Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP dầu khí Đông Đô dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Tổng quan về Công ty CP Dầu khí Đông Đô
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty CP Dầu khí Đông Đô được thành lập theo giấy phép số 0103017950 ngày 15 tháng 06 năm 2019 do Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Đăng ký thay đổi lần thứ 2 vào ngày 10 tháng 10 năm 2023.
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô Tên viết tắt: PVC Đông Đô
- Địa chỉ: Tâng 2, toàn nhà Dolphin Plaza, số 28 Phố Trần Bình, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
- Số điện thoại: 04.62554111 Mã số thuế: 0102293517
- Vốn điều lệ : 500.000.000.000 VNĐ (Năm trăm tỷ đồng)
Công ty CP Dầu khí Đông Đô tiền thân là Công ty CP Bất động sản Tài chính Dầu khí Việt Nam được thành lập theo Nghị quyết số 1771/NQ-DKVN ngày 08/06/2019 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam).
Mục tiêu chiến lược của Công ty CP Dầu khí Đông Đô là xây dựng Công ty trở thành doanh nghiệp Bất động sản (BĐS) mạnh của Tập đoàn Dầu khí, là Công ty kinh doanh Bất động sản hàng đầu ở Việt Nam.
Dựa vào năng lực tài chính, chính sách hội nhập của nền kinh tế Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu nhà ở, khu đô thị, khu nhà ở cao cấp, tòa nhà văn phòng hiện đại, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí và thể thao, PVC Đông Đô sẽ trở thành Công ty Bất động sản mạnh về cả quy mô vốn, công nghệ đầu tư và xây dựng các dự án, khả năng hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường Bất động sản.
Với năng lực trong lĩnh vực kinh doanh Bất động sản, PVC Đông Đô đang đầu tư nhiều dự án tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các địa phương khác trên cả nước. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh của Công ty
Lĩnh vực tư vấn, thiết kế Bất động sản: Tư vấn xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, môi trường (không bao gồm các dịch vụ thiết kế công trình); kinh doanh dịch vụ tư vấn Bất động sản, đấu giá Bất động sản, quản lý và quảng cáo Bất động sản.
Lĩnh vực xây lắp và thi công các công trình: Lập dự án đầu tư, xây dựng các dự án nhà ở, văn phòng, khách sạn, trung tâm thương mại, siêu thị, khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao tổng thầu các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tâng kỹ thuật, môi trường.
Lĩnh vực kinh doanh và cung cấp thiết bị: Kinh doanh vật tư thiết bị phục vụ cho các công trình xây dựng, trang thiết bị nội, ngoại tất, cấp thoát nước, môi trường, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở; kinh doanh bất động sản.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CP Dầu khí Ðông Ðô
- Sơ đồ 2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty CP Dầu khí Đông Đô
Tổng số Cán bộ công nhân viên của Công ty hiện có 132 người, trong đó Ban giám đốc và Phó Giám đốc gồm 05 người, Công ty được biên chế gồm 05 phòng, dưới các phòng là 05 Ban quản lý dự án, 01 Sàn giao dịch Bất động sản và 02 chi nhánh, đó là chi nhánh Thanh Hóa và chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.
Ban lãnh đạo Công ty là những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm quản lý, điều hành trong lĩnh vực kinh doanh Bất động sản, cùng với đội ngũ cán bộ, kỹ thuật có trình độ cao, có năng lực và kinh nghiệm trong quản lý, điều hành thi công xây lắp, đầu tư kinh doanh bất động sản, tư vấn thiết kế kiến trúc. Đội ngũ cán bộ của Công ty được đào tạo chính quy, thường xuyên được đào tạo bổ sung và nâng cao trình độ ở trong và ngoài nước.
- Hội đồng Quản trị Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Hội đồng Quản trị là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến Sản xuất kinh doanh và quyền lợi của Công ty như quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường,… trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.
- Giám đốc
Đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và trước cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động Sản xuất kinh doanh của Công ty, báo cáo Hội đồng Quản trị về các hoạt động của Công ty. Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.
- Các Phó Giám đốc
Dưới quyền Giám đốc là các Phó giám đốc chịu trách nhiệm điều hành Công ty theo phân công và uỷ quyền của Giám đốc. Phó Giám đốc phụ trách tài chính – đầu tư – nội chính chịu trách nhiệm điều hành bộ phận hành chính, tài chính- kế toán và đầu tư phát triển của Công ty, Phó Giám đốc kỹ thuật trực tiếp quản lý và điều hành bộ phận kỹ thuật và quản lý thi công trong Công ty, có trách nhiệm giám sát và quản lý trực tiếp các ban quản lý dự án.
- Các phòng chức năng
Có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Giám đốc và các Phó Giám đốc giao, hoàn thành các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng.
Phòng đầu tư phát triển có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ thiết kế, lập kế hoạch thi công cho từng công trình; phòng quản lý kỹ thuật có nhiệm vụ quản lý và giám sát việc thi công về tiến độ và chất lượng thi công, lập dự toán và thiết kế các bản vẽ hồ sơ hoàn công. Giám sát các đơn vị thi công về kỹ thuật và theo đúng thiết kế, có trách nhiệm đảm bảo cho các công trình hoạt động liên tục, quản lý giao nhận vật tư và các trang thiết bị tại công trình; phòng tổ chức hành chính quản lý và tổ chức nhân sự trong công ty và thực hiện các công tác lao động tiền lương, BHXH, BHYT. Hỗ trợ các phòng ban khác soạn thảo văn bản, công văn và hồ sơ dự thầu; phòng tài chính – kế toán – kinh tế kế hoạch tổ chức công tác tài chính – kế toán trong công ty. Tập hợp và huy động các nguồn tài chính, quản lý quỹ, thanh toán vật tư và tập hợp các chi phí của từng công trình.
- Các ban quản lý dự án Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Ban quản lý dự án trực tiếp quản lý, điều hành, giám sát các dự án theo yêu cầu chỉ thị của các Phó Giám đốc, phòng quản lý kỹ thuật. Các ban quản lý của Công ty bao gồm ban quản lý khu đô thị Dầu khí Đức Giang, ban quản lý Hải Phòng, ban quản lý 160 Trần Quang Khải, bản quản lý CT5E Xuân Phương, ban quản lý dự án Hòa Bình.
- Sàn giao dịch bất động sản
Sàn giao dịch bất động sản là đầu mối thu thập và phân tích các dữ liệu, thông tin về cung cầu và giá cả trên thị trường bất động sản; cập nhật các quy định pháp luật về lĩnh vực bất động sản để tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong việc xác lập chiến lược, kế hoạch kinh doanh; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản; thực hiện việc xác nhận bất động sản đã được giao dịch qua Sàn.
- Các chi nhánh
Thực hiện phát triển các kinh doanh đã được cấp phép trên địa bàn hoạt động. Soạn thảo những văn bản pháp quy phục vụ cho các mặt hoạt động của Chi nhánh dựa trên những văn bản pháp quy của Công ty. Chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ nhân viên tại Chi nhánh. Thực hiện việc báo cáo với các Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương theo qui định. Phối hợp với văn phòng công ty và các chi nhánh khác trong việc khai thác khách hàng cũng như việc điều động nhân viên. Hiện nay Công ty chỉ có 2 chi nhánh là chi nhánh tại Thanh Hóa và TP. Hồ Chí Minh.
