhập khẩu và kinh doanh thương mại. Sản phẩm giống vật nuôi, giống cây trồng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT là sản phẩm do các cơ sở nhập khẩu, kinh doanh thương mại có giấy đăng ký kinh doanh giống vật nuôi, giống cây trồng do cơ quan quản lý nhà nước cấp. Đối với sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng thuộc loại Nhà nước ban hành tiêu chuẩn, chất lượng phải đáp ứng các điều kiện do Nhà nước quy định.

Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt, mà thành phần chính có công thức hóa học là NaCl. Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê. Chuyển quyền sử dụng đất.

Bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm nhân thọ; bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm người học và các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; Tái bảo hiểm.

Hoạt động tài chính:

  • Dịch vụ cấp tín dụng
  • Kinh doanh chứng khoán
  • Chuyển nhượng vốn
  • Bán nợ.
  • Kinh doanh ngoại tệ.

Dịch vụ tài chính phái sinh bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi, dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch, dịch vụ điều dưỡng sức khoẻ, phục hồi chức năng cho người bệnh.

Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và Internet phổ cập theo chương trình của Chính phủ; Dịch vụ bưu chính, viễn thông từ nước ngoài vào Việt Nam (chiều đến).

Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ. Các dịch vụ nêu tại điểm này không phân biệt nguồn kinh phí chi trả.

Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội.

Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật bao gồm cả dạy ngoại ngữ, tin học; dạy múa, hát, hội họa, nhạc, kịch, xiếc, thể dục, thể thao; nuôi dạy trẻ và dạy các nghề khác nhằm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức chuyên môn nghề nghiệp.

Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học-kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền.

Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện là vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện theo các tuyến trong nội tỉnh, trong đô thị và các tuyến lân cận ngoại tỉnh theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

Hàng hoá thuộc loại trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an Hàng nhập khẩu và hàng hoá, dịch vụ bán cho các tổ chức, cá nhân để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.

Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu, nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài.

Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ. Trường hợp hợp đồng chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ có kèm theo chuyển giao máy móc, thiết bị thì đối tượng không chịu thuế GTGT tính trên phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượng; trường hợp không tách riêng được thì thuế GTGT được tính trên cả phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượng cùng với máy móc, thiết bị. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

  • Phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định.

Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng và các loại vàng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác.

Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến. Sản phẩm nhân tạo dùng để thay thế cho bộ phận cơ thể của người bệnh, bao gồm cả sản phẩm là bộ phận cấy ghép lâu dài trong cơ thể người; nạng, xe lăn và dụng cụ chuyên dùng khác dùng cho người tàn tật.

Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước theo quy định của Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÔNG TY TNHH AN THÁI

2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH An Thái

2.1.1 Quá trình hình thành

Ngày 01/08/2003, Công ty TNHH AN THÁI được thành lập với tên Công ty là CÔNG TY TNHH AN THÁI, tên nước ngoài là AN THAI COMPANY LIMITED viết tắt là AN THAI CO.,LTD. Có trụ sở chính tại số 64/266 Trần Nguyên Hãn, Phường Niệm Nghĩa, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:

  • Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác. Chi tiết: Bán buôn máy móc, thiết bị điện, vật liệu điện( máy phát điện, động cơ điện, dây điện, thiết bị khác dùng trong mạch điện) .
  • Sản xuất giàn giáo
  • Lắp đặt hệ thống điện
  • Gia công cơ khí, xử lý, tráng phủ kim loại
  • Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng, bán buôn thiết bị ngành nước
  • Bán buôn đồ dùng khác trong gia đình. Chi tiết: Bán buôn đồ điện gia dụng, đèn, bộ đèn điện,….
  • Cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng hữu hình khác. Chi tiết: Cho thuê máy móc, thiết bị xây dựng ( bao gồm giàn giáo, cốp pha) Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Danh sách thành viên góp vốn: Có 3 thành viên góp vốn.

Công ty là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, mở tài khoản tại Ngân hàng và có con dấu riêng để hoạt động. Giám đốc Công ty tự chịu trách nhiệm trước pháp luật: về các nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của Công ty; về việc sử dụng các Giấy phép, Giấy chứng nhận, các giấy tờ khác và con dấu của Công ty trong giao dịch; về việc góp vốn cổ phần quản lý, sử dụng và theo dõi vốn, tài sản của Công ty.

