Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng nhằm góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Indovina trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trước tác động của toàn cầu hoá, xu thế nhất thể hoá thị trường tài chính – tiền tệ đang diễn ra nhanh chóng. Việt Nam đang từng bước mở cửa tiến tới hội nhập khu vực và Quốc tế. Trong xu thế đó, Việt Nam đã ký kết không ít các Hiệp định song phương và đa phương liên quan tới hoạt động tài chính – ngân hàng. Đặc biệt Hiệp định thương mại Việt-Mỹ cũng như cam kết chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại thế giới ( WTO) đã buộc chúng ta phải đổi mới và mở cửa lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, các ngân hàng thương mại cần đa dạng hóa các hình thức dịch vụ, đa dạng về hình thức, có uy tín với khách hàng, hoạt động có hiệu quả, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Đối với các Ngân hàng Thương mại thì việc phát triển dịch vụ là một giải pháp cơ bản, hết sức cần thiết bởi nó thúc đẩy quá trình hội nhập, mở rộng cạnh tranh, nâng cao tính chủ động và hiệu quả của ngân hàng. Tuy nhiên, không phải một vài ngân hàng nhận ra và đi theo hướng này, vì thế sức ép cạnh tranh ngày càng tăng lên. Trước tình hình đó, đòi hỏi mỗi một ngân hàng cần tìm cho mình một giải pháp thiết thực, mang tính chiến lược và đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng. Do vậy, phát triển dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi Ngân hàng Thương mại hiện nay.
Trong quá trình phát triển dịch vụ, vấn đề điều chỉnh cơ cấu dịch vụ của một ngân hàng là điều rất quan trọng. Bên cạnh công tác phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng truyền thống (dịch vụ tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh) và các dịch vụ ngân hàng hiện đại (dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking, Home Banking) thì việc nâng dần tỷ trọng thu phí – hay các khoản thu phi lãi là xu thế tất yếu của mô hình Ngân hàng Thương mại hiện nay. Với các NHTM trên thế giới thì phát triển dịch vụ ngân hàng đã có từ lâu nhưng ở Việt Nam thì đây là vấn đề hết sức mới mẻ. Phát triển dịch vụ ngân hàng là một xu thế tất yếu chỉ có phát triển dịch vụ mới có thể thoả mãn tốt nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng, bởi khách hàng là điều kiện sống còn của một ngân hàng.
Trước yêu cầu bức thiết đó, em đã lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng nhằm góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Indovina trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là vấn đề nghiên cứu của khoá luận này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận.
Khoá luận tập trung nghiên cứu vào một số nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu về NHTM và vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế thị trường.
- Nghiên cứu đặc điểm của các loại sản phẩm dịch vụ, từ đó thấy được sự khác biệt so với các sản phẩm hàng hoá thông thường khác và ngân hàng cần phải có các biện pháp để tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới.
- Xác định mục đích của việc phát triển dịch vụ ngân hàng từ đó đưa ra một số điều kiện cần thiết để các ngân hàng phát triển hoạt động dịch vụ theo xu hướng hội nhập Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
- Nghiên cứu sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Indovina hiện nay ra sao, liệu có khả năng cạnh tranh hay mức đáp ứng nhu cầu khách hàng so với các Ngân hàng Thương mại khác. Qua đó tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm tạo đà phát triển cho Ngân hàng Indovina tiến vào hội nhập kinh tế một cách vững mạnh.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết vấn đề đạt ra, theo truyền thống khoá luận sử dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ việc nghiên cứu lý luận, khái niệm của các nước và thực tiễn vận dụng vào Việt Nam. Kết hợp sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp phân tích kinh tế để vận dụng vào phân tích các chỉ tiêu trong khoá luận.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn tại một số NHTM khác để đúc kết kinh nghiệm và đề ra giải pháp, kiến nghị.
4. Những đóng góp của khoá luận.
- Phân tích, hệ thống hoá những khái niệm, những nguyên lý mô hình về các sản phẩm dịch vụ của NHTM trong nền kinh thị trường.
- Thu thập, phân tích và đánh giá thực trạng của việc phát triển dịch vụ của ngân hàng Indovina trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng một cách có hiệu quả.
5. Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu của khoá luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được trình bày thành 3 chương:
- Chương 1: Phát triển dịch ngân hàng- xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Indovina.
- Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng nhằm góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Indovina trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng song do còn thiếu kinh nghiệm cũng như tầm hiểu biết thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô chỉ bảo tận tình để khoá luận được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG – XU HƯỚNG TẤT YẾU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
I. Khái quát về Ngân hàng thương mại:
1. Bản chất của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường:
Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Như vậy, ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ trong đó có hai nghiệp vụ cơ bản là: Nhận ký thác của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan Nhà nước và sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay chiết khấu.
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất. Tổng số tài sản nợ của Ngân hàng bao giờ cũng lớn hơn tổng số tài sản nợ của các ngân hàng khác và của các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Hoạt động của các NHTM mang tính chất tổng hợp, ngoài ra còn là thành viên chủ yếu tham gia thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán.
2. Chức năng của ngân hàng thương mại:
- Thứ nhất, chức năng trung gian tín dụng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Với chức năng này, NHTM đã khắc phục được những hạn chế trong mối quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và chủ thể có nhu cầu tiền tệ cần bổ xung trong thời gian ngắn. Thông qua khoản vốn ngân hàng hình thành thêm quỹ rồi đem cho vay đối với nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Như vậy, ngân hàng vừa đóng vai trò là người cho vay và là người đi vay.
Lý do các ngân hàng thực hiện chức năng này là vì nó là cơ quan chuyên trách kinh doanh tiền tệ, tín dụng có khả năng nhận biết được tình hình cung cầu về tín dụng là nơi khách hàng có thể gửi tiền. Ngân hàng có thể tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ với người gửi tiền, mà vẫn đảm bảo lợi ích của nền kinh tế. Đây là chức năng quan trọng nhất vì nó phản ánh bản chất của NHTM đó là “vay để cho vay”, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của NHTM, đồng thời là cơ sở để thực hiện những chức năng tiếp theo.
- Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán.
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM đóng vai trò là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, thực hiện các yêu cầu của khách hàng như: Trích tài khoản từ tiền gửi của khách hàng hay nhập tiền vào tài khoản của khách hàng, thanh toán hộ cho khách hàng. Ngân hàng mở hộ cho khách hàng và theo dõi thu chi. Đó là tiền khách hàng thực hiện qua ngân hàng, đặt vào vị trí tiền gửi thanh toán đồng thời giảm thiểu rủi ro và chi phí trong việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt của các chủ thể kinh tế.
Chức năng trung gian thanh toán của NHTM có mối quan hệ hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì, ngân hàng sẽ sử dụng số tiền gửi của khách hàng này để cho khách hàng khác vay với mục đích trả nợ, thanh toán. Với việc gửi tiền vào ngân hàng hay ngân hàng chi trả hộ khách hàng đã giảm thiểu tới mức tối đa những rủi ro, bất tiện và đặc biệt là chi phí lưu thông tiền mặt và những chi phí liên quan tới người trả và người nhận tiền. Khi nền kinh tế càng phát triển, càng bộc lộ rõ vai trò quan trọng của nó, làm cơ sở cho các chức năng tiếp theo, và là cơ sở cho chức năng “tạo tiền”.
- Thứ ba, chức năng tạo tiền của NHTM.
Chức năng tạo tiền là một trong những chức năng cơ bản của NHTM, sự ra đời của nó đã tạo ra sự phát triển về chất trong kinh doanh tiền tệ. Trước đây, các tổ chức kinh doanh tiền tệ chỉ nhận gửi tiền (vàng, bạc) và cho vay bằng chính đồng tiền đó. Ngày nay, chức năng này không hoàn toàn như vậy nữa. Khi phân chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp, trong đó Ngân hàng Trung Ương – ngân hàng cấp 1- là ngân hàng phát hành, quản lý lưu thông tiền tệ, còn các NHTM- ngân hàng cấp 2- chuyên kinh doanh tiền tệ. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Cơ sở quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Thực chất của quá trình này là NHTM đã “biến” một khối lượng tiền gửi ghi sổ thể hiện trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thành một khoản tiền lớn hơn nhiều lần khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân hàng khác. Quá trình này được miêu tả như sau:
Ngân hàng sử dụng số tiền từ việc huy động, sau đó đem cho khách hàng vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để thanh toán trong khi đó số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận tiền giao dịch. Khi ngân hàng nhận tiền gửi chưa cho vay, thì lúc đó ngân hàng chưa tạo ra tiền, hay nói cách khác là nó chỉ tạo ra tiền khi cho vay trong nền kinh tế, chính việc này đã tạo ra tiền gửi thanh toán.
