Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn tại DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

2.1 Đặc điểm kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

  • Tên doanh nghiệp : Doanh nghiệp tư nhân xây dựng và dịch vụ Mạnh Cường
  • Trụ sở chính : Số 189, đường Đinh Tiên Hoàng, phố 9, Thành phố Ninh Bình, Tỉnh Ninh Bình.
  • Loại hình : Doanh nghiệp tư nhân

Chính sách mở cửa và sự hội nhập sâu rộng đã khiến cho diện mạo nền kinh tế nước ta thay đổi lớn trong những năm gần đây: tốc độ tăng trưởng luôn được giữ ở mức cao và ổn định, tổng sản phẩm quốc nội có xu hướng tăng, vị thế đất nước trong khu vực cũng như trên thế giới được nâng cao. Sự thay đổi ấy đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của ngành và nhu cầu của thị trường, ngày 10/12/2018 Doanh nghiệp ABC được thành lậ DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường được phòng Kinh doanh của Sở kế hoạch và Đầu tư Ninh Bình cấp giấy phép kinh doanh số 2700514639 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.Hà Nội cấp năm 2021.

Với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị là làm công tác đầu tư – xây dựng, DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường luôn coi trọng thị trường và không ngừng mở rộng ngành nghề hoạt động như: xây dựng nhà các loại, các công trình kỹ thuật dân dụng; xây dựng và sửa chữa các công trình cầu tàu, bến cảng, các công trình biển, thông tin liên lạc, đường dây và trạm biến áp 110KV; thi công đường cáp quang, san lấp mặt bằng; khảo sát thiết kế và tư vấn xây dựng, trang trí nội- ngoại thất; khảo sát, dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ; khai thác đá và các loại vật liệu xây dựng; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; vận tải đường bộ; duy tu, tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp các công trình bảo tồn, bảo tàng và di tích lịch sử văn hóa,…

Với phương châm hoạt động như trên, DN bước đảng thời gian hoạt động mới 5 năm nhưng DN vững bước phát triển nhất đị

Trong thời gian hoạt động 5 năm vừa qua, DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường công trình dân dụng và giao thông. Trong thời gian sắp tới, DN sẽ tiến hành bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh và vốn điều lệ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển DN thành một DN đa ngành nghề, phát triển vững mạnh, đem lại ngày càng nhiều lợi ích cho xã hội, bản thân doanh nghiệp và người lao động.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ từng phòng ban Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường

  • Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban

Giám đốc: Là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ mọi hoạt động của doanh nghiệp, điều hành, quản lý, xử lý các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, ngoài ra giám đốc cũng là người trực tiếp đi giao dịch các hợp đồng mua bán hàng hoá của doanh nghiệp.

Phó giám đốc: Nhận thông tin từ cấp dưới và có trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Giám đốc.

Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho ban Giám đốc và tổ chức thực hiện công tác tổ chức quản trị nhân sự, và các công tác hành chính của doanh nghiệp. Hoạch định, tuyển dụng và sử dụng nhân lực hiệu quả. Đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ cho người lao động.

Phòng tài chính kế toán: Tham mưu cho ban Giám đốc công ty trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán của toàn doanh nghiệp. Thực hiện và hướng dẫn các bộ phận của doanh nghiệp thực hiện các công tác tài chính kế toán theo đúng quy định của luật kế toán. Lập kế hoạch tài chính và dự toán thu chi tiền mặt theo kế hoạch tháng, quý, năm, quản lý theo dõi tài sản của của doanh nghiệp. Kiểm tra đôn đốc thu chi công nợ, thực hiện nộp ngân sách và các nghĩa vụ đối với nhà nước. Cuối quý, năm tiến hành quyết toán kịp thời, chính xác, lập báo cáo tài chính theo quy định của nhà nước.

Phòng kỹ thuật: tham mưu cho ban Giám đốc doanh nghiệp trong lĩnh vực: quản lý kỹ thuật thi công, quản lý dự án đầu tư, đấu thầu các công trình xây dựng, quản lý sử dụng các thiết bị đo lường. Nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để phục vụ hoạt động kinh doanh, quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Đảm bảo quá trình vận hành, cung cấp dịch vụ cho khách hàng được thuận tiện, bảo đảm an toàn, ổn định. Bảo trì, sửa chữa các máy móc, thiết bị trong doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Phòng quản lý dự án: Tham mưu cho Ban Giám đốc doanh nghiệp trong việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp theo đúng quy định, đồng thời giúp Ban Tổng Giám đốc doanh nghiệp thực hiện hoặc tổ chức thực hiện các công việc quản lý dự án.

Đội thi công số 1: mỗi đội gồm đội trưởng, kỹ thuật, thủ kho, bảo vệ và các tổ sản xuất. Tham gia thi công công trình, phối hợp với các phòng chức năng để tổ chức lao động, vật tư thiết bị, vốn và kế hoạch thi công. Đội có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu thống kê và kế toán báo cáo theo định kỳ làm cơ sở điều chỉnh các hoạt động của đội.

Qua mô hình tổ chức của doanh nghiệp, ta có thể thấy được cơ cấu bộ máy quản lý của doanh nghiệp có quan hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau. Với cơ cấu gần 300 cán bộ, nhân viên, kỹ sư, cử nhân đại học, cao đẳng các ngành nghề và trên 250 người có trình độ nghiệp vụ chuyên môn trung cấp kỹ thuật; 75% lực lượng lao động trực tiếp là công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề từ bậc 4 trở lên, doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất để đảm bảo chi phí là nhỏ nhất và lợi nhuận đạt được là lớn nhất, luôn đặt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu trong mọi lĩnh vực, chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có thể duy trì và tiến xa hơn, không chỉ thị trường trong nước mà cả ngoài nước.

2.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

Do lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp khá đa dạng và phong phú nên sau đây, tôi sẽ chỉ nói cụ thể quy trình xây dựng công trình đầu tư ở doanh nghiệp – hoạt động sản xuất kinh doanh chính của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường.

  • Sơ đồ 2.2. Quy trình sản xuất kinh doanh chung

Bước 1: Doanh nghiệp tham gia đấu thầu để nhận được công trình bằng cách nộp hồ sơ dự thầu đến chủ đầu tư của dự án. Bên cạnh hình thức đấu thầu để nhận công trình, doanh nghiệp còn tự mình tìm kiếm cơ hội, hoặc được Nhà nước chỉ định để thực hiện nhiều công trình, hạng mục quốc gia. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Bước 2: Sau khi nhận thầu, doanh nghiệp và bên chủ đầu tư sẽ cùng nhau thảo hợp đồng và ký kết hợp đồng để thống nhất các khoản mục và căn cứ vào hợp đồng để giải quyết tranh chấp sau này (nếu có xảy ra).

Bước 3: Khi cả hai bên đã ký kết hợp đồng, doanh nghiệp sẽ tổ chức họp và thành lập ra ban chỉ huy công trường cho công trình mới nhận. Ban chỉ huy công trường sẽ giám sát hoạt động thi công, sao cho công trình được thực hiện đúng quy định và đúng tiến độ. Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất với Ban lãnh đạo công trình về tiến trình thi công của công trình.

Bước 4: Nhóm kỹ sư tham gia thiết kế và thi công công trình sẽ lập các phương án tổ chức thi công và trình lên Ban lãnh đạo.

Bước 5: Để phương án thi công được chấp nhận, nhóm kỹ sư tham gia thiết kế phải bảo vệ thành công phương án. Đưa ra được những căn cứ và số liệu tính toán thi tiết, tỉ mỉ và khoa học. Trong phương án thi công phải chỉ ra được công tác chuẩn bị thi công, trình tự thi công, và các kết cấu của công trình, các biện pháp để giải phóng mặt bằng, bảo vệ môi trường xung quanh, việc sử dụng lao động như thế nào, thời gian thi công kéo dài bao lâu, chia thành các giai đoạn ra sao…

Bước 6: Mua vật tư, tổ chức công nhân và tiến hành tổ chức thi công theo kế hoạch và theo phương án đã được vạch sẵn, gồm 3 giai đoạn cơ bản:

  • Giai đoạn 1: Triển khai công tác thi công phần móng.
  • Giai đoạn 2: Triển khai công tác thi công phần thân.
  • Giai đoạn 3: Triển khai công tác thi công phần hoàn thiện.

Bước 7: Mỗi giai đoạn thi công đều có giám sát, kiểm tra và đánh giá. Đảm bảo công trình được thi công đúng với phương án được đề ra: đúng kỹ thuật, an toàn và chắc chắn. Sau khi hoàn thành các giai đoạn thi công, Ban quản lý tổ chức nghiệm thu khối lượng và chất lượng công trình. Có đạt và đúng với những gì đã cam kết trong hợp đồng giữa hai bên.

Bước 8: Thi công hoàn thành và đã được nghiệm thu, lập hồ sơ để quyết toán với chủ đầu tư. Nội dung quyết toán hợp đồng bao gồm: hồ sơ hoàn công đã được các bên xác nhận, các biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành, biên bản xác nhận khối lượng phát sinh, biên bản nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng, bản xác định giá trị quyết toán hợp đồng đã được các bên xác nhận, các tài liệu liên quan đính kèm.

Bước 9: Hoàn thành và bàn giao chủ đầu tư đưa công trình vào sử dụng.

Mỗi bước trong sơ đồ trên đều được các nhân viên trong doanh nghiệp thực hiện cẩn thận, tỉ mỉ, đảm bảo cho công trình hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong ngành.

2.2. Tình hình kết quả hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn 2021-2023 Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

2.2.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2023

  • Bảng 2.1. Bảng cân đối kế toán – Tài sản của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Từ bảng cân đối trên, ta thấy quy mô tài sản của doanh nghiệp có chiều hướng tăng lên rõ rệt, đặc biệt năm 2022 tăng khoảng 23.600 triệu đồng so với năm 2021 do doanh nghiệp nhận được 3 hợp đồng lớn, đó là đường tuần tra biên giới đồn 505 ở Bát Mọt Thanh Hóa, đường tuần tra biên giới đồn 419 ở Mường Pồn Điện Biên và đường D4/K2 ở Phú Thọ giai đoạn 2. Tuy nhiên đến năm 2023, tài sản công ty có tăng lên nhưng không còn rõ rệt như năm 2022 nữa, lúc này quy mô tài sản của doanh nghiệp chỉ tăng thêm khoảng 8.655 triệu đồng do chỉ có được các hợp đồng với giá trị nhỏ hơn trong năm 2023, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực khác cũng chưa đạt hiệu quả cao.