Công ty có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kinh doanh và cam kết của mình với người lao động, với các khách hàng của Công ty tại từng thời điểm được thể hiện sổ sách kế toán và các báo cáo tài chính của Công ty theo quy định của pháp luật.

2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh

Công ty nhập các mặt hàng phục vụ cung cấp các thiết bị điện dân dụng cho các gia đình tự do lựa chọn sản phẩm Nano, Panasonic, Syno, Enyo, Philips, Vanlock, Mitsubishi…. của các nhà phân phối. Nhân viên nhập hàng kiểm nhận nhập kho. Sau đó khi bán hàng qua quầy theo hóa đơn chứng từ dưới sự giám sát của thủ kho và kế toán bán hàng của Công ty. Nhân viên quầy có trách nhiệm sắp xếp hàng hóa gọn, sạch sẽ phục vụ khách hàng. Việc bán các sản phẩm và định giá bán theo tỷ lệ chiết khấu quy định.Thủ kho giao hàng cho nhân viên vận chuyển hàng trong khu vực trung tâm thành phố sẽ được miễn chi phí vận chuyển hàng.

2.1.3 Tình hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

  • Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

Qua sơ đồ trên ta có một vài nhận xét như sau:

Bộ máy quản lý của công ty có kết cấu rất chặt chẽ, các phòng ban hoạt động nhịp nhàng ăn ý với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau hoạt động và cùng hướng tới mục đích cuối cùng là Công ty phát triển ngày càng tốt hơn, sau đây là nhiệm vụ của từng phòng ban: Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Ban giám đốc: Quản lý chung về mọi mặt hoạt động của Công ty, làm nhiệm vụ giám sát điều hành tất cả các phòng ban hoạt động có hiệu quả và góp phần làm phát triển doanh nghiệp đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên.

Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật: Đảm bảo tất cả các yêu cầu về kỹ thuật trong toàn Công ty, có tính nhanh nhậy, sớm tiếp xúc với công nghệ tiên tiến từ đó làm cho doanh nghịêp ngày càng lớn mạnh về khoa học kỹ thuật.

Phó giám đốc phụ trách kinh doanh: Có nhiệm vụ thu thập, tìm hiểu nghiên cứu các yếu tố liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, tìm nguồn vốn đầu vào hợp lý và đầu ra thuận lợi đảm bảo cho lợi nhuận doanh nghiệp thu về là lớn nhất.

Phòng tổ chức hành chính: Phụ trách quản lý thay giám đốc về mặt quân số công nhân viên chức trong công ty, tình hình biến đổi lao động, tình hình sử dụng lao động và các chế độ khác liên quan đến nhân viên toàn công ty.

Phòng kế hoạch kỹ thuật: Làm công tác kế hoạch về kinh doanh, tiêu thụ, chi phí…cho doanh nghiệp giúp việc kinh doanh dễ dàng và thuận lợi hơn.

Phòng kế toán tài chính: Có thể nói là phòng ban có nhiệm vụ quan trọng nhất trong doanh nghiệp, phòng này có chức năng hạch toán tất cả các số liệu có liên quan đến việc kinh doanh và phát triển của công ty, kinh nghiệm và cách tính toán chính xác của phòng kế toán sẽ là cơ sở để tính toán các khoản trong công ty: Chi phí, lơị nhuận, doanh thu…

Phòng kinh doanh: Tìm hiểu, thu thập thông tin kinh tế, thị trường; tìm các nguồn hàng phục vụ sản xuất kinh doanh trong Công ty. Đề xuất các chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn. Tổ chức quản lý việc quản lý hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm;

2.2. Thực trạng tổ chức kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái

2.2.1. Sản phẩm hàng hóa và các mức thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng tại Công ty TNHH An Thái

  • Công ty TNHH An Thái tính thuế GTGT với hàng hóa mua vào là:

Căn cứ vào các hóa đơn GTGT đầu vào mà Công ty có những mức thuế suất thuế GTGT là khác nhau. Dựa vào thuế GTGT đầu vào để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Mức thuế suất có thể là 0%, 5%, 10%

Trong trường hợp là hóa đơn đặc thù doanh nghiệp sẽ xác định thuế GTGT đầu vào theo công thức sau:

Công ty TNHH An Thái áp dụng thuế suất đối với các mặt hàng bán ra là:

  • Các hàng hóa bán ra: Vật tư, thiết bị điện, bán giáo, tủ điện, dịch vụ cho thuê cốp pha,…. là 10%
  • Các hàng hóa bán ra vào khu chế xuất, gia công hàng xuất khẩu là 0%

2.2.2. Kế toán tổng hợp thuế giá trị gia tăng tại công ty TNHH An Thái

  • Kế toán thuế giá trị gia tăng đầu vào

2.2.1.1. Chứng từ sử dụng

Chứng từ sử dụng kế toán thuế GTGT đầu vào:

  • Hóa đơn GTGT đầu vào mẫu số 01/GTKT3-001
  • Tờ khai thuế GTGT mẫu số 01/GTGT

2.2.1.2. Tài khoản sử dụng

  • Công ty TNHH An Thái sử dụng TK 133 để theo dõi thuế GTGT đầu vào và được mở 2 TK cấp 2 là: TK 1331, TK 1332.

2.2.1.3  Quy trình hạch toán

  • Trình tự ghi sổ kế toán thuế GTGT đầu vào Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Căn cứ vào các chứng từ gốc là hóa đơn GTGT mua vào, phiếu chi, ủy nhiệm chi được làm căn cứ ghi sổ. Đầu tiên kế toán ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào nhật ký chung đồng thời ghi vào sổ thẻ kế toán chi tiết TK 1331, 1332. Sau đó căn cứ vào số liệu trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái các tài khoản 133 và các tài khoản liên quan. Cuối quý căn cứ vào sổ thẻ kế toán chi tiết TK 133, kế toán tổng hợp vào bảng tổng hợp chi tiết TK 133.

Cuối quý, cuối năm cộng số liệu trên Sổ Cái, lập bảng cân đối số phát sinh. Sau khi đã kiểm tra đúng khớp, số liệu ghi trên Sổ Cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ kế toán chi tiết) được dùng làm báo cáo tài chính.

  • Ví dụ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
  • Ngày 5/10/2013 mua hàng hóa nhập kho trị giá 545.452đ ( chưa VAT), trả bằng tiền mặt cho công ty TNHH Sơn Hưng

Căn cứ vào hóa đơn mua hàng GTGT số 0000363 (biểu số 2.1), phiếu chi số PC05/10 (biểu số 2.2) và các chứng từ có liên quan, kế toán ghi vào sổ sách theo định khoản sau:

  • Nợ TK 156: 16.545.542
  • Nợ TK 133(1): 1.654.548
  • Có TK 111: 18.200.000

Từ bút toán trên kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung (biểu số 2.7). Đồng thời kế toán ghi sổ chi tiết TK 1331 (biểu số 2.9). Từ nhật ký chung ghi vào sổ cái TK 133 (biểu số 2.8) và sổ cái TK 156, 111. Cuối quý, cuối năm cộng số liệu trên sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh, từ bảng cân đối số phát sinh kế toán lập báo cáo tài chính

  • Ngày 30/12/2013 mua ô tô cũ trị giá 000.000đ ( chưa VAT) trả bằng chuyển khoản, doanh nghiệp đã nhận được giấy báo nợ của ngân hàng

Căn cứ vào hóa đơn mua hàng GTGT số 0000852 (biểu số 2.3), ủy nhiệm chi UNC3112 (biểu số 2.4) và các chứng từ có liên quan kế toán ghi vào sổ sách theo định khoản sau:  Nợ TK 211:  220.000.000

  • Nợ TK 133(2): 22.000.000
  • Có TK 112: 242.000.000

Từ bút toán trên kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung (biểu số 2.7). Đồng thời kế toán ghi sổ chi tiết TK 1332 (biểu số 2.10). Từ nhât ký chung ghi vào sổ cái TK 133 (biểu số 2.8) và sổ cái TK 211, 112. Cuối quý, cuối năm cộng số liệu trên sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh, từ bảng cân đối số phát sinh kế toán lập báo cáo tài chính

  • Ngày 20/12/2013 nhận được tờ khai điện tử hải quan số HQ1347 ngày 20/12/2013 nhập khẩu cáp từ bên Trung Quốc.

