Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại chi nhánh công ty TNHH Không Hải Vận tại thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, có rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu bởi lẽ đất nước ta đang trên đường hội nhập kinh tế quốc tế.
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng nâng cao, các hoạt động – sản xuất ngày càng được chú trọng, không ngừng cải thiện.Tuy nhiên, nguồn tài nguyên, nhân lực thì hữu hạn.Chính vì vây, logistics đã ra đời để giúp con người sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu nhất, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Trong vòng 10 năm qua, ngành logistics tại Việt Nam đã được mọi người biết đến, nghe nói đến nhưng thực trạng phát triển ra sao thì nhiều người vẫn chưa nắm rõ.
Giai đoạn từ năm 2001-2005: hoạt động giao nhận kho vận, đặc biệt là giao nhận vận tải quốc tế đã có những bước chuyển biến đáng kể. Là một ngành kinh doanh còn mới mẻ, khó cạnh tranh bình đẳng với các công ty nước ngoài nên ngành giao nhận kho vận là một trong những ngành kinh doanh được Nhà nước bảo hộ và khuyến khích phát triển. Cơ cấu hàng chỉ định và không chỉ định trong vận tải ngoại thương mất cân đối trầm trọng bắt nguồn từ tập quán nhập CIF xuất FOB, điều này dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khai thác vận tải và bảo hiểm được từ 10% đến 18% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu.
Giai đoạn 2006-2021: thị trường dịch vụ logistics phát triển và chuyển biến mạnh mẽ hơn với khoảng 1200 doanh nghiệp đang hoạt động lĩnh vực này nhưng với số vốn và tay nghề hạn chế. Theo một báo cáo của Ngân hàng thế gới (WB) đưa ra vào giữa năm 2022, Việt Nam cũng với các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Nam Phi có sự phát triển kinh tế ấn tượng nhất trong nhóm các nước đang phát triển. Trong đó, về bảng xếp hạng các nước về logistics, Việt Nam đứng thứ 53 trong tổng số 155 nước. Điều này chứng tỏ nước ta đang dần cải thiện một cách toàn diện việc phát triển hệ thống logistics bao gồm: kho vận, giao nhận, vận chuyển và phân phối. Theo như dự báo, trong tương lai, dịch vụ logistics sẽ trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP của cả nước. Đặc biệt trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỷ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng tăng.
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Được sự giới thiệu của Nhà trường và sự đồng ý của Chi nhánh Công ty TNHH Không Hải Vận tại Thành phố Hải Phòng em đã có cơ hội được thực tập tại Chi nhánh Công ty. Công ty là một doanh nghiệp trẻ mới được thành lập với nhiều triển vọng trong tương lai.
Qua quá trình thực tập tại chi nhánh công ty em đã có nhiều cơ hội để tìm hiểu về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, và rút ra một vài vấn đề còn tồn tại trong công ty cần phải giải quyết để phát triển trong năm tới. Vì vậy, em đã mạnh dạn nghiên cứu, tìm hiểu sâu và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp với đề tài nghiên cứu: “một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại chi nhánh công ty TNHH Không Hải Vận tại thành phố Hải Phòng”.Với mục đích phát huy những mặt mạnh của công ty và tìm ra những hạn chế để từ đó đề xuất một vài biện pháp nhằm khắc phục tình trạng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tới.
3. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
- Chương 1: lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chương 2: phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty TNHH Không Hải Vận tại thành phố Hải Phòng.
- Chương 3: một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi nhánh công ty TNHH Không Hải Vận tại thành phố Hải Phòng.
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1. Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
Có nhiều cách hiểu hiệu quả kinh doanh khác nhau về khái niệm. Có quan điểm cho rằng: Hiệu quả khi xã hội sản xuất diễn ra không thể tăng sản lượng của một lượng lượng hàng hoá không cắt giảm sản mà của một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó.Thực chất quan điểm khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực này đã đề cập tới của nền sản xuất xã hội. Trên góc độ này rõ ràng lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường phân bổ các nguồn giới hạn khả có hiệu quả và rõ năng sản xuất làm cho nền kinh tế ràng xét trên phương diện lý thuyết thì kinh tế có thể đạt được trên giới hạn đây là mức hiệu quả cao nhất mà mỗi của doanh nghiệp nền năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Một số nhà quản trị học lại được xác định bởi tỷ số quan niệm hiệu quả kinh doanh giữa kết quả đạt được và để đạt được kết quả đó chi phí phải bỏ ra. Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu cách lấy kết quả tính theo đơn vị quả được xác định bằng giá trị chia cho chi phí kinh doanh.
Quan điểm khác nữa lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó chiếm hữu nô lệ đến xã hội xuất hiện và tồn tại từ xã hội xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh thể hiện cần thiết tham gia vào theo mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định.
Trong những hình thì bản chất thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau của phạm trù hiệu quả và hiệu quả vận động theo những những yếu tố hợp thành phạm trù khuynh hướng khác nhau.
Trong xã hội tư bản, về tư liệu sản xuất và giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu do vậy, chính trị quyền lợi về kinh tế… đều dành cho nhà tư bản. Chính vì thế quả kinh doanh thực chất là việc phấn đấu tăng hiệu đem lại lợi nhuận nhiều hơn nữa cho thu nhập cho họ nhà tư bản nhằm nâng cao, trong khi thu nhập của người lao động lại có thể thấp hơn nữa. Do vậy, việc tăng sản phẩm chất lượng không phải là người tiêu dùng để phục vụ trực tiếp mà để thu hút khách hàng nhằm và qua đó thu được bán được càng nhiều hơn có lợi nhuận lớn hơn.
Trong xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vốn kinh doanh tồn tại vì sản phẩm sản xuất kinh doanh ra vẫn là hàng hoá. Do các tài sản hữu của đều thuộc quyền sở Nhà nước, toàn dân và tập thể, hơn nữa hội chủ nghĩa mục đích của nền sản xuất xã cũng khác của nền sản xuất tư bản mục đích chủ nghĩa. Mục đích đáp ứng đủ nhu cầu xã hội của nền sản xuất chủ nghĩa là ngày càng tăng của trong xã hội nên mọi thành viên bản chất quả của phạm trù hiệu cũng khác với tư bản xã hội chủ nghĩa.
Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh.