  • Bảng 2.2. Bảng tỷ trọng cơ cấu tài sản DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Từ bảng trên ta có biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.1. Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu tài sản DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Xét một cách tổng quát, có thể thấy trong cả 3 năm, cơ cấu giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp thay đổi rất ít. Nguồn vốn tăng lên nhưng tài sản ngắn hạn vẫn luôn chiếm phần lớn trong tổng tài sản, hay có thể nói gần như là tuyệt đối, vì doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xây dựng nên các dự án cần huy động nguồn vốn rất lớn. Sự sụt giảm của tiền và các khoản tương đương tiền (2 năm 2022 và 2023 giảm 0.86%) là do năm 2022 doanh nghiệp thực hiện ba hợp đồng lớn nên cần nguồn vốn rất lớn để đầu tư mà chưa thể thu hồi ngay vốn về được, các khoản phải thu cũng gia tăng rất lớn, đồng thời doanh nghiệp đã gia tăng hàng tồn kho đảm bảo cho khâu sản xuất luôn được hoạt động có hiệu quả.

Cụ thể hơn về tỷ trọng các nguồn tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp, tỷ trọng bình quân 3 năm được tính toán và thể hiện qua biểu đồ dưới đây. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.3. Bảng tỷ trọng cơ cấu tài sản ngắn hạn DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Từ bảng tỷ trọng ở trên ta có biểu diễn cơ cấu tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp Tư nhân Xây dựng Mạnh Cường qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.2. Cơ cấu tài sản ngắn hạn bình quân trong ba năm 2021 – 2023 của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường

Tiền và các khoản tương đương tiền luôn được doanh nghiệp duy trì ở mức thấp, chỉ chiếm khoảng hơn 2% so với tổng tài sản (2.09%). Chính sách này có ưu điểm là giúp cho nguồn lực của doanh nghiệp luôn được tận dụng tối đa có thể, không gây nên tình trạng dư thừa tiền lãng phí nhưng có thể khiến doanh nghiệp dẫn đến mất khả năng thanh toán, nhất là trong lĩnh vực xây dựng với tình hình giá cả luôn biến động như hiện nay, có thể dẫn đến những luồng tiền ra phát sinh mà doanh nghiệp chưa thể ứng phó kịp thời, việc huy động vốn từ nguồn vốn vay sẽ dẫn đến chi phí tài chính cho doanh nghiệp.

Theo số liệu bình quân, ta thấy hàng tồn kho là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản cụ thể luôn chiếm từ 82,83%. Thực tế này đặt ra câu hỏi về hiệu quả quản lý hàng lưu kho của doanh nghiệp. Là một doanh nghiệp xây dựng, hàng lưu kho của Mạnh Cường chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang mà không có nguyên vật liệu nhiều. Do đó việc làm thế nào để các công trình dở dang này sớm hoàn thiện được là câu hỏi lớn của các nhà quản trị doanh nghiệp.

Các khoản phải thu chiếm 10,98% trong cơ cấu tài sản ngắn hạn và tăng dần qua các năm. Sự tăng trưởng này cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng chính sách tín dụng nới lỏng, để cho khách hàng chiếm dụng vốn của mình khá lớn, ảnh hưởng đến khả năng quay vòng vốn, có thể dẫn đến rủi ro do không thu hồi được vốn.

Tài sản ngắn hạn khác luôn biến động qua các năm và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong doanh nghiệp (2,90%).

Về tài sản dài hạn cũng có sự gia tăng, đặc biệt là giai đoạn 2021 – 2022, khi doanh nghiệp nhận được các hợp đồng lớn. Để chuẩn bị cho những hoạt động này, doanh nghiệp đã đầu tư vốn vào tài sản dài hạn đặc biệt là tài sản cố định hữu hình như mua sắm trang thiết bị, vật tư để phục vụ cho sản xuất. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.4. Bảng nguồn vốn DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Về nguồn vốn, ta thấy nguồn vốn của doanh nghiệp tăng nhanh qua các năm, đặc biệt năm 2022. Năm 2022, doanh nghiệp nhận được nhiều hợp đồng hơn, do đó doanh nghiệp cũng nhận được người mua trả tiền trước đặt cọc gia tăng nhanh. Điều này giúp công ty thu hồi được vốn nhanh, mặt khác làm gia tăng các khoản nợ, từ đó tổng nguồn nợ tăng theo. Sau đây là tỷ trọng cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp:

  • Bảng 2.5. Bảng tỷ trọng cơ cấu nguồn vốn DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Theo cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp, ta thấy qua 3 năm cơ cấu giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu không thay đổi nhiều, các khoản nợ phải trả trung bình chiếm hơn 99% tổng nguồn vốn, còn lại 0,1% là vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn do là doanh nghiệp tư nhân. Trong cơ cấu nợ phải trả thì nợ ngắn hạn chiếm gần như tuyệt đối so với nợ dài hạn, điều này khá là hợp lý bởi như phân tích ở trên, công ty đầu tư chủ yếu là vào nhóm tài sản ngắn hạn nên cần được tài trợ từ nguồn nợ ngắn hạn. Cụ thể, ta có bảng tỷ trọng cơ cấu nợ ngắn hạn sau:

  • Bảng 2.6. Bảng tỷ trọng cơ cấu nợ ngắn hạn DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Vay và nợ ngắn hạn qua 3 năm đều chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu nợ ngắn hạn. Nếu như năm 2021 doanh nghiệp không có khoản vay và nợ ngắn hạn thì sang năm 2022 là 3,67% thì sang năm 2023 giảm chỉ còn 3,25%, mức thay đổi không đáng kể. Có thể nhận thấy DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường không chịu nhiều áp lực từ vốn vay bên ngoài, không chịu áp lực chi trả lãi.

Trong các khoản nợ ngắn hạn, quy mô các khoản mục thành phần có sự thay đổi nhiều nhất đó là người mua trả tiền trước và phải trả nội bộ, trong đó khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất đó là người mua trả tiền trước (trên 50%). Vì DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xây dựng, làm việc với công trình lớn nên rất cần sự hỗ trợ một phần vốn trước của bên đầu tư. Việc doanh nghiệp tận dụng các nguồn phải trả nội bộ (thông qua hình thức chậm trả lương, trả thưởng,…) giúp làm giảm chi phí nguồn vốn kinh doanh, tuy nhiên điều này cũng có thể khiến đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp cảm thấy không hài lòng với chế độ đãi ngộ dẫn đến chất lượng công việc không được hiệu quả như mong muốn.

Khoản phải trả cho người bán chiếm tỷ trọng rất thấp trong nguồn nợ ngắn hạn, chứng tỏ doanh nghiệp không quá chú trọng vào việc chiếm dụng vốn của nhà cung cấp, bỏ qua một kênh huy động vốn khá hiệu quả mà không tốn kém chi phí, nhưng doanh nghiệp giữ được uy tín lâu dài với nhà cung cấp, đảm bảo được các đầu vào cần thiết luôn luôn được cung ứng đầy đủ và kịp thời cho những công trình mà doanh nghiệp đang thi công.

Các khoản vay và nợ ngắn hạn, các khoản phải trả phải nộp khác cũng đều chiếm tỷ trọng rất thấp trong doanh nghiệp.

2.2.2. Kết quả động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2021-2023 Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Để có đánh giá chính xác về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường, ta đi xem xét báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là báo cáo phản ánh thu nhập, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp qua một thời kỳ nào đó, thường là một năm. Dưới đây là báo cáo kết quả HĐ Sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023.

  • Bảng 2.7. Báo cáo kết quả hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Nhìn chung, doanh thu của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đều tăng giai đoạn 2021- 2023, theo đó lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên một cách đáng kể.

Doanh thu của doanh nghiệp tăng dần qua các năm nhưng tăng mạnh vào năm 2023. Sở dĩ doanh thu năm 2023 tăng đột biến như vậy là do năm 2022, doanh nghiệp có ba hợp đồng lớn về thi công đường. Điều này cho thấy DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã được nhiều khách hàng tin tưởng hơn.

Ta có bảng chi phí của doanh nghiệp như sau:

  • Bảng 2.8. Bảng tỷ trọng chi phí của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Bên cạnh nguồn doanh thu mà doanh nghiệp đạt được, chi phí phải bỏ ra cũng không hề nhỏ, trong đó giá vốn hàng bán là loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh nghiệp, tổng chi phí tài chính và chi phí quản lý kinh doanh chiếm khoảng 10% chi phí của doanh nghiệp. Điều này cho thấy DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã sử dụng nguồn vốn lưu động rất lớn để có nguyên vật liệu đầu vào, đảm bảo hoàn thành các hợp đồng đã nhận. Năm 2022, giá vốn hàng bán tăng gần bằng với tốc độ tăng của doanh thu so với năm 2021 (tăng 21,21%). Đến năm 2023 giá vốn hàng bán( giá thành sản phẩm xây lắp) gia tăng nhanh một mặt do các hợp đồng gia tăng nhanh, mặt khác do tình hình giá cả vật liệu leo thang, chi phí nhân công trực tiếp gia tăng. Do đó, DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cần quản lý tốt hơn nữa giá vốn hàng bán của mình.

Chi phí tài chính giảm mạnh (51,81%) do năm 2021 doanh nghiệp đã chi trả rất nhiều cho hoạt động tài chính. Tuy nhiên đến năm 2023 chi phí tài chính của doanh nghiệp đã giảm về 0, do doanh nghiệp không phải chịu chi phí chi trả lãi vay, chiết khấu thanh toán… Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Năm 2021, doanh thu của doanh nghiệp đạt 17.183.717 nghìn đồng. Tuy nhiên, số doanh thu này của doanh nghiệp đạt được chỉ đủ để bù đắp các chi phí phải bỏ ra, dẫn đến lợi nhuận cuối kỳ bằng 0. Đến năm 2022, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng trở lại, lợi nhuận doanh nghiệp có được vào cuối năm là 97.500 nghìn đồng. Đó là một nỗ lực rất lớn của doanh nghiệp khi có được các hợp đồng, dự án đầu tư …

Các khoản chi khác, thu khác năm 2021 là bằng nhau là 105.486 đồng, do giá trị tài sản sản còn lại bằng với giá trị thanh lý. Sang đến năm 2022, 2023 thì DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường không có các khoản thu khác và chi khác.

Nhìn chung, có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường trong 3 năm là tương đối tốt, lợi nhuận đều có xu hướng tăng qua các năm. Với những lợi nhuận mà doanh nghiệp có được sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất, phát triển thị trường trong các năm tiếp theo.

2.2.3. Các chỉ tiêu tài chính tổng hợp

Dựa vào các báo cáo tài chính ở trên, ta có thể tính toán được các chỉ số tài chính, qua đó hiểu được rõ hơn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán: các chỉ tiêu này nhằm đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp thông qua khả năng trả nợ (khả năng thanh toán), cụ thể qua các chỉ tiêu sau đây:

  • Bảng 2.9. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn năm 2021 – 2023

Từ bảng chỉ tiêu trên, ta có một số nhận xét sau: Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Về khả năng thanh toán ngắn hạn: Khả năng thanh toán ngắn hạn của DN giai đoạn này chênh lệch không nhiều, dao động ở mức 0,97 đến 0,99 lần, có nghĩa là một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,97 đồng (năm 2022) hay 0,99 đồng (năm 2021) tài sản ngắn hạn. Như vậy, có thể nói khả năng thanh toán của DN vẫn chưa thực sự tốt trong giai đoạn này (vì các chỉ số đều nhỏ hơn 1). này phản ánh khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN không được đảm bảo, rủi ro tài chính và rủi ro thanh toán vẫn cao, chưa thực sự làm hài lòng các nhà quản lý.