2.2. Thực trạng công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một nội dung rất quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Đối với các nhà đầu tư và các ngân hàng thì hoạt động phân tích tài chính rất được coi trọng và được tiến hành từ sớm nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh của mình. Tuy nhiên ở Việt Nam, hầu hết các Công ty mới chỉ tiến hành hoạt động này trong vài năm trở lại đây, Công ty Cổ phần dầu khí Đông Đô cũng không nằm ngoài số đó. Trong khoảng thời gian ngắn đó, công tác phân tích tài chính đã bước đầu được quan tâm và có những đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.2.1. Thực trạng các phương pháp phân tích tài chính của Công ty
Hiện tại, Công ty chỉ áp dụng các phương pháp phân tích truyền thống là phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số. Chưa áp dụng các phương pháp phân tích tài chính hiện đại như phương pháp Dupont. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hai phương pháp trên vẫn chưa thực sự đồng bộ và phát huy hết được hiệu quả của nó do việc tiến hành so sánh chỉ tiêu của hai năm cũng như so sánh các chỉ tiêu chi tiết với các chỉ tiêu tổng quát không kết hợp với việc phân tích các tỷ số nên không thấy được sự tương quan giữa số tuyệt đối và số tương đối.
Đối với phương pháp so sánh: Công ty sử dụng để phân tích các Báo cáo tài chính, qua đó xem xét cấu trúc tài sản, nguồn vốn, phát hiện các đặc trưng trong phân bố tài sản và nguồn vốn. Công ty sử dụng phương pháp này vì nó tương đối đơn giản, so sánh giữa số liệu năm nay với số liệu năm trước để thấy mức độ tăng trưởng, so sánh số thực hiện với số kế hoạch để đánh giá mực độ hoàn thành so với kế hoạch đã đề ra.
Đối với phương pháp tỷ số: Công ty tiến hành phân tích cả 4 nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời. Việc xem xét các nhóm chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu vốn, đánh giá khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động và quan trọng nhất là xem xét khả năng sinh lời của Công ty.
Công ty vẫn chưa sử dụng phương pháp phân tích Dupont mặc dù đây là một phương pháp đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên nó khá mới mẻ, đòi hỏi phải sử dụng kinh tế lượng để đánh giá sự tác động của các chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp và giữa các chỉ tiêu thành phần với nhau.
2.2.2. Quy trình phân tích tài chính của Công ty CP Dầu khí Ðông Ðô Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
- Công tác tổ chức phân tích tài chính của Công ty
Nhìn chung Công ty đã quan tâm tới việc tổ chức công tác phân tích tài chính, nhưng hiện nay việc tổ chức hoạt động này vẫn còn khá sơ sài, mang tính hình thức bắt buộc, chưa thực sự vì mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính mà mới chỉ dừng lại ở mức thực hiện đúng theo chủ trương của chế độ kế toán mới. Chưa xây dựng được một quy trình phân tích hoàn chỉnh từ xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích mà chỉ lặp lại các phương pháp, nội dung phân tích tài chính từ năm này qua năm khác. Công ty cũng chỉ phân tích tài chính môt lần duy nhất vào cuối chu kỳ kình doanh (vào cuối mỗi năm). Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do Công ty chưa thực sự thấy rõ tầm quan trọng cũng như hiệu quả hoạt động phân tích tài chính có thể đem lại.
Công tác này do Phòng Tài chính – Kế toán đảm nhận và thực hiện nhằm mục đích đánh giá kết quả hoạt động của Công ty trong năm vừa qua nhằm tìm ra các nguyên nhân và các nhân tố tác động đến kết quả đó, xây dựng các báo cáo, kế hoạch, chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn, định hướng phát triển cho Công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên, hiện nay công tác này chỉ do hai người của phòng đảm nhận và thực hiện tất cả các bước phân tích, hơn nữa các cán bộ của phòng được đào tạo chủ yếu về chuyên ngành kế toán, chưa được đào tạo chính quy về tài chính doanh nghiệp nên hoạt động phân tích tài chính vẫn chưa thực sự phát huy được hết vai trò của nó.
- Công tác lựa chọn và xử lý thông tin Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Thông tin được Công ty sử dụng trong phân tích tài chính là các báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, và thuyết minh Báo cáo tài chính. Các báo cáo này do phòng Tài chính – Kế toán tổng hợp và lập định kỳ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ mặc dù đã được lập nhưng chưa được Công ty sử dụng trong phân tích.
Số liệu sử dụng trong phân tích thường cũng chỉ lấy số liệu trong hai năm, năm hiện tại và năm liền kề trước đó. Chưa sử dụng số liệu của nhiều năm liên tiếp để đánh giá sự biến động qua nhiều năm và có một cái nhìn tổng quát hơn.
Ngoài những thông tin có được từ các Báo cáo tài chính trên, Công ty hầu như không sử dụng thêm một nguồn thông tin nào từ bên ngoài như thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất, các thông tin liên quan đến ngành nghề hoạt động,… Đây là một thực tế không chỉ của Công ty Cổ phần dầu khí Đông Đô mà của hầu hết các công ty ở Việt Nam hiện nay.
Việc xử lý thông tin còn rất sơ sài, hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc tính toán, so sánh, giải thích một số chỉ tiêu mà hầu như chưa có sự đánh giá, giải thích nguyên nhân. Các thông tin sử dụng từ hầu hết là các thông tin có được từ sổ sách kế toán mà không có sự kiểm tra tính xác thực, bổ sung các thông tin khác và xử lý sơ bộ.
2.2.3. Thực trạng nội dung phân tích tài chính của Công ty
Để đánh giá thực trạng tài chính của Công ty trong thời gian qua và xây dựng kế hoạch kinh doanh năm tới cũng như kế hoạch tài chính Công ty đã tiến hành phân tích tài chính ở những nội dung sau:
- Phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP Dầu khí Đông Đô
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh
- Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2024 là 2.140 triệu đồng, giảm 351.764 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 99,40% so với năm 2023. Còn năm 2025 là 6.996 triệu đồng, tăng 4.856 triệu đồng, tương ứng tăng với tỉ lệ là 226,92% so với năm 2024. Qua số liệu vừa đề cập ta có thể thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty giảm không đều qua các năm. Nguyên nhân là do tình hình kinh doanh bất động sản, cũng như xây dựng và lắp đặt các công trình của công ty đang gặp khó khăn và có dấu hiệu đi xuống. Các dự án bị đóng băng do thiếu vốn, thiếu nhà đầu tư. Hàng loạt các công ty bất động sản khác tổ chức bán tháo, giảm giá bất động sản đã làm cho thị trường bất động sản nói chung và Công ty CP Dầu khí Đông Đô rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Giá vốn hàng bán: Cùng xu hướng với doanh thu thì trong năm 2024, giá vốn hàng bán giảm từ 318.762 triệu đồng năm 2023 xuống còn 2.206 triệu đồng năm 2024 (giảm 99,31%). Năm 2025 lại tăng lên mức 8.289 triệu đồng (tăng 226,92%). Nhìn vào thông tin trên ta có thể thấy mặc dù giá vốn hàng bán giảm nhưng giảm chậm hơn doanh thu, chính vì vậy giá trị của giá vốn hàng bán trong 2 năm 2024 và 2025 đều cao hơn doanh thu bán hàng. Điều này đã phán ánh đúng tình trạng bán tháo, giảm giá các công trình bất động sản của Công ty. Trái ngược hẳn với một năm thị trường bất động sản nở rộ thì sang đến năm 2024, tình trang xây dựng ồ ạt đã làm cho cung – cầu lệch nhau, các công trình xây dựng không bán được, một số công trình đang xây bị bỏ ngỏ do không còn vốn đã gây nên tình trạng trên. Việc bán tháo, giảm giá bán bất động sản của Công ty CP Dầu khí Đông Đô nhằm thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng, thanh toán cho chủ nợ. Giá vốn hàng bán cao hơn doanh thu đã làm cho lợi nhuận gộp bị âm vào năm 2024 và 2025.
