Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp Tư nhân Xây dựng và Dịch vụ Mạnh Cường dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì công ty nào cũng cần có vốn (dòng tiền) để tiến hành hoạt động kinh doanh, đặc biệt là dòng tiền trong ngắn hạn. Cùng với quá trình hội nhập và phát triển cùng nền kinh tế trên thế giới việc quản trị dòng tiền ngắn hạn đòi hỏi mỗi công ty phải chú trọng trong việc huy động và sử dụng chúng một cách linh hoạt. Công ty sử dụng nguồn tiền đó để mua sắm tài sản cho công ty, do vậy quản lý dòng tiền ngắn hạn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho công ty khai thác và sử dụng tài sản một cách hiệu quả. Qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2019, nhận thức được những khó khăn mà mình đã gặp phải, các công ty luôn tìm cho riêng mình một hướng đi thích hợp với chính sách tài chính linh hoạt và hiệu quả để phục hồi lại và theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Do đó ngoài việc làm thế nào để có thể huy động được những nguồn ngân quỹ, nguồn vốn có chi phí thấp nhất cùng với điều kiện thanh toán thuận lợi nhất để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh của công ty, thì vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng dòng tiền ngắn hạn của công ty là vấn đề có ý nghĩa khoa học, có tầm quan trọng trong sự cạnh tranh trên thị trường của các công ty và luôn nhận được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng bên ngoài công ty. Hơn thế nữa hiện nay trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào thì dòng tiền của công ty luôn được đặt lên vị trí quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy tìm hiểu về hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại các công ty đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra trong nền kinh tế hiện nay.

Từ những lý luận nêu trên và thực tiễn tìm hiểu tại DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp Tư nhân Xây dựng và Dịch vụ Mạnh Cường” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu thực trạng, phân tích hiệu quả quản lý dòng tiền ngắn hạn của Doanh nghiệp Tư nhân Xây dựng Mạnh Cường trong giai đoạn 2021 – 2023. Từ đó chỉ ra những ưu nhược điểm và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền ngắn hạn cho công ty. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

3. Đối tượng nghiên cứu

  • Dòng tiền ngắn hạn và hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường.

4. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận được chia làm 3 phần:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận chung về dòng tiền và quản trị dòng tiền trong doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn tại DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường.
  • Chương 3: Gải pháp nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn cho DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường.

Chương 1. Cơ sở lý luận chung về dòng tiền và quản trị dòng tiền trong doanh nghiệp

1.1. Khái niệm và phân loại dòng tiền

1.1.1. Khái niệm dòng tiền

Trong thực tế, một doanh nghiệp liên tục làm ăn thua lỗ sẽ dẫn đến phá sản, nhưng không có gì đảm bảo rằng một doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, thậm chí liên tục lãi trong nhiều năm lại không có khả năng phá sản, mặc dù doanh nghiệp có lợi nhuận nhưng không có tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn và tái sản xuất doanh nghiệp vẫn có thể phải phá sản. Có thể ví dòng tiền như hệ mạch máu trong cơ thể doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể chịu làm ăn thua lỗ trong một thời gian nhất định (có thể là vài tháng thậm chí vài năm) nhưng nếu thiếu tiền trong vòng vài ngày doanh nghiệp khó có khả năng chống đỡ và phục hồi. Như vậy, rõ ràng nếu doanh nghiệp không có phương cách thích hợp để quản lý hiệu quả dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, ví dụ như vốn bị ứ đọng quá nhiều vào hàng tồn kho và các khoản phải thu thì dù doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng sẽ rất cao.

Như vậy, dòng tiền là một thuật ngữ dùng để chỉ số tiền mà một doanh nghiệp nhận được hoặc phải chi ra trong một khoảng thời gian xác định, hoặc trong một dự án nhất định. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Dòng tiền có thể được mô tả như một chu kỳ, doanh nghiệp sử dụng tiền để mua các nguồn lực, những nguồn lực qua quá trình sản xuất và chuyển hóa để tạo thành sản phẩm dịch vụ. Những sản phẩm và dịch vụ lại được bán cho khách hàng, doanh nghiệp thu được tiền và tiếp tục tái đầu tư nguồn lực mới và như vậy chu kỳ mới của dòng tiền lại tiếp tục. Có thể thấy rằng trong chu kỳ của dòng tiền xuất hiện dòng tiền vào và dòng tiền ra trong doanh nghiệp.

Dòng tiền vào trong doanh nghiệp gồm: dòng tiền nhận được từ bán hàng hóa và dịch vụ, dòng tiền vào từ các khoản vay, lợi tức nhận được từ các khoản đầu tư, dòng tiền nhận được từ việc đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp…

Dòng tiền ra trong doanh nghiệp gồm: Mua hàng hóa để bán lại (doanh nghiệp thương mại), mua nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa, trả lương, trả các khoản chi phí hoạt động, mua tài sản cố định, trả gốc và lãi vay, trả thuế…

1.1.2. Phân loại dòng tiền

Trong thực tế hoạt động tài chính, có rất nhiều tiêu thức phân loại dòng tiền tùy vào mục đích quản lý của doanh nghiệp, cụ thể:

Thứ nhất, dựa vào mối quan hệ giữa dòng tiền và dòng vật chất vận động trong doanh nghiệp, dòng tiền có thể chia thành hai loại là dòng tiền đối trọng và dòng tiền đối lập:

Dòng tiền đối trọng: là dòng tiền tương ứng với dòng vật chất vận động ra vào trong doanh nghiệp. Tùy vào thời điểm mà dòng tiền đối trọng được chia thành:

Dòng tiền đối trọng trực tiếp: dòng tiền ra hoặc vào sẽ tương ứng với dòng vật chất vào hoặc ra tại cùng thời điểm. Dòng tiền này chỉ phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp mua bán trả ngay.

Dòng tiền đối trọng có kỳ hạn: dòng tiền ra hoặc vào doanh nghiệp tương ứng với dòng vật chất vào hoặc ra tại một thời điểm nào đó trong tương lai. Dòng tiền này chỉ phát sinh trong trường hợp mua bán chịu (đây là trường hợp phổ biến nhất trong hoạt động của doanh nghiệp). Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Dòng tiền đối trọng đa dạng: là dòng tiền ra hoặc vào doanh nghiệp phát sinh liên quan đến nhiều chủ thể, ít nhất là từ ba chủ thể trở lên. Dòng tiền này chỉ phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp mua bán nợ.

Dòng tiền đối lập: là dòng tiền ra hoặc vào phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh ngoại tệ hoặc mua bán chứng khoán (dòng tiền và dòng vật chất không liên quan đến nhau).

Thứ hai, phân loại dòng tiền theo thời gian của tiền: dòng tiền được chia thành dòng tiền ngắn hạn và dòng tiền dài hạn.

Dòng tiền ngắn hạn: là dòng tiền vào hoặc ra doanh nghiệp mang tính chất thường xuyên hoặc trong một chu kỳ (nhỏ hơn một năm). Ví dụ mua nguyên vật liệu sản xuất kinh doanh, các khoản tiền đi vay ngắn hạn…

Dòng tiền dài hạn: là dòng tiền vào hoặc ra trong doanh nghiệp có chu lỳ lớn hơn một năm như các khoản đầu tư Tài sản cố định, đầu tư trái phiếu dài hạn…

Thứ ba, phân loại theo tính chất từng hoạt động trong doanh nghiệp dòng tiền được chia thành ba loại là dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính:

Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và thanh toán các khoản nợ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: tiền thu từ bán hàng hóa, dịch vụ, tiền đã trả nợ cho người cung cấp dịch vụ hàng hóa, tiền trả lương cho công nhân viên, thanh toán thuế, phí lệ phí…

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Đối với hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến việc mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, xây dựng cơ bản, hoạt động cho vay, mua bán các công cụ nợ của đơn vị khác. Do vậy dòng tiền từ hoạt động đầu tư bao gồm: tiền thu từ thanh lý nhượng bán Tài sản cố định, thu nợ cho vay, thu hồi các khoản vốn đầu tư vào đơn vị khác, chi mua sắm Tài sản cố định, xây dựng cơ bản, chi cho vay, chi đầu tư vào các đơn vị khác.

