Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội thực trạng và triển vọng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Dịch vụ là một trong ba ngành kinh tế quan trọng bên cạnh công nghiệp và nông nghiệp. Đây là khu vực kinh tế có khả năng lớn nhất trong việc huy động vốn, tạo sự liên kết giữa các ngành và phát huy mọi nguồn lực kinh tế để phát triển. Sự phát triển của dịch vụ được đánh giá như thước đo của nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế hiện đại, lĩnh vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng . Trong những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dịch vụ phát triển. Nhờ vậy khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống của dân cư, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Một số lĩnh vực dịch vụ như: bưu chính viễn thông; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; vận tải hàng không; vận tải biển; du lịch, xuất khẩu lao động, … đã có tốc độ tăng trưởng nhanh; chất lượng dịch vụ được nâng lên đáng kể; thu hút nhiều lao động, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu.

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là trung tâm văn hoá – kinh tế – chính trị của đất nước. Việc thúc đẩy kinh tế thủ đô Hà Nội phát triển là một đòi hỏi cấp thiết. Để có thể phát triển nền kinh tế, ngoài việc sử dụng các nguồn vốn trong nước, Hà Nội cần có chính sách tăng cường thu hút vốn từ bên ngoài.

FDI là bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia mà nguồn vốn trong nước xét tổng thể có ý nghĩa quyết định. FDI không thể thay thế được các nguồn đầu tư khác nhưng có thế mạnh riêng của nó. Trong những năm trước mắt, khi nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn ODA chưa đáng kể thì FDI giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình hội nhập, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò to lớn, là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết tình trạng thất nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu.

Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội – Thực trạng và Triển vọng.

2. Mục đích nghiên cứu

Khoá luận nhằm mục đích trước hết là hệ thống hoá các vấn đề về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và một số vấn đề về ngành dịch vụ. Tiếp đến là phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội trong thời gian qua, đánh giá một số thành công và những vấn đề còn tồn tại trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội. Cuối cùng, đưa ra các giải pháp nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn, khắc phục những tồn tại trong hoạt động thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội, qua đó nhằm tăng cương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

  • Đối tượng nghiên cứu là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn 2006-2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận đã sử dụng phương pháp duy vật, duy vật lịch sử và phương pháp điều tra thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh thống kê để làm rõ mục tiêu nghiên cứu trên.

5. Kết cấu khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận được kết cấu thành 3 chương sau đây:

  • Chương I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngành dịch vụ
  • Chương II: Thực trạng FDI vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội
  • Chương III: Triển vọng và một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NGÀNH DỊCH VỤ

I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ( FDI)

1. Khái niệm

Để thực hiện được quá trình sản xuất kinh doanh thì vốn đầu tư là yếu tố không thể thiếu. Vốn dùng để mua sắm trang thiết bị kỹ thuật, trả lương cho công nhân, chi trả các chi phí cần thiết phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư có thể được huy động ngoài nước thông qua các hình thức khác nhau. Trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá nền kinh tế, FDI là một trong những kênh thu hút vốn nước ngoài của quốc gia.

Để làm rõ được khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trước tiên cần phải hiểu được thế nào là hoạt động đầu tư. Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra nhằm định nghĩa hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, trong quy mô bài viết này, chỉ xin nêu ra một khái niệm được dùng phổ biến nhất.

  • Theo đó:

Đầu tư là tập hợp các hoạt động sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

Ban đầu, các hoạt động đầu tư chỉ diễn ra giữa các chủ thể trong cùng một quốc gia. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của loài người, các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia được thiết lập và ngày càng được tăng cường. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế đó, đã làm xuất hiện một hình thức đầu tư mới mà quy mô của nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, đó là hoạt động đầu tư quốc tế. Đầu tư quốc tế chính là việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào các quốc gia khác theo một chương trình đã được hoạch định trong một thời gian dài nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích lớn hơn cho chủ đầu tư và cho xã hội. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được nghiên cứu trong phần này chính là một trong hai loại hình cơ bản của đầu tư quốc tế.

  • Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI: Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Theo IMF: “FDI là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường. Khái niệm này nhấn mạnh 3 yếu tố là tính lâu dài của hoạt động đầu tư, chủ đầu tư phảI có yếu tố nước ngoài, động cơ đầu tư là dành quyền kiểm soát công ty trực tiếp hoạt động quản lý doanh nghiệp.

Các nhà kinh tế học B.O. Siderten Geofrey Reed và Dominick Salvatore cũng có cách tiếp cận tương tự. Trong cuốn sách International Economics 2013, Salvatore đa đưa ra khái niệm: “Đầu tư gián tiếp là các tài sản tài chính thuần tuý như cổ phiếu, trái phiếu được mệnh giá bằng đồng tiền trong nước. FDI là đầu tư thực vào nhà máy, các hàng hoá đầu tư, đất đai, hàng tồn kho, ở đó quyền quản lý và tư bản cùng tồn tại và nhà đầu tư giữ quyền quản lý suốt quá trình sử dụng vốn đầu tư đó”. Định nghĩa này chưa thể hiện được mục tiêu lớn nhất của đầu tư là lãi suất cao.

Theo luật đầu nước ngoài tại Việt Nam (2014): “FDI là việc các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Khái niệm nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài nhằm xác định được tư bản được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.

Tóm lại FDI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư sẽ đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đủ lớn ở một quốc gia khác để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư.

2. Đặc điểm của FDI Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

FDI là hình thức đầu tư tư nhân: Người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn, tự quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp của nước sở tại. Nguồn vốn FDI có thể của chính phủ, cá nhân hoặc hỗn hợp.

FDI là hình thức đầu tư dài hạn: Hoạt động đầu tư này gắn liền với việc xác định các cơ sở, chi nhánh sản xuất kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư. Nói cách khác, đây là vốn có tính chất “ bén rễ” ở nước sở tại nên không dễ rút đi trong một thời gian ngắn. Do đó, với tư cách là một dòng vốn quốc tế, FDI có bản chất là dòng chu chuyển vốn có thời hạn tương đối dài. Dòng vốn này gắn với quá trình tự do hoá đầu tư, phân biệt với dòng tiền ngắn hạn, thường gắn với quá trình tự do hoá thương mại hoặc kinh doanh, đầu tư tiền tệ, ngoại hối và cùng có tính chất khác biệt so với hoạt động đầu tư gián tiếp hoặc các giao dịch vay nợ giữa các quốc gia, các doanh nghiệp trên thế giới thường gắn với quá trình tự do hoá tài chính. Đi liền với dự án đầu tư là một địa điểm cụ thể nên FDI có tính ổn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thường như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư gián tiếp.

Chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý: Chủ sở hữu vốn đầu tư đồng thời là người tiếp nhận quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, căn cứ vào mức độ góp vốn. Để được tham gia vào ban điều hành, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia. Theo UNCTAD, được coi là FDI khi sở hữu từ 10% vốn trở lên của một doanh nghiệp ở nước khác. Theo luật Việt Nam, phải chiếm ít nhất 30% tổn vốn pháp định của dự án trừ trường hợp do chính phủ quy định.

Việc tiếp nhận FDI không gây gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư mà trái lại nước nhận đầu tư còn có cơ hội tiếp nhận vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để phát triển tiềm năng trong nước.

3. Phân loại FDI

3.1 Theo hình thức xâm nhập

Đầu tư mới (Greenfield Investment): Đây là hình thức nhà ĐTNN dùng vốn để đầu tư từ đầu về cơ sở vật chất, nhà xưởng, máy móc…, là hình thức đầu tư tốn kém, nhiều rủi ro về pháp luật và thâm nhập thị trường nhưng lợi nhuận cao. Đầu tư mới giúp các nhà đầu tư sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của mình, sử dụng nguồn lao động phù hợp nhất…

Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition): Thông qua việc sáp nhập với các công ty ở nước ngoài hoặc mua đứt các công ty đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết lập sự có mặt của mình ở nước sở tại một cách nhanh nhất. Đây là hình thức đầu tư phổ biến của các công ty xuyên quốc gia muốn nhanh chóng tìm được chỗ đứng của mình ở nước sở tại. Hình thức này thường diễn ra trong các ngành như viễn thông, chế tạo ô tô, ngân hàng.