Doanh thu hoạt động tài chính: Công ty CP Dầu khí Đông Đô rất chú trọng trong đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn. Năm 2023 Công ty chủ yếu vào đầu tư mua cổ phiếu ngắn hạn; ngoài ra Công ty còn nhận ủy thác Đầu tư tại Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam, mua cổ phần và góp vốn vào một số công ty xây dựng và bất động sản khác. Có thể nói năm 2023 là năm Công ty đi đầu tư dài hạn nhiều nhất. Thị trường bất động sản năm 2023 vẫn còn rất nóng, các danh mục đầu tư của công ty đều mang lại kết quả tốt. Chính vì lẽ đó mà năm 2023, doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty đạt 33.680 triệu đồng.
Năm 2024, Công ty đã rút vốn đầu tư dài hạn tại dự án Golden Palace chuyển sang góp vốn đầu tư ngắn hạn; ngoài ra Công ty còn góp vốn đầu tư ngắn hạn vào dự án Chung cư BMM tại phường Phúc La, quận Hà Đông. Tuy nhiên, năm 2024, thị trường bất động sản đi xuống, các dự án không bán được đã làm cho doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty giảm xuống còn 2.505 triệu đồng (giảm 92,56% so với năm 2023). Trước tình hình khó khăn của thị trường Bất động sản, sang năm 2025, Công ty tiếp tục rút vốn tại một số dự án nhằm thu hồi vốn đem trả các khoản vay ngân hàng, trả tiền cho các chủ nợ. Các danh mục đầu tư còn lại không đem lại nhiều lợi nhuận đã khiến cho năm 2025, doanh thu về hoạt động tài chính của công ty chỉ đạt 75 triệu đồng, một con số rất nhỏ so với những gì đã làm được vào năm 2023.
Chi phí quản lý kinh doanh: Chi phí quản lý kinh doanh có xu hướng giảm từ năm 2023 đến năm 2025. Trong mục chi phí quản lý kinh doanh thì chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, và việc giảm của chi phí quản lý kinh doanh cũng bắt ngồn từ việc giảm chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2023 chi phí quản lý doanh nghiêp là 28.575 triệu đồng, năm 2024 giảm xuống còn 10.757 triệu đồng (giảm 62,36%), sang năm 2025 tiếp tục giảm thêm 67,78% khi chỉ còn 3.466 triệu đồng. Chi phí quản lý doanh nghiệp giảm vì trong năm 2024, 2025 Công ty liên tục điều chỉnh giảm đội ngũ nhân viên, lao động nhằm giảm thiểu chi phí do tình hình kinh doanh yếu kém. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Lợi nhuận sau thuế: Từ báo cáo kết quả kinh doanh có thể thấy Công ty liên tục lỗ ròng trong 2 năm 2023 và 2024. Nguyên nhân xuất phát từ tình hình kinh doanh kém, doanh thu giảm và nhỏ trong khi giá vốn hàng bán mặc dù có giảm nhưng vẫn cao hơn doanh thu do Công ty phải bán lỗ các dự án, các bất động sản nhằm láy tiền trả nợ ngân hàng và đảm bảo thanh khoản. Duy chỉ có năm 2023, Công ty vẫn thu được lợi nhuận là 29.720 triệu đồng. Năm 2024 và 2025 Công ty lỗ ròng lần lượt là 24.711 triệu đồng và 75.849 triệu đồng. Đây là một con số đáng báo động, tuy nhiên lại là tình hình chung của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản lúc bấy giờ.
Tình hình kinh doanh thua lỗ là kết quả chung của các công ty bất động sản trong khoảng thời gian từ năm 2024 – 2025. Bất động sản năm 2024 được cho là một năm đầy bi ai. Xu hướng bán tháo, giảm giá bất động sản tăng mạnh, ồ ạt các dự án bị bán tháo để thu tránh lỗ quá nhiều. Theo VNDIRECT công bố báo cáo hợp nhất có kiểm toán của 25 doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết đến ngày 6/8/2025 thì không có công ty nào đạt doanh thu tới 500 tỷ đồng, lãi cao nhất cũng chưa đầy 54 tỷ đồng. Trên sàn Hà Nội (HNX), với 9 công ty đã nộp báo cáo kiểm toán hợp nhất, theo số liệu của VNDIRECT, doanh thu 6 tháng đầu năm 2025 cao nhất thuộc về Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng – Hội An (DIH) với mức 122,48 tỷ đồng. Còn Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô (PFL) với 0,13 tỷ đồng là đơn vị có doanh thu 6 tháng thấp nhất.
- Phân tích khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty CP dầu khí Đông Đô
Phân tích tình hình tài sản
- Bảng 2.2. Bảng phân tích tình hình tài sản trong 03 năm
- Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tổng tài sản Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Tài sản ngắn hạn: Năm 2023 là 102.021 triệu đồng, tăng lên mức 117.037 triệu đồng trong năm 2024 (tăng 14,72%) và tiếp tục tăng lên 141.574 đồng trong năm 2025 (tăng 20,97%). Có thể thấy tài sản ngắn hạn đang tăng lên, năm sau tăng nhanh hơn năm trước, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản cũng được tăng lên. Trong đó:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2024 là 805 triệu đồng chỉ chiếm 0,69% tài sản ngắn hạn, giảm 6.157 triệu đồng, tương đương giảm 88,44% so với năm 2023. Năm 2025, lượng tiền mặt trong Công ty chỉ còn lại 445 triệu đồng chiếm 0,31% tài sản ngắn hạn. Việc giảm một lượng tiền mặt như vậy thể hiện động thái của công ty khi đối mặt với tình hình lạm phát, tránh giữ quá nhiều tiền mặt mà mất đi chi phí cơ hội, nên công ty đã dùng tiền mặt để đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn và dùng tiền để trả nợ ngân hàng khi đến hạn do trong năm 2024 công ty làm ăn bị thua lỗ. Tuy nhiên việc giảm lượng tiền mặt sẽ làm tính thanh khoản của công ty giảm xuống, Công ty cần cân nhắc xem giữ lại bao nhiêu tiền cho hợp lý.