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Đối với hoạt động tài chính thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến các nghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ các chủ sở hữu và các nghiệp vụ đi vay, trả nợ vay. Do vậy các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính thường bao gồm: tiền thu do chủ sở hữu góp vốn, tiền chi trả vốn góp cho chủ sở hữu, tiền vay nhận được, tiền trả nợ vay…

1.2. Quản trị dòng tiền Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

1.2.1. Khái niệm quản trị dòng tiền

Cuộc khủng hoảng kinh tế càng khẳng định tầm quan trọng của dòng tiền. Từ chỗ quan tâm đến doanh thu và lợi nhuận, giờ đây các doanh nghiệp bắt đầu ý thức về tình trạng khá phổ biến là “kinh doanh có lời nhưng lại mất khả năng thanh toán”, thực tế thì việc quản trị dòng tiền không phải là chuyện đơn giản. Nhiều doanh nghiệp cố gắng liệt kê tất cả khoản thu chi và tìm biện pháp dự báo, tăng thu, giảm chi đối với từng khoản mục, điều này tốn nhiều nguồn lực, cả về con người lẫn thời gian, trong khi kết quả chưa chắc đã thật tốt. Nguyên nhân là người thực hiện luôn chìm ngập trong hàng núi chi tiết nhỏ và tốn nhiều thời gian cho những việc không mấy quan trọng. Nếu quản trị dòng tiền tốt, doanh nghiệp sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán cho các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Như vậy, quản trị dòng tiền là quá trình theo dõi, phân tích và điều chỉnh dòng tiền trong doanh nghiệp hay quản trị dòng tiền là việc cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra trong doanh nghiệp. Quản trị dòng tiền ngắn hạn là việc phân tích và theo dõi, điều chỉnh dòng tiền ra vào trong doanh nghiệp có thời gian dưới 1 năm. Quản trị dòng tiền dài hạn là việc cân đối dòng tiền ra và dòng tiền vào trong doanh nghiệp với thời hạn trên 1 năm.

1.2.2. Nguyên tắc quản trị dòng tiền

Nguyên tắc 80/20: 80% dòng tiền được tạo ra từ 20% khoản mục, chỉ cần tập trung vào 20% khoản mục này, doanh nghiệp sẽ có thể kiểm soát được 80% dòng tiền. Đây là cách làm đảm bảo hiệu quả trong khi lại không cần phải huy động nhiều nguồn lực cho việc lập kế hoạch và theo dõi.

Thông thường, dòng tiền thu – chi đến từ 3 khoản mục lớn: tồn kho, khoản phải trả và khoản phải thu. Khoản phải trả liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của bộ phận cung ứng – mua hàng, khoản phải thu là trách nhiệm của bộ phận kinh doanh, còn tồn kho là sự phối hợp giữa bộ phận sản xuất và kinh doanh. Phải trả là các khoản thanh toán cho nhà cung cấp đầu vào của doanh nghiệp. Thời gian phải trả, tức thời gian nợ nhà cung cấp, càng dài thì càng có lợi cho dòng tiền. Ngược lại với khoản phải trả, khoản phải thu là phần doanh thu khách hàng mua chịu của doanh nghiệp. Bộ phận kinh doanh thường có xu hướng lơi lỏng đối với các khoản bán hàng trả chậm để đạt mục tiêu doanh số, điều này dẫn đến doanh thu cao, nhưng khả năng tiền mặt kém do thời hạn trả chậm bị kéo dài. Việc áp dụng quy tắc 80/20 đối với khoản phải thu cũng tương tự như khoản phải trả, nếu bộ phận kinh doanh điều chỉnh chính sách bán hàng trả chậm đối với 20% số lượng khách hàng nhưng chiếm đến 80% doanh số thì dòng tiền sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh. Việc có thông tin kịp thời từ bộ phận kinh doanh sẽ giúp bộ phận tài chính có sự ứng phó phù hợp. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Lượng hàng tồn kho liên quan đến trách nhiệm của bộ phận sản xuất và kinh doanh. Bộ phận sản xuất sẽ căn cứ vào kế hoạch sản xuất để tính toán tích trữ nguyên vật liệu và bán thành phẩm cần thiết cho quy trình sản xuất, trong khi bộ phận kinh doanh thì phải đảm bảo lượng thành phẩm trong kho đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp nào cũng muốn duy trì được lượng tồn kho vừa đủ, nhưng rà soát theo nguyên tắc 80/20 có thể thấy một thực tế trái ngược, đó là sẽ có những mặt hàng đem lại doanh thu ít nhưng tồn kho nhiều, hay có một vài khâu sản xuất nào đó đang duy trì lượng bán thành phẩm, nguyên liệu quá cao so với các khâu còn lại. Vì thế, việc xác định gọn lại những hạng mục chiếm tồn kho lớn sẽ đem lại một dòng tiền đáng kể.

Nguyên lý 80/20 luôn phải được xem xét một cách linh hoạt. Một khoản mục trong quá khứ chiếm giá trị nhỏ, nhưng năm sau có thể tăng vọt đột biến và làm phá sản kế hoạch dòng tiền nếu không được lường trước. Từ chỗ nằm trong 20% ít quan trọng, khoản mục đó có thể thay đổi vị trí để trở thành 80% chính yếu, thường gặp nhất là trường hợp doanh nghiệp quyết định đầu tư tài sản, bao gồm cả tài sản cố định và tài sản tài chính.

1.2.3. Mục đích và vai trò quản trị dòng tiền

  • Mục đích quản trị dòng tiền

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận,… Tuy nhiên, lợi nhuận trong sổ sách kế toán cao mà thực tế trong két sắt của doanh nghiệp lại không có đồng tiền nào thì đó là vấn đề đáng báo động.

Mục đích của quản trị dòng tiền là dự đoán tình trạng thâm hụt hay dư thừa tiền để từ đó có những phương án giải quyết thông qua việc đối chiếu số liệu thực tế với số liệu kế hoạch. Ngoài ra, quản trị dòng tiền còn xác lập các hạn mức vay vốn và tối ưu hoá chi phí vốn. Nhà quản trị có thể dễ dàng kiểm soát được tình hình tài chính, tình hình tỷ giá thông qua việc phân tích dòng tiền, bên cạnh đó quản trị dòng tiền còn có tác dụng giúp kiểm soát và thiết lập các mục tiêu chiến lược, lập kế hoạch đầu tư thẩm định dự án và quản lý vốn lưu động. Để đạt được những mục tiêu trên, các nhà quản lý cần dự báo số lượng tiền thu, chi trên cơ sở các giả định và tin cậy về doanh thu và chi phí, đồng thời còn phải dự báo thời gian thu, chi trên cơ sở phân tích độ trễ và thời gian nổi của tiền. Yêu cầu được đặt ra là kế hoạch điều chỉnh định kì phải được điều chỉnh và cập nhật liên tục, quản trị dòng tiền phải được tiến hành theo tuần, tháng hoặc quý bằng cách so sánh số liệu thực tế với số liệu trên kế hoạch để từ đó có những điều chính và cập nhật phù hợp. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