- Nhà kinh tế học Adam Smith thì cho rằng: Hiệu quả là kết quả trong hoạt động kinh tế được, là doanh thu của tiêu thụ hàng hoá. Như vậy, hiệu quả đồng kết quả hoạt động nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kinh doanh, có thể do nguồn lực sản tăng chi phí mở rộng sử dụng. Nếu có hai mức chi phí khác nhau cùng một kết quả thì doanh nghiệp theo quan điểm này cũng đạt hiệu quả. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Quan điểm nữa cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là so sánh tỷ lệ tương đối giữa kết quả và chi phí kết quả đó để đạt được.Ưu điểm là phản ánh được mối quan hệ của quan điểm này bản chất của hiệu quả kinh tế.Tuy nhiên được tương chưa biểu hiện quan chất giữa kết quả về lượng và và chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ được của mối liên hệ này.
- Quan điểm khác nữa lại cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là mãn yêu cầu của quy mức độ thoả luật kinh tế cơ bản của cho rằng quỹ chủ nghĩa xã hội tiêu dùng chỉ tiêu đại diện với ý nghĩa là cho mức sống của mọi người trong các là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp. Quan điểm này là đã có ưu điểm bám sát mục tiêu của nền sản xuất là đời sống vật chất và tinh thần không ngừng nâng cao cho người dân. Nhưng khó khăn ở đây là thể hiện tư tưởng phương tiện để đo lường định hướng đó.
Từ các quan điểm nêu trên ta có thể hiểu một cách khái quát thế nào là hiệu quả kinh doanh đó là phạm trù phản ánh trình độ các nguồn lực bị lợi dụng (nhân tài, vật lực, tiền vốn…) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực trong mối quan hệ chỉ có thể được đánh giá với kết quả tạo ra để xem xét xem xác định có thể với mỗi sự hao phí nguồn lực tạo ra ở mức độ nào. Vì vậy, ta có thể mô tả các công thức hiệu quả kinh doanh bằng chung nhất sau đây:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế theo khái niệm rộng phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh. Như vậy,ta cần phân định sự khác nhau và quan trọng mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.
Bất kỳ con người nói chung hành động nào của và trong kinh doanh nói riêng đều mong muốn được những kết quả hữu ích đạt cụ thể nào đó, kết quả đạt được mà cụ thể là trong kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông mới được phần nào chỉ đáp ứng tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, kết quả đó mức độ được tạo ra ở nào, với giá xét vì nó phản ánh chất lượng nào là vấn đề cần xem của hoạt động tạo ra kết quả. Mặt khác con người bao giờ cũng nhu cầu tiêu dùng của có xu hướng lớn hơn khả được nhiều năng tạo ra sản phẩm nhất. Vì vậy đánh giá chất lượng nên khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là của hoạt động tạo ra kết quả mà kinh doanh nó có được.
Như vậy, hiệu quả đại lượng kinh doanh là một so sánh: So sánh giữa đầu vào với đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra với kết quả kinh doanh ta thu được. Đứng trên xã hội góc độ, chi phí xem xét xã hội phải là chi phí, do có của các yếu tố sự kết hợp lao động, tư đối tượng lao động theo liệu lao động và một tương quan và chất trong cả về lượng quá trình kinh doanh để tạo ra đủ tiêu chuẩn cho sản phẩm tiêu dùng….
Tóm lại, hiệu mặt chất lượng các hoạt động quả kinh doanh phản ánh kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trong sự vận động không ngừng của sản xuất kinh doanh các quá trình, không phụ thuộc động vào tốc độ biến của từng nhân tố.
1.1.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá hiệu quả
Hiệu quả kinh tế cá biệt: thể hiện lợi ích mà doanh nghiệp thu được kết quả kinh doanh cũng như từ hoạt động kinh doanh. Đó có thể là lợi nhuận cũng có thể là doanh thu mà doanh nghiệp đã thu về.
Hiệu quả kinh tế – xã hội: thể hiện sự tăng trưởng sự đóng góp của doanh nghiệp vào và phát triển bền vững trong của nền kinh tế như tạo tăng nguồn thu ngân sách việc làm, nâng cao đời sống tinh thần người dân…
Doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế, mọi hoạt động kinh doanh đều chịu ảnh hưởng của doanh nghiệp bởi xu hướng vận động của nền kinh tế. Do đó hiệu quả kinh tế cá biệt có mối quan và hiệu quả kinh tế – xã hội hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế cá biệt sẽ ảnh hưởng đến của doanh nghiệp hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả kinh tế – xã hội cơ sở hiệu quả chỉ đạt được trên kinh tế cá biệt.
Việc phân loại trên quan điểm toàn diện khi đánh giá đòi hỏi doanh nghiệp phải có hiệu quả kinh tế thương mại.Trong kinh doanh, doanh nghiệp không nên chỉ tính đến mà bỏ qua lợi ích của riêng doanh nghiệp các lợi ích kinh tế – xã hội.
- Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả: hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp.
Hoạt động gắn liền với môi trường kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng của nó nhằm giải quyết trong kinh doanh những vấn đề then chốt như: do nha nghiệp kinh doanh cái gì, doanh nghiệp kinh doanh cho ai,kinh doanh như thế nào và sẽ chi phí bao nhiêu… Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh của mình tiến hành trong những điều kiện riêng về trình độ trang thiết bị kỹ thuật tài nguyên,quản lý lao động trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh Paul Samuelson gọi đó là hộp đen kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Bằng khả năng cung ứng cho xã hội của mình họ những sản phẩm nhất định với chi phí cá biệt và nhà kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá với số lượng nhiều nhất của mình. Tuy nhiên, thị trường hoạt động mọi doanh nghiệp khi tham gia theo quy luật riêng của nó và vào thị trường là phải chấp nhận luật chơi đó. Một trong những tác động rõ nét nhất đến quy luật thị trường các chủ là quy thể của nền kinh tế luật giá trị. Thị trường mức hao phí trung bình xã hội chỉ chấp nhận cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá sản phẩm. Quy luật giá trị đã với mức chi phí cá biệt đặt tất cả các doanh nghiệp khác nhau trên một mặt bằng trao đổi chung, và đó là giá cả thị trường.