Việc hợp nhất, mua lại các công ty để thành lập chi nhánh sản xuất ở nước ngoài giúp các nhà đầu tư nước ngoài bảo vệ, củng cố và phát huy thế mạnh của mình trong quá trình cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, hình thức này giúp sử dụng hiệu quả mạng lưới cung ứng và hệ thống phân phối sẵn có để phục vụ tốt hơn cho khách hàng toàn cầu, mở rộng thị phần, tăng năng lực cạnh tranh và nguồn thu lợi nhuận.

3.2. Theo hình thức pháp lý Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreign Capital enterprise): Đây là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn, do đó nó hoàn toàn thuộc sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài, chịu sự điều hành quản lý của các nhà ĐTNN nhưng chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại.

Doanh nghiệp liên doanh (Joint-venture enterprise). Đây là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên tham gia phù hợp với các quy định của nước sở tại.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-operation). Đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với các nhà ĐTNN trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên bằng các văn bản kí kết, trong đó các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân riêng mà không tạo nên một pháp nhân mới.

Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao( Building Operate Transfer-BOT) : Được thành lập trên cơ sở văn bản kí kết giữa một bên là nhà ĐTNN và một bên là Chính phủ nước sở tại để thành lập một pháp nhân mới ở nước sở tại nhằm thực hiện trách nhiệm của từng bên theo văn bản đã kí. Hình thức BOT thường áp dụng chủ yếu cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kinh doanh theo thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Khi hết thời hạn kinh doanh, công trình sẽ được chuyển giao không bồi hoàn cho nước sở tại.

Hợp đồng xây dựng – chuyển giao-kinh doanh(Building Transfer Operate – BTO): Hình thức này giống BTO, nhưng khác ở điểm là sau khi xây dựng xong, công trình được chuyển giao cho nước sở tại trước rồi nhà đầu tư mới được khai thác.

Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (Building Transfer-BT): Hình thức này cũng giống như hình thức BTO nhưng khác ở điểm là sau khi chuyển giao xong nhà đầu tư sẽ được chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện một dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý chứ không được khai thác công trình đã chuyển giao.

3.3 Theo mục đích đầu tư Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

FDI thay thế nhập khẩu: Các quốc gia đang phát triển phải nhập khẩu nhiều hàng hoá để đáp ứng nhu cầu trong nước với những sản phẩm mới nên FDI thay thế nhập khẩu được áp dụng. Đặc biệt Nhà nước khuyến khích FDI vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm mà nước đó đang nhập khẩu nhiều làm giảm giá thành sản phẩm, thúc đẩy sản xuất trong nước. Tuy nhiên khi thị trường bão hoà thì khó khăn trong việc thu hút FDI.

FDI hướng về xuất khẩu: Nhà đầu tư tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn, nhân công rẻ ở nước tiếp nhận đầu tư để sản xuất sản phẩm sau đó lại xuất khẩu trở lại nước mình và xuất khẩu sang nước khác. Khi thị trường nhập khẩu bị bão hoà, FDI hướng về xuất khẩu được khá nhiều nước sử dụng để thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu.

FDI theo định hướng khác của chính phủ: Tuỳ điều kiện của từng quốc gia, tuỳ định hướng phát triển để đưa ra chiến lược thu hút FDI đạt hiệu quả tốt nhất.

3.4 Theo ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư

FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): Là hình thức chủ đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề cùng chu trình sản xuất như ở nước mình nhưng khác giai đoạn. Ví dụ: Các doanh nghiệp sản xuất máy tính như Intel thường xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện ở nước khác để sản xuất linh kiện phụ phục vụ lắp ráp ở nước mình.

FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): Chủ đầu tư đầu tư ra nước khác để sản xuất sản phẩm cùng ngành sản xuất trong nước. Ví dụ: ngành lắp ráp ô tô, nhà đầu tư đầu tư cào lĩnh vực khác nhau để sản xuất các loại xe khác nhau, thoả mãn nhu cầu khác nhau.

FDI hốn hợp (Conglomerate FDI): FDI hỗn hợp xảy ra khi một công ty theo đuổi mục tiêu điều hành hoặc hợp nhất các công ty ở nước khác để sản xuất sản phẩm hoàn toàn không liên quan đến sản phẩm của mình, từ đó hình thành công ty đa quốc gia có khả năng đa dạng hoá sản phẩm và tiềm lực kinh tế lớn.

3.5 Theo lĩnh vực đầu tư

Theo từng lĩnh vực ngành nghề, dựa trên cơ cấu kinh tế ngành của từng quốc gia sẽ có FDI vào công nghiệp-xây dựng, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp, FDI vào lĩnh vực dịch vụ.

FDI theo ngành giúp nước nhận đầu tư đánh giá được lĩnh vực thu hút nhiều FDI từ đó khuyến khích, điều chỉnh chiến lược thu hút, phát triển FDI hài hoà giữa các ngành kinh tế theo cơ cấu kinh tế của quốc gia.

4. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Khả năng thu hút FDI đối với mỗi quốc gia phụ thuộc vào khá nhiều nhân tố, các nhân tố thuộc về quốc gia tiếp nhận, có nhân tố do các yếu tố bên ngoài. Với mỗi hướng nghiên cứu thể hiện qua các công trình nghiên cứu khác nhau, các tác giả có những cách nhìn nhận vấn đề và phân tích các nhân tố theo các hướng khác nhau. Tuy nhiên nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI được phân tích từ góc độ của quốc gia tiếp nhận, ngoài ra, có xem xét đến một số yếu tố ảnh hưởng bên ngoài.

4.1 Các nhân tố liên quan tới nhà đầu tư nước ngoài

Mặc dù đầu tư ra nước ngoài đã trở thành một tất yếu kinh tế trong nền kinh tế thế giới hiện tại, nhưng không có nghĩa là ai cũng có thể trở thành nhà đầu tư ra nước ngoài. Hơn nữa, có nhiều nguyên nhân khiến các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài kinh doanh, có nhiều hình thức đầu tư ra nước ngoài và mục tiêu cần đạt được của các nhà đầu tư là khác nhau, do vậy, một quốc gia muốn thu hút FDI không thể không nghiên cứu về những vấn dề của đối tác trong tương lai.

  • Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của nhà đầu tư.

Nếu như ODA chịu sự chi phối của các quốc gia, vay thương mại chịu sự chi phối của các tập đoàn tài chính quốc tế thì FDI chịu sự chi phối của các TNCs. Các TNCs là các công ty mà lĩnh vực hoạt động của nó vượt ra khuôn khổ một quốc gia để mở rộng hoạt động của các quốc gia khác. Khi nguồn lực trong nước trở nên hạn hẹp, TNCs tìm đến những vùng đất mới có nguồn lực và thị trường tiêu thụ hứa hẹn đem lại lợi nhuận nhiều hơn, gây ra một sự chuyển dịch vốn mạnh mẽ từ quốc gia này sang quốc gia khác, hình thành nên FDI. Chiến lược phát triển của các TNCs là chiến lược kinh doanh toàn cầu, tiếp tục vươn ra các khu vực với quy mô ngày càng lớn.

Mục đích chung nhất là tìm kiếm lợi nhuận cao. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển của tổ chức kinh tế và mục tiêu của nó ở thị trường nước ngoài, mục tiêu cụ thể là khác nhau.

  • Tiềm lực kinh tế của nhà đầu tư

Đối với nhà đầu tư, yếu tố quyết định nhất đối với họ là khả năng tài chính để đầu tư. Nếu môi trường đầu tư có hấp dẫn, điều kiện kinh doanh có nhiều thuận lợi nhưng họ không có vốn thì ý đồ đầu tư cũng không thể thực hiện được. Mỗi doanh nghiệp đều có khả năng tài chính giới hạn, bao gồm vốn tự có và nguồn vốn huy động. Đánh giá tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư là một yếu tố mà nước nhận đầu tư phải xem xét khi cấp giấy phép đầu tư nhằm tránh tình trạng đăng ký rồi không có khả năng thực hiện, sẽ làm lỡ cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư khác hoặc kéo dài quá trình xây dựng-liên quan đến cơ hội kinh doanh.