  • Vai trò quản trị dòng tiền

Do không có công cụ quản trị dòng tiền hiệu quả hoặc chưa chú tâm đến việc quản trị dòng tiền nên một số doanh nghiệp thường mắc phải vấn đề thanh khoản, phải đi vay nóng, đảo nợ… điều này làm cho doanh nghiệp ngày càng đi vào dòng xoáy khó khăn, nợ nần chồng chất, dần mất khả năng thanh toán. Tình hình đó lại càng tệ hơn khi nền kinh tế đi vào khủng hoảng, lãi vay tăng cao, khó khăn tìm kiếm nguồn vốn lại càng khó khăn hơn. Quản trị tốt dòng tiền không những tránh bị mất khả năng thanh toán, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi vay mà còn có rất nhiều lợi ích khác như:

Bảo đảm uy tín với nhà cung cấp, nhà thầu: Nếu doanh nghiệp luôn thanh toán cho nhà cung cấp đủ, đúng hạn thì nhà cung cấp rất yên tâm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp. Rất nhiều lợi ích mà doanh nghiệp nhận được từ việc này như: được ưu tiên cung cấp hàng, ưu đãi về giá, ưu đãi về bảo hành, được nới rộng điều khoản thanh toán, hay việc nhà cung cấp sẽ lưu tâm đến vấn đề giao hàng, dịch vụ sau bán hàng hơn… Tất cả những lợi ích đó sẽ giúp cho doanh nghiệp luôn có nguồn nguyên liệu đầu vào được ổn định, không mất chi phí đi tìm nguồn cung mới; tăng khả năng cạnh tranh, tăng lợi nhuận từ đó tăng dòng tiền. Khi nhà cung cấp hoàn toàn tín nhiệm và doanh nghiệp luôn hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán thì họ sẵn sàng nới lỏng điều kiện thanh toán. Điều này thật tốt vì đây là một nguồn tín dụng hầu như miễn phí nếu không nói là quá rẻ, hơn nữa điều này làm giảm nhu cầu vốn lưu động, vậy sẽ làm tăng dòng tiền cho doanh nghiệp.

Bảo đảm uy tín với bên cho vay: Cơ cấu sử dụng vốn rất quan trọng. Một công ty quản lý tốt là doanh nghiệp đó sử dụng chi phí vốn bình quân thấp nhất và mức độ an toàn tài chính cao nhất. Để có được điều kiện vay tốt thì trước hết doanh nghiệp phải chứng tỏ được khả năng trả nợ gốc và lãi vay bằng cách quản trị dòng tiền hiệu quả.

Từ việc phải quản trị dòng tiền tốt doanh nghiệp sẽ chú ý đến tòan bộ các mặt hoạt động khác: hướng vào thị trường tốt, thu tiền tốt, quản trị chi phí tốt, dự án đầu tư khả thi, tính thanh khoản cao các tài sản thế chấp… Doanh nghiệp có nợ nhiều cũng không quá lo so với việc bên cho vay không tiếp tục hỗ trợ, do vậy việc quản trị dòng tiền là mấu chốt của vấn đề.

Bảo đảm cho cán bộ công nhân an tâm làm việc: Nhân lực là nguồn vốn rất quý giá đối với doanh nghiệp, họ là những người trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có đội ngũ tốt sẽ tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường. Sản phẩm làm ra chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn, giá thành hạ hơn, phù hợp thị hiếu hơn, khách hàng hài lòng hơn, hàng bán chạy hơn… Như vậy dòng tiền sẽ tốt hơn. Nếu doanh nghiệp có được đội ngũ tốt thì phải giữ và phát triển hơn bằng việc trả thù lao xứng đáng, bảo đảm đời sống vật chất cho họ, đối xử tốt với họ. Để làm được điều đó thì phải quản trị tốt dòng tiền, trả đủ và kịp thời lương và các nghĩa vụ xã hội khác.Điều đó không những tốt cho họ mà còn tốt cho doanh nghiệp cả về năng lực cạnh tranh và hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường lao động. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Sử dụng tối ưu, hiệu quả nguồn vốn: Kiểm tra sự hợp lý trong việc huy động và sử dụng: tiền có bị nhàn rỗi quá nhiều không, tiền có đảm bảo sự thanh khoản không, tiền ngắn hạn và dài hạn có được sử dụng cân đối không, cơ cấu chi phí vốn bình quân (giữa vốn tự có và vốn vay) đã tối ưu chưa, các rủi ro nào doanh nghiệp phải hoặc sẽ phải gánh chịu… Để trả lời được các câu hỏi trên thì phải xem xét việc quản trị dòng tiền.

Giữ vững sự tín nhiệm của các cổ đông: Các cổ đông là các nhà đầu tư, mục đích chính là lợi nhuận và giá trị gia tăng trên phần đầu tư. Để số tiền họ đầu tư ra không bị rủi ro, có thể trình bày cho họ phương pháp quản trị dòng tiền mà doanh nghiệp đang tiến hành để họ yên tâm.

Tiết kiệm chi phí (tiền mặt có giá): Vì tiền luôn có giá trị theo thời gian nên doanh nghiệp luôn phải lưu tâm đến vấn đề này để đảm bảo sao cho chi phí của việc cất giữ tiền là nhỏ nhất.

1.3. Nội dung quản trị dòng tiền ngắn hạn trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

1.3.1. Tạo nguồn tiền và sử dụng dòng tiền trong doanh nghiệp

Khả năng tạo tiền, sử dụng tiền là cơ sở để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng tạo tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền thu từ hoạt động bán hàng, tiền thu từ hoạt động đầu tư, tiền thu từ hoạt động tài chính. Tình hình sử dụng tiền cho các mục đích: sản xuất kinh doanh, đầu tư, tài chính.

Ta có đẳng thức căn bản của kế toán như sau:

  • Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu. Triển khai đẳng thức trên ta có:
  • Tiền mặt + Tài sản khác = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu. Tiền mặt = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu – Tài sản khác.

Bản chất mối quan hệ từ đẳng thức trên cho ta thấy khi phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh giúp ta nhận ra dòng tiền vào, dòng tiền ra của từng đối tượng một cách rõ ràng.

Như vậy từ đẳng thức trên, để tăng lượng tiền mặt lưu thông trong doanh nghiệp, ta tăng khoản mục nợ phải trả bằng cách đi vay thêm tiền hoặc tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành các loại chứng khoán hay tăng vốn góp của các cổ đông.

1.3.2. Quản trị dòng tiền hoạt động sản xuất kinh doanh

Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm từ việc mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu để sản xuất, sau đó bán cho các cá nhân, tổ chức cần sử dụng. Do vậy, dòng tiền vào chủ yếu của hoạt động này chính là doanh thu từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp, bên cạnh đó còn có lãi từ các khoản cho vay hay cổ tức nhận được từ việc đầu tư các chứng khoán vốn. Trong khi đó, khoản tiền phải trả cho hoạt động kinh doanh lại tương đối nhiều như việc thanh toán tiền hàng tồn kho và các chi phí khác cho bên cung cấp, thanh toán tiền lương cho nhân viên, nộp thế cho Nhà nước hay lãi vay cho các tổ chức tín dụng. Như vậy quản lý dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ liên quan trực tiếp đến quản lý doanh thu, chi phí, hàng tồn kho, khoản phải thu, phải trả trong doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

  • Quản lý doanh thu

Doanh thu là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng, dịch vụ sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ) được khách hàng chấp nhận thanh toán (không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền).

Doanh thu là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, đó là yếu tố xác định nên thị phần của doanh nghiệp trên thị trường, do đó các doanh nghiệp cùng kinh doanh một mặt hàng như nhau sẽ cạnh tranh với nhau rất mạnh từ việc có được doanh thu lớn. Các doanh nghiệp luôn đặt ra cho mình mục tiêu tối đa hóa doanh thu, và thực hiện nhiều chính sách để có thể tăng doanh thu trong một thời gian nhất định. Bên cạnh đó, doanh thu còn là mục tiêu thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng lượng tiền thu về cho doanh nghiệp.