Ðầu tư tài chính ngắn hạn: Năm 2023, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của Công ty chỉ có 4.895 triệu đồng chiếm xấp xỉ 4,8% tài sản ngắn hạn. Khoản đầu tư tài chính chủ yếu là đầu tư mua các cổ phiếu ngắn hạn. Sang năm 2024, Công ty bắt đầu góp vốn đầu tư vào các dự án chung cư đã đẩy trị số khoản đầu tư tài chính ngắn hạn năm 2024 tăng lên đến 45.402 triệu đồng (tăng 40.507 triệu đồng, tăng 827,52% so với năm 2023). Năm 2025, do kinh doanh thua lỗ, một số dự án đầu tư ngắn hạn không đem lại lợi nhuận nên Công ty đã rút một vốn ở một số dự án để lấy tiền thanh toán nợ cho ngân hàng và chủ nợ. Chính vì vậy mà khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trong năm 2025 chỉ còn 40.308 triệu đồng.
Phải thu khách hàng: Giảm qua từng năm, năm 2024 khoản phải thu này là 36.322 triệu đồng, giảm 8.271 triệu đồng, tương ứng giảm 18,55% so với năm 2023. Năm 2025 tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 36.252 triệu đồng, giảm 70 triệu đồng, tương ứng giảm 0,19% so với năm 2024. Khoản phải thu giảm và doanh thu thuần giảm hàng năm cho thấy Công ty đã bán được ít hàng hơn, trúng thầu ít hoặc không tham gia thầu các hạng mục công trình, năm 2024 và 2025 Công ty hầu như không thu hồi được vốn do khách hàng chiếm dụng. Việc để khách hàng nợ quá nhiều sẽ khiến công ty có thể gặp những rủi ro nhất định. Bởi vì Công ty có thể bị các khách hàng, các nhà thầu khác chiếm dụng vốn, hoặc khoản nợ có thể trở thành nợ khó đòi. Hoặc những khoản vốn chưa thu hồi được sẽ trở thành những khoản vốn chết tạm thời, Công ty sẽ không thể dùng khoản vốn đó để tái đầu tư một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên để có thể đưa ra những nhận định chính xác hơn thì ta cần phải tính toán và xem xét đến vòng quay khoản phải thu khách hàng bình quân. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho của Công ty chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và hàng hóa bất động sản. Hàng tồn kho của Công ty tăng mạnh vào năm 2025 khi tăng từ 2.213 triệu đồng năm 2024 lên đến 32.615 triệu đồng năm 2025. Nguyên nhân là do hàng hóa bất động sản tăng mạnh. Phần trị giá tăng thêm này chính là giá trị của 10 căn hộ tại dự án Dragon Petro Hill, 4 căn hộ tại dự án Golden Palace mà Công ty đang nắm giữ để phục vụ cho mục đích bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Việc dự trữ một lượng hàng tồn kho nhiều hơn đồng nghĩa với việc Công ty phải chịu nhiều chi phí bảo quản. Vì vậy Công ty cần có những dự báo chính xác nhất về nhu cầu của thị trường để dự trữ một lượng hàng tồn kho hợp lý.
Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn qua 3 năm phân tích đang giảm đi khá nhiều, tỷ trọng tài sản dài hạn cũng vì thế mà giảm đi. Việc giảm của tài sản dài hạn bị ảnh hưởng bởi các đơn vị cấu thành nên nó. Cụ thể như sau:
Tài sản cố định: Chi phí xây dựng dở dang chiếm hầu hết tỷ trọng trong tài sản cố định. Năm 2023, chi phí xây dựng dở dang là 271.795 triệu đồng nhưng đến năm 2025 thi giảm xuống còn 252.828 triệu đồng. Có thể thấy khoản chi phí dài hạn này giảm không nhiều. Nguyên nhân đến từ các công trình dở dang có thời gian thi công trên 1 năm đang bị đóng băng nhiều. Tài sản cố định hữu hình hầu như chiếm toàn bộ phần còn lại tỷ trọng trong tài sản cố định. Nguyên giá tài sản định hữu hình năm 2024 là 4.952 đồng, giảm 1.547 triệu đồng, tương ứng giảm 23,80% so với năm 2023. Năm 2025 nguyên giá tài sản cố định hữu hình tăng mạnh lên mức là 29.163 triệu đồng, tăng 24.211 triệu đồng, tương ứng tăng 488,91% so với năm 2024. Tài sản cố định hữu hình tăng do một số hàng mục đầu tư xâu dựng cơ bản đã được hoàn thành, Công ty có mua thêm một số thiết bị dụng cụ quản lý. Tuy nhiên, theo những thông tin thu thập được trong năm 2025, do Công ty làm ăn thua lỗ lớn nên đã đem giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình đem thế chấp, cầm cố để đảm bảo các khoản vay.
Bất động sản đầu tư: Bất động sản đầu tư qua 3 năm phân tích đang có xu hướng tăng nhưng không đều. Năm 2024 bất động sản đầu tư đạt 5.654 triệu đồng giảm nhẹ mức 4,01% so với năm 2023. Nhưng đến năm 2025 tăng lên đến 8.296 triệu đồng, tăng so với năm 2024 là 2.502 triệu đồng tương ứng tăng 42,34%. Việc tăng này được giải thích vì trong năm 2025, Công ty có mua thêm một căn nhà tại số 38A Lê Lợi đã làm cho bất động sản đầu tư trong năm 2025 tăng lên.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Năm 2023, thị trường bất động sản lên cao, Công ty đã đầu tư góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu, góp vốn đầu tư vào nhiều công ty khác, góp vốn đầu tư vào nhiều dự án nhằm thu lời từ các dự án này. Tuy nhiên sang đến năm 2024 và 2025, thị trường bất động sản đi xuống, cung nhiều hơn cầu, các dự án không bán được căn hộ, các công ty xây dựng, bất động sản cũng bị thua lỗ, bán tháo nhiều công trình để bù lỗ. Để tránh thất thoát tiền, Công ty CP Dầu khí Đông Đô đã rút vốn đầu tư tại nhiều công ty, nhiều hạng mục dự án để tránh bị mất vốn nếu như các công ty đó phá sản. Chính vì lẽ đó mà từ năm 2023 đến năm 2025, các khoản đầu tư tài chính dài hạn tại Công ty đã giảm đáng kể. Năm 2025 chỉ còn 213.882 triệu đồng trong khi năm 2023 vẫn đang ở con số là 332.535 triệu đồng.
Phân tích tổng nguồn vốn
- Bảng 2.3. Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong 03 năm
- Biểu đồ 2.2. Tổng nguồn vốn của công ty Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Nợ phải trả: Qua biểu đồ trên ta có thể thấy tỷ trọng nợ phải trả qua 3 năm đang tăng dần lên. Cụ thể:
Vay và nợ ngắn hạn: Có thể thấy vay và nợ ngắn hạn của Công ty đang tăng lên. Nguyên nhân là do năm 2024 và 2025, Công ty bị lỗ ròng – chi phí trả lãi tăng cao khiến Công ty phải đi vay ngắn hạn với lãi cao để thanh toán các khoản nợ. Lợi nhuận bị âm, trong khi một số Công trình vẫn cần vốn để tiếp tục thi công đã khiến cho Công ty tìm đến các khoản vay nóng, vay thế chấp. Điều này đã khiến cho chi phí lãi vay trong năm 2024 và 2025 tăng lên rất cao. Cụ thể năm 2023, khoản vay và nợ ngắn hạn là 75.600 triệu đồng, năm 2024 là 77.981 triệu đồng và năm 2025 tiếp tục tăng lên là 79.098 triệu đồng. Khoản vay và nợ ngắn hạn tăng lên đi kèm với gánh nặng nợ ngắn hạn cũng tăng theo.