Tuy vậy, để tạo ra tiền gửi thanh toán, NHTM phải làm được chức năng trung gian thanh toán, mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng thì số tiền trên tài khoản mới là một bộ phận của tiền giao dịch. Với chức năng này, ngân hàng đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi trả, chi trả cho xã hội. Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng tạo ra làm tăng khả năng tạo tiền và từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
- Thứ tư, chức năng cung ứng dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác.
Ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền, NHTM còn có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các Doanh nghiệp, bảo lảnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Ngân hàng có thể tư vấn cho doanh nghiệp chọn loại chứng khoán để phát hành, về lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán. Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán, mua bán chứng khoán cho các khách hàng.
Với điều kiện và khả năng của mình, ngân hàng còn có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác như dịch vụ bảo quản tài sản có giá trị, dịch vụ tín thác, dịch vụ cho thuê két sắt.
3. Vai trò của Ngân hàng thương mại: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Như chúng ta đã biết vai trò của NHTM được thể hiện rõ nét ngay ở chức năng của nó. Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng, qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng đã tập hợp khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân và cung ứng nguồn vốn đó cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, góp phần lưu thông hàng hoá tiền tệ, cũng như đẩy mạnh tiêu dùng cá nhân.
Các ngân hàng đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nếu không có ngân hàng trung gian thì việc huy động mọi của cải xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ chậm đi rất nhiều. Có thể nói nó là “chất dầu bôi trơn” cho bộ máy kinh tế hoạt động.
ới chức năng thanh toán, ngân hàng đã thực hiện dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế, từ đó thúc đẩy luân chuyển hàng hoá, luân chuyển vốn trong xã hội. Đồng thời, thực hiện giám sát toàn bộ nền kinh tế, góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội.
Ngân hàng là bộ mặt của xã hội, do đó không thể kể đến vai trò quan trọng đó là ngân hàng đã thu hút một lượng vốn đầu tư lớn cho nền kinh tế, mở rộng đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp đỡ các doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện việc cung cấp các dịch vụ cần thiết khác như: Tư vấn đầu tư, thuê mua tài chính, bảo lãnh, giúp đỡ khách hàng kiểm tra số dư tài khoản của mình.
Như chúng ta đã biết, NHTM tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ vì thế mà nó là công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. Thật vậy, để thực thi được chính sách tiền tệ, NHTW phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền cung ứng trong lưu thông để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ của chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả khi có các NHTM và các trung gian tài chính tham gia đầy đủ theo quy định của NHTW (về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt).
Việt Nam cùng với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã thay đổi mạnh mẽ cả về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, hoạt động hiệu quả hơn rất nhiều. Như vậy, sự ra đời của NHTM là xu hướng tất yếu khách quan, có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong nền kinh tế hàng hoá thị trường: Góp phần giảm chi phí lưu thông, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đặc biệt trong mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
II. Dịch vụ ngân hàng: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
1. Các loại dịch vụ ngân hàng:
Đối với nền kinh tế, bản thân hoạt động của ngân hàng là một loại dịch vụ. Tuy nhiên, đối với từng ngân hàng người ta phân biệt thành 2 nội dung chính như sau.
- Kinh doanh tiền tệ.
- Dịch vụ ngân hàng.
Trong giới hạn của bài viết, tôi xin đề cập đến mảng dịch vụ ngân hàng để chúng ta thấy được tầm quan trọng của dịch vụ ngân hàng với cơ chế thị trường như hiện nay. Trước tiên chúng ta hãy xem dịch vụ ngân hàng ở các nước phát triển trên thế giới bao gồm những loại dịch vụ gì.
Nói tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng của những nước phát triển chúng ta không thể phủ nhận một điều là hoạt động dịch vụ của họ phát triển rất mạnh mẽ (theo con số thống kê tỷ lệ thu từ dịch vụ chiếm khoảng trên 30% tổng thu nhập của ngân hàng đó). Hoạt động dịch vụ có rất nhiều loại, nhiều sản phẩm nhưng chúng ta phân chia chúng ra thành những nhóm chủ yếu sau đây.
Nhóm thứ nhất là nhóm dịch vụ gắn liền với kinh doanh tiền tệ.
- Nhận uỷ thác và làm đại lý hoặc uỷ thác và đặt đại lý. Chẳng hạn, đại lý phát hành trái phiếu và cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác cho doanh nghiệp.
- Chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá khác, hoặc cầm cố các thương phiếu.
- Kinh doanh ngoại hối.
- Cung ứng dịch vụ bao thanh toán (factoring). Đây là một hình thức chiết khấu chứng từ, nhằm tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp qua việc mua lại các hoá đơn ghi các khoản nợ phải thu của các doanh nghiệp, xuất phát từ việc bán hàng trả chậm, quản lý sổ sách kế toán cho doanh nghiệp. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
- Dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng bạc.
- Tài trợ mua trả góp.
- Thuê mua tài chính.
- Mua bán chứng khoán cho mình và cho bên thứ 3, nghĩa là mua bán công cụ nợ (kinh doanh và mua bán chứng khoán).
- Tài trợ tiêu dùng (mua ô tô, mua cổ phần và trái phiếu).
- Bảo lãnh cho bên thứ
- Dịch vụ tư vấn đầu tư.
- Giao dịch nhà đất và bất động sản.
- Tiết kiệm gắn với bảo hiểm (an sinh, giáo dục, ôtô, nhà đất, tiêu dùng).
Nhóm thứ hai là nhóm dịch vụ gắn với thanh toán.
Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt với nhiều nội dung:
- Chuyển tiền điện tử.
- Qua máy gửi và rút tiền tự động (ATM) trên cơ sở phát hành thẻ và sử dụng thẻ thanh toán hoặc thẻ tín dụng (gồm thẻ nội địa và thẻ thanh toán quốc tế như: Visa card, Mastercard).
- Tham gia mạng thanh toán quốc tế (SWIFT).
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ từng ngân hàng.
- Tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (ở nước ta hiện nay có khoảng 6 đơn vị tham gia) nhờ đó :
- Có thể chuyển từ hệ thống bán lẻ sang hệ thống thanh liên ngân hàng.
- Có thể chuyển từ tiết kiệm không kỳ hạn qua tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm đầu tư có lãi suất cao.
- Khách hàng có thể trả tiền cho nhiều loại hình như: Trả lương, tiền hưu trí, tiền điện, tiền nước, trả gốc và lãi tiền vay.
- Có thể giao dịch thanh toán tức thì, không qua trung gian thanh toán nào. Qua hệ thống giao dịch tự động, khách hàng có thể giao dịch 24/24h tại máy ATM trong cả nước.
- Từ tài khoản tiền gửi cá nhân, có thể rút tiền mặt qua thẻ tín dụng nội địa hoặc quốc tế, thẻ ghi nợ quốc tế.
- Nhờ hệ thống giao dịch tự động này, khách hàng có thể mở tài khoản một nơi nhưng có thể rút ở nhiều nơi, thậm chí khách hàng có thể giao dịch ở nhà mà không phải đến ngân hàng.
- Dịch vụ lưu ký và thanh toán chứng khoán cho các bên giao dịch ở SGD chứng khoán.
Nhóm thứ ba là nhóm dịch vụ ngân quỹ.
- Dịch vụ đếm kiểm, thu nộp và cung ứng tiền mặt cho đối tác có tài khoản.
- Dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá.
- Cho thuê tủ két sắt, cầm đồ.
- Các loại dịch vụ ngân quỹ khác.
Dịch vụ Ngân hàng Việt Nam hiện nay phát triển ra sao so với các ngân hàng trong khu vực, từ đó chúng ta có thể đánh giá chính xác được thực trạng này ở nước ta hiện nay như thế nào.