Trong thực tế, doanh thu của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, khi đưa ra phương hướng tăng doanh thu các nhà quản trị tài chính cần cân nhắc các nhân tố ảnh hưởng này.

  • Quản lý chi phí

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định, sau quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tổ chức việc tiêu thụ sản phẩm để thu tiền về. Để thực hiện được việc này, doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những chi phí nhất định chẳng hạn như chi phí đóng gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản sản phẩm… Hơn nữa trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh như hiện nay, ngoài các chi phí tiêu thụ trên, doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị trường, chi phí quảng cáo để giới thiệu sản phẩm, chi phí bảo hành sản phẩm.

Tóm lại, chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.

Như vậy, quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi phí ngắn hạn cũng như dài hạn cho doanh nghiệp.

  • Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền Quản lý thu, chi tiền mặt Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Để lựa chọn được phương thức thu tiền tối ưu, ta cần đánh giá hiệu quả của các phương thức thu tiền đó, phương thức thu tiền đề xuất và phương thức thu tiền hiện tại trên cơ sở so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí sau thuế tăng thêm. Ngoài ra, để thúc đẩy tiền được thu hồi nhanh hơn, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán, tăng tốc độ bán hàng hoặc thay đổi phương thức thu nợ,… Với chiết khấu thanh toán, giả sử doanh nghiệp bán hàng với điều khoản tín dụng 1/10 net 30 thì có nghĩa là nếu khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 1%, còn nếu không thanh toán sớm thì khách hàng có nghĩa vụ trả nợ trong vòng 30 ngày, từ đó doanh nghiệp mua hàng sẽ cân nhắc giữa lợi ích và chi phí để trả tiền hàng cho doanh nghiệp sao cho có lợi nhất. Đối với doanh nghiệp bán hàng, khi đưa ra điều khoản chiết khấu tiền mặt là giảm mức vay ngắn hạn, gia tăng đầu tư ngắn hạn sinh lời nhờ thu được tiền sớm hơn và tăng trưởng doanh thu bán hàng, vì thực ra chiết khấu tiền mặt cũng có nghĩa là giảm giá.

Còn đối với quản lý chi tiền, điều khoản chiết khấu tiền mặt cũng đối với các khoản thanh toán sớm cũng là một điều khoản thường gặp trong các điều kiện mua hàng (ví dụ điều khoản 2/10 net 30). Với tư cách người mua chịu, doanh nghiệp nên quyết định thanh toán sớm để nhận chiết khấu nếu chi phí cơ hội sử dụng vốn của doanh nghiệp thấp hơn tỷ lệ chiết khấu được hưởng, thậm chí doanh nghiệp có thể đi vay ngắn hạn ngân hàng để thanh toán sớm và hưởng chiết khấu nếu tỷ lệ lãi suất đi vay thấp hơn tỷ lệ chiết khấu được hưởng. Nếu quyết định không thanh toán sớm và không hưởng chiết khấu, doanh nghiệp nên trì hoãn việc thanh toán đến cuối thời hạn chậm trả cho phép. Trái lại, thanh toán trễ hạn là điều nên tránh, trừ khi tình hình tài chính không cho phép doanh nghiệp thanh toán đúng hạn. Và vấn đề quan trọng là xây dựng quy trình thanh toán hợp lý sao cho không trả sau ngày đến hạn để giữ vững uy tín, đồng thời cũng không trả quá sớm làm giảm lượng tiền sẵn có để doanh nghiệp còn thực hiện đầu tư, lợi ích và chi phí của tất cả các phương thức thu chi tiền đều phải được xem xét.

  • Quản lý phải thu khách hàng Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Doanh nghiệp thường bán hàng theo cả hai phương thức: trả ngay và trả chậm. Theo cách thức thứ nhất tiền được nhận ngay lập tức, theo cách thức thứ hai việc mở rộng tín dụng thương mại dẫn đến việc hình thành khoản phải thu khách hàng. Phải thu khách hàng thể hiện phần doanh thu bán hàng trả chậm mà chưa thu tiền. Theo thời gian, khi người mua thanh toán tiền, doanh nghiệp sẽ nhận được tiền cho số hàng bán trước đây. Nếu như khách hàng không tiến hành thanh toán nợ, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu tổn thất do nợ xấu. Tuy nhiên, nếu như không có tín dụng thương mại, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thấp, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế. Vì vậy, khoản tín dụng thương mại liên quan tới rủi ro, thu nhập và giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp nên cần được quản lý một cách hiệu quả và chặt chẽ. Trong quản lý tài chính, mà cụ thể phạm vi của vấn đề đang nghiên cứu là khoản phải thu khách hàng, luôn có sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập. Doanh nghiệp mong muốn những điều khoản tín dụng và chính sách mềm dẻo để có thể tăng doanh thu, tuy nhiên nhà quản lý thì cho rằng khoản phải thu khách hàng có giá trị càng thấp càng tốt bởi những lý do như giảm rủi ro với nợ khó đòi thậm chí không thể thu hồi được, tránh ứ đọng vốn hay phải huy động thêm vốn, có thể dùng vốn, mà đáng lẽ đầu tư vào phải thu khách hàng, vào những dự án và tài sản dài hạn mang lại lợi nhuận cao hơn. Kết quả là có một sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập yêu cầu: một mặt, rủi ro của việc không cung cấp tín dụng là mất doanh thu; mặt khác, một khoản phải thu quá cao sẽ gây ra chi phí và có thể vượt quá những lợi ích về doanh thu và sản xuất. Cần thiết có một nỗ lực phối hợp giữa các bộ phận marketing, sản xuất và tài chính để cân bằng giữa rủi ro và thu nhập để có quyết định cuối cùng đúng đắn.

Chính sách tín dụng và thu tiền của doanh nghiệp bao gồm 4 bước: điều khoản và điều kiện bán trả chậm, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, chính sách thu tiền. Những quyết định liên quan tới khía cạnh trên sẽ ảnh hưởng lớn đến việc xác định thời gian nợ, nếu như khoảng thời gian này tăng thì giá trị của khoản phải thu khách hàng cũng sẽ tăng và ngược lại. Mức doanh thu và độ lớn của khoản phải thu khách hàng sẽ ảnh hưởng đến lượng tiền của doanh nghiệp.

  • Bước 1: Điều khoản bán trả chậm

Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp, hoạt động trong những lĩnh vực ngành nghề khác nhau đều cung cấp tín dụng thương mại nhưng chắc chắn nó sẽ có sự đáng biệt đáng kể. Nếu như hàng hóa được sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, yêu cầu của khách thì thường có một khoản tạm ứng trả trước. Nếu việc giao hàng là không thường xuyên hay có rủi ro, người bán sẽ yêu cầu trả tiền ngay. Nếu việc cấp tín dụng thương mại thường được áp dụng thì thời gian thanh toán có thể kéo dài, ví dụ như từ 30 đến 60 ngày. Để khuyến khích người mua thanh toán sớm, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán.

Nếu hàng hóa có giá trị lớn hay người bán nghi ngờ khả năng thanh toán của khách hàng thì người bán sẽ áp dụng một số công cụ khác. Công cụ áp dụng phổ biến nhất là hối phiếu, là một lệnh yêu cầu trả (do người bán lập) một khoản tiền nhất định vào một khoảng thời gian xác định đối với một người cụ thể hay người giữ hối phiếu. Và người bán có thể chỉ chấp nhận bán hàng khi hối phiếu cho doanh thu bán hàng đó được lập. Thông thường, người bán sẽ yêu cầu khách hàng thanh toán sớm nếu khách hàng thuộc nhóm rủi ro cao, giá trị khoản hàng hóa mua nhỏ hoặc nếu hàng hóa mau hỏng.