Phải trả người bán: Năm 2024 là 8.518 triệu đồng, tăng 254 triệu đồng, tương ứng tăng 3,07% so với năm 2023. Đối với năm 2025 là 11.998 triệu đồng, tăng 3.480 triệu đồng, tương ứng tăng 40,85% so với năm 2024. Phải trả người bán liên tục tăng qua các năm do tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ngày một kém đi, các công trình bị đóng băng do thiếu vốn, doanh thu giảm, bị lỗ ròng khiến, trong khi một số dự án đang thực hiện vẫn cần phải tiếp tục thi công đòi hỏi cần một lượng nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình xây dựng các công trình. Mặc dù tình hình kinh doanh đang hết sức khó khăn, nhưng dựa vào uy tín cũng như sự hậu thuẫn giúp đỡ từ công ty mẹ đã giúp Công ty tìm được các bạn hàng sẵn sàng cho nợ tiền nguyên vật liệu hàng hóa. Có thể thấy thông qua BCĐKT khoản phải trả người bán ở mức cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả, điều này cho thấy Công ty đã tạo dựng được một uy tín nhất định về khả năng thanh toán với các người bán. Tuy nhiên phải trả người bán liên tục tăng và có giá trị lớn sẽ ít nhiều khiến Công ty chịu gánh nặng phải trả nợ, và nếu nợ quá lâu người bán có thể sẽ khiến Công ty không đặt hàng đươc những hàng hóa và nguyên vật liệu tốt nhất.
Người mua trả tiền trước: Khoản người mua trả tiền trước tròng năm 2023 và 2024 không có sự chênh lệch nhiều. Duy chỉ có năm 2025 đã đột ngột tăng thêm 2.287 triệu đồng, tăng 385,67% so với năm 2024. Nguyên nhân là do trong năm 2025, Công ty có thực hiện bán tháo, giảm giá một số căn hộ, một số khách hàng đã đặt tiền trước để mua nhưng các căn hộ này chưa bàn giao đến tay khách hàng vì thế khoản tiền này trở thành khoản chiếm dụng của Công ty đối với khách hàng.
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: Mặc dù kinh doanh thu lỗ nhưng theo những gì có trong bảng CĐKT thì hàng năm Công ty vẫn thực hiện đều đặn nghĩa vụ trả các khoản thuế và các khoản phải nộp Nhà nước. Năm 2023, khoản mục này ở mức 1.795 triệu đồng nhưng đến năm 2025 thì chỉ còn 974 triệu đồng. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Phải trả người lao động: Mặc dù công ty phải đi vay để sản xuất kinh doanh nhưng cũng không chiếm dụng quá nhiều tiền từ người lao động, luôn cố gắng chi trả lương hết sức có thể. Đây là một chính sách riêng của công ty. Luôn trả lương đầy đủ và đúng hạn cho người lao động sẽ giúp họ an tâm hơn trong lao động và cống hiến hết mình cho công ty.
Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác: Là một Công ty Cổ phần vì vậy hàng năm Công ty vẫn phải thanh toán cổ tức phải trả cho các cổ đông, kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội,…. Năm 2024, khoản mục này ở mức 63.961 triệu đồng nhưng đến năm 2024 thì tăng lên 92.324 triệu đồng chủ yếu là do Công ty phải chi trả cổ tức nhiều hơn. Năm 2025 thì khoản mục này giảm xuống còn 86.088 triệu đồng.
Vay và nợ dài hạn: Năm 2023, Công ty có vay một khoản tiền trị giá 6.744 triệu đồng từ Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam để đầu tư tại dự án Tòa nhà hỗn hợp tại Hải Phòng, khoản vay được đảm bảo bằng quyền sử dụng đất hình thành từ vốn vay. Sang năm 2024, Công ty tiếp tục vay thêm tại Tổng Công ty Cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam, ngoài ra Công ty còn đi vay thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Mỹ Đình. Chính điều này đã làm cho vay và nợ dài hạn năm 2024 tăng lên mức 9.661 triệu đồng so với năm 2023 (tăng 43,25%).
Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốn vay. Khoản mục này hàng đang giảm dần. Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2024 và 2025 Công ty làm ăn thua lỗ, trong khi vẫn phải trả cổ tức, trả lương và các khoản chi phí hoạt động. Chính vì vậy Công ty đã lấy khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tiến hành chi trả, tuy nhiên chi phí phải trả lạ vượt quá quỹ lợi nhuận để lại đã khiến cho khoản mục này bị giảm và âm kéo theo vốn chủ sở hữu giảm xuống.
- Phân tích khả năng thanh toán của Công ty CP Dầu khí Đông Đô
Khả năng thanh toán nhanh
- Bảng 2.4. Khả năng thanh toán tức thời
- Biểu đồ 2.3. Hệ số thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh: Là chỉ tiêu đánh giá được khả năng thanh toán của Công ty một cách chặt chẽ hơn. Năm 2024 khả năng thanh toán nhanh là 0,58 lần, giảm 0,05 lần so với năm 2023, đến năm 2025 chỉ số này lại tiếp tục giảm. Cụ thể năm 2025 là 0,52 lần, giảm 0,06 lần so với năm 2024. Khả năng thanh toán nhanh của những năm gần đây đều nhỏ hơn 1. Điều này cho thấy 1 đồng nợ ngắn hạn của Công ty được đảm bảo bởi ít hơn 1 đồng tài sản có tính thanh khoản cao. Nguyên nhân chủ yếu đều xuất phát từ hàng tồn kho quá cao đã khiến cho khả năng thanh toán của công ty giảm xuống. Việc dự trữ quá nhiều hàng tồn kho không những không đảm bảo khả năng thanh toán những lúc cấp bách mà lại còn phát sinh chi phí quản lý kho của Công ty. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Khả năng thanh toán tức thời
- Bảng 2.5. Khả năng thanh toán tức thời
- Biểu đồ 2.4. Hệ số thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời: Năm 2024 chỉ tiêu này là 0,004 lần, giảm 0,04 lần so với năm 2023. Đối với năm 2025 là 0,002 lần; giảm 0,002 lần so với năm 2024. Chỉ tiêu này trong năm 2025 giảm do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn luôn luôn tăng, trong khi tiền và các khoản tương đương tiền lại giảm mạnh. Khác với khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh, chỉ tiêu khả năng thanh toán tức trong những năm gần đây đều nhỏ hơn 1 rất nhiều. Tiền và các khoản tương đương tiền có giảm nhưng nhờ những khoản tiền khách hàng ứng trước, khoản chiếm dụng của người bán cho nên mặc dù khả năng thanh toán tức thời nhỏ hơn 1 nhưng vẫn có thể đáp ứng được hầu hết các khoản thanh toán tức thời.