Căn cứ vào tờ khai HQ1347 ngày 20/12/2013 ( biểu số 2.5), phiếu chi số PC20/12 (biểu số 2.6), và các chứng từ có liên quan kế toán ghi vào sổ sách theo định khoản sau, Giá mua:  Nợ TK 156(1): 455.048.315

  • Có TK 331: 413.680.286
  • Có TK 333(3): 41.368.029
  • Thuế GTGT đầu ra hàng nhập khẩu
  • Nợ TK 133(1): 45.504.832
  • Có TK 333(12): 45.504.832

Từ bút toán trên kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung (biểu số 2.7). Đồng thời kế toán ghi sổ chi tiết TK 1331 (biểu số 2.9) và chi tiết TK 156, 331, 333. Từ nhật ký chung ghi vào sổ cái TK 133 (biểu số 2.8) và sổ cái các TK liên quan. Cuối quý, cuối năm cộng số liệu trên sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh, từ bảng cân đối số phát sinh kế toán lập báo cáo tài chính.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÔNG TY TNHH AN THÁI

3.1. Nhận xét chung về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

3.1.1. Ưu điểm.

Về tổ chức bộ máy kế toán: Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình tập trung phù hợp với nhu cầu kinh doanh và quản lý của Công ty.

Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức thống nhất từ kế toán trưởng xuống các nhân viên kế toán. Phòng kế toán có quy chế làm việc rõ ràng, mỗi kế toán viên đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng nhưng vẫn đảm bảo có sự chặt chẽ giữa các phần hành kế toán với nhau.

Kế toán phản ánh nhanh chóng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng chế độ kế toán, phục vụ tốt công tác quản lý. Kế toán thường xuyên kiểm tra các chi phí phát sinh, các nghiệp vụ bất thường cần điều chỉnh lại, đôn đốc thu hồi công nợ và cho biết các nguồn tài chính hiện tại của công ty phản ánh lên sổ sách kế toán và là nơi lưu trữ thông tin tài chính quan trọng

Về hình thức kế toán áp dụng : Công ty áp dụng hình thức kế toán “Nhật ký chung” là hình thức ghi sổ kế toán phổ biến với những ưu điểm hơn cả: khoa học, dễ hiểu, dễ làm, thuận tiện, phù hợp với năng lực kế toán ở mọi trình độ, dễ phân công lao động trong phòng kế toán.Và hình thức này phù hợp với thực tế tổ chức tại Công ty

  • Về chứng từ, sổ sách sử dụng:

Việc sử dụng chứng từ và luân chuyển chứng từ tại Công ty cơ bản là thực hiện đúng theo quyết định số 15 ban hành ngày 26/03/2006 của Bộ tài chính ban hành. Công ty cũng thiết lập hệ thống tài khoản chuẩn do Bộ tài chính quy định và bổ sung thêm một số tài khoản chi tiết phù hợp với nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đặc điểm của Công ty.

Hệ thống chứng từ được tập hợp theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và được lập theo đúng biểu mẫu.

Quy trình luân chuyển chứng từ đúng và hợp lý góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chính xác hơn. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

  • Về công tác tổ chức kế toán Thuế giá trị gia tăng tại Công ty:

Công ty thực hiện đầy đủ hệ thống chứng từ kế toán về thuế GTGT như: Hoá đơn bán hàng (GTGT), bảng kê hoá đơn chứng từ của hàng hoá dịch vụ mua vào, bảng kê hoá đơn chứng từ của hàng hoá dịch vụ bán ra, tờ khai Thuế GTGT, Báo Cáo tình hình sử dụng Hóa Đơn …

  • Kế toán kê khai cơ bản là chính xác các hoá đơn chứng từ của hàng hoá dịch vụ mua vào cũng như bán ra gắn với thời gian quy định.
  • Công ty đã áp dụng phần mềm Hỗ trợ kê khai phiên bản mới nhất trong việc kê khai thuế, giúp cho việc kê khai tương đối thuận tiện, nhanh chóng hơn.
  • Kế toán Thuế luôn luôn tìm hiểu những thay đổi mới nhất của Nhà nước về Luật Thuế.

3.1.2. Hạn chế.

  • Hạn chế của kế toán thuế GTGT tại Công ty

Trong thời gian vừa qua hàng loạt các Nghị định, Thông tư liên tục được ban hành để hướng dẫn thực hiện thuế GTGT. Có thể nói đây là sắc thuế được quan tâm nhiều nhất hiện nay không chỉ vì nó mới mà nó là là loại thuế mang lại nguồn thu đáng kể cho NSNN. Với tầm quan trọng của thuế GTGT, kế toán thuế cần có được sự quan tâm tương xứng với tầm quan trọng của nó. Những hạn chế của kế toán thuế GTGT tại Công ty chủ yếu bắt nguồn từ vấn đề này.