  • Bước 2: Phân tích tín dụng Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Để quyết định có bán trả chậm cho khách hàng hay không, khi bán trả chậm thì điều khoản tín dụng cụ thể sẽ như thế nào, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích tín dụng. Công việc này đòi hỏi những thông tin: từ các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp, doanh nghiệp có thể xác định mức độ ổn định, tự chủ tài chính và khả năng chi trả của khách hàng; xếp hạng tín dụng và báo cáo: doanh nghiệp tham khảo bảng xếp hạng tín dụng của các tổ chức uy tín trong việc đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng đang xem xét; các ngân hàng đều có bộ phận tín dụng và có thể đại diện cung cấp thông tin tín dụng cho khách hàng của mình.

Dựa trên kinh nghiệm của mình, doanh nghiệp cũng có thể đưa ra các tiêu thức để thu thập thông tin và đánh giá khả năng, vị thế tín dụng của các khách hàng tiềm năng của mình.

Khi đã thu thập được thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định tín dụng, có cung cấp tín dụng hay không. Để thực hiện điều này, nhiều doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân nhóm khách hàng theo mức độ rủi ro. Theo phương pháp này, khách hàng của doanh nghiệp có thể được chia thành các nhóm như sau:

  • Bảng 1.2. Phân nhóm khách hàng rủi ro

Các doanh nghiệp thuộc nhóm 1 có thể được mở tín dụng mà không cần phải xem xét nhiều, gần như tự động, và vị thế của các doanh nghiệp này có thể được xem xét lại mỗi năm một lần. Các doanh nghiệp thuộc nhóm 2 có thể được cung cấp tín dụng trong một giới hạn nhất định và và vị thế của các doanh nghiệp này có thể được xem xét lại mỗi năm hai lần. Và cứ tương tự như vậy, doanh nghiệp sẽ xem xét đến các nhóm khách hàng khác.

  • Bước 3: Quyết định tín dụng

Sau khi đã thực hiện thu thập và sau đó phân tích thông tin, doanh nghiệp sẽ ưa ra quyết định tín dụng.

  • Mô hình cơ bản Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Để xác định xem doanh nghiệp có nên cấp tín dụng hay không, ta so sánh giá trị hiện tại của lợi ích và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. Giá trị hiện tại ròng của quyết định cấp tín dụng là: NPV = CFt/ k – CF0

Trong đó:

  • CFt : Dòng tiền sau thuế mỗi kỳ
  • k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế phản ánh nhóm rủi ro của khách hàng tiềm năng.
  • CF0 : Giá trị mà doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng.

Trên cơ sở giá trị hiện tại ròng, doanh nghiệp sẽ quyết định về cấp tín dụng như sau:

  • Nếu NPV > 0: Cấp tín dụng.
  • Nếu NPV < 0: Không cấp tín dụng. Nếu NPV = 0: Bàng quan.

Đưa ra quyết định tín dụng: Để tính được giá trị hiện tại ròng, ta phải xác định được dòng tiền sau thuế mỗi kỳ CFt và giá trị đầu tư vào khoản phải thu khách hàng CF0, đó là: CF0 = VC* S * (ACP/ 365 ngày) CFt= [ S * (1- VC) – S * BD – CD] * (1-T).

Trong đó:

  • VC: Dòng tiền ra biến đổi tính theo tỷ lệ % trên dòng tiền vào. S: Dòng tiền vào (doanh thu) dự kiến hàng năm
  • ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày) BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%)
  • CD: Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng cho việc quản lý và thu các khoản phải thu khách hàng.
  • T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bước 4: Chính sách thu tiền Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp đã quyết định cấp tín dụng rồi, thì còn một công việc nữa cần phải làm là theo dõi chặt chẽ khoản phải thu khách hàng để đảm bảo không bị thất thoát. Tỷ lệ thu được các khoản phải thu phản ánh tính hiệu quả của chính sách thu tiền. Ta có các bước thu hồi tiền cho doanh nghiệp như sau:

Cập nhật danh mục khách hàng: Một trong những thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đối mặt hiện nay là việc quản lý danh sách khách hàng một cách có chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu suất thu hồi nợ. Quản lý danh sách khách hàng hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp phân loại được khách hàng dựa trên mức độ rủi ro. Đối với những khoản nợ có độ rủi ro thấp và khách hàng không thường xuyên thanh toán nợ đúng hạn, doanh nghiệp chỉ cần có thông báo nhắc nhở hoặc thực hiện một cuộc gọi cho khách hàng qua hệ thống trả lời điện thoại được điện toán hóa để nắm được thông tin về việc thanh toán. Điều này sẽ giúp tiết kiệm được nhiều thời gian và nhân lực để các nhân viên có thể tập trung vào những khoản nợ có độ rủi ro cao hơn.

Ghi nhận và thông báo công nợ: Kế toán công nợ có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra trên hệ thống xem khách hàng có đủ điều kiện thực hiện công nợ hay không, giao dịch đã đúng chưa (xem khách hàng đã từng nợ doanh nghiệp hay chưa, có thực hiện đầy đủ nghĩa cụ nợ hay không,…). Sau đó kế toán công nợ xác định chứng từ, theo dõi công nợ trên hệ thống.

Thu tiền: Kế toán công nợ thực hiện lập giao dịch thu tiền trên hệ thống, xác nhận công nợ, thực hiện in phiếu thu và lấy các xác nhận có liên quan, sau đó thực hiện thu hồi công nợ cho doanh nghiệp.

Bù trừ công nợ: Kế toán công nợ kiểm tra giấy tờ công nợ, thực hiện giao dịch bù trừ công nợ trên hệ thống cho khách hàng, theo dõi chứng từ. Bộ phận kế toán sẽ thực hiện duyệt chứng từ cho khách hàng rồi sau đó tiếp tục theo dõi công nợ trên hệ thống của doanh nghiệp.

  • Quản lý hàng tồn kho

Cũng như các tài sản khác, việc dự trữ hàng tồn kho là một quyết định chi tiêu tiền. Hàng tồn kho là một tất yếu khách quan, không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng tồn kho đồng nghĩa với việc “chiếm giữ vốn” hoạt động. Quản trị hàng tồn kho vì thế có vai trò quan trọng trong quản lý ngân lưu của Doanh nghiệp. Theo đó, mức tồn kho càng thấp thì càng tiết kiệm vốn đầu tư nhưng điều này đòi hỏi phải đặt hàng nhiều lần và tốn kém chi phí đặt hàng. Tồn kho thấp có thể thiếu hàng cung cấp kịp thời và mất khách hàng, ngược lại nếu duy trì mức tồn kho cao sẽ tránh được khả năng thiếu dự trữ tồn kho nhưng đòi hỏi nhiều vốn đầu tư. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Việc tồn trữ đủ một lượng thành phẩm tồn kho mang lại lợi ích cho cả hai bộ phận sản xuất và bộ phận marketing của một doanh nghiệp. Dưới góc độ của bộ phận marketing, với mức tiêu thụ trong tương lai dự kiến không chắc chắn, tồn kho thành phẩm với số lượng lớn sẽ đáp ứng nhanh chóng bất kỳ một nhu cầu tiêu thụ nào trong tương lai, đồng thời tối thiểu hóa thiệt hại do mất doanh số vì không có hàng giao ngay hay thiệt hại vì mất uy tín do chậm trễ trong giao hàng khi hàng trong kho hết. Còn dưới góc độ nhà sản xuất, việc duy trì một lượng lớn thành phẩm tồn kho cho phép các loại sản phẩm được sản xuất với số lượng lớn, và điều này giúp giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm do chi phí cố định được phân bổ trên số lượng lớn đơn vị sản phẩm được sản xuất ra.