- Phân tích khả năng quản lý tài sản
Khả năng luân chuyển hàng tồn kho
- Bảng 2.6. Chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho
- Biểu đồ 2.5. Thời gian quay vòng hàng tồn kho trung bình
Khả năng luân chuyển hàng tồn kho đuợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
Xem xét khả năng luân chuyển hàng tồn kho thông qua số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho thì ta thấy rằng khả năng luân chuyển hàng tồn kho của công ty khá thấp, ba năm trở lại đây khả năng luân chuyển hàng tồn kho lại có xu hướng giảm rất nhanh. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Năm 2023 thì Công ty có trung bình 139,65 lần xuất hàng, chu kỳ xuất hàng là 2,58 ngày. Năm 2023, Công ty kinh doanh rất tốt do thị trường Bất động sản vẫn còn khá nhộn nhịp, các công trình xây dựng được thực hiện hoàn tất, thu hồi vốn nhanh, kinh doanh bất động sản đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên đến năm 2024, 2025 thì tình hình đã thay đổi chóng mặt khi thị trường Bất động sản đổ vỡ, hàng loạt các dự án bị đóng băng, các bất động sản đầu tư không bán được, bị ứ đọng lớn đã khiến cho vòng quay hàng tồn kho năm 2024 chỉ còn 1,00 vòng, năm 2025 còn xuống đến 0,25 vòng trong 1 năm. Năm 2025 đạt mốc kỉ lục khi phải mất 1.416,56 ngày hàng tồn kho mới quay hết 1 vòng. Năm 2025 vòng quay hàng tồn kho giảm mạnh do tốc độ tăng của hàng tồn kho lớn (tăng 1.373,5% so với năm 2024) trong khi giá vốn hàng chỉ tăng thêm 275,7% so với năm 2024. Trong năm 2025, Công ty chưa đủ 1 lần xuất hàng. Vòng quay hàng tồn kho giảm hay nói cách khác là thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng là do tốc độ tăng của hàng tồn kho cao hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
- Bảng 2.7. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản
- Biểu đồ 2.6. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Nhìn vào biểu đồ trên có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có xu hướng giảm mạnh nhưng không đều. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản cũng đang có chiều hướng biến động theo chiều hướng giảm qua các năm, nhưng gần đây nhất là năm 2024 thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản lại giảm mạnh, điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:
Năm 2023-2024: Năm 2024, hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 0,003 lần, giảm 0,492 lần so với năm 2023. Ở đây có thể hiểu rằng trong năm 2024 một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 0,003 đồng doanh thu thuần. Chỉ số này giảm vào năm 2024 do tốc độ giảm mạnh của doanh thu thuần đạt 99,40% trong khi tổng tài sản chỉ giảm nhẹ 0,84%. Chỉ số này tăng cho thấy năm 2024 Công ty đã sử dụng kém hiệu quả lợi ích mà tài sản đem lại để tạo ra doanh thu.
Năm 2024-2025: Sau 1 năm hiệu suất sử dụng tài sản giảm thì tính đến cùng kì năm 2025 lại tăng nhẹ lên mức 0,011 lần. Việc giảm đầu tư vào tài sản cũng như tích cực hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm vực lại tình hình kinh doanh thua lỗ vào năm 2024. Trong năm 2025 Công ty có thực hiện bán giảm giá nhiều dự án, căn hộ nhằm thu tiền về trả khoản chi phí lãi vay đang cao ngất ngưởng đe dọa đến sự tồn tại của Công ty. Doanh thu thuần trong năm 2025 có tăng lên thêm 226,92%. Tác động tổng hợp này đã làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng nhẹ lên mức 0,011 lần (tăng 0,008 lần so với năm 2024)
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
- Bảng 2.8. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Nhìn chung, hiệu suất sử dụng của tài sản cố định của công ty trong 3 năm qua luôn giảm mạnh. Năm 2023 là năm Công ty có hiệu suất sử dụng tài sản cố định là cao nhất với 54,45 lần, tức là lúc này với 1 đồng tài sản cố định tạo ra 54,24 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên đến năm 2024, mọi sự đã thay đổi khi chỉ số này đột ngột giảm xuống còn 0,43 lần (giảm 53,81 lần so với năm 2023), lúc này một đồng tài sản cố định tạo chỉ tạo ra 0,43 đồng doanh thu thuần. Năm 2024 doanh thu thuần giảm từ 353.847 triệu đồng xuống còn 2.140 triệu đồng (giảm 99,40%), tài sản cố định trong năm 2024 cũng có xu hướng giảm nhưng tốc độ giảm thấp hơn doanh thu thuần khi giảm 45,88% nên sức sản xuất của tài sản cố định giảm mạnh so với năm 2023. Sang năm 2025, sức sản xuất của tài sản cố định cũng vẫn tiếp tục giảm so với năm trước và chỉ còn 0,24 lần, một đồng vốn đầu tư vào tài sản cố định tại Công ty chỉ còn đem lại 0,24 đồng doanh thu thuần.
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
- Bảng 2.9. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Qua bảng ta có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm từ năm 2023 đến 2025 nhưng không đều giữa các năm. Cụ thể:
Năm 2023 – 2024: Năm 2024, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn đạt 0,02 lần, thấp hơn so với năm 2023 là 3,45 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh Công ty chỉ thu được 0,02 đồng doanh thu thuần vào năm 2024, thay vì thu được 3,45 đồng doanh thu thuần vào năm 2023.
Năm 2024 – 2025: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn trong thời gian này có tăng nhẹ mức 0,05 lần tức là một đồng tài sản ngắn bỏ ra thu được 0,05 đồng doanh thu thuần. Hơn nữa, trong 02 năm này, khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm một phần rất lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn và các tài sản ngắn hạn này đang ngày càng gia tăng khiến cho nguồn vốn từ tài sản này bị ứ đọng, không đạt hiệu suất cao nhất khi sử dụng. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
- Khả năng quản lý nợ
Hệ số nợ trên tổng tài sản
- Bảng 2.10. Chỉ tiêu hệ số nợ trên tổng tài sản
- Biểu đồ 2.7. Hệ số nợ trên tổng tài sản
Hệ số này cho biết trong 1 đồng tài sản của Công ty thì bao nhiêu đồng được huy động từ nợ. Năm 2024 hệ số này là 0,29 lần, năm 2025 là 0,34 lần. Năm 2024 hệ số này tăng 0,06 lần so với năm 2023 do tốc độ tăng của tổng tài sản thấp hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn, đối với năm gần đây nhất là 2025 thì hệ số này là 0,34 lần, tăng 0,05 lần so với năm 2024. Hệ số nợ trong những năm gần đây đều tăng lên phản ánh Công ty sử dụng vốn kinh doanh từ nợ phải trả nhiều hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này khiến Công ty chịu nhiều gánh nặng trả lãi từ các khoản nợ phải trả. Công ty không những phải chịu quá nhiều gánh nặng vì lãi suất vay ngân hàng và các tổ chức tài chính mà còn phải chịu gánh nặng từ phía người bán và người mua trong việc đáp ứng đúng tiến độ công trình hay giao hàng cho người mua cũng như trả tiền đúng hạn cho người bán. Mặc dù Công ty đã tận dụng đòn bẩy tài chính vào hoạt động kinh doanh của mình song hiệu quả đem lại không như mong đợi, nợ phải trả vẫn tiếp tục tăng dần lên, trong khi Công ty vẫn tiếp tục phải bán tài sản để lấy tiền trả nợ vay.