Về khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán nhanh của DN năm 2022 là 0,17 lần, năm 2021 và năm 2023 là 0,15 lần, tức là một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,17 đồng (năm 2022) hay 0,15 đồng (năm 2021) tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao hay khả năng đáp ứng các khoản nợ của DN bằng tài sản mà không cần bán hàng tồn kho. Năm 2023, chỉ số này giảm trở lại với mức 0,15 lần. Khả năng thanh toán nhanh hiện nay của DN là không tốt vì đều nhỏ hơn 1. Nguyên nhân là do hàng tồn kho chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của DN nên vốn bị ứ đọng trong khâu dự trữ hàng lưu kho quá nhiều, làm giảm khả năng thanh toán nhanh của DN.

Về khả năng thanh toán tức thời: Khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp ngày một giảm sút, từ 0,04 lần năm 2021 xuống còn 0,01 lần năm 2023. Lượng tiền mặt giảm xuống nhanh khiến khả năng thanh toán tức thời giảm, điều này gây bất lợi cho doanh nghiệp khi thanh toán các khoản nợ đến hạn. Do vậy, DN cần xem xét lại việc quản trị dòng tiền sao cho hiệu quả, tránh để DN rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời: Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định.Đồng thời đây cũng là nguồn thông tin quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các quyết định về tài chính trong tương lai. Dưới đây là bảng tính toán một số chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023: Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.10. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Với bảng chỉ tiêu trên, ta có một số nhận xét như sau:

Về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Năm 2021, do lợi nhuận DN có được chỉ đủ bù đắp cho các khoản chi phí phát sinh nên DN không có thu nhập ròng, ROA năm 2021 bằng 0. Từ năm 2022, ROA của DN tăng trưởng trở lại ở mức 0,18% và 0,32% năm 2023. Như vậy, cứ 100 đồng tài sản mà DN bỏ ra đầu tư thì thu đước 0,18 đồng (năm 2022) và 0,32 đồng (năm 2023) lợi nhuận ròng. Mức tăng của khả năng sinh lời này là chưa cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản của DN là chưa tốt, từ đó các nhà quản lý nên cân nhắc khi quyết định đầu tư theo chiều rộng như mua thêm máy móc thiết bị, mở rộng thị trường,… để tăng khả năng sinh lời của vốn. Chỉ tiêu khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp là rất thấp khi so với chỉ tiêu của ngành là 12% nên DN có khả năng sinh lời chưa cao.

Về tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này cho biết với 100 đồng doanh thu thuần có được thì thu được 0,45 đồng (năm 2022) và 0,39 đồng (năm 2023) lợi nhuận ròng. Chỉ số này của DN cũng rất thấp, năm 2023 bị giảm sút 0,05% so với năm 2022, chứng tỏ DN sử dụng chi phí chưa hiệu quả, do đó nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát chi phí của các bộ phận nhiều hơn. Tuy lợi nhuận năm 2023 có tăng hơn so với năm 2022 nhưng tốc độ tăng của doanh thu thuần là nhanh hơn, khiến ROS bị giảm xuống. Tuy mức giảm giữa 2 năm 2022 và 2023 không lớn nhưng DN cần phải xem xét lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để làm tăng thêm lợi nhuận.

Về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Vì năm 2021 DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường hoạt động kinh doanh không có lãi do đó không xác định được chỉ số này. Đến năm 2022, với 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư, DN thu được 111,43 đồng lợi nhuận ròng và đến năm 2023 thu được 245,89 đồng lợi nhuận ròng. Chỉ tiêu này của DN rất cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của DN là rất tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ DN. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn chủ sở hữu phục vụ hoạt động Sản xuất kinh doanh.

2.3. Phân tích thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn tại DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

2.3.1. Phân tích tình hình tạo vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Bảng tài trợ là báo cáo trình bày cụ thể việc DN trong năm đã tạo vốn hay sử dụng vốn của mình như thế nào, hiệu quả đến đâu. Thông qua đó thì DN cũng biết được chỉ tiêu nào ảnh hưởng chủ yếu đến việc tạo vốn và sử dụng vốn trong DN, tỷ trọng của từng yếu tố đó trên tổng tạo vốn hay sử dụng vốn là bao nhiêu. Sau đây ta sẽ đi phân tích cụ thể DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã tạo vốn và sử dụng vốn thế nào trong năm 2023.

  • Bảng 2.11. Bảng tài trợ của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường qua 2 năm 2022 – 2023

DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường sử dụng vốn để cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng, đầu tư vào hàng lưu kho và trả nợ cho khách hàng đã ứng trước. Các khoản phải thu của khách hàng tăng nhanh hơn so với năm 2022 là 3.625.819 nghìn đồng, chiếm tỷ trọng 26,81% trong tổng số nguồn sử dụng vốn của DN năm 2023. Sở dĩ DN có khoản sử dụng vốn lớn như vậy là do vào năm này, khi mà thị trường bất động sản vẫn tiếp tục gặp khó khăn, cùng với việc cạnh tranh mạnh mẽ của các DN xây dựng trong việc chiếm lĩnh thị trường, DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã ra quyết định nới lỏng tín dụng đối với khách hàng cũ của mình, đồng thời đưa ra các chính sách ưu đãi nhằm thu hút thêm những khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp. Đồng thời năm 2022 cũng là năm doanh nghiệp thúc đẩy mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, ký được nhiều hợp đồng lớn với các đối tác, làm tăng quy mô khoản phải thu. Do vậy, các khoản phải thu khách hàng của DN tăng 3.625.819 nghìn đồng. Cùng với việc kí được nhiều hợp đồng với khách hàng như vậy, quy mô hàng tồn kho của DN cũng tăng lên để đáp ứng cho Sản xuất kinh doanh của DN. Năm 2023, đối với những công trình mới ký hợp đồng trong năm này, khách hàng chưa quyết toán tiến độ công trình nên chi phí Sản xuất kinh doanh dở dang lớn dẫn đến quy mô hàng tồn kho gia tăng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên đối với những công trình của năm cũ, DN đã được quyết toán toàn bộ công trình, giải quyết được nghĩa vụ nợ đối với khách hàng ứng trước nên khoản mục ứng trước giảm xuống 1.442.780 nghìn đồng. Từ đó ta thấy DN đã tăng mức độ hoàn thành công việc của mình lên, nâng cao uy tín của mình trong lĩnh vực xây dựng, tuy nhiên khi thanh toán các khoản ứng trước, DN đồng thời cũng đã giảm phần chiếm dụng vốn của mình đối với khách hàng – đây là nguồn vay không mất chi phí, gây ra khó khăn hơn cho doanh nghiệp trong việc huy động tiền khi cần thiết. Các nhà quản trị của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cần xem xét để có chiến lược tốt nhất cho doanh nghiệp: tối thiểu hóa chi phí mà không làm giảm vị thế của DN đối với các nhà đầu tư. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

DN có nguồn vốn chiếm dụng nội bộ là rất dễ dàng, vì thế tạo vốn năm 2023 là 8.764.106 nghìn đồng so với năm 2022, chiếm tỷ trọng 64,81% trong tổng tạo vốn của DN năm 2023. DN cũng phải mua nguyên vật liệu với số lượng lớn để đáp ứng các hợp đồng xây dựng nên khoản phải trả người bán cũng gia tăng nhanh chóng (tăng 1.086.523 nghìn đồng so với năm 2022). Bên cạnh đó, với việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng Sản xuất kinh doanh, DN đã hoàn thành nhiều công trình quan trọng sớm hơn dự kiến, tuy nhiên các DN thành viên lại chưa kịp quyết toán dẫn tới khoản phải thu nội bộ tăng lên, tạo vốn là 1.663.532 nghìn đồng, chiếm 12,30% trong tổng nguồn tạo vốn năm 2023.

Năm 2023 DN có đầu tư mua sắm thêm tài sản cố định, cụ thể nguyên giá tăng 45.932 đồng so với năm 2022, sự đầu tư thêm là không lớn. Có thể thấy DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường không đầu tư mạnh mẽ vào tài sản cố định do các máy móc thiết bị thi công của DN chủ yếu là đi thuê. Điều này làm gia tăng chi phí giá vốn hàng bán của DN. Tuy nhiên về lâu dài DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường nên đầu tư mạnh mẽ cho Tài sản cố định nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh.

Như vậy, nguồn tạo vốn và sử dụng vốn của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đều là ngắn hạn, chứng tỏ DN đang theo đuổi chính sách quản lý thận trọng.

2.3.2. Phân tích chung về lưu chuyển thuần trong doanh nghiệp

Thực tế có thể xảy ra trên báo cáo kết quả Sản xuất kinh doanh của DN là có lãi nhưng lại không có tiền dự trữ để thanh toán hàng ngày cho DN. Điều này đưa đến nghịch lý là DN là ăn có lãi nhưng lại thiếu tiền chi tiêu. Tại sao vậy? Lý do là DN đã bị chiếm dụng vốn lớn do khoản phải thu tăng nhanh trong năm, đồng thời để mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, việc gia tăng đầu tư vào hàng lưu kho làm rất lớn và trả các khoản nợ vay đến hạn.

Dòng tiền từ hoạt động Sản xuất kinh doanh: là dòng tiền quan trọng nhất trong luân chuyển dòng tiền ngắn hạn trong DN, cụ thể: Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.12. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN giai đoạn 2021 – 2023

Có thể nhận thấy rằng dòng tiền vào từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN có xu hướng tăng qua các năm, điều này là do hai khoản mục tăng chủ yếu đó là tiền thu từ bán hàng dịch vụ và tiền thu khác từ hoạt động Sản xuất kinh doanh gia tăng. Với việc hoàn thành quyết toán nhiều công trình hơn trong năm 2023 và năm 2022 và là cơ sở để khách hàng thanh toán (doanh thu năm 2022 là 21.790.604 nghìn đồng và năm 2023 là 51.869.262 nghìn đồng), hơn nữa cũng trong hai năm này số tiền ứng trước của khách hàng cũng gia tăng so với năm 2021, cụ thể số tiền khách hàng ứng trước cho DN năm 2022 là 54.642.895 nghìn đồng, năm 2023 là 48.470.310 nghìn đồng). Năm 2023, với việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác như: xây dựng và sửa chữa các công trình đường của Ninh Bình, Thanh Hoá… DN cũng đã hoàn thành sớm các hạng mục cho khách hàng, làm tăng sự tin tưởng của khách hàng đối với DN và do đó ngoài việc thanh toán sớm, khách hàng đã có một số khoản tiền thưởng cho DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường vì đã hoàn thành trước thời gian dự kiến của công trình (không tính trong doanh thu của DN), mặt khác DN cũng đã thu được các khoản nợ khó đòi của DN năm 2018 đã được xử lý.