Trong quản lý hàng tồn kho, nhà quản lý phải xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì tồn kho thông qua việc xác định mức dự trữ kho tối ưu trong đó cân đối được chi phí của việc dự trữ quá nhiều và chi phí của việc dự trữ kho quá ít. Dựa vào mức tối ưu này, doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến “Giá trị lưu kho”: tăng giá trị lưu kho nếu dự trữ thực tế nhỏ hơn mức dự trữ tối ưu hay có cơ hội bất thường trong đầu cơ, và giảm giá trị hàng lưu kho khi mức dự trữ lớn hơn mức dự trữ tối ưu. Từ đó có những điều chỉnh sao cho phù hợp như tìm thêm nguồn nhập mua khi muốn tăng giá trị lưu kho và nếu muốn giảm giá trị lưu kho thì xuất kho để sản xuất kinh doanh, xem lại kế hoạch nhập hàng để có điều chỉnh phù hợp hay bán lại những hàng tồn kho không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nữa.

Mô hình quản lý hàng tồn kho: có 3 mô hình quản lý hàng tồn kho mà các doanh nghiệp thường áp dụng, tùy vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể mà mô hình được sử dụng tốt nhất.

  • Mô hình ABC (The ABC Inventory Method) (theo Phụ lục 2)

Mô hình ABC là mô hình quản lý hàng tồn kho dựa trên cơ sở áp dụng mức độ quản lý khác nhau với các nhóm hàng lưu kho có giá trị cao hay thấp khác nhau. Với một doanh nghiệp có hàng nghìn danh mục hàng lưu kho với giá trị từ rất đắt đến rất rẻ và chúng ta chia danh mục thành 3 nhóm: A, B và C. Nhóm A chiếm 10% về mặt số lượng trong danh mục nhưng lại chiếm đến 50% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho. Nhóm B chiếm 30% về mặt số lượng trong danh mục và chiếm 35% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho. Nhóm C chiếm 60% về mặt số lượng trong danh mục nhưng chỉ chiếm 15% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho. Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, doanh nghiệp có thể tập trung vào nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở đây là nhóm A, tiếp theo là nhóm B và cuối cùng là nhóm C. Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên hơn, có thể là hàng tháng, hàng quý và nhóm C sẽ ít hơn nữa, có thể là hàng năm. Ưu điểm của quản lý hàng tồn kho theo mô hình ABC đó là việc phân loại hàng hóa theo giá trị để áp dụng cho mô hình là công việc đơn giản, dễ tiến hành, đồng thời quản lý hàng tồn kho có hiệu quả do có thể sắp xếp các loại hàng hóa theo giá trị giảm dần (doanh nghiệp sẽ tập trung vào nhóm hàng tồn kho cần quản lý chặt chẽ nhất để sau đó có hiệu quả kinh doanh tốt nhất). Tuy nhiên mô hình chưa giải quyết được việc tối thiểu hóa chi phí lưu kho.

  • Mô hình EOQ ( The Economic Order Quantity Model):

Quản lý hàng lưu kho hiệu quả là một vấn đề phức tạp và không bao giờ có thể kết thúc đối với tất cả các doanh nghiệp. Mục tiêu của mô hình quản lý hiệu quả là để xác định tần suất và số lượng đặt hàng cùng với lượng hàng tồn kho trung bình cần nắm giữ tối ưu. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Quyết định tồn kho cơ bản: mặc dù có rất nhiều loại hàng hóa lưu kho khác nhau, nhưng tất cả đều bao gồm 3 loại chi phí là chi phí đặt hàng, chi phí lưu kho và chi phí do thiếu hụt hàng hóa.

Các giả định của mô hình: nhu cầu về hàng tồn kho là ổn định, không có biến động về giá hay mất mát trong khâu dự trữ, đồng thời chỉ phát sinh hai loại chi phí là chi phí dự trữ và chi phí đặt hàng, thời gian từ khi đặt hàng cho đến khi nhận hàng là cố định, và không có thiếu hụt xảy ra nếu đơn đặt hàng được thực hiện đúng hạn. Ta có:

  • C: Chi phí dự trữ của một đơn vị hàng lưu kho. O: Chi phí cho một lần đặt hàng.
  • Q: Số lượng của một lần đặt hàng. S: Số lượng bán một thời kỳ (năm).

Với những giả định trên, ta xem xét các loại chi phí:

Chi phí lưu kho: Một doanh nghiệp đang muốn xác định số lần đặt hàng trong một năm và số lượng hàng đặt mỗi lần. Giả sử rằng doanh nghiệp luôn cần hàng tồn kho và trong kho không có lượng dự trữ an toàn, lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp sẽ bằng 0 trước khi nhận được lượng hàng đặt. Với lượng hàng mỗi lần đặt là Q thì lượng hàng tồn kho trung bình sẽ là Q/2. Tổng chi phí lưu kho sẽ bằng số lượng hàng tồn kho trung bình nhân với chi phí dự trữ của một đơn vị hàng lưu kho.

  • Chi phí lưu kho = (Q/2) * C

Chi phí đặt hàng: Tương tự như vậy, ta có thể xác định tổng chi phí đặt hàng. Với S là doanh số bán ra tính theo đơn vị sản phẩm trong một năm, số lần đặt hàng trong một năm sẽ bằng S/Q, gọi O là chi phí của mỗi lần đặt hàng, ta có tổng chi phí đặt hàng trong một năm là:

  • Tổng chi phí đặt hàng = (S/Q)*O = S*O/ Q.

Tổng chi phí:

  • Tổng chi phí = Chi phí tồn kho hàng + Chi phí đặt hàng = Q*C/ 2 + S*O/ Q
  • Để tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, doanh nghiệp cần tối thiểu hóa chi phí cho lưu trữ hàng tồn kho.

Mô hình EOQ (mô hình số lượng hiệu quả EOQ – Phụ lục 3): Theo ứng dụng toán học, tổng chi phí cho hàng lưu kho sẽ đạt giá trị nhỏ nhất tại điểm mà đạo hàm bậc nhất của nó bằng 0. Đi tìm giá trị của biến Q mà tại đó đạo hàm bậc nhất của tổng chi phí cho hàng lưu kho bằng 0. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Khoảng thời gian dự trữ tối ưu (T*): là khoảng thời gian kể từ khi trong kho có số lượng hàng hoá là Q* (lượng dự trữ tối ưu) cho đến khi số lượng này hết và được đáp ứng ngày bằng số lượng hàng hoá tối ưu Q* của đơn đặt hàng mới. Trên cơ sở đó, ta tính được quãng thời gian dự trữ tối ưu bằng cách lấy số lượng hàng dự trữ tối ưu chia cho sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong một ngày.

  • Quản lý phải trả người bán

Trong các khoản phải trả, phải trả nhà cung cấp thường có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thanh toán và uy tín của doanh nghiệp. Khi các khoản phải trả người bán không có khả năng thanh toán, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, uy tín của doanh nghiệp giảm đi. Khi các khoản phải trả được thanh toán đúng hạn, uy tín của doanh nghiệp được nâng cao, đó là nhân tố góp phần xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp. Mặt khác các khoản phải trả quá hạn chiếm tỷ trọng lớn, mà doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, tất nhiên nguy cơ phá sản dễ xảy ra. Do vậy doanh nghiệp thường xuyên phân tích tình hình phải trả người bán trên những phương diện sau:

  • Mối quan hệ phải thu, phải trả

Trong thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tồn tại quan hệ phải thu, phải trả là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Song quan hệ này thường phụ thuộc vào những nhân tố sau:

Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, tính chất cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường. Thông thường các sản phẩm độc quyền thì trị số của các chỉ tiêu này thường thấp hơn các sản phẩm cạnh tranh.