1. Về công tác ghi chép sổ sách kế toán và bộ máy kế toán của Công ty

Phòng kế toán thuế tại Công ty chưa có 1 kế toán chuyên trách về kế toán thuế GTGT. Số liệu về thuế GTGT cập nhật do 1 kế toán doanh thu kiêm nhiệm làm. Kế toán tổng hợp sẽ tổng hợp số liệu này cuối kỳ. Với cách tiến hành công việc như vậy thì việc cập nhật số liệu dẫn đến sai xót, trùng lặp. Việc ghi chép thủ công của kế toán thường dẫn đến nhầm lẫn, sai xót, không kịp thời.

2. Về công tác kê khai thuế GTGT Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Bảng kê hoá đơn chứng từ hàng hoá dịch vụ mua vào quý IV/2013 có hoá đơn chứng từ của tháng 08/2013, điều này là vẫn được chấp nhận bởi theo Luật thuế hiện hành nếu chưa kê khai đầy đủ hoá đơn chứng từ để kê khai trong quý này thì có thể kê khai vào quý sau, tối đa không quá 6 tháng kể từ ngày tháng phát hành hóa đơn đó, việc kê khai hoá đơn chứng từ của tháng 08 vào bảng kê của quý IV là vẫn nằm trong thời gian quy định. Nhưng như vậy trong quý trước việc kê khai thuế vẫn còn bị bỏ sót ảnh hưởng đến tính thời sự của số liệu và việc khấu trừ thuế nếu hóa đơn đó không được kê khai vào quý này. Như vậy số liệu không được phản ảnh kịp thời từ đó không giúp doanh nghiệp phản ánh đầy đủ và chính xác trên các khía cạnh về thuế của doanh nghiệp.

Phần kê khai thuế GTGT còn bỏ sót, thiếu làm phản ánh không kịp thời về số liệu và nếu như không được kê khai bổ sung thì ảnh hưởng đến khấu trừ thuế của doanh nghiệp. Nhìn số liệu của sổ cái TK 133 có số dư cuối kỳ là 385.574.523đ. Trong khi phần kê khai thuế thì Thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển sang kỳ sau là 378.449.923đ.

Các thông tin của Hóa đơn khi kê khai sai về tên Công ty, mã số thuế, số tiền phát sinh. Và đặc biệt, với một lượng lớn các hóa đơn hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra trong quý, khi kế toán kê khai thuế bằng phần mềm sẽ tự nhảy số thuế trong khi các hóa đơn có số thuế GTGT đã được làm tròn số. Như vây làm tiền thuế GTGT bị sai so với hóa đơn làm chênh lệch số liệu giữa sổ sách với phần kê khai. Như vậy sẽ không đối chiếu được số liệu với nhau

3. Về công tác hoàn thuế GTGT

Hàng quý Công ty có xuất khẩu các hàng hóa vào khu chế xuất vì vậy số thuế GTGT đầu vào sẽ được hoàn theo quy định. Và số thuế GTGT đầu vào của Công ty liên tục lớn hơn số thuế GTGT đầu ra. Nhưng công tác xin hoàn thuế của Công ty gần như không thực hiện dẫn đến vốn của Công ty bị nhà nước chiếm dụng, vốn lưu động của Công ty không có khả năng quay vòng.

4. Về chứng từ kế toán

Hóa đơn hàng hóa dịch vụ mua vào khi nhận hóa đơn do mua có lượng hóa đơn lớn, mua hàng ở xa nên hóa đơn nhận bằng cách chuyển phát nhanh làm nhiều khi trách nhiệm pháp lý trên hóa đơn còn thiếu như dấu của bên bán, tên người bán hàng hoặc thất lạc hóa đơn .