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
- Bảng 2.11. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy từ năm 2023 đến năm 2025 thì hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu liên tục tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ. Cụ thể năm 2023 hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 0,30 lần, đến năm 2024 là 3,42 lần (tăng 0,12 lần) và đến năm 2025 thì tiếp tục tăng lên mức 0,52 lần. Điều này sẽ tăng độ rủi ro và gánh nặng cho doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên điều nào cũng có hai mặt của nó, Công ty đi vay nợ hoặc chiếm dụng vốn nhiều cũng chứng tỏ được doanh nghiệp đã biết vận dụng cách vay nợ để kinh doanh và khai thắc lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
- Phân tích khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
- Bảng 2.12. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu
- Biểu đồ 2.8. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thu về sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2022 tỉ suất sinh lời trên doanh thu thuần là 8,4% (có nghĩa là 100 đồng doanh thu thuần thu về sẽ mang lại 8,4 đồng lợi nhuận sau thuế). Sang đến năm 2024, Công ty có dấu hiệu làm ăn thua lỗ, lợi nhuận sau thuế bị lỗ ròng khiến cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu năm 2024 là (1.154,71)%, giảm 1.163,11% so với năm 2023. Năm 2025, ROS có tăng lên những vẫn còn rất thấp với (1.084,18)%, lúc này với 100 đồng doanh thu thuần Công ty bị lỗ ròng tới 1.084,18 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân đến từ khoản chi phí tài chính lên tới 17.522 triệu đồng vào năm 2024 và 71.314 triệu đồng vào năm 2025. Mặc dù năm 2025 doanh thu thuần có tăng lên những giá vốn hàng bán lại vượt quá doanh thù thuần khiến Công ty bị lỗ gộp 1.293 triệu đồng. Khoản chi phí tài chính tăng cao chủ yếu là do lỗ thanh lý các khoản đầu tư ngắn hạn và dài hạn là nguyên nhân khiến Công ty phải chịu mức lỗ ròng lên tới 75.849 triệu đồng vào năm 2025. Đây được coi là mức lỗ khủng nhất từ trước đến nay của Công ty.
- Bảng 2.13. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
- Biểu đồ 2.9. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng được đầu tư cho tài sản sẽ thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2022, ROA đạt 4,16%, tức là lúc này 100 đồng được đầu tư cho tài sản công thu thu về được 4,16 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2024 tỷ suất sinh lời trên tài sản là (3,49)% (có nghĩa là 100 đồng vốn được đầu tư cho tài sản Công ty bị lỗ 3,49 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 7,65% so với năm 2023, lý do giảm vì tốc độ giảm của tổng tài sản thấp hơn tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế, điều này cho thấy năm 2024 Công ty đã không sử dụng tài sản tốt bằng năm 2023. Cụ thể năm 2024 tổng tài sản giảm 6.017 triệu đồng, tương ứng giảm 0,84% so với năm 2023, trong khi đó lợi nhuận sau thuế năm 2024 giảm 54.431 triệu đồng đồng, tương ứng giảm 183,15% so với năm 2023. Chỉ số này trong năm 2024 tiếp tục có dấu hiệu đi xuống, năm 2025 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là (11,85)% (có nghĩa là 100 đồng vốn được đầu tư cho tài sản Công ty bị lỗ 11,8 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 8,31% so với năm 2024. Tỉ số này giảm do năm 2025 tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế giảm mạnh hơn cả năm 2024, thấp nhất trong 3 năm phân tích, trong khi đó tài sản vẫn giảm nhưng chậm hơn. Cụ thể lợi nhuận sau thuế năm 2025 giảm 51.138 triệu đồng, tương ứng giảm thêm 206,94% so với năm 2024, trong khi đó tổng tài sản giảm 9,31% so với năm 2024. Điều này cho thấy trong năm 2025 Công ty đã quản lý và sử dụng tài sản kém hơn so với năm 2024.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- Bảng 2.14. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- Biểu đồ 2.10. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu ROE từ năm 2023 đến năm 2025 đều giảm, năm sau giảm mạnh hơn năm trước. Năm 2023 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 5,4% (có nghĩa là 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại 5,4 đồng lợi nhuận sau thuế). Năm 2024 thì tỷ suất này giảm xuống còn (4,95)%, giảm 10,35% so với năm 2023 (tức là trong năm 2024, với 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra Công ty bị lỗ ròng 4,95 đồng lợi nhuận sau thuế), lý do giảm vì tốc độ giảm của vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế, điều này cho thấy năm 2024 Công ty đã không sử dụng vốn chủ sở hữu tốt hơn năm 2023, hay có thể nói năm 2024 Vốn chủ sở hữu đã không đem lại hiệu quả gì cho Công ty. Năm 2025 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tiếp tục giảm xuống thấp hơn so với năm 2024, năm 2025 tỷ suất này là (17,9)% (có nghĩa là 100 đồng vốn được đầu tư cho tài sản bị lỗ ròng 17,9 đồng lợi nhuận sau thuế), giảm 12,95% so với năm 2024. Có thể nói rằng trong các năm Công ty đã sử dụng vốn chủ sở hữu của mình một cách kém hiệu quả và năm 2025 Công ty đã sử dụng vốn chủ sở hữu kém nhất trong tất cả các năm.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ
2.3.1. Những kết quả đạt được
Từ thực trạng phân tích tài chính của Công ty CP Dầu khí Đông Đô trong thời gian qua, ta có thể đánh giá các kết quả đạt được của công ty như sau:
Về mặt thời gian: hoàn thành phân tích, công ty đã thực hiện công việc phân tích với thời gian khá nhanh, do đó đã đáp ứng được yêu cầu của ban Giám đốc trong việc ban hành các quyết định quản lý và điều hành các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, kế toán Tài chính…. Việc phân tích tài chính được thực hiện theo định kỳ hàng năm.
Về công tác tổ chức bộ máy phân tích tài chính: Dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng, bộ máy tổ chức công tác phân tích tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô hoạt động khá linh hoạt. Trong tổ chức công tác phân tích đã có sự phân công tách biệt giữa kế toán tổng hợp và các nhân viên thực hiện công tác phân tích tài chính. Do hiểu rõ trình độ chuyên môn của các nhân viên trong phòng Tài chính – Kế toán nên kế toán trưởng đã phân công các giai đoạn trong quá trình phân tích cho từng người rất hợp lý. Điều đó đã góp phần làm cho công tác phân tích tài chính tại Công ty đạt hiệu quả cao hơn. Mặt khác những cán bộ nhân viên trong phòng kế toán là những người trực tiếp thu thập và xử lý các thông tin kế toán nên trong quá trình phân tích tài chính họ nắm bắt rõ được bản chất của vấn đề, điều đó rất thuận lợi cho việc phân tích tài chính tại Công ty.
Thông tin sử dụng trong công tác phân tích: Nhìn chung những thông tin được sử dụng trong quá trình phân tích tài chính tại Công ty CP Dầu khí Đông Đô là hoàn toàn chính xác. Những thông tin này chủ yếu trong nội bộ doanh nghiệp, đó là những bảng báo cáo tài chính mà chính nhân viên phòng Tài chính – Kế toán đã lập Chính từ nguồn thông tin chính xác kịp thời này mà công tác phân tích tài chính tại Công ty có rất nhiều thuận lợi. Kết quả phân tích được là hoàn toàn đáng tin cậy.
Về mặt nội dung hay kết quả phân tích: Báo cáo phân tích tài chính của công ty nhìn chung đã đề cập đến một cách khá toàn diện tình hình tài chính của công ty. Thông tin sử dụng trong phân tích mặc dù chưa đầy đủ nhưng đều đã được kiểm toán để đảm bảo độ chính xác.