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng đối với mỗi doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện dưới các dạng chi phí khác nhau: giá thành sản xuất, chi phí sản xuất. Bản thân mỗi loại chi phí này lại một cánh tỷ mỷ được phân chia hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh gía hiệu quả chi phí trên tổng hợp của các loại, đồng thời hiệu quả của từng loại chi phí cần thiết phải đánh giá hay nói cánh khác là hiệu quả đánh giá của chi phí bộ phận.
- Căn cứ vào chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
Hiêu quả tuyệt đối: là hiệu quả được xác định cho từng phương án kinh doanh trong từng kỳ kinh doanh. Hiệu quả tuyệt đối chính là phần chênh lệch giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Hiệu quả tương đối hay hiệu quả so sánh: được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án kinh doanh khác nhau trong một kỳ kinh doanh hoặc giữa các kỳ kinh doanh với nhau
Trong kinh doanh để thực hiện các mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp có thể có nhiều phương án khác nhau. Mỗi phương án mang lại mức hiệu quả khác nhau với mức chi phí khác nhau. Việc tính toán các chi tiêu hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối giúp doanh nghiệp lựa chọn được phương án kinh doanh tối ưu nhất.
- Căn cứ vào lợi ích nhận được trong khoảng thời gian dài hay ngắn
Hiệu quả trước mắt: là hiệu quả được xem xét trong một thời gian ngắn
Hiệu quả lâu dài: là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài Doanh nghiệp cần phải tiến hành các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp.Phải kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích trước mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.
1.1.3. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt phản ánh trình độ lợi dụng chất lượng của các hoạt động kinh doanh, các nguồn lực sản xuất như lao động, máy móc, nguyên liệu, nguồn thiết bị, vốn… trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội. Chính nguồn lực và việc sử dụng việc khan hiếm cạnh tranh nhu cầu ngày càng tăng của nhằm thỏa mãn xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng chúng có tính chất triệt để, và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh lực buộc phải chú trọng đến điều kiện nội tại, nghiệp phát huy năng hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao là đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt hiệu quả kinh doanh quả tối đa với chi phí nhất nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là chi phí của sự hy sinh công việc định hoặc quả nhất định với chi ngược lại đạt kết phí tối thiểu. Chi phí ở đây là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí được hiểu theo nghĩa rộng sử dụng nguồn lực, đồng thời chi phí cơ phải bao gồm cả hội. Chi phí cơ hội đã bị bỏ qua là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất hay là chi phí của việc kinh doanh khác sự hy sinh công để thực động kinh doanh hiện hoạt này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán vào chi phí kế toán và để thấy rõ lợi ích thực. Cách tính như vậy các nhà kinh doanh lựa chọn sẽ khuyến khích phương án kinh doanh tốt nhất.
1.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình kinh doanh luôn gắn mình với thị trường, nhất các doanh nghiệp phải là trong cơ chế thị trường hiện nay nghiệp trong sự cạnh tranh đặt các doanh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại cạnh tranh hiện nay được trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả hơn.
Các nguồn lực là một phạm trù khan hiếm sản xuất xã hội, trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội cầu của con người lại ngày càng giảm thì nhu càng đa dạng. Điều này khan hiếm. Quy luật khan hiếm phản ánh quy luật bắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất như thế nào?.Vì thị trường chỉ chấp nhận sản xuất sản xuất cái gì?đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp. Để thấy được sự sản xuất cho ai?cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh trong nền kinh tế thị trường trước hết đối với các doanh nghiệp chúng ta phải nghiên cứu cơ chế thị trường của doanh nghiệp trong cơ chế và hoạt động thị trường. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Thị trường là nơi trình trao đổi diễn ra quá hàng hoá.Nó tồn tại một cách khách vào một ý kiến chủ quan không phụ thuộc nào.Bởi vì thị trường ra đời và phát triển gắn liền với của nền sản xuất lịch sử phát triển hàng hoá.
Ngoài ra thị trường trò quan trọng trong việc điều tiết và lưu thông hàng hoá. Thông qua đó các còn có một vai doanh nghiệp có thể nhận sự phân phối các nguồn lực thông biết được qua hệ thống giá cả trên thị trường. Trên thị trường luôn tồn tại vận động của hàng hoá các quy luật, tiền tệ giá cả,… Như các quy luật giá trị, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh, quy luật thặng dư… Các quy luật này thống nhất và hệ thống này chính tạo thành hệ thống là cơ chế thị trường. Như vậy được hình thành bởi sự cơ chế thị trường tác động tổng hợp trong sản xuất và trong hàng hoá trên lưu thông thị trường. Thông qua các quan Tóm lại, với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự hệ mua, dịch vụ trên thị trường bán hàng hoá nó tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và đổi nhằm đáp ứng cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành. Nói cách khác cơ chế thị trường điều tiết quá trình phân phối từ đó làm thay lại các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh nhu cầu xã hội một cách tối ưu nhất.
Tóm lại, phức tạp của cơ chế thị trường với sự vận động đa dạng dẫn đến sự cạnh tranh gay nghiệp, góp phần thúc đẩy gắt giữa các doanh sự tiến bộ của cả về chiều rộng lẫn chiều sâu các doanh nghiệp. Tuy nhiên để tạo ra được sự của doanh nghiệp đòi hỏi tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải xác định cho mình một, xây dựng các chiến lược phương thức hoạt động riêng, các phương án cách phù hợp kinh doanh một và có hiệu quả.
Như vậy trong cơ chế thị trường việc quả kinh doanh vô cùng nâng cao hiệu quan trọng, nó được thể hiện thông qua:
Thứ nhất: nâng cao là cơ sở cơ bản để đảm bảo hiệu quả kinh doanh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường doanh nghiệp, mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố sự tồn tại này, đồng thời trực tiếp đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do đó việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là yếu khách quan đối với tất một đòi hỏi tất hoạt động trong cả các doanh nghiệp cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại của doanh nghiệp và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi phải không ngừng tăng nguồn thu nhập lên. Nhưng và các yếu tố kỹ thuật cũng như trong điều kiện nguồn vốn các yếu tố khác chỉ thay đổi trong khuôn khổ của quá trình sản xuất nhất định thì để tăng doanh nghiệp phải nâng lợi nhuận đòi hỏi các cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong tồn tại và phát triển việc đảm bảo sự của doanh nghiệp.