Theo luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi năm 2023) nước ta cho phép các ngân hàng được thực hiện các loại dịch vụ chủ yếu sau đây: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
1. Tham gia vào thị trường tiền tệ.
- Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc.
- Thị trường nội tệ, ngoại tệ liên ngân hàng.
- Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
2. Tham gia hệ thống thanh toán.
- Thanh toán nội bộ từng ngân hàng.
- Thanh toán liên Ngân hàng trong nước.
- Thanh toán quốc tế.
3. Làm dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế trong đó có :
- Cung ứng phương tiện thanh toán.
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ.
4. Dịch vụ ngân quỹ.
- Thu nộp và cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
5. Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế
6. Uỷ thác, nhận uỷ thác ; làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng.
7. Kinh doanh và làm dịch vụ bảo hiểm qua Công ty độc lập.
- Kinh doanh bảo hiểm.
- Cung ứng các dịch vụ bảo hiểm.
8. Dịch vụ tư vấn về tài chính cho khách hàng.
9. Các loại dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân.
- Bảo quản vật quý, giấy tờ có giá.
- Cho thuê tủ sắt, két sắt.
Ngoài ra còn có các dịch vụ thông tin tư vấn, dịch vụ thẩm định kỹ thuật.
2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng mang tính vô hình: Do dịch vụ của ngân hàng không tồn tại dưới dạng vật chất vì vậy khách hàng khi mua dịch vụ không thể sờ nắm được vật mà mình mua. Để tăng lòng tin tưởng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thì ngân hàng cần rất nhiều biện pháp tác động tới khách hàng, từ đó để họ tin rằng họ sẽ thu được nhiều lợi ích khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Do đó hoạt động marketing là rất quan trọng, hoạt động này coi như là hoạt động chính của ngân hàng, tác động chính vào khách hàng, đi sâu vào tâm lý của khách hàng, hướng tới khách hàng và coi đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng.
Thứ hai, tính không thể tách rời. Trên thực tế, Quá trình cung ứng dịch vụ Ngân hàng luôn luôn cùng diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng của khách hàng, họ cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng dịch vụ và khách hàng là một tính chất đặc biệt của marketing dịch vụ. Cả nhân viên ngân hàng và khách hàng đều tác động ảnh hưởng tới kết quả dịch vụ. Trong khi đó, xuất phát từ tính chất phức tạp của dịch vụ, các giải pháp marketing không chỉ hướng riêng vào nhân viên ngân hàng mà còn phải nhanh gọn, chính xác với thái độ thiện cảm với khách hàng. Bên cạnh đó còn phải phối hợp chặt chẽ với khách hàng hoàn tất quá trình cung ứng dịch vụ.
Thứ ba, tính không ổn định về chất lượng: Dịch vụ Ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào nhân tố con người mà con người là nhân tố không ổn định vì vậy chất lượng dịch vụ không ổn định. Giải pháp điều này là phải hướng tới đào tạo nhân viên ngân hàng làm việc có bài bản nhưng không mất đi tính năng động vốn có của con người.
Thứ tư, dịch vụ Ngân hàng không có tính lưu trữ được. Thật vậy dịch vụ ngân hàng không thể sản xuất rồi lưu kho như các sản phẩm thông thường khác, vì vậy hoạt động ngân hàng cần hướng vào việc điều chỉnh nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua bán, rút ngắn quá trình xử lý nghiệp vụ, tăng cường nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm.
3. Mục đích của việc phát triển dịch vụ ngân hàng:
Tại sao lại cần phải xác định mục đích? Để tạo ra vị thế cạnh tranh trên thị trường lẽ tất nhiên là chúng ta cần tạo cho ngân hàng mình một điểm riêng, một ưu thế riêng, một đoạn thị trường nào mà ở đó ngân hàng của mình có ưu việt hơn đối thủ cạnh tranh hoặc chúng ta cần phải biết “từ bỏ” khỏi thị trường đó nếu như đối thủ cạnh tranh có thể mạnh hơn hẳn mình. Đây cũng là một chiến lược trong cạnh tranh mà chúng ta cần phải xác định rõ mục đích.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh thì phát triển dịch vụ là điều rất quan trọng bởi chỉ có ngân hàng có nhiều tiện ích thì mới thoả mãn tối đa nhu cầu. Do vậy chỉ có những ngân hàng nào có thế mạnh thì mới đứng vững trên thị trường. Việc phát triển dịch vụ nhằm mục đích phát triển một lượng lớn tài chính, doanh thu tăng lên. Theo lý thuyết, đầu tư càng lớn, vốn càng lớn, càng dễ thu nhiều lợi nhuận. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Bên cạnh đó, xác định mục đích phát triển dịch vụ chúng ta tạo nên hoạt động của các ngân hàng trở lên sôi động hơn, tạo nên một môi trường kinh doanh phát triển ở trình độ cao, “cạnh tranh ở mức độ cao sẽ tạo ra động lực để mỗi người tự hoàn thiện và phát triển bản thân”.
Tiếp đến, hiện nay thị trường của chúng ta đang rất lộn xộn, các cơ quan chức năng rất khó kiểm soát, chưa hình thành một thị trường cạnh tranh, chưa hình thành văn minh thương mại. Đó là một điều rất bất lợi cho tiêu dùng: đó là hiện tượng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng,… Đồng thời khách hàng cũng chưa được cung ứng dịch vụ tốt nhất. Từ bất cập trên, việc phát triển dịch vụ cần phải làm tốt công tác khách hàng, lấy khách hàng là “cuộc sống” của Ngân hàng. Từ đó mới có thể cung cấp dịch vụ tốt nhất đối với khách hàng. Một mục đích quan trọng nữa không thể không kể đến đó là việc đóng góp của các ngân hàng làm tăng tiềm lực tài chính của quốc gia cho nền kinh tế như thông qua nghĩa vụ đóng góp với ngân sách Nhà nước, trích lập các quỹ tương trợ cho xã hội.
Đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng bằng việc áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí trên một sản phẩm và các sản phẩm đơn lẻ sẽ được liên kết thành “dịch vụ ngân hàng” thắt chặt quan hệ lợi ích giữa khách hàng và ngân hàng. Ví dụ: chỉ với dịch vụ giao dịch địa ốc ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ: dịch vụ tư vấn thủ tục, thanh toán qua ngân hàng, sẵn sàng cho khách hàng vay nếu họ có nhu cầu, ngăn ngừa rủi ro trong quá trình mua nhà … và nhiều tiện ích khác nữa.
4. Ý nghĩa của việc phát triển dịch vụ ngân hàng: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Như chúng ta đã biết, dịch vụ Ngân hàng là một tín hiệu cho thấy trình độ phát triển của một quốc gia. Do vậy nó có ý nghĩa cực kỳ to lớn không những có những đóng góp cho xã hội mà còn lợi ích của một nền kinh tế. Chúng ta hãy tách lợi ích của nó đem lại ra cho từng đối tượng để thấy được tầm quan trọng của nó:
- Thứ nhất, đối với nền kinh tế và khách hàng.
Thông qua hoạt động dịch vụ tài chính ngân hàng thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế, làm luân chuyển tiền tệ trong không gian và thời gian để sinh lời. Từ đó, các khối tiền bất động trở thành sống động hơn di chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ khách hàng này sang khách hàng khác để phục vụ sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế xã hội, kích thích và thúc đẩy sản xuất phát triển thông qua các dịch vụ đầu tư , dịch vụ ngoại hối, dịch vụ thuê mua tài chính góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, thực hiện chuyển giao công nghệ, kích thích sản xuất kinh doanh nhập khẩu phát triển kinh tế đất nước.
Hoạt động dịch vụ tài chính ngân hàng đã tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy nhịp nhàng thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh chóng góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá. Dịch vụ tài chính của ngân hàng góp phần tích cực trong việc mang lại nhiều lợi ích chung cho nền kinh tế, cho khách hàng và cho ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và sự chuyên môn hóa của từng dịch vụ: giảm chi phí kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như tiết kiệm nhân lực để thực hiện; chi phí dịch vụ thấp so với giá trị tài sản hoặc thấp trong trường hợp phải đầu tư phương tiện phải bảo quản tại nhà, khi thực hiện quản lý hộ, giữ hộ. Thông qua đó khách hàng có cơ hội lựa chọn sản phẩm dịch vụ có lợi nhất, hiệu quả nhất.