  • Năng lực kinh doanh của nhà đầu tư

Là người trực tiếp bỏ vốn và quản lý kinh doanh, các nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Đến lượt mình, chính kết quả thực tế kinh doanh của nhà đầu tư sẽ là động lực thúc đẩy hay kiềm chế các quyết định đầu tư tiếp theo của họ…

Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả kinh doanh tuỳ thuộc rất quan trọng vào năng lực kinh doanh của nhà đầu tư, tức phụ thuộc vào khả năng nhận thức, nắm bắt đầy đủ thông tin, xử lý kịp thời, hiệu quả các thông tin và các yếu tố đầu vào, đầu ra khác, khả năng tổ chức điều hành công việc cũng như phụ thuộc vào bản lĩnh của nhà đầu tư.

4.2 Các yếu tố thuộc nước chủ đầu tư Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Chính sách đầu tư ra nước ngoài của quốc gia chủ đầu tư: Mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triển riêng do đó chính sách đầu tư ra nước ngoài của mỗi quốc gia cũng khác nhau. Định hướng đầu tư vào khu vực nào, quốc gia nào, ngành nào… và có những chính sách ưu đãi nào cho nhà đầu tư khi đầu tư vào quốc gia thuộc khu vực khuyến khích đầu tư.

Mối quan hệ chính trị – kinh tế của quốc gia chủ đầu tư: Một điều đương nhiên là quốc gia đó sẽ không đầu tư nhiều vào nước mà họ cấm vận, mối quan hệ chính trị không được suôn sẻ (như Mỹ và Việt Nam trước khi có hiệp định Việt-Mỹ) hoặc chưa có ký kết hiệp định thương mại… Trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển, không quốc gia nào tự khép kín, tự cô lập với thế giới mà có thể phát triển được. Do sự hợp tác cùng tồn tại giữa các quốc gia đem lại lợi ích dân tộc. Các mối quan hệ quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đó quan hệ kinh tế quốc tế là quan trọng nhất vì nó vừa là cơ sở và cũng vừa là động lực thúc đẩy mối quan hệ ở các lĩnh vực khác. Các mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia là cơ hội để tìm kiếm đối tác đầu tư.

4.3 Các yếu tố thuộc về quốc gia tiếp nhận đầu tư

Đây là nhân tố cơ bản quyết định đến khả năng thu hút FDI của một quốc gia. Các nhân tố này có thể xem nhu nhân tố bên trong tác động trực tiếp tới sự di chuyển của dòng vốn FDI vào một quốc gia.

  • Khái niệm môi trường đầu tư ( MTĐT)

Hiện nay đang tồn tại một số khái niệm về MTĐT nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào cũng đều đề cập đến môi trường tiến hành các hoạt động kinh doanh của NĐT, những yếu tố, điều kiện có ảnh hưởng tác động đến tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Do đó có thể khẳng định: MTĐT là tổng hợp các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp hay các nhà đầu tư có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của NĐT.

  • Các yếu tố cấu thành MTĐT

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút FDI của một nước. Nó không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện của nước chủ nhà mà nó còn phụ thuộc vào mục đích của nhà đầu tư. Nếu nhà đầu tư muốn tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm thì điều kiện hấp dẫn nhà đầu tư sẽ là dân số đông, thu nhập trung bình cao, nếu họ muốn tìm nguồn nguyên liệu rẻ thì điều kiện đó là tài nguyên thiên nhiên dồi dào, dễ khai thác. Tuy nhiên, nếu không xét đến khả năng và nhu cầu về vốn đầu tư của cả bên nước chủ đầu tư lẫn bên nước nhận đầu tư và với giả định bối cảnh chung của thế giới ở điều kiện bình thường cả về tự nhiên và nhân tạo thì có thể nhận thấy dòng vốn đầu tư quốc tế nói chung và dòng FDI nói riêng chỉ thực sự mở rộng và ưa tìm đến những nơi có môi trường đầu tư đảm bảo cho đồng vốn sinh sôi nảy nở.

Thực tế đã chứng minh một môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh để thu hút FDI trước hết phải bao gồm những nhân tố chủ yếu sau: Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

  • Các yếu tố về khung chính sách

Sự hoàn chỉnh, hữu hiệu của hệ thống pháp luật : Hệ thống pháp luật đầu tư là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, bao gồm các văn bản pháp luật, các văn bản dưới luật, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài như hướng dẫn đầu tư, đánh giá, thẩm định dự án và quản lý các hoạt động đầu tư nhằm tạo nên một hành lang pháp lý đồng bộ, hiệu quả tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Bên cạnh đó, các quy định trong hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư khi hoạt động đầu tư của họ không vi phạm pháp luật, không làm phương hại đến lợi ích, an ninh quốc gia. Ví dụ như phải đảm bảo không quốc hữu hoá tài sản tư nhân, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận về nước cho các nhà đầu tư được dễ dàng. Nội dung của hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ, chặt chẽ, không chồng chéo, phù hợp với quy định của luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút FDI càng cao. Một hệ thống pháp luật hoàng chỉnh, hữu hiệu có thể làm tăng lượng FDI thu hút được lên tới 100%

Môi trường kinh doanh : thể hiện sự công bằng đối xử giữa nhà ĐTNN và nhà đầu tư trong nước, rút ngắn danh mục các ngành công nghiệp thuộc loại cấm hoặc hạn chế với nhà ĐTNN, coi FDI là một bộ phận cấu thành quan trọng trong việc hình thành tổng vốn cần thiết, Một môi trường đầu tư bình đẳng sẽ tạo nên sự cạnh tranh gay gắt nhưng lành mạnh.

  • Các yếu tố kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế là một nội dung quan trọng, đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách đầu tư. Đặc điểm này liên quan đến hàng loạt các yếu tố ổn định kinh tế vĩ mô (tiền tệ, tài chính), cơ sở hạ tầng (hệ thống các dịch vụ), kết cấu hạ tầng (cơ cấu ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ), thu nhập dân cư ( sức mua, giá cả lao động).

  • Các yếu tố hỗ trợ kinh doanh

Sự ổn định về kinh tế và chính trị – xã hội: Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro về kinh tế – chính trị của dòng vốn FDI vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài. Những bất ổn về kinh tế – chính trị không chỉ làm cho dòng FDI bị chững lại, bị thu hẹp lại mà còn làm cho dòng vốn từ trong nứơc chảy ngược ra ngoài, tìm đến nơi trú ẩn mới an toàn và hiệu quả hơn. Theo thống kê, người ta đã nhận định rằng một nước mà có tình hình chính trị xã hội ổn định thì có thể tăng lượng FDI thu hút được lên 57%.

Điều kiện này không chỉ bao gồm các yêu cầu về duy trì sự phát triển kinh tế ổn định, trật tự an ninh chính trị – xã hội cần thiết cho sự vận hành bình thường của đất nước mà còn phải duy trì được dư luận và tâm lý chung thuận lợi và ủng hộ các nhà đầu tư nước ngoài. Bất kì sự bất ổn nào về chính trị như khủng bố, đảo chính, nội chiến hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm của giới lãnh đạo và quần chúng nhân dân đối với ĐTNN đều là những nhân tố nhạy cảm tác động tiêu cực tới tâm lý cũng như là hành động thực tế của nhà ĐTNN và nó cũng sẽ làm chậm lại những cải cách về chính sách cần thiết nhằm thu hút FDI của nước chủ nhà. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng :Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kĩ thuật của quốc gia tiếp nhận FDI luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án đầu tư đã cam kết. Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm hệ thống giao thông vận tải phát triển với cầu, cảng, đường xá, bến bãi, sân bay và các phương tiện giao thông bảo phủ toàn quốc và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu chính viễn thông với các thiết bị hiện đại, có thể nối mạng quốc gia và quốc tế một cách thông suốt và an toàn; hệ thống điện nước dồi dào, phân bổ tiện lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống hàng ngày và một mạng lưới dịch vụ phát triển, rộng khắp và có chất lượng cao như y tê, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo.

Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho chủ ĐTNN cảm thấy thoải mái và an toàn như ở trong nước họ và giúp họ giảm các chi phí sản xuất về giao thông vận tải, thông tin liên lạc mà không bị cản trở trong việc kinh doanh với đối tác ở nước sở tại cũng như toàn cầu.