Nhìn chung, dòng tiền vào của DN trong giai đoạn này gần bằng hoặc lớn hơn so với doanh thu mà DN có được từ hoạt động Sản xuất kinh doanh. Hầu hết dòng tiền thu vào từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm này là do thu được các khoản phải thu từ những năm cũ, đồng thời đây cũng là năm DN nhận được 3 hợp đồng lớn (như đã nêu ở trên) nên khách hàng đã ứng trước 30% tổng giá trị công trình cho DN để đảm bảo hoạt động Sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. Trái ngược lại với 2 năm trước, năm 2023 DN lại có dòng tiền vào(50.768.284 nghìn đồng) ít hơn so với doanh thu (51.869.262 nghìn đồng) mà DN hạch toán(bảng 2.7). Đây cũng là năm DN thực hiện nới lỏng tín dụng với khách hàng cũ và có những chính sách ưu đãi với các khách hàng tiềm năng nên doanh thu của DN tăng đáng kể. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Về dòng tiền ra từ hoạt động Sản xuất kinh doanh, ta thấy dòng tiền chi ra này lớn nhất vào năm 2022 với mức 50.833.728 nghìn đồng. Dòng tiền chi ra này chủ yếu từ ba khoản mục lớn là chi trả cho nhà cung cấp, chi trả cho công nhân viên và chi trả khác cho hoạt động Sản xuất kinh doanh. Với việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, ký kết nhiều hợp đồng lớn, DN đã gia tăng nguyên vật liệu đầu vào, đồng thời chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cũng tăng qua các năm. Cụ thể ở năm 2022, DN đã mua khoảng 18.423.886 nghìn đồng nguyên vật liệu để phục vụ hoạt động Sản xuất kinh doanh, do đó chi phí Sản xuất kinh doanh dở dang tăng lên tới 44.311.396 nghìn đồng(bảng 2.7). Sang năm 2023, DN đã sử dụng hết 14.886.694 nghìn đồng nguyên vật liệu để hoàn thành nhiều công trình và tăng chi phí Sản xuất kinh doanh dở dang là 52.583.943 nghìn đồng (bảng 2.7). Tuy nhiên số tiền chi ra thực thanh toán cho nhà cung cấp cho DN lại không nhiều, chứng tỏ số vốn mà DN chiếm dụng từ nhà cung cấp là lớn (cuối năm 2023, số tiền mà DN phải trả nhà cung cấp là 3.191.171 nghìn đồng). DN nên cân nhắc với số nợ này để đảm bảo rằng nhà cung cấp luôn đáp ứng được nguyên vật liệu đầu vào đầy đủ, tránh làm gián đoạn hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN.

Ta thấy dòng tiền chi ra của DN bỏ ra lớn hơn rất nhiều so với chi phí hạch toán, một phần trong dòng tiền chi ra đó là chi phí của DN phải bỏ ra để Sản xuất kinh doanh trong kỳ. Năm 2022 DN bị truy thu thuế của 3 năm trước do chưa hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước, đồng thời đây là năm DN thanh lý các Tài sản cố định cũ nên tổng dòng tiền chi ra trong hoạt động này lên tới 50.833.728 nghìn đồng. Sang năm 2023, với việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh và chưa kịp thu hồi tiền về nên DN đã chiếm dụng vốn của nhà cung cấp nhiều hơn. Do đó dòng tiền thực tế chi ra của DN (48.581.654 nghìn đồng) nhỏ hơn chi phí mà DN phải bỏ ra trong năm (51.650.836 nghìn đồng) mà DN đã hạch toán (bảng 2.7).

Như vậy, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN có nhiều biến đổi trong giai đoạn này: năm 2021 lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đạt mức 1.005.984 nghìn đồng năm 2021, tuy nhiên năm 2022, lưu chuyển tiền thuần bị âm khoảng 543.638 nghìn đồng do số tiền chi ra để trả nội bộ của DN quá lớn trong khi số tiền thu vào lại không đủ để bù đắp cho khoản tiền chi ra này. Tuy nhiên năm 2023, lưu chuyển tiền tệ cũng đã tăng trưởng trở lại đạt mức 2.186.630 nghìn đồng, đây cũng là tín hiệu đáng mừng cho DN. Tuy nhiên, các nhà quả trị cũng cần xem xét lại tình hình hoạt động thu chi của DN, tránh để lặp lại như năm 2022, làm giảm khả năng thanh toán của DN.

2.3.3. Quản trị dòng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Quản lý doanh thu

Sau đây ta sẽ đi tìm hiểu kỹ từng khoản mục doanh thu của DN trong giai đoạn 2021 – 2023.

  • Bảng 2.15. Cơ cấu doanh thu của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Doanh thu của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đều tăng dần qua các năm nhưng tăng mạnh vào năm 2023. Sở dĩ doanh thu năm 2023 tăng đột biến như vậy là do ngoài việc DN mở thúc đẩy mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, nới lỏng tín dụng cho khách hàng, đồng thời với việc DN hoàn thành quyết toán nhiều công trình hơn trong năm này, các khoản phải thu của DN trong 2 năm cũ cũng đã được thanh toán. Năm 2021, DN tuy doanh thu nội bộ bằng 0 nhưng thực chất DN vẫn thu được các khoản ứng trước của nội bộ vì kí kết được hợp đồng. Ở năm 2023, không những không có khoản phải thu nội bộ mà ngược lại, DN có khoản trả nội bộ lên tới 11.554.135 nghìn đồng. Điều này cho thấy DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường ngày càng nâng cao được uy tín của mình không chỉ trong lĩnh vực xây dựng mà còn trên nhiều ngành khác. Còn đối với khách hàng bên ngoài của mình, DN luôn được khách hàng tin tưởng và thanh toán đầy đủ, do đó các khoản phải thu khách hàng là không lớn lắm trong 2 năm 2021 và 2022 (phải thu khách hàng năm 2022 là 149.490 nghìn đồng, trong khi đó năm 2021, DN phải trả khách hàng của mình là 7.940.394 nghìn đồng). Sang năm 2023, khoản phải thu khách hàng của DN lên tới 5.068.598 nghìn đồng do DN nới lỏng tín dụng, thu hút nhiều khách hàng tiềm năng hơn, do đó doanh thu doanh nghiệp cũng tăng nhanh hơn, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, hoạt động Sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn.

  • Quản lý chi phí

Chi phí sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nó thể hiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp việc quản lý chi phí Sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng, có thể nói rằng đây là một trong những bí quyết để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy thông qua việc phân tích chúng ta có thể nhận thức, đánh giá một cách đúng đắn toàn diện và khách quan tình hình thực hiện và quản lý chi phí kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Qua đó thấy được tình hình quản lý, thực hiện chi phí có hợp lý hay không, có phù hợp với nhu cầu kinh doanh và nguyên tắc quản lý kinh tế tài chính và mang lại hiệu quả kinh tế hay không. Đồng thời qua việc phân tích sẽ tìm ra được những điểm bất hợp lý trong quản lý và sử dụng chi phí có hiệu quả.

  • Bảng 2.16. Tình hình thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023 Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Nhìn chung, tổng chi phí của DN tăng qua 3 năm. Năm 2021, tổng chi phí của DN là 17.284.707 nghìn đồng, đến năm 2022 là 21.563.046 nghìn đồng, tăng 1,25 lần so với năm 2021. Năm 2023, tổng chi phí của DN tăng lên đến 51.650.836 nghìn đồng, tăng 30.087.790 nghìn đồng so với năm 2022, tương ứng tăng khoảng 2,4 lần so với năm 2022. Chi phí Sản xuất kinh doanh tăng là do năm 2022 DN thực hiện tăng năng suất lao động theo đơn hàng của khách hàng (cụ thể là có 3 hợp đồng lớn mà DN thực hiện). Bước sang năm 2023, giá vốn hàng bán(giá thành sản phẩm xây lắp) và các chi phí khác của DN tăng lên đáng kể, hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN diễn ra nhiều hơn, kéo theo chi phí sản xuất chung tăng lên nhanh chóng. Để biết chính xác tổng chi phí kinh doanh của DN tăng lên như thế nào, ta có từng khoản mục cụ thể như sau:

Chi phí giá vốn hàng(giá thành sản phẩm xây lắp) bán liên tục tăng qua các năm chứng tỏ DN đang ngày càng mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh của mình, năm 2022 giá vốn hàng bán là 19.198.944 nghìn đồng, tăng 1,2 lần so với năm 2021 là 15.839.725 nghìn đồng. Sang năm 2023, giá vốn hàng bán của DN tăng lên đến 49.489.563 nghìn đồng, tăng 2,58 lần so với năm 2023. Đây là năm DN mở rộng quy mô sản xuất trên nhiều lĩnh vực, góp phần cho sự ngày càng phát triển của DN nên cần phải có đủ nguyên vật liệu để đáp ứng tốt nhu cầu Sản xuất kinh doanh, đảm bảo sản xuất luôn thực hiện liên tục. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của DN chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí (chiếm 32,78% trong năm 2023). Năm 2022, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí là do DN hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều nhất do DN có được những hợp đồng kinh tế lớn. Sang năm 2023, chi phí nguyên vật liệu tăng lên đôi chút, hoạt động Sản xuất kinh doanh thì ngày càng được mở rộng hơn, doanh thu tăng nhiều hơn, chứng tỏ công tác quản lý chi phí đóng một vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề để DN cạnh tranh với các DN cùng ngành trong cùng lĩnh vực. Về chi phí nhân công trực tiếp thì đều tăng qua các năm: năm 2021 là 2.579.227 nghìn đồng, năm 2022 là 4.276.185 nghìn đồng, năm 2023 là 12.564.835 nghìn đồng. Chi phí này tăng một phần là do DN tăng năng suất lao động, cán bộ công nhân viên làm việc thêm giờ, tính chất công việc thường xuyên, mặt khác DN luôn thực hiện theo đúng tiến trình tăng lương theo quy định của Nhà nước nên chi phí nhân công cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển và hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Vì Mạnh Cường là DN xây dựng nên không thể thiếu chi phí sử dụng máy thi công trong giá vốn hàng bán của mình. Tuy năm 2022 DN có 3 hợp đồng lớn và tăng Sản xuất kinh doanh hơn so với năm 2021 nhưng chi phí máy thi công lại nhỏ hơn do trong năm này DN thuê trang thiết bị và một số máy móc quan trọng phục vụ cho sản xuất, do vậy khoản chi phí này giảm đi đôi chút. Sang đến năm 2023, chi phí sử dụng máy thi công tăng đột biến lên gấp 2,88 lần do đây là năm DN tiến tới mở rộng quy mô hoạt động Sản xuất kinh doanh không chỉ trong ngành xây dựng mà cả trên nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên chi phí sản xuất chung lại tăng lên đột biến qua các năm: năm 2021 là 1.166.357 nghìn đồng, năm 2022 là 2.602.800 nghìn đồng, năm 2023 là 9.090.794 nghìn đồng. Chi phí sản xuất chung có mối liên hệ mật thiết với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vì DN đẩy mạnh hoạt động Sản xuất kinh doanh, kéo theo chi phí sản xuất chung cũng tăng. Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí và có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự biến động của tổng chi phí. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Tuy chi phí quản lý DN chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng chi phí nhưng đây là khoản chi phí rất cần thiết cho DN, đó là các khoản chi phí phục vụ cho việc điều hành và quản lý chung cho toàn DN. Sau đây là bảng chỉ tiêu phân tích một số khoản mục chi phí của DN.