- Thứ hai, đối với các Ngân hàng.
Hoạt động dịch vụ tài chính của ngân hàng, đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập lớn từ phí dịch vụ, hoa hồng. Phát triển dịch vụ Ngân hàng đa dạng hoá tiện ích theo hướng cải tiến công tác thanh toán, đơn giản hoá thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt động. Bên cạnh đó, Ngân hàng có thể phát triển những dịch vụ hỗ trợ như: dịch vụ trả lương, dịch vụ chuyển tiền mặt giao tận tay cho người nhận sẽ thu hút được nhiều khách hàng thanh toán qua ngân hàng từ đó làm tăng trưởng nguồn thu dịch vụ của Ngân hàng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán của khách hàng đang lưu ký trên các tài khoản tiền gửi séc bảo chi, séc chuyển tiền cầm tay trong thời gian tờ séc chưa quay trở về ngân hàng. Những tài khoản dùng để đảm bảo thanh toán này, ngân hàng không phải trả lãi như đối với các loại tài khoản tiền gửi khác.
Sự phát triển dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực tài chính Công ty đặc biệt là cung ứng dịch vụ tư vấn và phân tích tài chính phục vụ hoạt động của ngân hàng, đã mở ra khả năng to lớn để tăng lợi nhuận cho các tổ chức ngân hàng cũng như khả năng mở rộng thêm đội ngũ khách hàng. Từ đó các ngân hàng có thể chuyển các rủi ro của người đi vay từ bảng cân đối của các ngân hàng sang các tổ chức đầu tư, tăng vốn tư bản và thực thi chiến lược phát triển của các Công ty.
Đối với các ngân hàng, việc cung ứng các dịch vụ trong lĩnh vực tài chính Công ty không chỉ mang lại khoản lợi nhuận khổng lồ mà còn tạo ra cho họ những lợi thế rất quan trọng để đảm bảo nâng cao hiệu quả và độ an toàn cho hoạt động ngân hàng như: Duy trì và tăng cường tính trung thực của khách hàng đối ngân hàng, có điều kiện nghiên cứu kỹ các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của khách hàng, thu hút thêm được khách hàng mới, thiết lập được cơ sở dữ liệu thông tin tin cậy của riêng mình về khách hàng lớn nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn đầu tư và trình độ của cán bộ nhân viên ngân hàng. Thực ra, bất cứ một ngân hàng nào hoạt động chân chính đều phải thực hiện đầy đủ ba nghĩa vụ sau:
Trước hết, đối với chính bản thân ngân hàng đó là nghĩa vụ kinh doanh làm sao cho đạt lợi nhuận tối đa. Nói gì thì nói, lợi nhuận cũng chính là nhiệm vụ sống còn của ngân hàng bởi ngân hàng bắt buộc phải tồn tại và phát triển. Từ đó mới có tiềm lực và điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ đối với xã hội. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Tiếp theo, là phải làm nhiệm vụ đối với thị trường, thể hiện ở việc làm tròn bổn phận đối với khách hàng. Ngay từ đầu, phải xác định mục tiêu phục vụ khách hàng là mục tiêu cao nhất, phải cung cấp cho khách hàng những dịch vụ hoàn hảo nhất. Luôn coi khách hàng là cuộc sống của ngân hàng. Tránh kiểu làm ăn “lừa đảo khách hàng” sau đó chuyển sang khách hàng khác. Ngân hàng phải nghĩ tới làm ăn lâu dài điều đó có nghĩa là lấy khách hàng làm đầu, củng cố và giữ chữ tín để chuẩn bị cho những bước cao hơn.
Cuối cùng, thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, trách nhiệm này thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:
- Trách nhiệm phải tạo thêm việc làm cho xã hội. Tất nhiên không phải nói ai cũng hiểu tầm quan trọng của việc làm trong việc hạn chế các tệ nạn xã hội, tận dụng và phát huy tối đa nguồn lực.
- Trách nhiệm bảo vệ môi trường việc này thể hiện ở chỗ việc lựa chọn công nghệ phù hợp, tuân theo các tiêu chuẩn kinh doanh do NHTW đề
- Trách nhiệm đóng góp vào ngân sách quốc gia “ thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước”
Ngoài ra, trong điều kiện cụ thể mà ngân hàng có thể tham gia đóng góp tài chính cho trong việc ủng hộ các vấn đề xã hội như bão lụt.
III. Hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập KTQT: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
1. Tính tất yếu phải hội nhập KTQT trong lĩnh vực ngân hàng:
Hội nhập KTQT của một nền kinh tế là mức độ mở cửa về hoạt động kinh tế giữa nền kinh tế đó và các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Mức độ mở cửa hội nhập về hoạt động ngân hàng là mức độ giao dịch về các nghiệp vụ tín dụng, tiền tệ thanh toán của một nền kinh tế với thế giới bên ngoài. Độ mở cửa này có thể được đo bằng mức độ tự do hoá khu vực tiền tệ tín dụng ngân hàng.
Bản chất của hội nhập KTQT về ngân hàng là giao lưu về hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nước với cộng đồng tài chính khu vực và quốc tế, là sự dỡ bỏ các rào cản ngăn cách, tạo nên sự tự do hoá các hoạt động dịch vụ ngân hàng giữa trong nước và thế giới. Như vậy có thể nói hội nhập KTQT trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung và ngành ngân hàng nói riêng là một xu thế tất yếu. Nhận thức được vấn đề này, trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành những bước đi quan trọng nhằm mục đích tự do hoá thị trường tài chính và thực tế đã cho thấy hội nhập KTQT về ngân hàng đã mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho mỗi quốc gia và toàn cầu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hệ thống tài chính – ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những hệ thống hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu quả và lành mạnh hơn. Do vậy các nước đang phát triển nói chung muốn hội nhập quốc tế, phát triển và cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao khả năng thu hút và phân bổ các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao hơn nhưng với chi phí thấp hơn.
Về mặt chính sách nhằm khuyến khích hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ thường thực hiện mở cửa tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, xây dựng môi trường chính sách trong nước hỗ trợ cho cạnh tranh, từng bước cho phép các ngân hàng nước ngoài cạnh tranh trong một sân chơi công bằng và tạo thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong nước thâm nhập thị trường quốc tế. Bên cạnh đó chính phủ các nước cũng áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ tốt nhất của quốc tế liên quan đến hoạt động ngân hàng làm cho thương mại và luân chuyển vốn quốc tế tự do hơn. Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên thực tế tùy thuộc vào sự phản hồi của các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong nước đối với các cơ hội do sự thay đối chính sách tạo ra. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được thể hiện qua: mức độ sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng trong nước; thị phần dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài… Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Ngành ngân hàng đóng vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của các ngành khác trong nền kinh tế. Chính vì vậy trong tiến trình hội nhập KTQT lĩnh vực ngân hàng luôn là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu. Tính tất yếu phải hội nhập của ngành ngân hàng được thể hiện như sau:
Thứ nhât, khi hoạt động trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các nước không ngừng được mở rộng đã làm phát sinh các khoản thu chi bằng tiền mặt giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Tuy nhiên nếu họ thanh toán trực tiếp với nhau thì rất tốn thời gian và tiền của do vậy các ngân hàng đã xuất hiện với vai trò làm trung gian thanh toán. Điều này làm cho hoạt động thanh toán giữa người mua và người bán trở nên thuận lợi hơn rất nhiều.
Thứ hai, trong nền kinh tế có những lúc vào một thời điểm nơi này thừa vốn và nơi khác thiếu vốn nhất là khi hội nhập. Khi đó ngân hàng đã đóng vai trò điều chuyển vốn giữa những nơi thừa và nơi thiếu để nguồn vốn được sử dụng một cách hiệu quả.
Thứ ba, quan hệ thương mại quốc tế rất phức tạp nó liên quan tới nhiều doanh nghiệp tại nhiều quốc gia khác nhau. Chính vì vậy nếu hoạt động kinh tế giữa các bên không rõ ràng thì tranh chấp rất dễ xảy ra. Lúc này ngân hàng xuất hiện với vai trò là người tư vấn ký kết hợp đồng thương mại giúp khách hàng trong việc lựa chọn các phương thức thanh toán và thủ tục thanh toán.