Dịch vụ thông tin đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn FDI. Nội dung hoạt động dịch vụ này rất phong phú và mang tính thời sự cao, bao gồm từ việc cung cấp thông tin cập nhật, chính xác về môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư cho các đầu tư tiềm năng trên toàn thế giới; hỗ trợ các đối tác đầu tư trong và ngoài nước tiếp xúc và lựa chọn các đối tác thích hợp đến giúp đỡ các bên làm thủ tục kí kết hợp đồng kinh doanh, thành lập doanh nghiệp liên doanh và các dịch vụ thông tin cần thiết khác.

Việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là điều kiện cần để tăng tính hấp dẫn cảu môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợ cho các chủ đầu tư triển khai các dự án và kế hoạch đầu tư của mình mà đó còn là cơ hội để nước chủ nhà có thể và có khả năng thu lợi từ dòng vốn nước ngoài đã thu hút được thông qua thu nhập từ các dịch vụ như hải quan, thương mại, tài chính… Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Sự phát triển của đội ngũ lao động và hệ thống doanh nghiệp trong nước: Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngày nay, lao động có tay nghề, kĩ thuật cao là yêu cầu cần thiết nhất lại đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN – nơi mà trình độ công nghệ được coi là cao hơn mặt bằng trong nước. Vì vậy, việc thiếu các nhân lực kĩ thuật lành nghề, các lãnh đạo, quản lý cao cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa học – công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai dự án của họ, làm chậm và thu hẹp lại dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước. Theo thống kê thì cứ tăng số lao động trên 25 tuổi được đào tạo sau phổ thông trung học lên 1% thì lượng FDI thu hút được sẽ tăng thêm 3%.

Một hệ thống doanh nghiệp trong nước phát triển, đủ sức tiếp thu công nghệ chuyển giao, và là đối tác bình đẳng với các nhà đầu tư là điều kiện cần thiết để nước tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều hơn và hiệu quả hơn luồng vốn FDI. Hệ thống doanh nghiệp đó phải bao gồm cả những doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính. Bởi vì các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển vốn trong nước và quốc tế, từ đó càng thuận lợi cho các hoạt động đầu tư.

Hệ thống trọng tài quốc tế : Nếu được tổ chức tốt, hoạt động hiệu quả thì trọng tài quốc tế đóng vai trò là người đem lại sự công bằng cho các doanh nghiệp.

Hoạt động xúc tiến đầu tư : Đây là hoạt động cần thiết nhằm đẩy nhanh tốc độ thu hút FDI vào trong nước. Hình thức của hoạt động xúc tiến đầu tư rất đa dạng, phong phú và với mỗi địa phương khác nhau cũng khác nhau.

5. Tác động của FDI Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

5.1 Đối với nước đầu tư

  • Tác động tích vực

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Phần lớn các nước này là các nước công nghiệp phát triển và hiện nay là một số các nước công nghiệp mới NICs. Ở những nước này, trình độ phát triển đã đạt tới mức khá cao làm cho các nhân tố sản xuất theo chiều rộng ngày càng mất đi ý nghĩa ban đầu kèm theo là hiện tượng thừa tương đối nguồn vốn trong nước. Bằng cách đầu tư ra nước ngoài họ đã sử dụng được những lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để có thể khắc phục được tình trạng tỷ suất lợi nhuận đang có xu hướng giảm dần.

Kéo dài vòng đời sản phẩm: Theo thuyết chu kỳ sống của sản phẩm, thông qua FDI, các nước chủ đầu tư đã di chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp phần lớn là máy móc ở giai đoạn lão hoá hoặc có nguy cơ bị khấu hao vô hình nhanh (trong xu hướng phát triển và đổi mới công nghệ, sản phẩm ngày càng rút ngắn) sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm chu kỳ sống của sản phẩm, hoặc để mau khấu hao, cũng như để tăng sản xuất tiêu thụ, giúp thu hồi vốn và tăng thêm lợi nhuận.

Khai thác nguồn nguyên liệu ở nước tiếp nhận đầu tư: FDI sẽ tạo cơ hội cho các nước này mở rộng và ổn định thị trường cung cấp nguồn nguyên liệu với giá khống chế thông qua đầu tư vào các ngành, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước tiếp nhận đầu tư là các nước chậm và đang phát triển.

Tạo thế và lực trên trường quốc tế: FDI giúp các nước chủ đầu tư tăng thêm sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế.

Thông qua xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài (nhất là các địa bàn có giá trị “đầu cầu” để thâm nhập, mở rộng thị trường có triển vọng), các nước chủ đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước, cũng như có thể thông qua ảnh hưởng về kinh tế để tác động chi phối đời sống chính trị nước chủ nhà, có lợi cho nước đầu tư.

  • Tác động tiêu cực

FDI gây nên nạn thất nghiệp ở nước chủ đầu tư: FDI nhiều quá khiến cho nguồn vốn đầu tư cho sản xuất trong nước giảm. Do chạy theo lợi nhuận độc quyền, các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ mặc nạn thất nghiệp ở nước phát triển để đầu tư vào những nước có chi phí thấp, lợi nhuận cao. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Rủi ro công nghệ: Các doanh nghiệp cùng ngành cạnh tranh, bắt chước, học tập, lao động chuyển sang làm cho doanh nghiệp khác hay lập công ty riêng đều mang đến rủi ro công nghệ cho doanh nghiệp.

Rủi ro chính trị: Do luật pháp mỗi nước khác nhau, tình hình chính trị mỗi quốc gia đều có đặc điểm riêng nên dễ dẫn đến những rủi ro chính trị.

Hiện tượng chảy máu chất xám : Cùng với việc chuyển giao công nghệ là hiện tượng chảy máu chất xám, các chuyên gia trong nước theo các dự án ở nước ngoài để hướng dẫn, chỉ đạo, phụ trách kỹ thuật cho nước nhận đầu tư.

5.2. Đối với nước nhận đầu tư

  • Tác động tích cực

FDI bổ sung nguồn vốn cho nước chủ nhà phát triển kinh tế mà không làm tăng gánh nặng nợ nần: Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều bị thiếu vốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ. Điều này đã hạn chế đến quy mô đầu tư và đổi mới công nghệ, trang thiết bị kĩ thuật ở các nước này. FDI là loại hình đầu tư không quy định mức vốn đầu tư tối đa mà chỉ quy định mức đầu tư tối thiếu, do vậy cho phép nước sở tại khai thác được nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để phát triển kinh tế. Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội và thường là vốn đầu tư dài hạn, do các nhà ĐTNN tự quản lý và tự chịu kết quả kinh doanh nên có hiệu quả để tăng trưởng kinh tế bền vững.

FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước ngoài : Ở các nước đang phát triển, công nghệ thường là công nghệ cổ truyền, lạc hậu với năng suất thấp. Bên cạnh đó, với trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học kĩ thuật không cao, các nước này có ít khả năng phát triển những công nghệ mới và hiện đại. Mặt khác, với số vốn tích lũy ít ỏi, khả năng tự nhập khẩu công nghệ của các nước này cũng rất hạn chế. Trong hoàn cảnh đó, FDI được coi là phương tiện hữu hiệu để các nước này có thể tiếp cận với những công nghệ cao, hiện đại của nước ngoài.

Thông thường, khi triển khai dự án đầu tư vào một nước, chủ ĐTNN không chỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cân thị trường (còn gọi là công nghệ mềm) cũng như đưa chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo các chuyên gia bản xứ về các lĩnh vực đó. Điều này cho phép các nước nhận đầu tư không chỉ có được những công nghệ đơn thuần mà còn nắm vững cả các kĩ năng nguyên lý vận hành, sửa chữa, mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được công nghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ.

FDI mở ra cơ hội hội nhập kinh tế thế giới : Hiện nay, các nước đang phát triển đều đã nhận thức ra rằng sự phát triển kinh tế của mình phải dựa vào thị trường thế giới, phải tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế và họ luôn tìm cách để thực hiện quá trình đó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Hội nhập kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển kinh tế từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu. Các nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những nhân tố đảm bảo cho chiến lược hội nhập thành công là thu hút FDI. Điều này về mặt lý thuyết là do đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn bó chặt chẽ với thương mại, còn về mặt thực tiễn là do các nước đang thiếu kinh nghiệm và khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và tạo ra những chuyển biến trong cơ cấu thương mại của mình là nhờ thu FDI vào các ngành công nghệ tiên tiến và những ngành sản xuất các sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường thế giới.

FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá (CHH-HĐH) : Bằng việc chuyển giao công nghệ thường đã mất sức cạnh tranh ở chính quốc, nhưng lại còn khá mới mẻ và hiện đại đối với các nước tiếp nhận đầu tư, FDI góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế các nước tiếp nhận đầu tư theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá và quốc tế hoá. ở những nền kinh tế mới CNH, đầu tư của các công ty xuyên quốc gia thường tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo.

FDI góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao thu nhập: Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, mục đích chủ yếu của các công ty nước ngoài là nhằm thu lợi nhuận cao, tìm kiếm thị trường mới, củng cố chỗ đứng và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do đó các công ty này đặc biệt chú trọng đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô các doanh nghiệp hiện có, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động tại nước tiếp nhận, đặc biệt là tại những nước đang phát triển – nơi có nguồn lao động dồi dào, nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng.

  • Tác động tiêu cực

Nguy cơ trở thành bão rác công nghệ: Mục tiêu của các nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là đạt được lợi nhuận cao nhất. Bởi vậy các nhà đầu tư bao giờ cũng tận dụng tối đa các yếu tố sản xuất. Bên cạnh đó, dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật nên máy móc, công nghệ rất mau trở nên lạc hậu, điều này luôn tạo ra sức ép buộc các nhà sản xuất phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lương sản phẩm. Kéo dài thời gian khai thác công nghệ bằng cách đầu tư ra bên ngoài chính là biện pháp giải quyết được hai mục tiêu trên.Vì lẽ đó mà hầu hết công nghệ mà các nhà đầu tư chuyển giao sang các nước đang và chậm phát triển đều là những công nghệ đã qua sử dụng, thậm chí có những công nghệ đã rất lạc hậu. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư, đó là: Thứ nhất, rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó, do vậy nước chủ nhà thường bị các nhà đầu tư khai tăng giá công nghệ dẫn đến thiệt hại trong tỷ lệ góp vốn và cuối cùng là trong việc phân chia lợi nhuận; Thứ hai, gây ô nhiễm môi trường; Thứ ba, công nghệ lạc hậu thì chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của nước nhận đầu tư khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Bị biến thành nơi tiêu thụ sản phẩm và bị phụ thuộc vào vốn đầu tư và mô hình công ty ở chính quốc: Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi chọn nước để đầu tư mang theo mong muốn mở rộng thị trường tại nước nhận đầu tư. Đây chính là chiến lược xuất khẩu sản phẩm ngay tại thị trường nội địa và cũng lại là một mâu thuẫn lớn với chính sách hướng về xuất khẩu của nước nhận đầu tư. Do đó trên thực tế luôn xuất hiện các hành vi tiêu cực làm trái với các quy định pháp luật và các thoả thuận hợp đồng ban đầu về tiêu thụ sản phẩm. Nếu sản phẩm có khả năng xuất khẩu được thì các nhà đầu tư luôn nắm giữ và độc quyền thị trường tiêu thụ. Có nhiều nước đang phát triển có tích luỹ thấp, do đó nguồn vốn đầu tư chủ yếu dựa vào đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn bên ngoài khác. Do đó khi có những biến cố xảy ra như khủng hoảng kinh tế, bất ổn về chính trị… các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn đột ngột sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế các nước này.

Cơ cấu đầu tư vào các ngành không cân đối : Với mục đích lợi nhuận, các nhà đầu tư thường đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có hiệu suất lợi nhuận cao như bảo hiểm, ngân hàng, khai thác dầu khí…trong khi nước nhận đầu tư lại muốn các nhà ĐTNN đầu tư vào các ngành trong nước chưa phát triển như nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng… Chính vì thế, nếu nhà nước không có những quy hoạch và cơ chế hữu hiệu sẽ dẫn đến tình trạng đầu cơ tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường, cơ chế kinh tế méo mó.

FDI có thể gây nên sự phụ thuộc về chính trị : Nước đầu tư là những nước nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh, do vậy nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang phát triển dễ bị thua thiệt, chịu sức ép của nước đầu tư về chính trị.

Ngoài ra, FDI còn gây nên nhiều mặt tiêu cực khác như chảy máu chất xám, dòng ngoại tệ chảy ngược, mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội…

II. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỊCH VỤ Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

1. Khái niệm

Trên thực tế, hiện nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về ngành dịch vụ. Sở dĩ có sự khác biệt này là do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Dịch vụ là hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn các nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Do nhu cầu con người rất đa dạng nên có nhiều loại dịch vụ như: dịch vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng, dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình.

Theo từ điển Tiếng Việt : Dịch vụ là những công việc phục vụ trực tiếp những nhu cầu nhất định của số đông các tổ chức và phải được trả công.

Tóm lại, Dịch vụ là hợp động phục vụ con người nhằm thoả mãn tốt nhất các nhu cầu khác nhau (nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu sản xuất, nhu cầu đời sống, nhu cầu cá biệt, nhu cầu đồng loạt…) và thông qua đó, bằng quan hệ hàng hoá – tiền tệ, các tổ chức kinh doanh dịch vụ nhận được phần thu nhập hợp lý của mình.

2. Đặc điểm

Sản phẩm của dịch vụ thường không tồn tại dưới dạng vật chất thông thường. Các sản phẩm hàng hoá thông thường do các ngành sản xuất tạo nên đều tồn tại định hình, dạng thức ổn định (ổn định về mặt giá trị sử dụng và giá trị của sản phẩm, hàng hoá), người mua có thể cảm nhận, xem xét bằng các giác quan trước khi quyết định mua. Đối với dịch vụ, các sản phẩm không tồn tại dưới dạng vật chất cố định mà nó thể hiện ở mức độ thoả mãn của khách hàng về một nhu cầu nào đó. Điều này thể hiện rõ nhất ở loại hình dịch vụ tư vấn. Khách hàng xem xét và quyết định mua một sản phẩm nào đó là dựa vào yếu tố tiền sản phẩm, tức là không phải dựa vào trực tiếp sản phẩm mà dựa vào các yếu tố cấu thành nên sản phẩm đó.

Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời : thời gian lao động của người lao động và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trùng khớp với thời gian tiêu dùng của khách hàng. Chính vì vậy, trong kinh doanh dịch vụ không có sản phẩm dự trữ và mang tính thời vụ sâu sắc, doanh nghiệp không có thời gian và cơ hội để sửa chữa các khuyết điểm.

Tính không tách rời : Việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời nên nếu thiếu mặt này thì không thể có mặt kia. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Không có sản phẩm dự trữ : Chính từ đặc điểm sản xuất tiêu dùng diễn ra đồng thời nên dịch vụ không có sản phẩm dự trữ, không thể lập kho để lưu trữ sản phẩm.

Mang tính thời vụ sâu sắc : kinh doanh dịch vụ thường theo mùa vụ, có thể theo từng thương vụ.

Mang tính cá biệt : Dịch vụ định hướng theo từng khách hàng cụ thể dựa trên những yếu tố chung, thường lại rất cá biệt với riêng từng người. Trong quá trình kinh doanh, cái riêng đó được thể hiện nhưng không đầy đủ vì nó chỉ thể hiện được cái riêng của một số đông còn số hẹp của một cá thể chỉ được thể hiện đầy đủ khi tiêu dùng sản phẩm.

3. Phân loại

3.1 Theo đối tượng sử dụng dịch vụ

  • Dịch vụ sản xuất : Phục vụ cho quá trình sáng tạo giá trị sử dụng và giá trị của các sản phẩm, hàng hoá như dịch vụ kinh tế, kỹ thuật, tư vấn… Lấy đối tượng phục vụ là con người nhưng là con người kinh doanh và máy móc hoặc quá trình vận hành của doanh nghiệp.
  • Dịch vụ đời sống : Phục vụ cho đời sống các nhân người tiêu dùng với tư cách là các cá thể trong quá trình hoạt động, nghỉ ngơi, giải trí nhằm tái sản xuất sức lao động. Dịch vụ đời sống bao gồm dịch vụ vật chất và dịch vụ tinh thần, dịch vụ văn hoá

3.2 Theo nội dung và tính chất dịch vụ

  • Dịch vụ vật chất : Là dịch vụ thoả mãn nhu cầu thông qua các phương tiện mang tính vật chất.
  • Dịch vụ phi vật chất : Là dịch vụ thoả mãn nhu cầu của con người thông qua các phương tiện phi vật chất như dịch vụ tư vấn, khuyến cáo. Xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến, mức sống nâng cao thì loại hình dịch vụ phi vật chất càng đa dạng.