  • Bảng 2.17. Bảng chỉ tiêu phân tích một số chi phí của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021-2023

Từ bảng chỉ tiêu phân tích trên ta có thể thấy tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán thay đổi tăng giảm qua các năm: khi đầu tư 100 đồng giá vốn hàng bán thì DN thu được 8,48 đồng (năm 2021), 13,5 đồng (năm 2022) và 4,81 đồng (năm 2023) lợi nhuận gộp. Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán năm 2023 là cao nhất, chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán cao nhất, đây là thời kỳ DN kinh doanh có lời nhất. Vì Mạnh Cường là DN hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xây dựng, đồng thời cũng không có hoạt động thương mại nên chi phí bán hàng của DN bằng 0, do đó tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng là không xác định. Còn với chi phí quản lý DN, tỷ suất này năm 2021 bằng 0 do lợi nhuận thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh bằng 0, doanh thu của DN có được chỉ đủ để bù đắp chi phí bỏ ra nên không có lợi nhuận. Sang năm 2022 và 2023, con số này đã tăng lên nhanh chóng, mức lợi nhuận trong chi phí quản lý DN càng tăng, chứng tỏ DN đã tiết kiệm được chi phí quản lý của mình. Đối với tỷ suất sinh lời của tổng chi phí, khi DN đầu tư 100 đồng chi phí thì thu được 0,6 đồng năm 2022 và 0,53 đồng năm 2023 lợi nhuận kế toán trước thuế. Năm 2021 bằng 0 do DN không có lợi nhuận kế toán trước thuế.

Nhìn chung qua 3 năm, DN đã có nhiều giải pháp để giảm thiểu chi phí trong DN. Tuy có sự gia tăng tất cả các chi phí, đặc biệt là giá vốn hàng bán nhưng không thể coi là khuyết điểm của DN vì khi DN mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, doanh thu tăng lên thì việc gia tăng giá vốn và các loại chi phí là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên các nhà quản lý của Mạnh Cường cũng cần cân nhắc lại sao cho cân đối giữa các khoản chi phí với nhau.

  • Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền Phân tích chung

Thực tế cho thấy tiền mặt là loại tài sản có tỷ lệ sinh lời rất thấp, hầu hết DN và khách hàng đều giao dịch thông qua hệ thống ngân hàng, do đó DN thường giữ lại một lượng tiền nhỏ để thanh toán hàng ngày, thanh toán lương cho công nhân hay tạm ứng… Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.13. Cơ cấu nguồn ngân quỹ của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn 2021 –2023

Từ bảng chỉ tiêu trên ta thấy việc tổng tiền của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường đang giảm mạnh qua các năm. Tiền mặt mà DN nắm giữ chỉ chiếm 1 phần rất nhỏ trong tổng số ngân quỹ và có xu hướng tăng qua các năm: năm 2021, số tiền mặt mà DN nắm giữ trong két chỉ là 0,82%, năm 2022 là 2,54% và đến năm 2023 là 7,78. Điều này cho thấy qua từng năm DN đẩy mạnh chính sách tín dụng khách hàng hay nói cách khác tăng doanh thu bán chịu, nên lượng tiền trong DN giảm và lượng vốn này đang nằm trong tay khách hàng. Việc làm này có thể giúp DN tăng doanh thu, giảm thiểu chi phí nhưng nếu không thu hồi được vốn thì việc chu chuyển kinh doanh, đảm bảo khả năng thanh toán của DN sẽ bị đe dọa, lượng tiền vay sẽ tăng lên, gây không ít khó khăn trong đầu tư kinh doanh. Sau đây là chi tiết tài khoản tiền mặt và tiền gửi ngân hàng của DN trong giai đoạn 2021 – 2023.

Hiện nay DN chưa áp dụng mô hình quản lý ngân quỹ cụ thể nào, chính sách quản lý ngân quỹ của DN trong những năm qua chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế cho nên còn nhiều hạn chế. Là một DN kinh doanh trên nhiều lĩnh vực nên các quan hệ thanh toán hay các quan hệ với khách hàng của DN rất đa dạng, phức tạp không chỉ giới hạn phạm vi trong nước mà còn đang hướng ra nước ngoài. Việc quản lý vốn bằng tiền của DN rất phức tạp, phải theo dõi thường xuyên từ đó duy trì một lượng tiền phù hợp và đặc biệt là có một cơ cấu vốn bằng tiền hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán cho DN, có như vậy mới đảm bảo an toàn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lợi cho DN.

Hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt từ hoạt động Sản xuất kinh doanh Qua những phân tích ở trên ta đã thấy được tầm quan trọng của lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên tỷ lệ giữa lưu chuyển thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh so với doanh thu của DN thậm chí còn quan trọng hơn nhiều. Với nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay, tạo ra doanh thu đã là điều khó, nhưng thu được bằng tiền mặt thì khó khăn hơn nhiều. Sau đây ta sẽ đánh giá kỳ luân chuyển tiền mặt bằng chỉ tiêu hiệu quả của lỳ luân chuyển tiền mặt.

Ta có bảng chỉ tiêu sau: Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.14. Chỉ tiêu ngân lưu ròng của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt thể hiện mức độ hiệu quả của một chuỗi cung cấp tài chính trong DN bao gồm hiệu quả quản lý chi phí, quản lý khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho. Từ bảng chỉ tiêu trên ta thấy chỉ tiêu hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường trong giai đoạn này cao hơn 2 chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận truyền thống là tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu.

Ta thấy hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Năm 2021, ROS của DN bằng 0 do không có lợi nhuận, doanh thu thu về chỉ bù đắp cho chi phí bỏ ra của DN, trong khi đó hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt lại đạt 5,85%, cao hơn rất nhiều so với ROS vì các khoản chi phí mà thực sự DN chi ra bằng tiền lại thấp hơn so với tổng chi phí mà kế toán hạch toán, tức là DN đang đi chiếm dụng vốn của các DN khác. Sang năm 2022, trong khi lợi nhuận ròng của DN tăng lên làm gia tăng ROS thì lưu chuyển thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh lại âm do DN phải trả các khoản vốn mà năm 2021 đã chiếm dụng, khiến hiệu quả kỳ luân chuyển tiền mặt bị giảm xuống -2,49%. Năm 2023, với việc mở rộng quy mô Sản xuất kinh doanh, lợi nhuận ròng mà DN đạt được cao hơn hẳn so với năm 2021, tuy nhiên ROS lại bị giảm so với năm 2022 do tốc đo tăng của doanh thu nhanh hơn so với tốc độ tăng của lợi nhuận ròng, trong khi đó với việc thu hồi được các khoản phải thu năm 2022 và tiếp tục chiếm dụng vốn nhà cung cấp, kỳ luân chuyển tiền mặt trong năm này của DN tăng trưởng trở lại ở mức 4,22%. Các nhà quản trị của DN cần đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí, tránh tình trạng để các chỉ tiêu của DN biến động không ổn định như trong giai đoạn này.

  • Quản lý phải thu khách hàng

Khi các khoản phải thu của khách hàng có khả năng thu hồi thì chỉ tiêu giá trị tài sản thuộc bảng cân đối kế toán của DN có ý nghĩa trong quá trình phân tích. Khi chỉ tiêu phải thu khách hàng không có khả năng thu hồi thì độ tin cậy của tài sản trên bảng cân đối kế toán thấp, ảnh hưởng đến quá trình phân tích và ra quyết định của các nhà quản lý. Sau đây, ta sẽ đi phân tích cụ thể tình hình phải thu khách hàng của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023.

  • Bảng 2.18. Bảng chỉ tiêu phải thu khách hàng của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Qua bảng chỉ tiêu trên, ta thấy hệ số thu nợ biến động tăng qua các năm, từ đó thời gian thu nợ trung bình cũng biến động theo. Cụ thể, hệ số thu nợ năm 2023 tăng 1 vòng so với năm 2022, nhưng năm 2022 lại giảm 1 vòng so với năm 2021. Do vậy, thời gian thu nợ trung bình năm 2023 giảm 7,21 ngày so với năm 2022, còn năm 2022 lại tăng 6,59 ngày so với năm 2021. Điều này chứng tỏ vốn của doanh nghiệp năm 2023 ít bị chiếm dụng hơn năm 2022, còn năm 2022 lại bị chiếm dụng nhiều hơn so với năm 2021. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.19. Bảng tài khoản phải thu khách hàng của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Từ bảng tài khoản trên ta thấy các số dư phải thu khách hàng phát sinh trong kỳ hoạt động liên tục qua các năm, số dư phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp cả hai bên nợ và có đều tăng qua các năm, nhiều nhất là năm 2023, khi mà DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã nới lỏng tín dụng đối với khách hàng của mình. Đối với một DN xây dựng thì việc chấp nhận cho khách hàng chiếm dụng một phần vốn của mình là điều đương nhiên, thường thì phải hoàn thiện được một phần công trình thiết kế, hay khoảng 30% công trình thì khách hàng mới thanh toán một lần (tùy thuộc vào từng công trình và hợp đồng kinh tế), do đó tài khoản phát sinh trong năm là rất lớn.

Phải thu khách hàng chiếm một tỷ trọng khá lớn trên tổng các khoản phải thu, nếu năm 2021 là 82,18% thì đến năm 2022 con số này giảm xuống còn 56,03% trong tổng tài sản; tuy giảm về tỷ trọng nhưng lại tăng mạnh về giá trị đạt mức 3.369.361 nghìn đồng, gấp gần 1,5 lần giá trị năm 2021. Năm 2023 tỷ trọng là 89,33%, tăng 33,3% so với năm 2022, đồng thời về giá trị tăng hơn 2 lần so với năm 2022 và gần 3 lần so với năm 2021. Giá trị các khoản phải thu tăng mạnh qua từng năm điều đó thể hiện hàng hoá,dịch vụ của DN được tiêu thụ tăng. Tuy nhiên tăng các khoản phải thu sẽ ảnh hưởng không tốt tới hoạt động của doanh nghiệp,nó có thể đem lại rủi ro cho doanh nghiệp trong trường hợp khó thu hồi lại những khoản phải thu đó.