Về quy định về thanh toán của Doanh nghiệp liên quan đến thuế GTGT Có hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào có tổng giá thanh toán lớn hơn 20 triệu phải thanh toán qua ngân hàng trong khi Công ty lại thanh toán bằng tiền mặt nên ảnh hưởng đến số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

3.2 Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH An Thái Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT

Kế toán thuế GTGT là một phần hành kế toán quan trọng trong hệ thống kế toán của mỗi doanh nghiệp, thực hiện tốt kế toán thuế GTGT giúp cho doanh nghiệp xác định đúng số thuế GTGT phải nộp vào NSNN từ đó doanh nghiệp có kế hoạch chủ động nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tránh tình trạng chậm chễ trong việc tính toán thuế dẫn đến chậm nộp thuế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước, uy tín của doanh nghiệp và cả về mặt vật chất khi bị phạt chậm nộp thuế. Việc thực hiện tổ chức công tác kế toán thuế một cách khoa học còn giúp kế toán doanh nghiệp dễ dàng giải trình về các số liệu liên quan đến thuế GTGT phải nộp trong kỳ.

Với cơ chế thị trường mở cửa, cạnh tranh đã trở thành một xu thế tất yếu các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải không ngừng nỗ lực trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp để có thể thành công trong việc lựa chọn đối tác kinh doanh. Thực hiện tốt công tác kế toán nói chung và công tác kế toán thuế nói riêng góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các số liệu liên quan đến thuế, tình hình nộp thuế có thể cho biết được thực trạng, quy mô, hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó xác định vị thế của doanh nghiệp đối với các chủ đầu tư và các đối tác kinh tế. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay nước ta bước vào hội nhập kinh tế thế giới, Nhà nước có những thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách thuế, chế độ kế toán. Cùng với thay đổi đó, công tác kế toán thuế ở các doanh nghiệp cũng phải tổ chức phù hợp.

Từ đó đòi hỏi mang tính khách quan của nền kinh tế đặt ra để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, phát huy đầy đủ vai trò cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh, cần thiết phải cải tiến, đổi mới vào hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và kế toán thuế GTGT nói riêng.

3.2.2  Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại Công ty

  • Việc hoàn thiện kế toán thuế GTGT cần đảm bảo yêu cầu mang tính nguyên tắc:

Việc hoàn thành công tác kế toán nói chung, thuế toán GTGT nói riêng tại Công ty phải tôn trọng đúng chính sách, chế độ hiện hành của Nhà nước về chế độ kế toán, kế toán thuế GTGT.

Sự đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế đòi hỏi nền tài chính quốc gia phải được đổi mới 1 cách toàn diện, nhằm tạo ra sự ổn đinh của môi trường kinh tế, hệ thống pháp luật tài chính. Các hoạt động tài chính cần phải được quản lý bằng pháp luật, bằng các công cụ và biện pháp quản lý có hiệu lực, tăng cường pháp chế. Việc hoàn thiện kế toán thuế GTGT ở đây là tôn trọng đúng chính sách, chế độ của Nhà nước về kế toán thuế: tôn trọng đúng nội dung của Luật thuế GTGT đã sửa đổi, bổ sung một số điều, chế độ kế toán hiện hành, các thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán, thông tư hướng dẫn thực hiện Luật thuế GTGT Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Những giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm của Công ty. Không áp dụng máy móc mô hình của đơn vị khác vào đơn vị của mình trong khi điều kiện, đặc điểm, tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh là không giống nhau. Từ thực tế của Công ty áp dụng linh hoạt các chế độ, chính sách chung vào hoạt động của Công ty. Phù hợp về trình độ, khả năng với đội ngũ cán bộ, với trang thiết bị, phương tiện ghi chép, tính toán của Công ty. Có như vậy thì mới phát huy các thế mạnh đổi mới phù hợp với chế độ của cơ quan thuế.

Đặc điểm của Công ty TNHH An Thái là cung cấp vật tư, thiết bị điện, nên việc thu thập các chứng từ và hạch toán ban đầu như thế nào, nộp thuế đòi hỏi hạch toán trên TK 3331 phải phù hợp với các đặc điểm của Công ty. Để lập báo cáo thuế dễ hiểu và chứa đựng đầy đủ thông tin cần thiết

Một trong các nhiệm vụ của kế toán là cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật. Vì vậy hoàn thiện công tác kế toán phải đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ phù hợp, kịp thời cho đối tượng cần sử dụng thông tin.

Hoàn thiện công tác thuế GTGT cần phải đảm bảo tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả. Nhưng việc thực hiện không phải bằng mọi cách mà cần chú ý đến thời gian, chi phí, công sức từ đó tạo hiệu quả.