3.3 Theo các khâu trong quá trình sản xuất

  • Dịch vụ trong quá trình sản xuất
  • Dịch vụ trong quá trình phân phối sản phẩm
  • Dịch vụ trong lưu thông thương mại.
  • Dịch vụ trong tiêu dùng.

3.4 Theo ngành

  • Dịch vụ công nghiệp
  • Dịch vụ nông nghiệp
  • Dịch vụ nông lâm ngư nghiêp
  • Dịch vụ giao thông vận tải.
  • Dịch vụ xây dựng.
  • Dịch vụ y tế.
  • Dịch vụ văn hoá giáo dục.
  • Dịch vụ bất động sản.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành dịch vụ. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Người cung cấp : đối với lĩnh vực dịch vụ, một nhà cung cấp uy tín là sự lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng bởi cái mà người tiêu dùng quan tâm là chất lượng của dịch vụ. Người cung cấp thành công là người biết nắm bắt sự thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng. Dịch vụ là ngành mang tính cá biệt cao nên người cung cấp đồng thời cũng là người biết cách kích thích nhu cầu của người tiêu dùng, biết cách tạo ra nhu cầu mới. dịch vụ mới phục vụ tối đa cho đời sống vật chất tinh thần của người dân. Phương châm hoạt động của ngành dịch vụ là vì khách hàng, giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu một cách nhanh nhất và tốt nhất.

Yếu tố con người : Người dân là đối tượng phục vụ của dịch vụ. Trong đất nước có nền dân trí cao thì lưu lượng dịch vụ có trình độ công nghệ cao đòi hỏi chất lượng và loại hình, do đó cần sử dụng nhiều chất xám. Như vậy, con người vừa là chủ thể tạo nên sự phát triển của dịch vụ vừa là động lực cho lĩnh vực này phát triển.

Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực, trình độ, trí tuệ, thể lực, tinh thần, thái độ, tác phong và đạo đức của các thành viên hợp thành. Nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, nhân tố quyết định sự thành công của ngành dịch vụ.

Trong bối cảnh khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Nhưng KH-CN vẫn không thể thay thế được vị trí chủ thể của nguồn lực con người. Hơn thế nữa, con người còn là nhân tố tiếp nhận sự chuyển giao, ứng dụng và sáng tạo KH-CN để đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực: đất đai, vốn, khoa học công nghệ, nhưng nguồn lực con người là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng tái tạo và phát triển các nguồn lực khác. Không tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, tâm huyết với công việc thì khó có thể thành công trong việc phát triển ngành dịch vụ bởi ngành dịch vụ là ngành khá đặc biệt, yêu cầu cao về chất lượng phục vụ mà ở đây là con người.

Yếu tố văn hoá : Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dịch vụ. Kinh tế phát triển chậm, đời sống thấp, chỉ tập trung thoả mãn các nhu cầu vật chất, ít chú ý đến phương thức thoả mãn nhu cầu và văn hoá của việc thoả mãn nhu cầu gần như không được dề cập đến. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế phát triển cao, thị trường chuyển từ trọng cung sang trọng cầu, đối với xã hội, việc có được dịch vụ cần thiết không còn là vấn đề quan tâm nữa thì vấn đề văn hoá trong các sản phẩm dịch vụ nổi lên như yếu tố hàng đầu. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Ngày nay không chỉ các nhà kinh tế mà các nhà văn hóa cũng đều thống nhất cho rằng, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Tác động của văn hoá đến kinh tế là hết sức rộng lớn và phức tạp, nó quyết định đến việc lực chọn sản phẩm, phương thức đưa sản phẩm dịch vụ ra với cộng đồng. Trong hệ thống các giá trị văn hoá, các giá trị văn hoá tinh thần, văn hoá phi vật thể có tác động mạnh mẽ và phổ biến đến sự phát triển của ngành thông qua rất nhiều các biến số khác nhau, song có thể được chia thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất, bao gốm tập hợp các biến số như: trình độ sử dụng những cải tiến kỹ thuật, những phát hiện khoa học trong các lĩnh vực của đời sống sản xuất xã hội, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của những người lao động; trình độ phổ cập giáo dục, văn học nghệ thuật… trong nhân dân.

Nhóm thứ hai, bao gốm rất nhiều biến số như: ngôn ngữ; những biểu tượng; tôn giáo; cách sử dụng thời gian, không gian; cách quan niệm về tình bạn, tình hữu nghị; tâm lý; lối sống, nếp sống; truyền thống, tập quán, tập tục, những điều cấm kỵ v.v…

Một nguyên nhân phổ biến đối với việc kinh doanh thất bại tại thị trường nước ngoài không phải là do thiếu cơ hội mà là do không chú ý tới các yếu tố văn hoá. Người ta lựa chọn hợp tác kinh doanh với những người mà họ cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc. Theo quan điểm kinh doanh, văn hoá có thể được nhìn nhận như một hệ thống các nguyên tắc chi phối phương thức giao dịch kinh doanh do những người dân thuộc từng quốc gia cụ thể thực hiện. Những nguyên tắc này tạo ra nghi thức, phong cách giao tiếp và đàm phán trong nền văn hoá mà họ tuân thủ.

Khi đã quyết định hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài, bước tiếp theo cần xem xét là cách đưa dịch vụ ra thị trường như thề nào. Các kênh phân phối đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi đó là cầu nối huyết mạch giữa người mua và người bán. Có thế phân phối dịch vụ theo một trong bốn phương thức sau: Người cung cấp tới chỗ khách hàng, Khách hàng tới chỗ người cung cấp, Người cung cấp thiết lập cơ sở kinh doanh tại thị trường, Phân phối từ xa.

Do khách hàng cũng sẽ tham gia một số khâu trong quy trình chuyển giao dịch vụ nên họ sẽ phải cố gắng làm quen với dịch vụ mới hoặc hệ thống phân phối dịch vụ. Khía cạnh văn hóa có ảnh hưởng tới hầu hết các công đoạn trong quy trình chuyển giao dịch vụ liên quan tới nhiều người. Do đó, cần xem xét một số yếu tố sau: Cách chào đón khách hàng, Sự cân bằng giữa việc hỗ trợ và tự phục vụ. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Ví dụ, những khách hàng từ các nền văn hóa với mức độ không mong muốn rủi ro ở mức thấp, coi trọng tiến độ chuyển giao, sự thuận tiện trong sử dụng dịch vụ và khả năng lựa chọn cao, rất có thể sẽ chấp nhận dịch vụ tự phục vụ. Khách hàng mong muốn được phục vụ như thế nào, Mức độ mà dịch vụ cần phải đáp ứng theo mong đợi của khách hàng, Dịch vụ sẵn có ở đâu và khi nào, Dự kiến những công việc sẽ tiếp tục theo dõi thực hiện sau khi cung cấp dịch vụ.

Cơ sở hạ tầng : để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ, kinh doanh dịch vụ thì hệ thống cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng. Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện cho dịch vụ phát triển thuận lợi hơn, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành dịch vụ cần thiết như : Cơ sở ăn uống, hệ thống giao thông vận tải, hệ thống khách sạn nhà hàng, hệ thống điện nước, thông tin liên lạc, vui chơi giải trí. Hạ tầng là yêu cầu cấp thiết cần quan tâm để phát triển ngành dịch vụ du lịch.