Qua các số liệu trên đây ta thấy tỷ lệ các khoản phải thu khách hàng của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường còn rất cao, vì vậy doanh nghiệp cần đẩy nhanh tiến trình thu hồi nợ, bên cạnh đó các nhà quản lý tài chính cần phải thực hiện việc phân tích, thẩm định khách hàng trước khi cấp tín dụng thương mại. Đây là một việc làm hết sức cần thiết tránh trường hợp cho những đối tượng khách hàng vay mà không có khả năng chi trả. Đồng thời, để quản lý và sử dụng hiệu quả các khoản phải thu thì điều quan tâm trước tiên của các nhà quản trị doanh nghiệp là phải quả lý chặt khoản phải thu khách hàng, có nghĩa là phải đưa ra chính sách bán hàng và thu hồi nợ hợp lý để kích thích khách hàng thanh toán nhanh, tránh bị chiếm dụng vốn.

  • Quản lý hàng tồn kho Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Hàng tồn kho ở doanh nghiệp bao gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Cụ thể, ta có cơ cấu hàng tồn kho của doanh nghiệp qua 3 năm như sau:

  • Bảng 2.20. Cơ cấu hàng tồn kho của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Đối với DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu hàng tồn kho, còn lại một phần rất nhỏ đó là công cụ dụng cụ. Năm 2023, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang giảm 0,02% do công cụ dụng cụ tăng lên. Tuy nhiên giá trị hàng tồn kho tăng 8.284.022 nghìn đồng so với năm 2022.Trị giá chi phí Sản xuất kinh doanh dở dang là rất lớn, nhưng chúng lại có tính thanh khoản không cao, dễ xảy ra tình trạng tồn kho ứ đọng, vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được lượng tồn kho hợp lý và sử dụng chúng có hiệu quả. Sau đây ta phân tích hiệu quả sử dụng hàng tồn kho qua các chỉ tiêu sau:

  • Bảng 2.21. Chỉ tiêu hàng tồn kho của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Từ bảng chỉ tiêu trên, ta thấy hệ số lưu kho biến động không đều qua các năm, từ đó thời gian luân chuyển hàng tồn kho thay đổi theo. Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho thì biến động giảm dần qua các năm. Cụ thể như sau: Hệ số lưu kho của DN năm 2021 là 0,6 vòng, tương ứng với thời gian luân chuyển hàng tồn kho là 611 ngày; năm 2022 hệ số lưu kho là 0,43 vòng, giảm 0,17 vòng so với năm 2022, đồng thời thời gian luân chuyển hàng tồn kho tăng tương ứng lên 842,42 ngày. Sang năm 2023, hệ số lưu kho tăng thêm 0,51 vòng so với năm 2022, đạt mức 0,94 vòng, đồng thời gian luân chuyển hàng tồn kho giảm xuống còn 387,91 ngày. Có thể thấy năm 2022, hàng tồn kho của DN sử dụng kém hiệu quả nhất do lưu kho trung bình ở mức cao nhất (842,42 ngày), tiếp đến là năm 2021 (611 ngày), thấp nhất là năm 2023 (387,91 ngày). Như vậy, hàng tồn kho của DN đang ngày càng vận động linh hoạt, quay vòng nhiều hơn, từ đó sẽ tăng doanh thu cho DN, tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên xem xét lại để có các biện pháp cụ thể làm gia tăng hệ số lưu kho, giảm thời gian luân chuyển hàng tồn kho.

Về hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho, DN muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần 2,03 đồng (năm 2021), 1,54 đồng (năm 2022) và 1,01 đồng (năm 2023) vốn đầu tư cho hàng tồn kho. Chỉ tiêu này đều lớn hơn 1 nên hiệu quả sử dụng vốn cho hàng tồn kho không cao. Do đó, các nhà quản trị kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cũng cần xây dựng lại kế hoạch dữ trữ nguyên vật liệu sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Việc dự trữ hàng hóa quá cao có thể gây ra tình trạng ứ đọng vốn cho doanh nghiệp.Tuy nhiên, là một doanh nghiệp xây dựng, Mạnh Cường rất khó để khắc phục tình trạng này. Năm 2022, hàng tồn kho chiếm 82,22% – thấp nhất trong 3 năm do năm này DN thực hiện nhiều dự án nhất. Nhưng đến năm 2023, tỷ trọng hàng tồn kho lại tăng lên với con số 84,22%.

  • Phân tích tình hình phải trả người bán Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho của DN tăng lên đáng kể nhằm đảm bảo rằng hoạt động của doanh nghiệp sẽ luôn được ổn định, do đó nhu cầu nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng và các khoản phải trả nhà cung cấp cũng tỷ lệ thuận với nó.

  • Bảng 2.22. Bảng tài khoản phải trả người bán của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Năm 2021 là năm DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cùng nhiều DN khác trong ngàng xây dựng phục hồi sản xuất sau cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 2019, Sản xuất kinh doanh vẫn còn yếu kém, các khoản phải trả nhà cung cấp của DN đạt mức 1.129.661 nghìn đồng (chiếm tỷ trọng khoảng 3,6% trong tổng số nợ ngắn hạn của DN bấy giờ).

Bước sang năm 2022, DN gia tăng sản xuất, mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nguồn nguyên vật liệu đầu vào gia tăng kéo theo các khoản phải trả của DN cũng tăng lên đến 2.104.649 nghìn đồng (tăng 1,86 lần so với năm 2021). Bước sang năm 2023, với việc ngày càng phát triển của mình, khoản phải trả tăng lên đến 3.191.171 nghìn đồng, tăng hơn 1,5 lần so với năm 2022. Giá trị các khoản phải trả người bán của DN tăng qua từng năm chứng tỏ DN đã tận dụng rất tốt việc chiếm dụng vốn của nhà cung cấp (khoản chiếm dụng vốn mà không mất chi phí nào), tuy nhiên DN cũng nên cân nhắc để tránh làm giảm uy tín của mình với các nhà cung cấp.

  • Bảng 2.23. Bảng chỉ tiêu phải trả người bán của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Qua bảng chỉ tiêu trên, ta thấy hệ số trả nợ biến động tăng giảm không đều qua các năm, từ đó thời gian trả nợ trung bình của DN cũng biến động theo. Cụ thể, hệ số trả nợ năm 2023 tăng gần 6 vòng so với năm 2022, nhưng năm 2022 lại giảm gần 5 vòng so với năm 2021. Do vậy, thời gian trả nợ trung bình năm 2023 giảm 12,79 ngày so với năm 2022, còn năm 2022 lại tăng 15,25 ngày so với năm 2021. Chứng tỏ DN năm 2023 chiếm dụng vốn của nhà cung cấp ít hơn so với năm 2022, và năm 2022 nhiều hơn so với năm 2021. Theo thông lệ chung, thời gian trả nợ trung bình một hợp đồng mua bán hàng là 30 ngày, chứng tỏ thời gian trả nợ trung bình của năm 2022 vẫn chậm hơn 5,25 ngày, như vậy DN đã đi chiếm dụng vốn của nhà cung cấp so với thông lệ chung. Tuy nhiên sang năm 2023, con số này giảm xuống còn 22,46 ngày, trả nhanh hơn so với thời hạn là 7,54 ngày. Qua đó ta thấy các nhà quản trị của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đã đưa ra các biện pháp thanh toán công nợ nhanh chóng để giảm bớt vốn chiếm dụng của năm 2022, góp phần nâng cao uy tín cho doanh nghiệp. Tuy nhiên việc tăng thời gian thanh toán công nợ, giảm phải trả, tăng vòng quay phải trả cũng có thể tốt nếu DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường đủ uy tín được nhà cung cấp cho phép trả chậm. Ngược lại việc giảm thời gian thanh toán công nợ, tăng phải trả, giảm vòng quay phải trả có thể là dấu hiệu không tốt do uy tín của DN bị giảm, bạn hàng không cho nợ mua phải trả tiền ngay. Khi đó DN bị phụ thuộc vào nguồn đầu vào, đầu vào khan hiếm bắt buộc phải trả tiền ngay mới mua được hàng và như vậy DN không chủ động trong kinh doanh được, kinh doanh không tốt, không bán được hàng nên phải thu hẹp hoạt động.

  • Mối quan hệ giữa các khoản phải thu, phải trả Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Như đã phân tích ở trên, hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường tồn tại quan hệ phải thu, phải trả rất lớn – đây là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường hiện nay. Để biết rõ thêm về bản chất mối quan hệ giữa phải thu, phải trả của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường, ta có bảng chỉ tiêu sau:

  • Bảng 2.24. Bảng chỉ tiêu thể hiện giữa các khoản phải thu khách hàng, phải trả người bán của DN giai đoạn 2021 – 2023

Qua bảng số liệu phân tích trên ta thấy tỷ lệ phải thu so với phải trả cả ba năm đều lớn hơn 1, như vậy xu hướng vốn bị chiếm dụng tăng hơn vốn chiếm dụng, trong đó năm 2022, DN bị chiếm dụng vốn lớn nhất (tỷ lệ phải thu so với phải trả thấp nhất: 1,6 lần). Tỷ lệ phải thu đến hạn so với phải trả đến hạn của doanh nghiệp qua ba năm cũng đều cao hơn 1, chứng tỏ các khoản phải thu kịp thời theo tiến độ, đáp ứng được nhu cầu thanh toán của các khoản phải trả. Tỷ lệ phải thu quá hạn so với phải trả quá hạn của doanh nghiệp cũng lớn hơn 1, như vậy vốn bị chiếm dụng bất hợp pháp cao hơn vốn chiếm dụng bất hợp pháp, doanh nghiệp cần có biện pháp hữu hiệu để giảm tình trạng này, nâng cao tình thanh khoản cho doanh nghiệp mình hơn. Đối với tỷ lệ phải thu quá hạn so với tổng phải thu cả ba năm đều nhỏ hơn 50% (năm 2021 là 14,88%, năm 2022 là 14,40% và năm 2023 là 15,35%), chỉ tiêu này đều đang tăng qua các năm, doanh nghiệp cần thận trọng hơn trong việc ký kết hợp đồng với người mua về việc bán chịu, từ khâu tìm hiểu khách hàng cho tới các điều khoản trong hợp đồng kinh tế. Tỷ lệ phải thu quá hạn so với tổng tài sản cả ba năm đều thấp (1,11% năm 1009 giảm xuống còn 0,885 năm 2022 và tăng trở lại 1,68% năm 2023), tuy chưa ảnh hưởng nhiều đến tình hình tài chính song doanh nghiệp vẫn cần tăng cường kiểm soát để giảm thấp nhất các khoản phải thu quá hạn cho doanh nghiệp. Tỷ lệ phải trả quá hạn so với tổng phải trả, nguồn vốn cả ba năm cũng đều thấp, do đó các nhà quản lý của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cần có các biện pháp thanh toán kịp thời đối với các nợ quá hạn, để nâng cao uy tín cho doanh nghiệp trên thương trường kinh doanh.

  • Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn từ HĐ Sản xuất kinh doanh

Kỳ luân chuyển tiền mặt Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.25. Kỳ luân chuyển tiền mặt của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021-2023

Chỉ tiêu hiệu quả kỳ luân chuyển mặt được xây dựng để phục vụ việc phân tích chu kỳ tiền mặt. Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh khoản của DN dưới góc độ hoạt động liên tục, cũng là một trong các phương pháp kế toán. Khác với phương pháp truyền thống, khi đo lường khả năng thanh toán ngắn hạn của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường, ta đánh giá dựa trên phương pháp kế toán thực tế phát sinh, xem như tài sản sẽ được bán thanh lý (chẳng hạn như hàng tồn kho) để trả nợ. Phương pháp phân tích thanh khoản đã hòa trộn các khoản mục trên bảng cân đối kế toán với các khoản mục liên quan trên báo cáo thu nhập theo từng mức độ hoạt động cụ thể của DN. Có ba chỉ tiêu đo lường kỳ luân chuyển tiền mặt dựa trên phương pháp kế toán thực tế phát sinh là số này tồn kho, số ngày thu tiền và số ngày trả tiền.

Từ bảng số liệu trên ta thấy kỳ luân chuyển tiền mặt của DN là khá dài do số ngày tồn kho của DN rất lớn, cao nhất là năm 2022, 1 đồng DN bỏ ra sau 864 ngày mới thu hồi lại được. Hàng tồn kho của DN chủ yếu là chi phí sản xuất dở dang, có những công trình phải xây dựng trong 2 hay 3 năm nên khoản chi phí này kéo dài, khiến số ngày lưu kho lớn hơn so với ngành khác.

Tỷ suất sinh lời của DN trên dòng tiền từ hoạt động Sản xuất kinh doanh

  • Bảng 2.26. Tỷ suất sinh lời của DN trên dòng tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Ta thấy tỷ suất sinh lời của dòng tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh trên tổng tài sản và trên tổng doanh thu của DN là rất thấp, tỷ suất sinh lời của dòng tiền thuần trên vốn chủ sở hữu cao hơn so với hai tỷ suất kia. Dòng tiền thuần có được từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN thấp hơn rất nhiều so với tổng tài sản hay doanh thu thuần của DN khiến cho tỷ suất sinh lời thấp, thậm chí còn bị âm trong năm 2022 do số tiền chi ra trong năm này quá lớn, số tiền thu vào không đủ để bù đắp lại. ROE có lớn hơn so với hai tỷ suất kia là do vốn chủ sở hữu của DN là không nhiều, và cũng tương tự do dòng tiền thuần bị âm năm 2022 nên tỷ suất sinh lời của dòng tiền thuần trên vốn chủ sở hữu cũng bị âm. Nói chung tỷ suất sinh lời trên dòng tiền thuần của DN trong giai đoạn này đều rất thấp, quản lý chi phí không hiệu quả. So sánh với tỷ suất sinh lợi từ lợi nhuận ròng, ta có bảng sau:

  • Bảng 2.27. Bảng so sánh tỷ suất sinh lợi từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Năm 2021, lợi nhuận ròng của DN = 0 nên tỷ suất sinh lời của lợi nhuận ròng đều bằng 0, tuy nhiên dòng tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh của DN dương do lưu chuyển thuần trong năm lớn hơn 0 (dòng tiền thu vào lớn hơn các khoản chi phí bỏ ra do khách hàng đã ứng trước một số hợp đồng thi công năm 2022). Sang năm 2022, DN thực hiện hoạt động Sản xuất kinh doanh, thi công các hợp đồng đã ký từ năm trước, chi phí thi công tăng lên vượt quá mức trong khi dòng ngân lưu chảy vào lại không đủ để bù đắp dòng tiền thuần từ hoạt động Sản xuất kinh doanh bị âm, kéo theo tỷ suất sinh lời của dòng tiền thuần nhỏ hơn 0, tuy nhiên thì tỷ suất lợi nhuận của lợi nhuận ròng dương do quy mô Sản xuất kinh doanh của DN mở rộng, hoạt động có lãi hơn. Năm 2023 đánh dấu sự phát triển của quy mô hoạt động Sản xuất kinh doanh, dòng tiền thuần của DN đạt mức 2.186.630 nghìn đồng, tỷ suất dòng tiền thuần tăng lên, đồng thời doanh thu DN cũng tăng lên đáng kể nhưng tốc độ tăng của chi phí còn nhanh hơn, khiến cho tỷ suất của lợi nhuân ròng về doanh thu giảm xuống so với năm 2022. Nhìn chung, tỷ suất sinh lời của lợi nhuận ròng hay của dòng tiền thuần vẫn còn thấp, 1 đồng DN bỏ ra đầu tư thì thu được 0,003 đồng lợi nhuận ròng và 0,03 đồng dòng tiền thuần năm 2023. Các nhà quản lý của Mạnh Cường nên xem xét lại để có chính sách làm tăng tỷ suất sinh lời của cả lợi nhuận và dòng tiền hơn.

2.3.4. Quản trị dòng tiền ngắn hạn từ hoạt động tài chính Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Bảng 2.28. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Hoạt động tài chính của DN trong giai đoạn này chủ yếu là việc huy động nợ và trả nợ cho các tổ chức tín dụng. Sau đây là bảng tóm tắt lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính của DN trong giai đoạn này.

Lưu chuyển tiền thuần của DN Tư nhân xây dựng Mạnh Cường bao gồm 2 hoạt động chính đó là vay nợ ngắn hạn và hoạt động trả lãi hàng năm của DN. Từ bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy dòng tiền vào của DN trong giai đoạn này tăng lên khá nhanh và là nguồn đi vay ngắn hạn. Năm 2021, lưu chuyển tiền thuần của DN là lớn nhất do trong năm này DN chỉ đi vay mà không có khoản trả nợ nào. Sang năm 2022 và 2023, hoạt động Sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn nên ngoài việc đi vay thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất, DN đã hoàn thành các khoản nợ đến hạn của mình với các tổ chức tín dụng, góp phần đảm bảo uy tín của mình với các chủ đầu tư. Sau đây ta đi phân tích cụ thể 2 hoạt động này của DN trong giai đoạn này.

  • Bảng 2.29. Bảng tài khoản phát sinh vay nợ ngắn hạn và trả lãi vay của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023

Năm 2021 DN vay gần 1 tỷ trong khi năm 2022 DN chỉ đi vay với số tiền là hơn 52 triệu đồng là đủ vì phần khách hàng trả tiền trước cũng như nguồn vốn mà DN chiếm dụng được là tương đối lớn. Năm 2023, với việc mở rộng hoạt động Sản xuất kinh doanh nên cần vốn đầu tư lớn, DN chủ động vay nợ lên 3 tỷ đồng vào tháng 2 để đảm bảo hoạt động Sản xuất kinh doanh của mình luôn được hoạt động liên tục, sang tháng 8, với lợi nhuận có được từ 6 tháng hoạt động đầu năm, DN đã trả được 2.947.509 nghìn đồng nợ vay vào tháng 8, gồm cả nợ vay trong năm trước. như vậy tính đến cuối năm 2023, số tiền DN nợ các nhà đầu tư vẫn còn 2 tỷ, đây là con số không hề nhỏ, do vậy các nhà quản lý DN cần có những chính sách cụ thể, đảm bảo cho DN luôn trả được nợ đúng hạn mà không ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của mình. Với các khoản vay hàng năm đó, doanh nghiệp vẫn luôn trả đều đặn lãi vay của mình cho các chủ đầu tư, trong đó với việc trả được khoản nợ gốc vay lớn vào năm 2023 nên đây cũng là năm doanh nghiệp trả lãi vay thấp nhất. Sau đây ta đi tìm hiểu hiệu quả sử dụng những vốn vay ngắn hạn của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường qua một số chỉ tiêu:

  • Bảng 2.30. Bảng hiệu quả sử dụng vốn vay ngắn hạn của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường giai đoạn 2021 – 2023 Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Từ bảng chỉ tiêu trên ta thấy khả năng thanh toán lãi vay của DN có biến động lớn qua các năm. Đặc biệt, năm 2021 do EBIT bằng 0 nên chỉ số này bằng 0. Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay của năm 2022 là 1,05 lần và tăng đột biến tới 109,16 lần vào năm 2023. Sở dĩ có sự chênh lệch lớn giữa hai năm trên là do năm 2022, lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) thấp hơn nhiều so với năm 2023 và chi phí lãi vay phải trả lại lớn hơn rất nhiều lần. EBIT là số tiền được dùng để trang trải các loại chi phí còn lại trừ giá vốn hàng bán.Để khả năng thanh toán lãi vay của DN được cao thì EBIT phải cao và chi phí lãi vay phải trả mỗi kỳ thấp.Khả năng thanh toán lãi vay của DN cao tức khả năng tự chủ tài chính của DN là tốt, nâng cao uy tín của DN trên thương trường. Tỷ suất sinh lời của tiền vay cho biết trong kỳ phân tích, DN sử dụng 100 đồng tiền vay phục vụ cho hoạt động kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán sau thuế. Chỉ tiêu này đang có xu hướng tăng liên tục qua các năm. Cụ thể: chỉ số này bằng 5,01 lần ở năm 2022 đã tăng hơn gấp đôi lên mức 10,24 lần tại năm 2023. Khoản tiền mà DN đi vay trong 2 năm 2022 và 2023 không có nhiều chênh lệch. Chỉ số tỷ suất sinh lời của tiền vay năm 2023 cao hơn nhiều so với năm 2022 là do lợi nhuận sau thuế (EAT) của năm 2023 lớn hơn nhiều so với năm 2022. Chỉ số này trong thời gian gần đây tăng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng tốt, đó là nhân tố hấp dẫn nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đâu tư vào hoạt động sản xuất.

Thông qua việc phân tích 3 chỉ tiêu về khả năng quản lý các khoản nợ ta có thể thấy tình hình quản lý các khoản nợ của DN trong thời gian gần đây là khá tốt và có những tín hiệu hoàn thiện dần. Việc tính toán và phân tích 3 chỉ tiêu đã giúp cho những người cần tìm hiểu về DN có cái nhìn khái quát nhất về tình hình quản lý nợ của DN trong thời gian gần đây nhằm có những quyết định tài chính có hiệu quả nhất.