Tóm lại, trong quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính, NH đã trở thành một trong những nội dung chủ yếu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các quan hệ kinh tế, tài chính của mỗi nước trên thế giới. Các NHTM cùng hoà mình vào dòng chảy đó. Đi đôi với nó, dịch vụ ngân hàng không ngừng phát triển theo xu thế đó bởi lẽ khi nhìn nhận một quốc gia nào đó, điều đầu tiên là xem xét hệ thống ngân hàng nước đó như thế nào? Hoạt động ra sao? Bởi dịch vụ ngân hàng là tín hiệu cho thấy trình độ và chất lượng hoạt động ngân hàng. Bởi đây là thử thách hàng đầu và là mặt trận chủ yếu trong quá trình cạnh tranh và hội nhập mà chúng ta phải trải qua là đứng vững.
2. Các đặc trưng của ngân hàng trong điều kiện hội nhập. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Khi hội nhập quốc tế, hoạt động của các ngân hàng không còn chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà sẽ mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới. Vì vậy hoạt động của hệ thống ngân hàng không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố trong nước mà còn chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố từ bên ngoài, từ đó hoạt động của ngân hàng sẽ có nhiều thay đổi để thích nghi với môi trường hoạt động mới. Trong quá trình hội nhập, hoạt động ngân hàng mang những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất: Ngân hàng phải tuân theo qui luật thị trường và các luật lệ tập quán kinh doanh quốc tế trong điều kiện hội nhập.
Hội nhập tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, mọi ngăn cách bị phá vỡ, các ngân hàng sẽ hoạt động theo qui luật thị trường, trong điều kiện như vậy, ngân hàng nào có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại, nếu ngân hàng nào chuyển biến một cách chậm chạp sẽ bị đào thải .
- Thứ hai: Hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế rất đa dạng, phức tạp và diễn ra trên diện rộng .
Khi hội nhập KTQT, các ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh ra nước ngoài khi đó sản phẩm của ngân hàng sẽ trở nên phức tạp hơn, cơ cấu tài sản, nguồn vốn của ngân hàng hàm chứa nhiều yếu tố nước ngoài hơn, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn bởi chính chi nhánh của ngân hàng mình .
Ngoài ra, khi hội nhập KTQT, các ngân hàng còn chịu nhiều ảnh hưởng của những biến động thế giới về kinh tế chính trị xã hội như khủng bố, xung đột quân sự, nạn dịch, sự đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế, những biến động đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không thể dự đoán trước, do đó để hạn chế những rủi ro trên các ngân hàng phải có chính sách đối phó thích hợp nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định tài chính tiền tệ nói chung và an toàn hoạt động ngân hàng nói riêng.
- Thứ ba: Hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập mang tính cạnh tranh cao.
Một trong những ưu điểm của hội nhập KTQT là tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các ngân hàng trong nước cũng như nước ngoài nhưng cũng chính điều này lại tạo ra khó khăn cho các ngân hàng trong nước đặc biệt là với những nước đang phát triển vì lúc này môi trường cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn. Các ngân hàng nước ngoài khi tham gia vào thị trường tài chính tiền tệ trong nứơc với những tranh thiết bị hiện đại, sản phẩm dịch vụ nhiều tiện ích, quy cách phục vụ hoàn toàn mới sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng có năng lực về tài chính. Như vậy trong cùng một môi trường hoạt động với các chính sách hoạt động và ưu đãi như nhau, các NHTM trong nước muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện mình để giữ được khách hàng truyền thống và thu hút thêm khách hàng mới. Đây là một thách thức với các nước đang phát triển vì những nước này tiềm lực tài chính còn yếu, kinh nghiệm kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh quốc tế chưa cao.
- Thứ tư: Hoạt động ngân hàng diễn ra trong môi trường công nghệ tiên tiến hiện đại và sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng Internet. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Nền tảng cơ bản trong quá trình hội nhập của các ngân hàng đó là sự ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng, từ đó đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng, thoả mãn nhu cầu cho số lượng lớn khách hàng. Trong quá trình vận động để đổi mới, hoàn thiện mình, các ngân hàng đã đưa ra rất nhiều các sản phẩm dịch vụ với mức độ tiện ích cao, trình độ công nghệ vượt trội như: sản phẩm dịch vụ điện tử (E- Marketing ), ngân hàng Internet, dịch vụ thanh toán điện tử từ xa (Telebank). Sự phát triển của các mạng dịch vụ tài chính quốc tế đã khắc phục được các trở ngại về thời gian, không gian, tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện cho các giao dịch có thể thực hiện nhanh chóng, thuận lợi đem lại tiện ích cho khách hàng.
3. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
Theo từ điển Việt Nam, cạnh tranh được hiểu là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động, giữa những người hoạt động như nhau.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như là sự lựa chọn duy nhất. Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, nơi có sự cung ứng hàng hóa, dịch vụ của ít nhất hai doanh nghiệp trong cùng một điều kiện giống nhau. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp phải bằng mọi biện pháp khác nhau để sử dụng tối đa các nguồn lực mà mình có để vượt lên trên đối thủ cạnh tranh cùng loại để khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế.
Trong hoạt động ngân hàng, các ngân hàng cũng phải cạnh tranh với nhau để tồn tại. Hiện nay, nước ta có 5 NHTM nhà nước tuy chiếm gần 76% tổng nguồn vốn huy động và 80% thị phần tín dụng, nhưng tổng số vốn tự có chưa tới 1 tỷ USD, đạt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản chưa đến 5% (theo thông lệ tối thiểu là 8%); nhóm NHTM cổ phần với 36 ngân hàng chiếm 11% tổng nguồn vố huy động và 10% thị phần tín dụng; 4 ngân hàng liên doanh, 29 chi nhánh ngân hàng của 14 quốc gia và vùng lảnh thổ tại Việt Nam chỉ chiếm 10% thị phần tín dụng nhưng nhìn chung họ có ưu thế hơn các NHTM Việt Nam về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản. Với một số lượng đông đảo các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam thì cạnh tranh của các ngân hàng cũng sẽ ngày càng gay gắt hơn.
Cạnh tranh của các ngân hàng là việc các ngân hàng sử dụng tối đa các nguồn lực của mình để giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh nhằm khẳng định vị trí của mình trong thị trường tiền tệ. Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng có các đặc điểm cơ bản sau đây: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Thứ nhất, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra trong bối cảnh chúng ta đang hội nhập ngày càng mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, những tác động của tiến trình toàn cầu hóa đến nền kinh tế Việt Nam ngày càng rõ rệt. Những tác động và ảnh hưởng to lớn của toàn cầu hóa đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội cũng đã được các nhà nghiên cứa quan tâm, luận giải không chỉ ở những khía cạnh chung nhất của vấn đề mà còn ở từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng. Trong các phiên đàm phán song phương và đa phương về việc Việt Nam gia nhập WTO, vấn đề mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng cũng là đề tài được tranh luận gay gắt. Lý giải cho vấn đề này phải chăng là chúng ta đang tiếp cận từng bước để làm quen với việc quản lý hoạt động của các chủ thể hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa?
Thứ hai, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra trong điều kiện có sự tham gia ngày càng nhiều của các ngân hàng nước ngoài tại Việt nam. Ưu thế của các NHTM nước ngoài khi cạnh tranh với các NHTM trong nước đó chính là công nghệ hiện đại, vốn lớn, trình độ quản lý điều hành của họ mạnh hơn hẳn các NHTM trong nước rất nhiều. Nhiều dịch vụ ngân hàng mà các ngân hàng nước ngoài đã cung cấp như Internet Bank, Mobile Bank, Home Bank. Với đội ngũ nhân viên dày dạn kinh nghiệm, am hiểu thị trường thì trong một tương lai không xa, các NHTM nước ngoài sẽ chiếm thị phần ngày càng lớn trên thị trường tài chính Việt nam. Các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh hiện nay đang tìm cách mở rộng địa bàn họat động của mình về các tỉnh lân cận các thành phố lớn, tức họ đang mở rộng thị phần của mình không chỉ trong phạm vi các thành phố lớn.