Các giải pháp hoàn thiện công tác thuế GTGT tại Công ty TNHH An Thái Qua kiến thức được trang bị trong nhà trườg và tìm hiểu thực tế công tác kế toán tạo Công ty đặc biệt là công tác thuế GTGT của Công ty kết hợp với kiến thức đã học tập và nghiên cứu ở trường, em xin đưa ra một số ý kiến đối với kế toán thuế GTGT tại Công ty.

  • 1. Hoàn thiện về công tác ghi chép sổ sách kế toán và bộ máy kế toán

Công ty cần phân công một kế toán chuyên trách về thuế, trong đó có thuế GTGT. Kế toán này sẽ chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra tính hợp pháp , hợp lý của chứng từ, hóa đơn. Việc kiểm tra này nhằm tránh hiện trượng không được khấu trừ thuế GTGT do kê khai không đúng thời hạn quy định. Sau khi kiểm tra chặt chẽ hóa đơn chứng từ có liên quan đến thuế GTGT tiến hành cập nhật số liệu vào máy. Trong điều kiện áp dụng Luật thuế GTGT hiện nay các hành vi gian lận trở lên tinh vi hơn do đó phòng kế toán đặc biệt là kế toán phụ trách thuế GTGT sẽ được phối hợp với cơ quan thuế để phát hiện các hóa đơn, chứng từ giả, gian lận.

Khi có một kế toán thuế chuyên trách về thuế thì kế toán thuế GTGT sẽ tránh được những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện phần hành kế toán này. Khi chuyên sâu một lĩnh vực giúp người kế toán có thể nghiên cứu sâu hơn, áp dụng linh hoạt hơn chế độ kế toán vào điều kiện cụ thể của Công ty. Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước có chủ trương để các doanh nghiệp tự kê khai và nộp thuế GTGT thì khối lượng công việc của kế toán thuế ngày càng nhiều và phức tạp hơn.

Quy mô hoạt động của doanh nghiệp càng phát triển, mối quan hệ kinh tế pháp lý mở rộng, tính chất hoạt động ngày càng cao, làm cho nhu cầu thu nhận, xử lý cung cấp thông tin ngày càng khó khăn, phức tạp. Vì vậy việc ứng dụng tin học trong công tác kế toán có ý nghĩa rất lớn. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

Do vậy, Công ty cần thiết phải sử dụng phần mềm kế toán bởi vì:

  • Giảm bớt khối lượng ghi chép và tính toán
  • Tạo điều kiện cho việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán nhanh chóng, kịp thời về tình hình tài chính
  • Làm cho công việc của các kế toán sẽ không phải mất thời gian tìm kiếm, kiểm tra các số liệu trong việc tính toán số học đơn giản nhàm chán để giành thời gian nhiều hơn cho lao động sáng tạo của Cán bộ quản lý.

KẾT LUẬN

Sau khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các chính sách chế độ được đổi mới phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế. Ngày 1/1/1999 Luật thuế GTGT được đưa ra áp dụng cho đến nay đã có những sửa đổi, bổ sung cho thích ứng với thực trạng nền kinh tế. Chế độ kế toán cũng đã có những bước tiến đáng kể để ngày càng hội nhập vè phù hợp với các chuẩn mực kế toán Quốc tế. Thực tiễn cho thấy chế độ kế toán nói chung và kế toán thuế GTGT nói riêng tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên còn một số vấn đề vướng mắc cần được tháo dỡ trong quá trình thực hiện kế toán thuế GTGT ở các đơn vị. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp kế toán thuế GTGT còn là phần hành rất quan trọng giúp doanh nghiệp tính đúng, đủ thuế phải nộp để doanh nghiệp chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và đảm bảo quyền lợi của mình khi hạch toán thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại. Qua thời gian thực tập em đã tìm hiểu thực trạng công tác ké toán thuế GTGT ở Công ty. Kết hợp với lý luận đã tiếp thu ở trường, em đã trình bày một số nguyện vọng hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tại Công ty. Song do kiến thức còn hạn chế và thời gian thực tập không nhiều nên bài viết của em mới chỉ đề cập được những vấn đề cơ bản của kế toán thuế GTGT và đề xuất 1 số giải pháp ban đầu, không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự góp ý của thầy cô và phòng kế toán của Công ty TNHH An Thái để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Công ty Hằng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty An Thái […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x