2.4. Đánh giá về quản trị dòng tiền tại DN Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

2.4.1. Ưu điểm

Như chúng ta đã biết DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường là một DN xây dựng, tài sản trong DN chủ yếu là Tài sản ngắn hạn vì thành phần tài sản này chiếm tới hơn 97% trong tổng tài sản của DN. Vấn đề quản trị dòng tiền ngắn hạn trong DN tương đối tốt trong những năm gần đây, đem lại doanh thu và lợi nhuận cho DN, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động và đóng góp một phần vào ngân sách Nhà nước. Doanh thu thuần tăng đều qua các năm từ 17.183.717 nghìn đồng từ năm 2021 đến 21.790.604 nghìn đồng năm 2022 và 51.869.262 nghìn đồng năm 2023, lợi nhuận sau thuế ở năm 2021 bằng 0 do hoạt động Sản xuất kinh doanh không hiệu quả, nhưng đến năm 2023 tăng lên 204.833 nghìn đồng, điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của DN đã có những bước tăng trưởng rõ rệt. Có thể nói việc quản lý chi phí của DN là khá tốt do các khoản mục chi phí có tăng qua các năm nhưng chủ yếu là chi phí giá vốn hàng bán tăng, còn lại các khoản chi phí khác chiếm tỷ trọng ít nên tăng không nhiều, tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí nên lợi nhuận của DN tăng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên các khoản phải thu khách hàng, phải trả người bán cũng tăng lên nhanh chóng chứng tỏ các nhà quản trị đã quản lý hoạt động ngân lưu ra vào tương đối hiệu quả, mở rộng Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng tồn kho của doanh nghiệp lớn sẽ đảm bảo hoạt động Sản xuất kinh doanh liên tục, giảm thiểu chi phí, tránh các tác động tiêu cực từ biến động thị trường kinh doanh. Đồng thời DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường cũng đã tận dụng các khoản nợ phải trả người bán, sử dụng khéo léo khoản mục này nên vẫn giữ được mối quan hệ tốt với nhà cung cấp, uy tín DN vẫn được đảm bảo. Khả năng thanh toán lãi vay và khả năng trả nợ của DN đang gia tăng qua các năm, các khoản vay tăng nhưng đồng thời lợi nhuận sau thuế của DN cũng tăng cao qua các năm nên đáp ứng tốt khả năng thanh toán lãi vay và trả nợ của DN.

Với hơn 7 năm thành lập, Mạnh Cường đã luôn cố gắng trong kinh doanh và luôn làm cho lợi nhuận của DN mình ngày càng được nâng cao. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao, ban lãnh đạo DN cùng với toàn bộ đội ngũ công nhân viên đã cố gắng và nỗ lực rất nhiều để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình thích ứng và phù hợp với điều kiện mới, DN đã chủ động trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng và khách hàng, thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế trên cơ sở đảm bảo hoàn thành đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế tài chính theo kế hoạch và không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao trách nhiệm đối với cán bộ công nhân viên, từ đó nâng cao đời sống của họ và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước và tận dụng tối đa các nguồn lực để từng bước khẳng định vị thế của mình.

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

  • Hạn chế

Bên cạnh các kết quả mà DN đạt được trong việc quản lý dòng tiền ngắn hạn của DN mình thì DN vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là hiệu quả quản lý dòng tiền ngắn hạn vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của DN, biểu hiện ở các mặt sau:

Lượng vốn bằng tiền mặt có sẵn cho phép DN chủ động trong việc mua hàng trả tiền ngay để hưởng chiết khấu thanh toán và cũng đảm bảo tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn, tuy nhiên khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của DN lại giảm nhanh chóng qua các năm, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh toán của DN, gia tăng khoản chi phí nếu có những biến động bất thường trọng hoạt động Sản xuất kinh doanh hàng ngày. DN cũng chưa có các mô hình dự báo tiền mặt để có mức dự trữ tối ưu cho DN mình: cần đi vay bao nhiêu, thừa bao nhiêu, thừa thì đầu tư như thế nào cho hiệu quả nhất.Khả năng thanh toán ngắn, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời của DN đều nhỏ hơn , điều này chứng tỏ tiềm lực tài chính của DN không ổn định, gây nên sự mất cân đối trong tổng tài sản của DN. Hệ số thanh toán tức thời của DN quá thấp, điều này gây bất lợi cho khi phải thanh toán các khoản nợ đến hạn. Hai tỷ suất sinh lời của DN (tỷ suất sinh lời trên tổng TS và tỷ suất sinh lời trên doanh thu) của DN vẫn còn thấp, hiệu quả kinh doanh thấp, DN hoạt động chưa có hiệu quả. Lưu chuyển tiền thuần của DN còn thấp, đặc biệt lại giảm mạnh qua các năm do chi phí của DN gia tăng trong khi dòng tiền thu về là không đủ để đáp ứng. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Việc DN nới nỏng tín dụng đối với khách hàng khiến cho doanh thu DN tăng nhanh, tuy nhiên điều này kéo theo các khoản phải thu của khách hàng cũng gia tăng nhanh chóng. Tỷ trọng khoản phải thu khách hàng đứng thứ hai trong tỷ trọng cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Nếu các khoản phải thu khách hàng có một tỷ lệ nợ quá hạn hay nợ khó đòi thì vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng do đó doanh nghiệp nên có chính sách thu tiền thích hợp để hạn chế tối đa bị chiếm dụng vốn.

Đối với DN xây dựng, hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của DN nhưng hàng tồn kho của DN Tư nhân Xây dựng Mạnh Cường tăng nhanh qua các năm và chiếm tỷ trọng quá cao trong cơ cấu tài sản ngắn hạn chứng tỏ việc sử dụng khoản mục này là chưa tốt, nếu hàng tồn kho tiếp tục tăng thì DN sẽ bị ứ đọng vốn và ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh kỳ sau do mặt hàng kinh doanh của DN phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị hiếu của khách hàng.

Kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chưa hợp lý, cụ thể là hàng tồn kho chiếm tỷ trọng quá lớn trong tài sản ngắn hạn (đều trên 80%). Mặt khác, cơ cấu của tài sản cũng chưa hợp lý cụ thể là tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất cao so với tài sản cố định làm cho hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như doanh lợi vốn lưu động chưa cao và thấp hơn so với các DN khác cùng ngành xây dựng.

Các khoản nợ dài hạn của DN chiếm tỷ trọng rất thấp, chiếm đến gần như tuyệt đối là các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn này có thể bị dồn ép nhiều dẫn đến DN không thanh toán kịp.

Trong nền kinh tế hội nhập đã đặt ra cho DN rất nhiều cơ hội và thách thức. Tuy là một DN đã thành lập 15 năm nhưng điều kiện tuyển dụng của DN chưa thực sự tốt để thu hút và đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao. Điều này đã làm giảm hiệu quả quản lý DN nói chung và quản lý dòng tiền ngắn hạn nói riêng của DN.

  • Nguyên nhân

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế của DN ta thấy hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả quản lý dòng tiền ngắn hạn nói riêng chịu ảnh hưởng của các nguyên nhân:

  • Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

Nhận thức của lãnh đạo DN về công tác quản lý dòng tiền ngắn hạn của DN chưa thật tốt, từ đó làm cho công tác tổ chức quản lý mang tính khoa học chưa cao, làm giảm hiệu quả sử dụng của các khoản mục trong ngắn hạn.

Hệ thống thông tin quản lý chưa đảm bảo yếu tố cập nhật thường xuyên, chưa đảm bảo tính hệ thống và chính xác. Những hạn chế trên đây cho thấy trình độ quản lý của DN là không tốt. Hiện nay phòng tài chính và phòng kế toán nhập làm một, các nghiệp vụ tài chính đều do các kế toán thực hiện mà họ lại không có chuyên môn sâu về lĩnh vực tài chính gây ra sự quá tải trong công việc và giảm chất lượng công tác tài chính. Có thể nói đây là nguyên nhân chính tác động đến việc sử dụng không hiệu quả các dòng ngân lưu ra vào của DN.

Các khoản phải thu của DN trong các năm liên tục tăng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Tài sản ngắn hạn của DN, khách hàng chiếm dụng vốn lớn của công. Việc bán hàng chịu, chưa thu tiền ngay có thể giúp DN bán được nhiều hàng, mở rộng thị phần. Hơn nữa do sự cạnh tranh về mặt hàng này trên thị trường rất lớn nên DN phải đẩy mạnh chính sách tín dụng để làm sao có thể đưa sản phẩm tới khách hàng. Đồng thời do khâu thẩm định chưa tốt và việc kiểm soát cấp tín dụng thương mại quá nhiều mà không hiệu quả làm cho khoản phải thu của DN quá cao.

Hiện nay vốn của DN chủ yếu là vốn đi vay bao gồm cả vay dài hạn và vay ngắn hạn. Xét một khía cạnh nào đó thì các khoản vay dài hạn đã đến hạn trả cũng trở thành vay ngắn hạn, do đó yêu cầu đặt ra đối với DN là phải hạch toán kinh doanh hết sức cẩn thận nếu không sẽ gặp rủi ro.

Tín dụng thương mại là một chính sách quan trọng giúp DN có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh, việc cấp tín dụng thương mại sẽ thu hút được nhiều khách hàng nhưng hiện nay chính sách này chưa được DN quan tâm nhiều đến. Để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận DN đã cấp tín dụng thương mại một cách tràn lan dẫn đến tình trạng DN bị chiếm dụng vốn lớn.

Đội ngũ cán bộ chuyên sâu còn yếu kém trong lĩnh vực thẩm định tài chính và kiểm soát khách hàng nên không theo dõi được các khoản phải thu dẫn đến các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản lưu động, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi cao.

Một nguyên nhân quan trọng nữa được thể hiện ở yếu tố con người, trình độ nhận thức và quản lý của một số cán bộ công nhân viên trong DN là rất tốt nhưng chủ trương kinh doanh của nhà lãnh đạo là mở rộng thị trường nên tìm mọi cách để bán được nhiều hàng, chấp nhận bỏ ra chi phí và bán hàng chưa thu tiền ngay cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hạn chế mà DN gặp phải.

  • Nguyên nhân khách quan

Thị trường tài chính chưa phát triển, chưa tạo điều kiện quản lý tài sản lưu động hiệu quả, cho nên việc huy động vốn thông qua thị trường tài chính vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó hoạt động không hiệu quả của các DN chứng khoán đã làm cho DN không tin tưởng để đầu tư chứng khoán. Điều đó đã hạn chế khả năng huy động vốn để đa dạng hoá cơ cấu nguồn vốn của DN. DN mới chỉ huy động được từ nguồn ngân sách Nhà nước, vay ngân hàng, tín dụng thương mại… chứ chưa có cơ hội để áp dụng các hình thức huy động vốn mới như phát hành trái phiếu, mua bán nợ trên thị trường chứng khoán…

Tóm lại qua phân tích thực trạng hiệu quả quản lý dòng tiền trong ngắn hạn của DN Tư nhân xây dựng và DV Mạnh Cường ta thấy rằng trong thời gian qua DN đã có những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên khi đi sâu vào phân tích thấy rằng bên cạnh những kết quả đạt được DN vẫn còn tồn đọng một số hạn chế trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong việc quản lý dòng tiền ngắn hạn nói riêng. Từ tình hình thực tế trên của DN đòi hỏi những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng quản lý dòng ngân lưu trong ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp quản trị dòng tiền ngắn hạn ở Doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x