Một cách nhìn tại của doanh nghiệp được xác định khác là sự tồn bởi sự tạo ra hàng hoá, của cải và các dịch vụ phục vụ vật chất cho nhu cầu của xã hội, đồng sự tích luỹ cho thời tạo ra xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp nghiệp đều phải vươn lên chi phí bỏ ra và có quá trình hoạt lãi trong động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng cầu tái sản xuất được nhu trong nền kinh tế. Và như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục chúng ta buộc phải trong mọi khâu của quá trình hoạt động một yêu cầu tất yếu kinh doanh như là. Tuy nhiên, là yêu cầu sự tồn tại mới chỉ mang tính chất giản đơn còn và mở rộng của sự phát triển doanh nghiệp mới yêu cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn luôn luôn phải đi kèm tại của doanh nghiệp với sự phát triển doanh n ghiệp mở rộng của, đòi đảm bảo cho quá trình tái sản hỏi phải có sự tích luỹ xuất mở phát triển rộng theo đúng quy luật. Như vậy để phát triển và mở rộng tiêu lúc này không còn doanh nghiệp mục là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá giản đơn mà phải đảm trình tái sản xuất bảo có tích luỹ đáp ứng nhu cầu tái sản xuất phù hợp với quy mở rộng, luật khách quan và một lần nâng cao hiệu quả nữa kinh doanh được nhấn mạnh.
Thứ hai, nâng kinh doanh là nhân tố thúc cao hiệu quả đẩy sự cạnh tranh kinh doanh và tiến bộ trong. Chính việc thúc đẩy cầu các doanh nghiệp cạnh tranh yêu phải tự tìm đầu tư tạo nên tòi, sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận là chấp nhận sự cơ chế thị trường cạnh tranh.Trong ngày càng phát triển khi thị trường thì cạnh tranh giữa các doanh gay gắt và nghiệp ngày càng khốc liệt hơn. Sự cạnh này không còn tranh lúc là cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh cả về chất giá cả và các lượng, yếu tố khác. Trong khi mục tiêu doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh chung của các là yếu tố làm các doanh nghiệp không tồn tại mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể là các doanh nghiệp được trên thị trường. Để đạt được và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp mục tiêu là tồn tại phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh nghiệp hàng hoá dịch vụ chất phải có giá cả hợp lý lượng tố. Mặt khác hiệu quả kinh doanh là đồng nghĩa giá thành với việc giảm tăng khối lượng hàng hoá bán không ngừng được, chất lượng cải thiện nâng cao…
Thứ ba, mục tiêu bao trùm, doanh nghiệp là tối đa hoá lâu dài của lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, hành mọi hoạt động doanh nghiệp phải tiến sản xuất tạo ra sản phẩm cung kinh doanh để cấp cho thị trường.Muốn vậy, sử dụng các nguồn lực sản xuất doanh nghiệp phải xã hội nhất định. Doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực càng tiết kiệm này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu bấy nhiêu được nhiều lợi nhuận. Hiệu quả kinh ánh tính tương đối của doanh là phạm trù phản việc sử dụng tiết kiệm các nguồn nên là điều kiện lực xã hội để mục tiêu bao trùm thực hiện, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả đã sử dụng tiết kiệm kinh doanh càng cao càng phản các nguồn lực ánh doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh hỏi khách quan để doanh doanh là đòi nghiệp thực hiện, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận mục tiêu bao trùm. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh nâng cao sức cạnh tranh và doanh là con đường khả năng phát triển của tồn tại, mỗi doanh nghiệp. cấu ngành, tập quán,… Trong môi trường kinh doanh còn có môi trường cạnh tranh, có thể nói cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát
1.2. Các nhân tố tác động tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
1.2.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
- Các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh
Nhân tố ảnh môi trường kinh doanh hưởng thuộc bao gồm như: đối thủ cạnh tranh trong nước, môi trường kinh, thị trường kinh doanh doanh cấu ngành quốc tế, cơ, tập quán,… Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, có thể nói cạnh tranh được xác định còn có môi trường là động lực thúc đẩy triển của nền kinh tế thị sự phát trường ai hoàn thiện hơn với nguyên tắc, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn người đó sẽ thắng và hiệu quả hơn, sẽ được tồn tại và phát triển. Duy trì và đúng luật là cạnh tranh bình đẳng công việc của chính phủ. Trong điều kiện đó vừa mở nghiệp kiến tạo hoạt động ra cơ hội để doanh của mình, vừa yêu cầu lên phía trước để vượt qua doanh nghiệp phải vươn các đối thủ. Các doanh nghiệp cần xác định cạnh tranh hoàn hảo cho mình một chiến lược. Chiến lược cạnh tranh cần phản ánh hưởng của môi trường cạnh tranh được các yếu tố ảnh bao quanh doanh nghiệp.
- Nhân tố văn hóa – xã hội
Mỗi một khu vực trên nền văn hóa đặc trưng thế giới sẽ có một, riêng biệt vì thế đây trọng trong việc nâng cao là một yếu tố quan hiệu quả kinh doanh.Nó quyết định, số lượng của sản phẩm mức độ chất lượng. Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và cho phù hợp với văn hóa nghiên cứu làm sao, sức mua, phong tục tập quán lối sống, mức thu nhập bình quân của người dân thói quen tiêu dùng, Những yếu tố này tác động lên quá trình sản xuất cũng như một cách gián tiếp công tác marketing và cuối cùng là doanh của hiệu quả kinh doanh nghiệp.
Bên cạnh đó yếu tố xã hội như: trình độ giáo dục, tình trạng thất nghiệp tâm lý xã hội… đều tác động một cách gián tiếp tới hiệu trực tiếp hoặc quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực có thể theo hai. Nếu nghiệp, người lao động không có tình trạng thất có nhiều cơ hội lựa chọn chắn chi phí sử dụng việc làm thì chắc lao động của doanh nghiệp sẽ cao do sản xuất kinh doanh đó làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp và ngược lại nếu tình trạng thì chi phí sử dụng lao động thất nghiệp là cao của doanh nghiệp sẽ giảm dẫn đến làm tăng doanh của doanh hiệu quả sản xuất kinh nghiệp. Nhưng tình trạng thất nghiệp cao giảm và dẫn đến tình trạng sẽ làm cầu phẩm mang tính chất mùa vụ như nông, lâm, thủy sản, bánh kẹo,…doanh nghiệp tiêu dùng an ninh chính trị mất ổn định, do vậy sẽ lại làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhân tố môi trường tự nhiên Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Các điều kiện tự nhiên như :vị trí địa lý,các loại tài nguyên khoáng sản mùa vụ thơi tiết khí hậu,… ảnh hưởng tới chi phí vật liệu, nhiên liệu sử dụng nguyên, năng lượng, kinh doanh ảnh hưởng tới mặt hàng, năng suất chất lượng sản phẩm, sản phẩm do tính chất mùa vụ ảnh hưởng tới cung cầu… do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng.