Cơ chế tài chính của các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh. Cơ chế tài chính được xây dựng khoa học ngay từ ban đầu thì quan hệ chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn hạn chế thấp nhất vì khi đó doanh nghiệp hoạt động trong một thể thống nhất của các dự đoán có độ tin cậy cao.

Môi trường tài chính, kinh doanh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế. Khi nền kinh tế ổn định, tăng trường bền vững thì các chỉ tiêu vốn chiếm dụng và bị chiếm dụng thấp nhất. Ngược lại trong môi trường khủng hoảng tài chính của các doanh nghiệp thường chiếm dụng vốn của nhau dẫn đến tình hình tài chính của các đơn vị không lành mạnh phản ứng theo dây chuyền.

1.3.3. Quản trị dòng tiền hoạt động tài chính ngắn hạn Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Dòng tiền trong hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu từ phát hành cổ phiếu, góp vốn hay chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu; tiền vay ngắn hạn, dài hạn mà doanh nghiệp nhận được cũng như chi trả nợ gốc vay, trả nợ thuê tài chính…

  • Nợ ngắn hạn

Đối với doanh nghiệp đang phát triển, có một mức nợ hợp lý là một cách kinh doanh hiệu quả. Có một số chủ doanh nghiệp nhỏ đang tự hào rằng họ không bao giờ bị mắc nợ, điều đó không phải lúc nào cũng là thực tế. Sự tăng trưởng luôn đòi hỏi một số vốn đáng kể và để có được nó bạn cần phải tìm kiếm một khoản vay từ ngân hàng, từ các cá nhân, một khoản vay nợ xoay vòng, mua chịu tiền hàng, hoặc các kiểu vay nợ tài chính khác. Vậy, nợ bao nhiêu là nhiều? Câu trả lời nằm ở chỗ phải phân tích cẩn thận dòng tiền và các nhu cầu cụ thể của công việc kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra được vay nợ hợp lý nhất. Nói chung, nợ có thể là một ý tưởng tốt nếu doanh nghiệp cần phải cải thiện hoặc duy trì dòng tiền hay đầu tư để tăng trưởng. Có hai chính sách quản lý nợ mà các doanh nghiệp đang dùng đó là chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái cấp tiến và thận trọng:

Chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái thận trọng là chính sách duy trì mức nợ ngắn hạn thấp. Và ngược lại, chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái cấp tiến được thực hiện khi doanh nghiệp duy trì nợ ngắn hạn ở mức cao. Mức nợ ngắn hạn: Chính sách cấp tiến luôn duy trì mức nợ ngắn hạn cao, bao gồm phải trả người bán, vay ngắn hạn, nợ đọng phải trả khác và nợ dài hạn đến hạn trả. Cách tiếp cận quản lý cấp tiến tăng phải trả người bán đến hết mức có thể và thanh toán chúng chậm cũng đến hết mức có thể miễn sao không gây mất uy tín tín dụng.

Vay ngắn hạn cũng được sử dụng rộng rãi. Còn đối với chính sách thận trọng, nợ ngắn hạn luôn duy trì ở mức thấp để đảm bảo doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, không ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp.

Thời gian quay vòng tiền: Chính sách cấp tiến có thời gian quay vòng của tiền ngắn, thông qua việc tăng giá trị khoản phải trả người bán và các khoản nợ đọng khác, làm giảm vòng quay các khoản phải trả, tăng thời gian trả nợ trung bình và làm giảm thời gian quay vòng của tiền. Chính sách thận trọng thì ngược lại, có thời gian quay vòng tiền dài hơn do doanh nghiệp giảm giá trị khoản phải trả người bán, giảm thời gian trả nợ trung bình.

  • Trả lãi Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn kinh doanh được tài trợ bằng nợ vay thường được chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn. Lãi tiền vay là một khoản mục chi phí chịu ảnh hưởng biến động của số tiền vay, thời gian vay và lãi suất vay.

Sử dụng sai mục đích nguồn vốn nợ vay là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất cân đối và phá sản các doanh nghiệp. Chính vì các nhà quản lý cần tính toán cụ thể việc vay bao nhiêu và trả lãi như thế nào để luôn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh việc không trả lãi hoặc trả lãi quá hạn làm ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp cũng như làm giảm uy tín của doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc huy động nợ sau này.

1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền

1.4.1. Các chỉ tiêu chung

  • Nhóm chỉ số khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng Tài sản ngắn hạn hay khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng Tài sản ngắn hạn để chi trả. Nếu một doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp sẽ chi trả cho các hóa đơn thanh toán bị chậm trễ hơn (các khoản phải trả nhà cung cấp) hoặc phải đi vay thêm tiền từ ngân hàng… Tất cả các hoạt động này sẽ làm cho các khoản nợ ngắn hạn tăng lên. Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn Tài sản ngắn hạn, khả năng thanh toán ngắn hạn sẽ giảm xuống và đây là dấu hiệu của khó khăn, rắc rối tài chính có thể xảy ra đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng nên so sánh con số này của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp cùng ngành. Nếu tỷ số này của doanh nghiệp có sự khác biệt quá lớn so với trung bình chung của ngành thì doanh nghiệp nên xem xét tại sao có sự khác biệt lớn này.

Nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn 1 cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn (chính sách quản lý vốn thận trọng). Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Khả năng thanh toán nhanh cho ta biết một đồng nợ ngắn hạn khi đến hạn trả nợ, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng Tài sản ngắn hạn để chi trả mà không cần bán hàng tồn kho. Hàng tồn kho thông thường có tính thanh khoản kém nhất trong các Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, vì thế chúng là các tài sản có khả năng lớn nhất bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý. Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho.

  • Chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROS cho biết cứ mỗi đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

ROA cho biết bình quân mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho cổ đông. ROA phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Các ngành như dịch vụ, du lịch, tư vấn, thương mại… tỷ số này thường rất cao, trong khi các ngành như công nghiệp chế tạo, ngành hàng không… tỷ số này lại thường rất thấp. Do đó, để đánh giá một cách chính xác hơn, cần phải so sánh với bình quân của ngành hoặc so sánh với một doanh nghiệp tương tự trong cùng một ngành.

ROE cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận danh cho cổ đông. Đây là tỷ số mà được các cổ đông rất quan tâm.

Ngoài những chỉ tiêu đánh giá trên, ta có thể phân tích biến động các dòng tiền trong doanh nghiệp với mục đích tìm ra khả năng, xu hướng cân đối dòng tiền cho nhu cầu của từng hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu dòng tiền của từng hoạt động.

1.4.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền từ HĐSXKD Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

  • Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chi phí trong doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng giá vốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện mặt hàng kinh doanh có lời nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ. Chỉ tiêu này thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành nghề cụ thể. Thông thường doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ăn uống chỉ tiêu này khá cao từ 35 – 50% nhưng các doanh nghiệp xây dựng chỉ tiêu này thường từ 10 – 15%.

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần từ Hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cho phí bán hàng.

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cho phí quản lý.

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí chi ra trong kỳ.