Hiện nay các Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đang gặp trở ngại trong việc huy động vốn do tâm lý người Việt Nam không mấy tin tưởng các ngân hàng này. Họ sợ mất tiền khi gửi tại các ngân hàng này, bởi họ quan niệm, nếu các NHTM Nhà nước phá sản thì họ được nhà nước hoàn trả lại khoản tiền gửi cho họ. Tuy nhiên, những tiện ích mà họ cung cấp chắc chắn những trở ngại trên sẽ dần được xóa bỏ. Một cuộc điều tra của tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc nữa cuối năm 2025 cho thấy: 45% khách hàng được hỏi (kể cả doanh nghiệp và cá nhân) đều trả lời sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn ngân hàng trong nước; 50% số người được hỏi sẽ lựa chọn dịch vụ ngân hàng nước ngoài vì thủ tục đơn giản hơn, chất lượng dich vụ cũng như tính chuyên nghiệp hơn hẳn so với các ngân hàng trong nước; 50% lựa chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền, mua bán ngoại tệ. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các ngân hàng nước ngoài cũng đã được cải thiện. Ngày 28/2/2026, Chính phủ ban hành nghị định 22/2026/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam thay thế cho Nghị định 13/2019/NĐ-CP ngày 17/3/2019 về tổ chức và hoạt động của của Tổ Chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam. Các quy định của Nghị định 22/2026/NĐ-CP đã quy định theo hướng khuyến khích hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia; quy định trình tự thành lập chi nhánh chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh; ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam quy định thông thoáng hơn nhiều so với các quy định trước đây. Với quy định pháp lý thông thoáng như vậy, trong tương lai không xa, số lượng các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng sẽ ngày càng gia tăng, như vậy tính cạnh tranh trên thị trường cung ứng các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng gay gắt hơn.
Thứ ba, hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra trong sự lớn mạnh của các NHTM cổ phần trong nước và tiến trình cơ cấu lại hệ thống NHTM Nhà nước hiện nay càng làm cho hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thêm phức tạp. Đề án cơ cấu lại hệ thông NHTM nhà nước đang được triển khai và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hệ thống các văn bản pháp luật về cổ phần hóa NHTM nhà nước đã được ban hành tương đối đầy đủ như Nghị định 187/2024/NĐ-CP ngày 16/11/2024 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần; thông tư 126/2024/TT-BTC ngày 24/12/2024 hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2024/NĐ-CP; Chỉ thị 04/2025/CT-TTg ngày 17/3/2025 của Thủ Tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các công ty nhà nước cũng đã có những quy định cụ thể đối với các ngân hàng thương mại nhà nước. Các NHTM trong nước cũng đang có những thay đổi mang tính cơ bản để đảm bảo cho vị thế của mình trong việc cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường, đặc biệt là đơn giản hóa các thủ tục vay vốn của các NHTM cũng như các dịch vụ mà các NHTM cung cấp.
Nhìn một cách tổng thể, các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh ngân hàng tăng về số lượng và chất lượng ngày càng được cải thiện rất nhiều. Nếu trước đây, chủ thể này chủ yếu là NHTM Nhà nước (chiếm 80% thị phần) thì nay mối tương quan đó đã thay đổi rất rõ ràng. các NHTM cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, các ngân hàng liên doanh đang ngày càng vươn lên cạnh tranh mạnh mẽ so với cac NHTM nhà nước, điều này buộc Ngân hàng Nhà nước với chức năng là cơ quan quản lý Nhà nước và là Ngân hàng Trung ương của nước ta cần có những thay đổi trong quản lý, điều hành, đảm bảo cho các NHTM trong nước cũng như nước ngoài hoạt động cạnh tranh được với nhau một cách an toàn.
Thứ tư, hoạt động cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng không phải là cuộc chiến một mất một còn, mà trong quá trinh hoạt động cạnh tranh, các NHTM còn có mối liên hệ mật thiết với nhau trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM thường xuyên chia sẽ thông tin, kinh nghiệm kinh doanh, kinh nghiệm quản trị điều hành, tìm hiểu khách hàng hoặc có các hoạt động hỗ trợ khác khi một trong các đối thủ cạnh tranh gặp khó khăn trên thị trường liên ngân hàng. Nếu trong hoạt động, có một ngân hàng thương mại nào gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng phá sản thì ngay lập tức nó cũng ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh khác. Không những thế, sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng không đồng nghĩa với nhất thiết phải triệt hạ các đối thủ cạnh tranh còn lại mà ngược lại, sự lớn mạnh của đối thủ là điều kiện cho đối tác phát triển. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
4. Yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại.
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại bao gồm: nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ, nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới trong hoạt động kinh doanh, nhóm chỉ tiêu phản ánh thị phần và tốc độ tăng (giảm) thị phần.
- Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là mức chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra. Một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp có khả năng tăng mức chênh lệch giá trị đầu vào so với đầu ra. Áp dụng vào lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả kinh doanh được đánh giá thông qua 2 chỉ số phân tích cơ bản:
ROA cho nhà phân tích thấy được khả năng bao quát của NHTM trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của NHTM tốt, NHTM có cơ cấu tài sản hợp lý. Tuy nhiên nếu ROA quá lớn nhà phân tích sẽ lo lắng vì rủi ro luôn song hành cùng với lợi nhuận.
ROE là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của đồng vốn tự có. Nó cho biết số lợi nhuận ròng mà cổ đông có thể nhận được từ việc đầu tư vốn của mình. Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn. Vốn kinh doanh vì vậy sẽ chủ yếu từ nguồn huy động và như vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong kinh doanh của NHTM.
ROE là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của đồng vốn tự có. Nó cho biết số lợi nhuận ròng mà cổ đông có thể nhận được từ việc đầu tư vốn của mình. Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn. Vì vậy vốn kinh doanh sẽ chủ yếu từ nguồn huy động và như vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong kinh doanh của NHTM. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Theo đánh giá của các chuyên gia thì một ngân hàng có tỷ lệ sinh lời cao nếu ROA đạt trên 0.5% và ROE đạt được mức mong đợi của nhà đầu tư. Trong cùng một hệ thống, ngân hàng nào có ROA và ROE cao hơn thì ngân hàng đó có hiệu quả kinh doanh cao hơn. Hiệu quả kinh doanh không những là mục tiêu hoạt động của bất cứ ngân hàng nào mà còn là chỉ tiêu rất tốt phản ánh sức mạnh về tiềm lực tài chính của ngân hàng- một nhân tố kiến tạo nên năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
- Thứ hai, nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của mọi NHTM. Vì chất lượng dịch vụ ngày nay trở thành một lợi thế cạnh tranh, mang ý nghĩa sống còn đối với mọi NHTM. Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo quan điểm của chủ quan khách hàng và phụ thuộc khá lớn vào tín hiệu vô hình như sự tin cậy, cảm tình, thuận tiện và thông cảm.
Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của NHTM bao gồm:
- Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ
- Độ an toàn và chính xác
- Thủ tục giao dịch
- Tốc độ xử lý giao dịch
Để đo lường được các yếu tố trên, các NHTM có thể thực hiện các công cụ nghiên cứu Marketing như làm bảng hỏi khách hàng, phỏng vấn trực tiếp khách hàng, tổ chức toạ đàm theo chuyên đề hoặc sử dụng hộp thư góp ý của khách hàng.
Nhìn chung một ngân hàng được coi là có dịch vụ tốt nếu ngân hàng có được đội ngũ nhân viên đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, độ an toàn và chính xác cao, tốc độ xử lý giao dịch nhanh, thủ tục đơn giản , gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo đúng quy trình. Bởi vì suy cho cùng thì các ngân hàng cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng thông qua việc thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của họ. Khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi họ nhận được dịch vụ đáp ứng đúng mục đích giao dịch, chất lượng đúng như họ mong đợi, thời gian đúng (không quá lâu) và giá cả đúng (họ cho rằng hợp lý). Nếu một ngân hàng có thể đáp ứng, thoả mãn được nhu cầu khách hàng thì đó đã là một thành công lớn. Chất lượng dịch vụ cao là một lợi thế cạnh tranh bởi vì khách hàng sẽ tìm đến những ngân hàng mà thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ.