Trình độ khoa học kỹ thuật : trong thời đại ngày nay, các ngành dịch vụ yêu cầu công nghệ cao đang ngày càng được ưa chuộng. Do vậy, các doanh nghiệp phái theo sát, nắm bắt kịp thời các ứng dụng công nghệ mới để phục vụ kịp thời nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

5. Vai trò của ngành dịch vụ đối với nền kinh tế Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Dịch vụ là một phần của nền kinh tế quốc dân bên cạnh ngành nông nghiệp và công nghiệp : Dịch vụ là khu vực kinh tế có khả năng lớn trong việc huy động, liên kết và phát huy nguồn lực của nền kinh tế để tạo ra giá trị gia tăng mới. Sự phát triển của dịch vụ được xem là thước đo của sự phát triển kinh tế. Vì vậy dịch vụ là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Kinh tế phát triển, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu về dịch vụ ngày càng tăng, ngày càng nhiều lọai hình dịch vụ ra đời nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người dân và của xã hội. Chính vì sự ra đời của hàng loạt các loại hình dịch vụ mới dẫn đến một lượng lớn công ăn việc làm được tạo ra, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Phát triển đời sống xã hội: Sự phát triển đa dạng của kinh tế dịch vụ tạo điều kiện tiết kiệm lao động cho các ngành khác, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tái sản xuất, mở rộng theo chiều sâu sức lao động, sử dụng hợp lý các bộ phận lao động xã hội. Phát triển đúng mức kinh tế dịch vụ sẽ giải quyết được các vấn đề xã hội, tạo nên những quan hệ văn minh mới, nâng cao dân trí, tạo bầu không khí cởi mở, dân chủ.

Góp phần tái tạo sức khoẻ, bảo vệ con người khỏi môi trường sống : Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, cường độ làm việc của con người ngày càng tăng, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là nhu cầu được quan tâm hàng đầu.

Phát triển hoạt động kinh doanh của các ngành khác : Dịch vụ góp phần trực tiếp vào phát triển sản xuất, dịch vụ tham gia cung cấp các yếu tố đầu vào, tham gia vào quá trình tiêu thụ sản phẩm nhằm làm cho doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm hơn. Dịch vụ được thực hiện trước, trong và sau khi bán hàng. Dịch vụ lập nên rào chắn ngăn chặn sự thâm nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh.

III. KINH NGHIỆM THU HÚT FDI VÀO DỊCH VỤ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

1. Trung Quốc

Trung Quốc là một hiện tượng đặc biệt trong các nước đang phát triển về kỳ tích thu hút vốn ĐTNN nói chung và FDI nói riêng phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Đây là quốc gia duy nhất đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoản 10% và là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong suốt những năm 90. Chính sách thu hút FDI của Trung Quốc có những điểm đáng chú ý sau:

  • Chính sách thuế

Trung Quốc đã đưa ra các chính sách thuế để thu hút, hấp dẫn nhà ĐTNN. Với xí nghiệp hoạt động trên 10 năm tại khu công nghệ cao được hưởng chính sác ưu đãi như sau : 2 năm miễn thuế sau năm đầu tiên có lãi, 3 năm giảm thuế 50% từ năm thứ 3 đến năm thứ 5. Các xí nghiệp công nghệ cao được hưởng 3 năm giảm thuế tiếp theo từ năm thứ 6 đến năm thứ 8 là 10%. Thuế doanh thu trong những năm còn lại là 15%. Doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu 70% sẽ được giảm thuế doanh thu còn 10%.

Tại 14 thành phố ven biển, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được giảm thuế lợi tức 10% so với các khu vực khác. Các liên doanh đầu tư 10 năm trở lên được miễn giảm thuế lợi tức 2 năm kể thừ khi có lãi và giảm thuế 50% cho 3 năm tiếp theo. Nếu liên doanh đầu tư vào cùng khó khăn dữ được giảm từ 15-30% trong vòng 10 năm. Nếu liên doanh có sản phẩm xuất khẩu trên 70% được giảm 50% thuế hàng năm. Doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến được giảm tiếp 50% trong 3 năm so với doanh nghiệp cùng loại không áp dụng công nghệ cao.

  • Chính sách khuyến khích đầu tư

Xác định rõ phạm vi được phép của ĐTNN : Chính phủ Trung Quốc đã làm rõ phạm vi bằng cách phân chia ngành nghề đầu tư thành 4 loại : khuyến khích, được phép, hạn chế và cấm đầu tư.

Kiên trì quan điểm khuyến khích đầu tư nước ngoài : Danh mục các ngành nghề khuyến khích đầu tư được mở rộng , trong khi các ngành hạn chế đầu tư giảm dần.

Khuyến khích xuất khẩu : các doanh nghiệp ĐTNN xuất khẩu trực tiếp tất cả các sản phẩm sản xuất ra được xếp vào các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư. Trong khi đó, các dự án thuộc loại hạn chế mà doanh thu 70% từ xuất khẩu là các dự án được phép đầu tư.

Khuyến khích nhà ĐTNN đầu tư vào các vùng khó khăn như vùng miền Trung và miền Tây. Doanh nghiệp ngoài được hưởng chính sách ưu đãi thuế, các dự án thuộc danh mục đựơc phép hoặc hạn chế đầu tư sẽ được hưởng quy định nới lỏng đáng kể.

  • Phát triển cơ sở hạ tầng Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những ưu tiên của Trung Quốc nhằm tạo MTĐT thuận lợi để thu hút FDI, những tỉnh có cơ sở hạ tầng tốt và mạng lưới vận chuyển hàng hoá tới thị trường nước ngoài thuận tiện thường thu hút nhiều FDI ( các tỉnh duyên hải Đông Nam Trung Quốc). Giai đoạn 2019-2023 Trung Quốc đã xây dựng 350.000 km đường bộ, 1.143 chuyến bay trong và ngoài nước, có 271,6 triệu thuê bao điện thoại cố định, 271 triệu người sử dụng điện thoại di động.

  • Đào tạo nguồn nhân lực

Để đào tạo nhân tài cho đất nước và chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu sử dụng công nghệ cao, từ 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp cái cách giáo dục thuộc tất cả các cấp, cử người ra nước ngoài học nên năm 2019 số người được đào tạo tại các nước OECD là 124.000 người. Hiện tại, số lượng sinh viên học ở Mỹ là 60.000 người, trong vòng 10 năm kêt ừ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Mỹ đã đào tạo cho Trung Quốc hơn 100.000 sinh viên. Trung Quốc đã mở nhiều trường đào tạo cán bộ có chức năng chuyên biệt trong lĩnh vực ngoại ngữ, kế toán và kiểm toán để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp FDI

2. Singapore

Chính phủ nước này áp dụng hệ thống thuế quan ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài. Miễn hoặc giảm thuế thu nhập, thuế công ty, thuế tài sản cho những nhà đầu tư nước ngoài nếu họ tham gia những dự án có khả năng cải thiện can cân thanh toán, những dự án đòi hỏi kỹ thuật chính xác cao hoặc đòi hỏi khối lượng vốn lớn, những dự án được xem là cơ bản đối với nền kinh tế quốc dân hoặc tư bản địa phương khó có thể đảm nhận được.

Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn lĩnh vực kinh doanh và miễn 100% thuế trong vòng 5 năm kể từ khi triển khai dự án, định giá thấp đối với tư liệu sản xuất và tài sản cố định của doanh nghiệp mới. Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu hoặc tư liệu sản xuất trong những ngành nằm trong diện ưu tiên của Nhà nước. Thuế kinh doanh có thể được giảm nếu các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đầu tư lượng vốn lớn và sử dụng kỹ thuật cao. Miễn thuế 100% đối với các khoản dự trữ mà nhà ĐTNN đăng ký giữ lại để đổi mới trang thiết bị, sửa chữa máy móc và nâng cấp hệ thống giao thông vận tải.

Chính phủ nước này cho phép thành lập khu công nghiệp Giurông với những quy chế của một đặc khu. Ban đầu thành lập khu công này nhằm thu hút vốn vào các ngành sử dụng nhiều lao động địa phương, sau này chuyển hướng đầu tư vào một số ngành đòi hỏi sử dụng kỹ thuật cao ( như sinh hoặc sản xuất các phần mềm máy tính điện tử). Có thể nói, việc thành lập các khu công nghiệp kiểu như thế này với những ưu đãi dành cho công ty hoạt động trong đó, nhằm khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu là việc làm cần thiết đối với bất kỳ nước chậm phát triển nào muốn thu hút FDI để tiến hành.

Như vậy, kinh nghiệm của Singapore trong việc phát triển dịch vụ chính là chính sách đào tạo cảu quốc gia này cũng như chất lượng dịch vụ giáo dục của họ. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Singapore có đội ngũ lao động cấp cao hàng đầu thế giới. Sở dĩ nói như vậy vì những người này tạo ra năng suất vô cùng lớn, thành thạo về chuyên môn, kĩ thuật và có thái độ làm việc tích cực. Nhưng để có được điều này, Singapore đã phải liên tục đầu tư vào việc đào tạo cả một thế hệ thông qua con đường giáo dục.