Nhân tố khí hậu, mùa vụ thời tiết ảnh hưởng rất lớn tới quy trình công nghệ, tiến độ thực hiện kinh doanh đặc biệt là các sản phẩm của các doanh nghiệp mang tính chất mùa vụ như bánh kẹo nông, lâm, thủy sản,…doanh nghiệp phải có với điều kiện chính sách phù hợp. Và nếu các nhân tố này không chính sách hoạt động kinh doanh ổn định sẽ làm cho của doanh nghiệp mất ổn định, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó bị ảnh hưởng trực tiếp.
Nhân tố tài nguyên thiên nhiên chủ yếu đến các doanh nghiệp ảnh hưởng hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên. Doanh nghiệp vực có trữ lượng tài nguyên giàu có ở gần khu, chất lượng tốt sẽ là một lợi thế cho các doanh nghiệp khau thác, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực đến.
Nhân tố vị trí địa lý không chỉ tác động cao hiệu quả kinh doanh đến công tác nâng mà còn tác động đến các mặt khác trong hoạt động kinh doanh như giao dịch, sản xuất vận chuyển, … Các nhân tố này đến hiệu quả kinh doanh tác động trực tiếp thông qua sự tác động lên các chi phí tương ứng.
Tình trạng môi trường, các phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội vấn đề về xử lý về môi trường,… đều có tác động nhất định kinh doanh, năng suất đến chi phí và chất lượng sản phẩm. Một môi trường sẽ trực tiếp làm giảm trong sạch thoáng mát chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất tạo điều lượng sản phẩm kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Môi trường chính trị – pháp luật
Môi trường chính trị ổn định việc phát triển và mở rộng các luôn luôn là tiền đề cho hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư, các tổ chức cá nhân ngoài nước trong và,các hoạt động đầu tư trở lại rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nó lại tác động nghiệp. Sự thay đổi của môi trường chính doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh.Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, trị có thể ảnh hưởng nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm tới lợi ích của một hãm sự phát triển doanh nghiệp khác của một nhóm và ngược lại.
Môi trường pháp lý bao gồm các văn bản dưới luật, luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo cho các doanh nghiệp ra một hành lang hoạt động, các hoạt động của sản xuất kinh doanh doanh nghiệp như cái gì, sản xuất bằng cách nào, ở đâu, nguồn đầu vào lấy bán cho ai, ở đâu đều phải dựa vào các quy định của pháp luật. Hệ thống pháp luật vị là một trong những hoàn thiện, không thiên tiền đề ngoài kinh tế của doanh nghiệp.Môi trường này có ảnh tới các mặt hàng sản xuất hưởng trực tiếp, ngành nghề, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp. Không những động đến chi phí của doanh nghiệp thế nó còn tác như chi phí lưu thông, các khoản thuế phải nộp chi phí vận chuyển … đặc biệt là doanh xuất nhập khẩu còn các doanh nghiệp kinh bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại quốc hạn ngạch do nhà tế, nước giao, luật bảo hộ cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với phải thực hiện các nghĩa người lao động do luật pháp quy định như thế nào là (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp đảm bảo đời sống…). Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích triển của các doanh nghiệp sự tồn tại và phát, do đó ảnh hưởng trực tiếp cũng như hiệu quả của tới các kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống công cụ pháp luật doanh nghiệp thông qua, công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp định sự phát triển của. Doanh nghiệp kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao, điện, nước đầy đủ,thông thuận lợi dân cư đông đúc và có trình độ dân trí cao thuận lợi phát triển cơ sở sản xuất sẽ có điều kiện, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, giảm chi phí kinh doanh tăng doanh thu … Và do đó hiệu quả doanh nghiệp được nâng cao. Ngược lại, xa trung tâm, ngoại ô, ở một số khu vực nông thôn, miền núi có cơ sở hạ tầng kém, không thuận lợi cho điều kiện phát triển, các ở đây sẽ không có hiệu quả cao doanh nghiệp kinh doanh. Thậm chí nhiều ra sản phẩm có chất lượng doanh nghiệp sản xuất rất tốt nhưng không có hệ thống giao không thể tiêu thụ được dẫn đến tình trạng thông thuận lợi vẫn ứ đọng hàng hóa, quan trọng hơn là việc kinh doanh không đạt hiệu quả. Như vậy, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc hệ thống đường sá, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia… ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng huy động và sử dụng vốn,khả năng nắm bắt thông tin, khả năng giao dịch thanh toán… của các doanh nghiệp do lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh đó ảnh hưởng rất của doanh nghiệp.
Trình độ dân trí tác động rất lớn của người dân, của lực lượng lao động trong xã hội đến chất lượng sống nên có tác động trực tiếp tới nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Chất lượng là nhân tố bên trong quyết định đội ngũ lao động chính chất lượng của sản phẩm, do đó quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Môi trường kinh tế và công nghệ
Các chính sách kinh tế của nhà nước, quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người tốc độ tăng trưởng nền kinh tế … là các yếu tố tác động tới cung cầu của từng danh nghiệp trực tiếp. Nếu tốc độ tăng trưởng của, các chính sách của Chính phủ nền kinh tế quốc dân cao khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sự biến động tiền tệ là không đáng kể, mở rộng sản xuất, lạm phát được giữ mức, thu nhập binh quân đầu người tăng hợp lý … sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại.