Thứ ba, nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới trong hoạt động ngân hàng. Quá trình cạnh tranh thực chất là quá trình đổi mới hoạt động của NHTM sao cho phù hợp với thị trường. Do thị trường luôn thay đổi vì vậy tính đổi mới linh hoạt trở thành chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM. Thực tế cho thấy đổi mới không phải lúc nào cũng đem lại thành công song một NHTM không thể coi là có năng lực cạnh tranh nếu luôn giữ nguyên tình trạng kinh doanh của mình trong khi các lực lượng cạnh tranh luôn vận động và phát triển. Nói cách khác chỉ tiêu đổi mới là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM trong cơ chế thị trường. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Các chỉ tiêu cụ thể phản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM bao gồm:
- Số lượng dịch vụ mới
- Số lượng địa điểm phân phối mới
- Những thay đổi mới khác trong quá trình cung ứng dịch vụ; cơ cấu tổ chức chiến lược kinh doanh; hệ thống quản lý.
Để có thể tính toán được các chỉ tiêu trên, các NHTM thường phải có một phòng ban chuyên trách riêng để thống kê thông tin trong nội bộ NHTM và thông tin từ các NHTM khác, vì sự đổi mới trong ngân hàng chỉ mang ý nghĩa cạnh tranh một khi các đối thủ cạnh tranh chưa có.
- Thứ tư, nhóm chỉ tiêu phản ánh thị phần và tốc độ tăng (giảm) thị phần.
Nếu như hai nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ và nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới trong hoạt động của ngân hàng thể hiện nỗ lực của ngân hàng trong việc thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng thì nhóm chỉ tiêu này được xem xét như là kết quả của những nỗ lực đó. Kết quả này được đánh giá thông qua thị phần của ngân hàng đó so với các đối thủ khác trong cùng hệ thống. Thị phần cho biết độ tập trung về phía mỗi ngân hàng trong một lĩnh vực hoạt động thông qua tỷ lệ phần trăm của từng ngân hàng đó so với cả một tổng thể. Thị phần cũng cho biết khả năng chiếm giữ thị trường của một ngân hàng cụ thể. Lẽ tất nhiên, không phải ngân hàng nào có thị phần lớn hơn sẽ tập trung được nhiều ảnh hưởng về mình nhưng điều này cũng cho thấy vị thế và sự ổn định của ngân hàng này trên thị trường. Vì vậy, thị phần luôn là một mục tiêu được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm để đạt được lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác.
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong điều kiện hội nhập KTQT. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
5.1 Năng lực tài chính .
- Thứ nhất, vốn tự có.
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh.
Tuy vốn tự có chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng nhưng nó lại có vai trò quan trọng có tính chất quyết định tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, điều này được thể hiện như sau:
Vốn tự có đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bởi nguồn vốn này được sử dụng để bù đắp những thiệt hại trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tạo niềm tin của khách hàng với ngân hàng.
Vốn tự có tham gia vào việc điều chỉnh mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thay đổi qui mô cơ cấu tài sản ngân hàng và điều chỉnh phạm vi cho vay đối với một khách hàng (một ngân hàng có vốn tự có lớn thì mức cho vay tối đa đối với một khách hàng lớn).
Vốn tự có là cơ sở để tổ chức mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi vốn tự có tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất của ngân hàng để ngân hàng có thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Với những vai trò trên có thể nói vốn tự có là cái đệm chống đỡ rủi ro cho ngân hàng.
Trong lộ trình hội nhập KTQT, ngân hàng nào có mức vốn tự có thấp dễ gặp phải rủi ro, đổ vỡ hơn so với các ngân hàng có mức vốn tự có lớn, qui mô hoạt động hùng mạnh. Đặc biệt là các nước đang phát triển khi mở cửa hội nhập thì tỷ trọng vốn của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài là rất thấp. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có kế hoạch tăng trưởng vốn của mình. Mục đích của tăng cường vốn cho ngân hàng là để giúp ngân hàng chống đỡ được các rủi ro trong hoạt động.
Ngoài ra, một nguồn vốn hùng mạnh sẽ giúp các ngân hàng có thể tiến hành thực hịên các kế hoạch, các chiến lược dài hạn như mở rộng quy mô hay đổi mới trang thiết bị đồng thời giúp các ngân hàng thực hiện các khoản cho vay và đầu tư hợp lý .
- Thứ hai, nợ tồn đọng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Nợ tồn đọng là vấn đề nan giải của các NHTM nói chung và của các NHTM nhà nước nói riêng. Nợ tồn đọng có thể là những khoản nợ có khả năng thu hồi nhưng đến thời điểm quyết toán cuối năm mà chưa kịp thu hồi – khoản nợ này không đáng lo vì sang đầu năm báo cáo sẽ thu hồi được. Khoản nợ tồn đọng gây đau đầu cho các nhà quản trị ngân hàng, các cán bộ tín dụng đó là những khoản nợ xấu khó đòi. Nếu đến hạn mà không thu được nợ sẽ ảnh hưởng không tốt đến công tác quản trị rủi ro cũng như quản trị vốn của ngân hàng. Đồng thời nợ tồn đọng lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ của hệ thống ngân hàng, tạo ra gánh nặng chi phí cho các NHTM từ đó làm giảm khả năng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng cũng như ảnh hưởng xấu đến uy tín hình ảnh của ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế. Do vậy, việc xử lý nợ tồn đọng, xóa bỏ nợ xấu khó đòi là mục tiêu cao nhất không chỉ của ngành ngân hàng mà còn là của nền kinh tế. Để xử lí được chúng ta phải thiết lập một hệ thống đồng bộ các giải pháp, tạo một môi trường kinh tế thuận lợi, điều quan trọng chính là ngành ngân hàng phải chấp nhận một khoản tiền không nhỏ liên quan tới việc phá sản và sát nhập những doanh nghiệp đang có số nợ tồn đọng lớn tại ngân hàng. Đây là việc làm bất đắc dĩ song không làm thế thì nợ tồn đọng, nợ xấu sẽ như một căn bệnh nan y của nền kinh tế.
5.2 Dịch vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng vào kết quả hoạt động của ngân hàng, nó góp phần tạo hình ảnh, vị thế của ngân hàng trên thị trường. Một ngân hàng có mạng lưới sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú phục vụ được đông đảo đối tượng khách hàng sẽ được đánh giá cao hơn các ngân hàng khác và ngược lại. Hiện nay các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ của mình để có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác, nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như dịch vụ giao dịch qua Internet, thẻ thông minh đang được mở rộng và các loại hình dịch vụ như bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán đang được tung ra hàng năm. Nhìn chung danh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng, khách hàng có thể thoả mãn các nhu cầu của mình tại một ngân hàng và một địa điểm, đây là một trong những yếu tố thu hút khách hàng rất hiệu quả.
Các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trên thị trường thường là các dịch vụ như: dịch vụ tiền gửi ký thác, dịch vụ cho vay, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ tư vấn, đại lí kinh doanh chứng khoán, tài trợ thương mại quốc tế, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ. Trong quá trình hội nhập KTQT, sự xâm nhập của một loạt các ngân hàng nước ngoài đã đặt các ngân hàng trong nước trước một sự cạnh tranh gay gắt điều đó gây áp lực cho các ngân hàng phải thay đổi, bổ sung sản phẩm dịch vụ của mình để phục vụ khách hàng tốt hơn. Như vậy có thể thấy áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong hiện tại và tương lai. Các ngân hàng có thể phát triển và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ theo các hướng sau đây: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Thứ nhất: Các ngân hàng phải nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ sẵn có của ngân hàng. Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm dịch vụ ngân hàng hoàn thiện là sản phẩm dịch vụ đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng. Sản phẩm ngân hàng hoàn thiện phải đem lại cho khách hàng một tập hợp lợi ích và tiện ích. Vì vậy mặc dù các thuộc tính cơ bản của một sản phẩm đã được xác định ngay từ đầu nhưng trong quá trình sử dụng ngân hàng luôn tìm cách bổ sung các thuộc tính mới nhằm ngày càng hoàn thiện nó.