  • Phân tích tình hình phải thu khách hàng thông qua những chỉ tiêu:

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng quay bình quân doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu, khoản thu quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng tiêu thụ. Chỉ tiêu này cũng cho biết mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

  • Bên cạnh đó ta còn xác định thời gian của một vòng quay các khoản phải thu (hay thời gian thu nợ trung bình) như sau:

Thời gian thu nợ trung bình cho ta biết một đồng mà doanh nghiệp bán chịu thì sau bao lâu mới thu hồi lại được. Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, thời gian thu nợ trung bình càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều. Khi phân tích chỉ tiêu này, ta có thể so sánh thời gian thu nợ trung bình với kỳ kế hoạch hoặc so sánh thời gian bán hàng quy định ghi trong các hợp đồng kinh tế với khách hàng mua chịu. Qua phân tích, ta sẽ thấy được tình hình thu hồi các khoản công nợ của doanh nghiệp, để từ đó có các biện pháp thu hồi nợ nhằm góp phần ổn định tình hình tài chính.

  • Phân tích hiệu quả của hàng tồn kho:

Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

Thời gian lưu kho trung bình cho biết trong một năm hoặc một chu kỳ, hàng tồn kho lưu kho trung bình trong bao nhiêu ngày hay kể từ khi mua hàng đến khi bán được hàng, trung bình mất bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh, dó là nhân tố góp phần tăng doanh thu và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho. Chỉ tiêu này thấp thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho càng cao.

  • Phân tích tình hình phải trả người bán thông qua những chỉ tiêu:

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải trả người bán quay được bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp. Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao có thể do doanh nghiệp thừa tiền, luôn thanh toán trước thời hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Chỉ tiêu này cũng cho biết mức độ hợp lý các khoản phải trả đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường.

  • Bên cạnh đó ta còn xác định thời gian của một vòng quay phải trả người bán (hay thời gian trả nợ trung bình) như sau:

Thời gian trả nợ trung bình cho biết một đồng doanh nghiệp mua chịu thì sau bao lâu mới phải thanh toán. Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ khả năng thanh toán tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn của các đối tác. Ngược lại, thời gian của một vòng quay càng dài, chứng tỏ khả năng thanh toán chậm, số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng nhiều, ảnh hưởng tới uy tín và thường hiệu trên thương trường. Khi phân tích chỉ tiêu này, ta có thể so sánh thời gian trả nợ trung bình với kỳ kế hoạch hoặc so sánh thời gian mua hàng quy định ghi trong các hợp đồng kinh tế với các nhà cung cấp. Qua phân tích, ta sẽ thấy được tình hình thanh toán công nợ của doanh nghiệp, để từ đó có các biện pháp huy động vốn, đáp ứng nhu cầu thanh toán, góp phần ổn định tình hình tài chính. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Để phân tích rõ bản chất công nợ phải thu và công nợ phải trả ta có thể phân tích mối quan hệ giữa hai nhóm đối tượng này thông qua những chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu này cao hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải thu nhiều hơn phải trả, khi đó doanh nghiệp có nguy cơ vốn bị chiếm dụng nhiều hơn vốn chiếm dụng, thường dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm.

Chỉ tiêu này thấp hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải trả nhiều hơn phải thu, kho đó doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn ít hơn chiếm dụng vốn của các đối tượng và như vậy dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn tăng.

Chỉ tiêu này cao hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải thu đến hạn nhiều hơn phải trả đến hạn, như vậy khâu thu hồi tiền hàng khó khăn hơn kinh doanh nghiệp thanh toán tiền. Sản phẩm bán cạnh tranh hơn so với khi mua các yếu tố đầu vào.

Chỉ tiêu này thấp hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải trả đến hạn nhiều hơn phải thu đến hạn, khi đó khâu thu hồi tiền thuận tiện hơn. Sản phẩm tiêu thụ gặp nhiều thuận lợi trên thị trường.

Chỉ tiêu này cao hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải thu quá hạn nhiều hơn phải trả quá hạn, khi đó doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn nhiều hơn vốn chiếm dụng của người bán, thường dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm.

Chỉ tiêu này thấp hơn 50%, chứng tỏ các khoản phải trả quá hạn nhiều hơn phải thu quá hạn, khi đó doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn ít hơn chiếm dụng vốn của cá đối tượng và như vậy dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn tăng.

Các chỉ tiêu trên thể hiện số tương đối, do vậy khi phân tích các chỉ tiêu này cần được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu thể hiện số tuyệt đối về số phải thu, phải trả, phải thu quá hạn, phải trả quá hạn để thấy được thực chất tài chính của doanh nghiệp như thế nào. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải thu quá hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng các khoản phải thu dẫn đến khả năng thu hồi nợ khó khăn, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải thu quá hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản dẫn đến khả năng thu hồi nợ khó khăn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra.

Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải trả quá hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng các khoản phải trả dẫn đến khả năng thanh toán kém, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra.

Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải trả quá hạn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn dẫn đến khả năng tự chủ trong hoạt động tài chính thấp, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra.

1.4.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền từ Hoạt động tài chính

Tỷ số TIE đo lường chi tiết đến giới hạn nào thì thu nhập hoạt động có thể giảm xuống trước khi doanh nghiệp không thể trả chi phí lãi vay hàng năm. Không có khả năng trả lãi vay có thể làm cho các chủ nợ kiện doanh nghiệp và có thể doanh nghiệp bị công bố phá sản. Lãi vay được chi trả từ các thu nhập trước thuế nên thuế không tác động đến khả năng chi trả lãi vay hiện hành của doanh nghiệp.

Tỷ số khả năng trả nợ đo lường khả năng trả nợ cả gốc và lãi của doanh nghiệp từ các nguồn như doanh thu, khấu hao và lợi nhuận trước thuế. Thông thường nợ gốc sẽ được trang trải từ doanh thu và khấu hao, trong khi lợi nhuận trước thuế sử dụng để trả lãi vay. Tỷ số này cho biết mỗi đồng nợ gốc và lãi có bao nhiêu đồng có thể sử dụng để trả nợ.

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp sử dụng 100 đồng tiền vay phục vụ cho hoạt động kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuân kế toán sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng tốt, đó là nhân tố hấp dẫn nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cũng chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp.

1.5. Các nhân tố tác động đến hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

1.5.1. Nhân tố chủ quan

Nhân tố tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp: Nhân tố này tác động mạnh mẽ tới chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm. Bởi lẽ chi phí sản xuất kinh oanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá qua đó ta thấy để sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, qua quá trình sản xuất lượng vốn tiền tệ này sẽ bị tiêu hao nên việc quản lý và sử dụng chúng tốt là một trong những hoạt động tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính có tác động lớn tới việc hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.5.2. Nhân tố khách quan

Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế: Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả. Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy đông vốn vay. Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư.

Sự cạnh tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp hoạt động khi cần thiết.

Yếu tố lạm phát tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh. Nếu lạm phát gia tăng sẽ làm tăng giá cả yếu tố đầu vào kết quả dẫn tới sẽ là tăng giá thành và tăng giá bán. Nhưng tăng giá bán lại khó cạnh tranh. Mặt khác, khi có yếu tố lạm phát tăng cao, thì thu nhập thực tế của người dân lại giảm đáng kể và điều này lại dẫn tới làm giảm sức mua và nhu cầu thực tế của người tiêu dùng. Nói cách khác khi có yếu tố lạm phát tăng cao thì thường khó bán được hàng hóa dẫn tới thiếu hụt tài chính cho sản xuất kinh doanh, việc tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh khó thực thi được. Vì vậy việc dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong điều kiện hiện nay.

  • Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Những ảnh hưởng đó thể hiện:

Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả.

Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh. Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp những khó khăn. Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn.

  • Môi trường kinh doanh

Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh bao gồm tất những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng mọi hoạt động của doanh nghiệp. Sự ổn định của nền kinh tế: sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí như chi phí trả lãi hay việc tăng tài sản. Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn tại Doanh nghiệp […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x