Tình hình phát công nghệ, và tình hình ứng dụng vào thực tiễn triển khoa học kỹ thuật sản xuất trên thế nước sẽ ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật giới cũng như trong công nghệ và kỹ thuật công nghệ của khả năng đổi mới doanh nghiệp, do đó ảnh suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng hưởng tới năng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Nhóm các nhân tố bên trong Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Nhân tố vốn
Đây là nhân tố tổng hợp của doanh nghiệp thông qua lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phản ánh thế mạnh phân phối, đầu tư có vốn, khả năng quản lý có hiệu quả hiệu quả các nguồn các nguồn vốn kinh doanh.
Yếu tố vốn quyết định đến quy là yếu tố chủ chốt mô của doanh nghiệp.Nó phản ánh thực lực nghiệp tài chính của doanh, phản ánh sự phát triển và là nhân tố quan hiệu quả kinh doanh trọng đánh giá của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mạnh thì không những đảm bảo có khả năng tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định mà còn giúp cho doanh năng đầu tư đổi mới công nghiệp có khả nghệ và áp dụng sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất kỹ thuật tiên tiến vào và chất lượng sản phẩm. Ngược lại, về tài chính của doanh nghiệp nếu như khả năng yếu kém thì doanh không đảm bảo được các hoạt động sản nghiệp không những xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường mà còn không có khả năng diễn ra bình đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được lượng sản phẩm năng suất và chất. Khả năng tài chính của doanh nghiệp tới uy tín của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp, tới khả năng chủ động doanh tới tốc độ tiêu thụ trong sản xuất kinh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách ảnh hưởng tới chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào. Vì vậy tình hình tài chính của tác động rất mạnh tới hiệu quả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó.
- Nhân tố con người
Trong sản xuất kinh doanh, con người đầu cho sự quyết định thành công, đảm bảo cho việc là yếu tố quan trọng hàng phát triển kinh doanh lâu dài. Máy móc thiết bị, có tối tân hiện đại đến đâu cũng cơ sở hạ tầng dù do con người chế tạo ra, công phù hợp với trình độ tổ chức, nghệ kỹ thuật cũng phải trình độ sử dụng máy móc động của người lao. Lực lượng lao động có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa, tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng chúng vào sử dụng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng lao động sáng tạo ra sản chính lực lượng phẩm mới với kiểu dáng của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu được bán tới tay người tiêu dùng, cơ sở cốt lõi là làm sao để tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao là yếu tố cốt lõi tác động chính trực tiếp đến năng suất lao động.
- Nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong yếu tố vật chất hữu hình quan doanh nghiệp là trọng phục vụ cho quá trình sản doanh của doanh nghiệp xuất kinh, làm nền tảng quan trọng để hành các hoạt động kinh doanh nghiệp tiến doanh.Cơ sở vật chất đem lại sức mạnh doanh nghiệp trên cơ kinh doanh cho sở sức sinh lời của tài sản. Cơ sở vật chất lớn hay nhỏ trong tổng dù chiếm tỷ trọng tàu sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, mặt kinh doanh của doanh nó thể hiện bộ nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, bến bãi kho vật liệu, cửa hàng, …Cơ sở vật chất của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý kỹ thuật bao nhiêu thì càng đem lại hiệu quả cao bấy nhiêu. Điều này thấy khá rõ nếu một góp phần doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho vật liệu bến bãi được bố trí hợp lý, cửa hàng, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập của người dân cao về cầu tiêu dùng …và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại một tài sản vô hình rất lớn đó cho doanh nghiệp là lợi thế kinh doanh doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đảm bảo cho có hiệu quả cao.
Trình độ kỹ thuật và nghệ sản xuất của doanh nghiệp trình độ công ảnh hưởng tới năng suất, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm chất lượng sản phẩm, hay tăng phí nguyên vật liệu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh do đó ảnh hưởng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp sản xuất còn có công nghệ sản xuất tiên tiến có trình độ kỹ thuật và hiện đại sẽ đảm bảo sử dụng tiết kiệm nguyên vật cho doanh nghiệp liệu, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của năng suất và doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, phẩm của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng chất lượng sản phí nguyên vật liệu.
- Nhân tố tổ chức quản lý trong doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động, bộ máy quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường có vai trò đặc biệt tồn tại và phát triển doanh nghiệp quan trọng đối với sự, bộ máy quản trị đồng thời thực hiện nhiều nhiệm doanh nghiệp phải vụ khác nhau:
- Nhiệm vụ đầu quản trị doanh nghiệp là xây dựng tiên của bộ máy cho doanh nghiệp một chiến lược kinh triển doanh doanh và phát nghiệp. Nếu xây dựng được doanh và phát triển doanh nghiệp một chiến lược kinh hợp lý (phù hợp với kinh doanh, phù hợp với khả năng môi trường của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở, là định hướng tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tốt để doanh nghiệp có hiệu quả.
- Xây dựng kinh doanh các kế hoạch, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các doanh nghiệp trên cơ sở chiến hoạt động của lược kinh doanh doanh nghiệp và phát triển đã xây dựng.
- Tổ chức thực kế hoạch hiện các, các phương án và các hoạt kinh doanh động sản xuất đã đề ra.
- Tổ chức kiểm tra, điều chỉnh các quá đánh giá và trình trên. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Để hoàn thành nhiệm vụ đó, ban lãnh đạo sẽ phải xây dựng được những tập thể thành một kết, năng động, sáng tạo hệ thống đoàn, lao động hăng say đạt hiệu quả cao, hoạt động vững chắc, ổn định đảm bảo doanh nghiệp.
Với chức năng và nhiệm vụ của bộ máy quản trị doanh vô cùng quan trọng nghiệp, ta có thể khẳng định của bộ máy quản trị rằng chất lượng quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu bộ máy quản trị được tổ chức hợp với nhiệm vụ với cơ cấu phù sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ, linh hoạt, vụ chức năng rõ ràng có sự phân chia nhiệm, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cho các hoạt động sản xuất kinh cao sẽ đảm bảo doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Nếu bộ doanh nghiệp được tổ chức máy quản trị hoạt động không hợp lý (quá đơn giản hoặc quá cồng kềnh), chức năng nhiệm vụ và không rõ ràng chồng chéo hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự không chặt chẽ, các quản trị viên thì phối hợp trong hoạt động thiếu năng lực và tinh thần trách quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiệm sẽ dẫn đến hiệu không cao.
- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Hệ thống trao đổi các nghiệp ngày càng lớn hơn bao gồm thông tin bên trong doanh tất cả các thông tin có liên từng bộ phận quan đến, từng phòng ban, từng người lao động trong và các thông tin khác bên ngoài doanh nghiệp doanh nghiệp. Để thực hiện các hoạt động doanh thì giữa các bộ phận sản xuất kinh, các phòng ban cũng lao động trong doanh nghiệp như những ngưòi luôn có mối quan hệ ràng giao tiếp, phải liên lạc và trao đổi buộc đòi hỏi phải với nhau các thông tin cần thiết. Do đó hoạt động sản xuất kinh doanh mà hiệu quả các của doanh nghiệp phụ vào hệ thống trao đổi thông tin thuộc rất lớn của doanh nghiệp. Việc hình thành thông tin từ người này sang người khác quá trình chuyển giao, từ bộ phận này sang bộ phận khác tạo sự phối hợp trong công việc, sự hiểu biết lẫn nhau, kinh nghiệm, những kiến thức và bổ sung những sự am hiểu về mọi mặt thuận lợi nhanh chóng và chính cho nhau một cách xác là điều kiện cần thiết để doanh có hiệu quả các hoạt động sản xuất nghiệp thực hiện kinh doanh của mình.
Thông tin bên ngoài thiếu đối với mỗi doanh nghiệp được coi là yếu tố không thể. Để đạt được kinh doanh khi điều kiện cạnh tranh thành công trong ngày càng gay gắt, nhiều thông tin chính xác về cung cầu các doanh nghiệp cần thị trường hàng hóa, về người mua, nhà cung ứng,về công nghệ kỹ thuật, về các đối thủ cạnh tranh… Ngoài ra, rất cần các thông tin về kinh nghiệm doanh nghiệp còn thành công hay nghiệp khác ở trong nước và quốc tế thất bại của các doanh, cần cập nhật thông tin thường xuyên, chính sách trong nước và quốc tế liên tục các, áp dụng thay đổi vào cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại doanh nghiệp.
Trong kinh doanh, hiểu thấu đáo được đối thủ cạnh tranh chính biết mình biết ta, là một lợi thế đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp thích hợp, xây dựng chiến lược phù hợp sẽ có đối sách. Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp là nắm cần thiết, hữu ích,được thông tin và biết sử dụng thông tin một cách kịp thời sẽ ra được quyết định, chính xác, đúng đắn, có tính thực thi cao. Những thông tin kịp thời, là cơ sở vững chắc cho doanh nghiệp có ích này sẽ là tiền đề, xây dựng chiến lược dài hạn.
1.3. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
1.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Khái niệm về vốn kinh doanh: là số vốn được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp(do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Bao gồm 2 loại vốn:
- Vốn cố định: là toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền.
- Vốn lưu động: là toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền.
Hiệu quả sử dụng vốn
- Sức sinh lời của vốn kinh doanh
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh được sử dụng trong kỳ thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh rất tốt và ngược lại.
- Sức sản xuất của vốn kinh doanh
Chỉ tiêu tỷ suất doanh thu trên vốn kinh doanh
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh trong kỳ thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
- Vốn cố định
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Ý nghĩa: cứ một đồng vốn cố định bỏ ra kinh doanh trong kỳ sẽ thu lại bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh tạo ra doanh thu càng cao.
- Hàm lượng VCĐ
Ý nghĩa: tỷ lệ VCĐ trong tổng vốn KD là bao nhiêu Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Ý nghĩa: cứ một đồng VCĐ trong kỳ kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ rất tốt và ngược lại.
- Vốn lưu động
Ý nghĩa: cứ một đồng VLĐ trong kỳ kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Ý nghĩa: bình quân trong kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng, nếu vốn vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại.
Ý nghĩa: chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay được một vòng, thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Ý nghĩa: số vòng quay lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, điều đó là dấu hiệu tốt vì doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn tại các khoản phải thu.
- Vốn chủ sở hữu
Đánh giá doanh lợi VCSH cần tính toán so sánh giữa hệ số doanh lợi VCSH giữa kỳ phân tích và kỳ gốc, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh lợi càng cao và ngược lại.
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCSH tham gia vào sản xuất kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này cũng nói lên khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp, vì tỷ số này nói lên sức sinh lời của đồng vốn khi đưa vào sản xuất kinh doanh.Nếu chỉ số này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn kinh doanh một cách có hiệu quả.
1.3.2. Hiệu quả sử dụng lao động Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Lao động là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội và là tổng thể những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động được huy động vào quá trình lao động.
- Năng suất lao động: là hiệu quả có ích của lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc là thời gian để sản xuất ra một kết quả cụ thể có ích với một chi phí nhất định.
Ý nghĩa: cứ một lao động trực tiếp trong kỳ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong một thời kỳ nhất định. Nếu chỉ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh ngày càng có hiệu quả.
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một ký nhất định.
- Thu nhập bình quân: là chỉ tiêu tỷ suất tiền lương tính theo doanh thu thuần
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh thu nhập bình quân của lao động trong doanh nghiệp.
1.3.3. Hiệu quả sử dụng chi phí
Khái niệm: chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất, là lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm, dịch vụ trong thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải trả thuế gián thu theo luật đã quy định: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
- Nội dung các khoản chi phí trong sản xuất kinh doanh:
Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu, động lực, chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương, khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản trợ cấp, chi phí hoạt động doanh nghiệp như thuê tài sản, chi phí tài chính… Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng chi phí:
Ý nghĩa: chỉ tiêu này thể hiện với một đồng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng các yếu tố đầu vào thông qua kết quả càng cao thì càng tốt.
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra sản xuất kinh doanh thì thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì càng chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
1.3.4. Một số chỉ tiêu về tài chính của doanh nghiệp
- Các hệ số về cơ cấu nguồn vốn Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Cơ cấu nguồn vốn là thể hiện tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh.
Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng của doanh nghiệp, bởi vì:
- Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.
- Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp cho các nhà quản trị tài chính một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Ý nghĩa: chỉ tiêu tài chính này phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn của doanh nghiệp, hay trong tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả. Hệ số nợ càng cao chứng tỏ khả năng độc lập của doanh nghiệp về mặt tài chính càng kém.