Thứ hai: Ngân hàng phát triển sản phẩm dịch vụ mới, điều này rất quan trọng trong chiến lược sản phẩm dịch vụ của ngân hàng vì sản phẩm dịch vụ mới sẽ làm đa dạng hơn danh mục sản phẩm dịch vụ kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng thoả mãn được những nhu cầu mới phát sinh của khách hàng từ đó tăng khả năng cạnh tranh, vị thế, uy tín và hình ảnh của ngân hàng trên thị trường.
Thứ ba: Ngân hàng phải tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ ngân hàng hiện đại để hoàn thiện sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
5.3 Nguồn nhân lực ngân hàng.
Không chỉ đối với lĩnh vực ngân hàng mà trong mọi hoạt động kinh tế xã hội, nhân tố con người luôn đóng vai trò quan trọng, chủ chốt. Con người là nhân tố tạo ra sản phẩm dịch vụ, là nhân tố phát sinh nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ và cũng là nhân tố sử dụng sản phẩm dịch vụ. Trong hoạt động ngân hàng, con người giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng – đây là nhiệm vụ trung tâm cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Khi mở cửa hội nhập KTQT thì yêu cầu về nhân tố nguồn lực càng được đặt lên hàng đầu bởi khi mở cửa sự cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn, để có thể giành được thắng lợi trong cạnh tranh thì các ngân hàng phải có đội ngũ nhân viên giỏi trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, ứng dụng thành thạo các công nghệ tiên tiến, đồng thời phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc, thích ứng được với đòi hỏi của cơ chế thị trường. Hiện nay, các ngân hàng đang có những chương trình đào tạo, huấn luyện để nâng cao trình độ cho nhân viên của mình, yêu cầu về trình độ khi tuyển dụng của các ngân hàng cũng nâng cao hơn trước, điều đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong tương lai. Có thể nói đầu tư vào yếu tố con người là đầu tư theo chiều sâu của NHTM. Quan tâm đến yếu tố con người chính là quan tâm đến kết quả kinh doanh trong tương lai bởi con người là yếu tố quyết định đến thành công của ngân hàng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
5.4 Công nghệ ngân hàng.
Trong tiến trình hội nhập, hoạt động ngân hàng ngày càng có sức cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng có khả năng và tiềm lực trên toàn thế giới. Việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính là một thử thách lớn đối với các Tổ chức tín dụng khi họ chịu sức ép cạnh tranh từ phía các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên đó cũng là động lực để đẩy mạnh công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống NHTM. Các NHTM đã đáp ứng mạnh mẽ cho công nghệ thông tin và coi đây như là sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong: ứng dụng lập mạng thanh toán liên hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn ngoại tệ tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, triển khai ứng dụng thanh toán SWIFT, dịch vụ thẻ đang được triển khai mạnh mẽ. Mục tiêu phát triển công nghệ ngân hàng là nhằm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm nhờ mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng và nhờ tăng cường khả năng khai thác quy mô hoạt động công nghệ ngân hàng. Hậu quả do tăng cường khai thác tiềm năng công nghệ bao hàm khả năng của ngân hàng với quy mô công nghệ nhất định có thể cung cấp nhiều hơn các dịch vụ khác cho khách hàng. Ví dụ: một ngân hàng có thể sử dụng cùng một nguồn tin về khách hàng đã được thu nạp trong máy tính để mở rộng doanh thu hoạt động tín dụng cùng với hoạt động bảo lãnh.
Có thể thấy lợi ích từ việc đầu tư công nghệ là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng phát triển sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững.
6. Công cụ cạnh tranh chủ yếu của Ngân hàng thương mại.
Các NHTM cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng việc sử dụng các công cụ như: Lãi suất (huy động vốn, cho vay vốn), chất lượng và phí dịch vụ.
- Thứ nhất, cạnh tranh thông qua lãi suất huy động vốn
Huy động vốn là nhiệm vụ thường xuyên liên tục của NHTM. Các NHTM chỉ có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh khi chúng thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Tức NHTM là người chiến thắng trong cạnh tranh huy động vốn nói chung và thông qua lãi suất nói riêng. Do vậy, các NHTM cần phải:
- Luôn có cơ chế lãi suất cạnh tranh linh hoạt
- Đa dạng các kỳ hạn gửi tiền với nhiều mức lãi suất khác nhau
- Đa dạng các hình thức trả lãi
- Khuyến khích bằng các lợi ích vật chất khác
- Cần xây dựng nguyên tắc đảm bảo khi nâng cao lãi suất huy động vốn.
Thứ hai, cạnh tranh thông qua lãi suất cho vay vốn của các NHTM.
Ngân hàng có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác về hoạt động tín dụng thông qua việc hạ giá – lãi suất cho vay thấp hơn các ngân hàng khác. Tuy nhiên các ngân hàng khó có thể sử dụng công cụ này trong cạnh tranh vì những đặc thù rất riêng của ngành ngân hàng. Sản phẩm của các ngân hàng hầu như là giống nhau tạo nên sự đơn điệu chung trên thị trường sản phẩm, những ngân hàng nào có ý định hạ giá để tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình sẽ rất khó thành công. Ngân hàng nào cũng có tiềm năng cạnh tranh về giá nên giá cho vay chung trên thị trường chính là giá thấp nhất đảm bảo cho ngân hàng vẫn còn có thể có lãi từ hoạt động cho vay. Bất cứ ngân hàng nào muốn phá vỡ thế ổn định đó sẽ kéo theo sự chuyển động của cả một hệ thống và tính suy yếu cũng mang tính hệ thống sâu sắc. Vượt qua giới hạn cuối cùng, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và tiếp đó là khả năng tài chính giảm sút, làm mất đi khả năng cạnh tranh trong tương lai do không thể đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
Tuy nhiên, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy là các ngân hàng có thể sử dụng những lãi suất khác nhau cho những khách hàng khác nhau (tính toán lãi suất cho vay hợp lý với từng khách hàng) cho những khoản vay cụ thể. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có sự hiểu biết cặn kẽ về khách hàng và nhu cầu của họ. Bởi vì khách hàng có nhiều sự lựa chọn, bao gồm cả lựa chọn không cần vay vì có khả năng tài chính vững mạnh, thường nhận được lãi suất thấp hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không có lựa chọn nào.
Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng “mua hàng” giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác để có được những điều kiện tốt nhất. Nếu điều này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối với các khoản cho vay sẽ có xu hướng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt không đáng kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng một thị trường.
Để có thể sử dụng công cụ này có hiệu quả trong cạnh tranh là một điều vô cùng khó khăn, trong những trường hợp cụ thể thì biện pháp an toàn và thực tế nhất là bám theo lãi suất cơ bản của NHTƯ. Đây cũng chính là cách thức mà các ngân hàng trên thế giới đang sử dụng trong cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm được kết quả hoạt động kinh doanh nhưng cũng không vượt quá khỏi ngưỡng của lãi suất cạnh tranh.
- Thứ ba, cạnh tranh thông qua phí và chất lượng dịch vụ
Phí dịch vụ: Nguồn thu từ phí dịch vụ thường đứng thứ 3 về thu nhập của các tổ chức tín dụng sau nghiệp vụ cho vay và hoạt động kinh doanh dựa trên chênh lệch tỷ giá và hầu như chỉ có đối với các NHTM. Ngân hàng nhà nước đưa ra các quy định mức phí chung từ một số dịch vụ chủ yếu như thanh toán, thẻ tín dụng. Còn phần lớn các dịch vụ khác các NHTM chủ động đưa ra mức phí của mình. Cạnh tranh về phí dịch vụ cũng là đưa ra mức biểu phí hấp dẫn, song không thể hạ thấp quá được vì nó là chất lượng dịch vụ, sự tiện lợi hoàn hảo và tính đa dạng về dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là sự vận dụng hàng loạt các ưu thế. Ngân hàng nào thực hiện một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt sẽ là người chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này. Chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tính kịp thời, chính xác, tiện dụng và an toàn của dịch vụ
- Trình độ kỹ thật nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng.
- Địa điểm cung cấp dịch vụ thuận lợi và an toàn.
Nếu biết tận dụng và phát huy tốt hai công cụ cạnh tranh này bằng cách tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh thì đã là một thành công lớn. Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Indovina

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Indovina […]