Phương pháp phân tích chủ yếu mà Công ty CP Dầu khí Đông Đô sử dụng là hai phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số. Hai phương pháp này đã phát huy được hiệu quả bởi nó khác đơn giản, dễ áp dụng, giúp nhà phân tích tiết kiệm được thời gian, chi phí và mang lại hiệu quả nhất định.
Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của công ty như doanh thu, chi phí, lợi nhuận,… đều được phân tích cụ thể, đã phản ánh được phần nào tình hình tài chính của công ty trên các mặt cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
- Hạn chế
Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Công ty đã bộc lộ những hạn chế vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan.
Về tổ chức công tác phân tích: Hoạt động phân tích tài chính của Công ty chỉ được được tiến hành sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin cần thiết. Như vậy, thời điểm để bắt đầu các phân tích phụ thuộc lớn vào thời điểm hoàn tất quyết toán của doanh nghiệp. Nhưng thực tế cho thấy, các Báo cáo tài chính đến cuối quý I, thậm chí sang quý II mới hoàn tất, trong khi mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là từ thực trạng hoạt động kinh doanh, đưa ra các kế hoạch chiến lược trong tương lai. Cho nên kết quả hoạt động phân tích sẽ bị giảm ý nghĩa thực tiễn, những chiến lược xây dựng có thể sẽ không theo kịp những biến đổi của môi trường kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Về thông tin sử dụng trong phân tích: Công ty có cơ chế quản lý hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán chặt chẽ, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà nước, của Bộ chủ quản về quy chế quản lý tài chính, kế toán và biểu mẫu. Song thông tin được sử dụng trong công tác phân tích tài chính tại Công ty vẫn còn nhiều hạn chế, sai lệch về mặt chất lượng và số lượng cung cấp.
Thứ nhất, công tác phân tích tài chính tại Công ty bị hạn chế do sử dụng thông tin không đầy đủ: Với 03 Báo cáo tài chính trong đó không có những thông tin khác liên quan đến Công ty như thông tin về tình hình kinh tế trong và ngoài nước, hệ thống pháp lý, chỉ tiêu chung của ngành… chưa được cập nhật và đưa vào sử dụng.
Thứ hai, các Báo cáo tài chính được lập theo ý muốn chủ quan của người lập nên số liệu cũng chưa chắc đã hoàn toàn phản ánh thực tế một cách chính xác trung thực. Do đó ít nhiều có ảnh hưởng đến kết quả phân tích.
Về phương pháp phân tích: Hiện nay trong công tác phân tích tài chính, công ty mới chỉ sử dụng hai phương pháp truyền thống là: Phương pháp tỷ số và phương pháp so sánh. Tuy nhiên công ty chưa thực sự quan tâm sử dụng các phương pháp phân tích mới, hiện đại khác như: Phương pháp phân tích Dupont, phương pháp phân tích độ co giãn, phương pháp phân tích kinh tế lượng,… Sự kết hợp giữa các phương pháp trên còn chưa đồng bộ và toàn diện để phát huy hết tác dụng của từng phương pháp trong công tác phân tích khiến kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, chưa hỗ trợ được nhiều trong việc ra quyết định.
Về nội dung phân tích: Nội dung phân tích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích; Nội dung càng cụ thể, đầy đủ, chi tiết thì chất lượng phân tích càng cao. Nội dung phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Dầu khí Đông Đô còn tồn tại một số hạn chế sau:
Công ty chưa đi sâu phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và chưa so sánh chúng với số liệu ngành, số liệu của các đối thủ cạnh tranh, vì vậy chưa thấy được mối liên hệ và tác động qua lại giữa các chỉ tiêu, dẫn đến quyết định kém chính xác. Đặc biệt, chỉ tiêu quản lý khoản phải thu – một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng quản lý tài sản của Công ty chưa được Công ty CP dầu khí Đông Đô quan tâm phân tích; Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
Khả năng thanh toán và vấn đề sống còn của công ty, nhưng việc phân tích nó chưa được thực hiện đầy đủ, do đó làm cản trở việc thu hút vốn của công ty đối với các nhà đầu tư, chủ nợ và ngân hàng, hơn thế nữa còn ảnh hưởng đến tính chính xác của kết luận tài chính là chưa đúng sát với tình hình thực tế. Công ty đã phân tích 2 chỉ số: khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời; còn lại chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn cần được Công ty CP dầu khí Đông Đô phân tích, làm rõ;
Vốn bằng tiền là một bộ phận tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, nó tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp. Qua phân tích tình hình sử dụng vốn bằng tiền, chúng ta có thể biết được chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Song, Công ty cổ phần dầu khí Đông Đô chưa đi vào phân tích chỉ tiêu này, thể hiện ở chỗ Công ty mới chỉ chú trọng vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bản cân đối kế toán mà chưa sử dụng bản báo cáo lưu chuyển tiền tệ vào việc phân tích tài chính.
Về xử lý kết quả sau phân tích: Sau khi có hoàn thiện xong kết quả của quá trình phân tích, trên cơ sở nhận diện những vẫn đề còn tồn đọng thông qua một số chỉ tiêu taì chính, Công ty đã có những hành động triển khai các biện pháp nhằm thay đổi các chỉ tiêu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên lại chưa chú trọng về tính trung thực của các kết quả, bỏ qua công tác kiểm tra, đánh giá lại tính trung thực và khách quan của kể quả phân tích để từ đó đưa ra biện pháp cải thiện công tác phân tích, tính toán.
Nguyên nhân
- a. Nguyên nhân chủ quan
Do Ban giám đốc Công ty chưa nhận thức được tầm quan trọng và tác dụng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp. Chính vì vậy, mà công tác này chưa có được sự chú trọng đầu tư thích đáng.
Các phương pháp phân tích tài chính được Công ty sử dụng còn quá sơ sài mới chỉ dừng lại ở phương pháp phân tích tỷ số, phương pháp so sánh và phương pháp Dupont nhưng còn chưa vận dụng một cách chính xác.
Công ty vẫn chưa áp dụng một phần mềm phân tích tài chính chuyên dụng nào, công tác phân tích chủ yếu được tính toán bằng thủ công do vậy hiệu quả đạt được là không cao.
- b. Nguyên nhân khách quan
Hệ thống pháp lý chưa đầy đủ, phù hợp: Hệ thống pháp lý của chúng ta vẫn chưa phù hợp với cơ chế mới, lại thường xuyên sửa đổi,… điều đó đã làm cho công tác phân tích gặp nhiều khó khăn do không lường trước được sự thay đổi.
Tình hình kinh tế xã hội chưa phát triển: Thị trường tiền tệ và thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển nên công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp nói chúng là chưa được quan tâm đúng mức. Khi các thị trường này được xây dựng và phát triển, thì các nhà đầu tư mới có cơ hội đầu tư vào các doanh nghiệp và do đó họ cần phải biết tình hình tài chính của doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư. Khi đó các doanh nghiệp phải công khai hoá các Báo cáo tài chính và có các Công ty kiểm toán thực hiện việc thẩm định lại các báo cáo này, nhờ vậy công tác phân tích tài chính sẽ có hiệu quả hơn. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp phân tích tài chính tại Công ty dầu khí

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty dầu khí […]