- Tỷ suất tự tài trợ đo lường sự góp vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho thấy mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh riêng có của mình. Tỷ suất tự tài trợ càng lớn càng chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao với các chủ nợ. Do đó, không bị rang buộc hoặc chịu sức ép của các khoản nợ vay.
- Các chỉ số về hoạt động
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau.
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp nhanh hay chậm, được xác định như sau:
Ý nghĩa: hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao lượng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, dẫn đến việc doanh nghiệp không chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động của mình.
- Các chỉ tiêu khả năng thanh toán Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Khả năng thanh toán tổng quát: là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả hay không.Trị số này càng nhỏ hơn 1 thì càng chứng tỏ doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán.
- Khả năng thanh toán hiện hành: phản ánh việc công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tàn sản ngắn hạn hay không.
Ý nghĩa: nếu tỷ số lớn hơn 1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trong tình trạng tốt. Nếu tỷ số này quá cao thì lại là một biểu hiện không tốt do việc tài sản ngắn hạn quá nhiều (tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho,…) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Vì vậy, khi phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn trên cơ sở đảm bảo tài sản ngắn hạn, cần phải phân tích chất lượng các yếu tố tài sản ngắn hạn qua các chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân, tốc độ luân chuyển hàng tồn kho.
Khả năng thanh toán tức thời: thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền đang có của doanh nghiệp. Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính thanh toán nên chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngắn hạn của DN.
Khả năng thanh toán nhanh: chỉ tiêu này phản ánh việc doanh nghiệp có thể thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn đến mức độ nào căn cứ vào những tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển hóa thành tiền một cách nhanh nhất.
Ý nghĩa: chỉ số này tương tự như thanh toán hiện hành, nếu chỉ số cao thể hiện khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp tốt nhưng nếu cao quá sẽ là một biểu hiện không tốt khi đánh giá về khả năng sinh lời.
Khả năng thanh toán lãi vay: là một tỷ số tài chính đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận thu được từ quá trình kinh doanh để trả lãi các khoản mà công ty đã vay.
Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay.
Tỷ số khả năng trả lãi chỉ cho biết khả năng trả phần lãi của khoản đi vay, chứ không cho biết khả năng trả cả phần gốc lẫn phần lãi ra sao. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
- Các chỉ tiêu khả năng sinh lợi
- Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS)
Tỷ số sinh lợi này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.
Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.
- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Hệ số này mang ý nghĩa: trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số này càng cao càng thể hiện doanh nghiệp sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản hợp lý và có hiệu quả.
- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Hệ số này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập và nguồn gốc vốn kinh doanh.
- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu.
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu một mặt phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh hay phụ thuộc vào trình độ sử dụng vốn. Mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức nguồn vốn của doanh nghiệp.Hệ số này càng cao thì càng có hiệu quả.
1.4. Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
1.4.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so sánh thường là:
- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh
- Tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua
- Chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành
Điều kiện để so sánh là: các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán.
Phương pháp so sánh có hai hình thức:
- So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ gốc.
- So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu kỳ gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
Phương pháp so sánh đòi hỏi các chỉ tiêu phân tích và các chỉ tiêu dùng làm cơ sở so sánh phải có những điều kiện sau:
- Phải thống nhất về nội dung phản ánh và phương pháp tính toán
- Phải xác định trong cùng độ dài thời gian hoặc những thời điểm tương ứng
- Phải cùng đơn vị tính toán.
1.4.2. Phương pháp chi tiết Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh. Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo các hướng khác nhau.
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: các chỉ tiêu biểu hiện kết quả kinh doanh bao gồm nhiều bộ phận cấu thành. Từng bộ phận biểu hiện chi tiết về một khía cạnh nhất định của kết quả kinh doanh.Phân tích chi tiết các chỉ tiêu cho biết đánh giá một cách chính xác, cụ thể kết quả kinh doanh đạt được.
Chi tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian thường không đều. Việc phân tích chi tiết theo thời gian giúp ta đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho kỳ tới. Phân tích chi tiết theo thời gian cũng giúp ta nghiên cứu đồng thời nhịp điệu các chỉ tiêu có liên quan với nhau như lượng hàng mua vào, dự trữ với lượng hàng bán ra, lượng vốn cung cấp với khối lượng công việc cần hoàn thành… Từ đó phát hiện ra những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh.
Chi tiết theo địa điểm: việc phân tích giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ, thông qua các chỉ tiêu khoán khác như khoán doanh thu, khoán chi phí… cho các bộ phận mà đánh giá mức khoán đã hợp lý chưa và thực hiện mức khoán như thế nào. Cũng thông qua thực hiện các mức khoán mà phát hiện bộ phận nào tiên tiến, bộ phận nào lạc hậu trong thực hiện mục tiêu kinh doanh, khai thác các khả năng tiềm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn… trong kinh doanh.
1.4.3. Phương pháp thay thế liên hoàn
Đây là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay đổi. Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối tượng kinh tế nghiên cứu.Nó tiến hành đánh giá so sánh và phân tích từng nhân tố ảnh hưởng trong khi đó giả thiết là các nhân tố khác cố định. Do đó để áp dụng vào phân tích hoạt động kinh tế cần áp dụng một trình tự thực hiện sau:
- Căn cứ vào mối liên hệ của từng nhân tố đến đối tượng cần phân tích mà từ đó xây dựng nên biểu thức giữa các nhân tố
- Tiến hành lần lượt để xác định ảnh hưởng của từng nhân tố trong điều kiện giả định các nhân tố khác không thay đổi.
- Ban đầu lấy kỳ gốc làm cơ sở, sau đó lần lượt thay thế các kỳ phân tích cho các số cùng kỳ gốc của từng nhân tố.
- Sau mỗi lần thay thế tiến hành tính lại các chỉ tiêu phân tích. Số chênh lệch giữa kết quả tính được với kết quả tính trước đó là mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được thay đổi số liệu đến đối tượng phân tích.Tổng ảnh hưởng của các nhân tố tương đối tương đương với bản thân đối tượng cần phân tích.
1.4.4. Phương pháp chênh lệch
Đây là phương pháp biến dạng của phương pháp thay thế liên hoàn, nhưng cách tính đơn giản hơn và cho phép tính ngay được kết quả cuối cùng bằng cách xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ kế hoạch của nhân tố đó. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh công ty Hải Vận

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại công ty Không Hải Vận […]