Singapore cũng xác định giáo dục là một kênh hữu hiệu thu hút du học sinh nước ngoài. Chính vì vậy, ngoài cải tiến hệ thống giáo dục, Singapore cũng có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các giáo sư tiến sĩ. Hiện tại, du học sinh đến Singapore là rất lớn và nước này cũng là một trong những trung tâm đào tạo uy tín của thế giới. Có thể kể đến các trường đại học danh tiếng như Công nghệ Nanyang (NTU), Học viện phát triển quản lý Singapore (MDIS), Đại học Quốc gia Singapore (NUS)…

Sinh viên nước ngoài đến học tập tại Singapore được vay tiền để chi trả cho những chi phí cần thiết về sinh hoạt và học tập. Sau khi tốt nghiệp với kết quả học tập cao, những cử nhân “ngoại” này phải cam kết làm việc cho một công ty nào đó của Singapore ít nhất là 3 năm để trả nợ.

  • Mục tiêu của Singapore là trở thành trung tâm dịch vụ pháp lý của châu Á:

Theo quyết định mới, các công ty luật trong nước, đặc biệt là những công ty hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến luật nước ngoài và các giao dịch xuyên biên giới như ngân hàng, tài chính, doanh nghiệp… sẽ được tạo điều kiện để thuê mướn luật sư nước ngoài. Singapore cũng vừa thông qua một dự án xây dựng trường luật thứ hai ở nước này và mở rộng đầu vào khoa luật của Trường đại học Quốc gia Singapore (NUS) nhằm khắc phục hiện tượng cung thấp hơn cầu hiện nay và chuẩn bị sức bật trong tương lai. Trong chương trình bốn năm đại học, sinh viên sẽ có ít nhất mười tuần thực tập bắt buộc ở các công ty luật.

Về phần luật sư nước ngoài, họ phải có uy tín cao ở nước họ, bằng cấp cao do trường luật danh tiếng cấp hoặc kinh nghiệm làm việc tốt với giấy chứng nhận. Theo Bộ Tư pháp Singapore, “kế hoạch đặc biệt này sẽ cho phép chuyên môn của tài năng nước ngoài hòa hợp với kỹ năng của luật sư trong nước, bảo đảm cho các công ty luật của chúng ta có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường toàn cầu”.

3. Thái Lan Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

  • Thái Lan là nước điển hình trong các nước ASEAN về việc công khai đưa ra các kế hoạch cụ thể cho toàn bộ nền kinh tế và luôn tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI cho phù hợp với từng gia đoạn phát triển.
  • Chính phủ Thái Lan đảm bảo không quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất của các nhà ĐTNN trong bất kỳ hoàn cảnh nao, đảm bảo quyền cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp trong nước mới thành lập.
  • Chính phủ Thái Lan không hạn chế đối với việc chuyển đổi ngoại tệ và chuyển lợi nhuận cũng như vốn đầu tư ra bên ngoài.
  • Thái Lan ký hiệp định bảo hộ đầu tư với 21 quốc gia, trong đó có Việt Nam (2019), ký hiệp định tránh đánh thuế trùng với hơn 40 nước.

Dịch vụ – du lịch là một trong những ngành hút tiền tệ nhiều nhất về cho đất nước Thái Lan. Do vậy, Thái Lan không ngừng có những chính sách nâng cao chất lương ngành, thu hút FDI. Ở đây có 2 điểm đãng chú ý là.

  • Thứ nhất, chính sách chung vào lĩnh vực dịch vụ:

Cải thiện các lĩnh vực có liên quan nhằm tăng hiệu quả và sức cạnh tranh của dịch vụ Thái Lan. Bao gồm: phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực dịch vụ, đa dạng hoá hình thức cung cấp dịch vụ, phát triển công nghệ, cơ sở hạ tầng.

Sắp xếp các tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực có liên quan, phù hợp với mục tiêu phát triển nhằm tận dụng một cách triệt để các tiềm năng sẵn có. Nhờ đó dịch vụ có thể thu hút càng nhiều FDI, thu ngoại tệ, thu nhập các địa phương thông qua du lịch, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh, thể thao, giải trí…

Tăng cường phát triển các nhà thầu dịch vụ lớn để tận dụng trịnh độ, khả năng quản lý, tiêu chuẩn dịch vụ và trình độ ngoại ngữ. Điều này giúp dịch vụ Thái Lan ngày càng mạnh.

  • Thứ hai là chính sách xúc tiến phát triển ngành du lịch:

Tăng cường phục hồi và đẩy mạnh các mối quan hệ và hợp tác với các quốc gia láng giềng trong khu vực để phát triển Thái Lan thành cửa ngõ chính cho du lịch trong vùng về mặt thị trường, giao thông, đầu tư, quản lý cũng như giải quyết các trở ngại về đầu tư vào du lịch cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Tăng cường phục hồi các di sản văn hoá từ nông thông đến thành thị nhằm tạo ra nhiều khu du lịch mới, thu hút sự chú ý đầu tư xây dựng của các nhà ĐTNN. Nâng cao vai trò lĩnh vực tư nhân trong việc phối hợp với công đồng, gìn giữ những nét riêng của khu du lịch và phong cách sống của người Thái. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch, đảm bảo an toàn cho du khách, tạo cơ sở cho các nhà ĐTNN đầu tư.

4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước là tài sản quý đối với Việt Nam. Tuy nhiên, dù điều kiện tự nhiên cũng như hoàn cảnh kinh tế-xã hội khác nhau nên việc áp dụng các kinh nghiệm cũng cần phải sáng tạo sao cho thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của nước mình. Thông qua nghiên cứu các chính sách của các quốc gia khá, có thể rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau :

Thứ nhất, ngày nay hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu hướng chung của tất cả các quốc gia, do đó, Việt Nam cần phải hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI theo hướng tự do hoá thương mại, mở rộng địa bàn cũng như các lĩnh vực cho phép ĐTNN hoạt động như Trung Quốc đã làm.

Thứ hai, Việt Nam là thành viên mới của WTO. Để thể hiện được mình trong môi trường WTO, chúng ta phải hoàn thiện cơ chế phù hợp với thông lệ quốc tế. Trước mắt cần nghiên cứu yêu cầu của WTO để đưa ra chính sách thu hút phù hợp với những yêu cầu của tổ chức này.

Thứ ba, để tạo MTĐT tương đồng với các nước trong khu vực, Việt Nam cần hoàn thiện chính sách theo hướng giảm dần và xoá bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan, cải cách bộ máy quản lý cũng như phương thức làm việc ở các lĩnh vực ngân hàng – tài chính – tiền tệ, thuế và đặc biệt là khu vực hành chính.

Thứ tư, Việt Nam cần học hỏi Trung Quốc và Thái Lan trong việc sử dụng những chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích các nhà ĐTNN. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Thứ năm, chú trọng phát triển đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, xây dựng thành công các đặc khu kinh tế. Cơ sở hạ tầng là điều kiện thúc đẩy FDI tăng lên, tạo ra những kích thích ban đầu với nhà đầu tư, Ví dụ: để thu hút FDI, Malaysia đã chú ý nâng cấp chất lượng các trang thiết bị mạng lưới truyền thông, nâng cấp hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và cước điện thoại điện tín.

Thứ sáu, coi trọng đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao. Một thực tế trên thế giới cho thấy, dòng vốn FDI đổ vào một nước càng nhiều càng được khai thác có hiệu quả khi nước đó có năng lực hấp thụ vốn ĐTNN cao. Các nước châu Á ưa chuộng hình thức đào tạo một công đôi việc theo các dự án FDI. Khuyến khích các chủ đầu tư tổ chức đào tạo lấy các lao động bản xứ cho phù hợp với các dự án của mình. Tuy nhiên, điều đó chỉ phù hợp với các nhà đầu tư lớn, đầu tư dài hạn còn đa số các nhà đầu tư khác chỉ thích tuyển các lao động có trình độ của nước nhận đầu tư và để có thể đáp ứng được điều này các nước thường lập các trường dạy nghề bên cạnh các KCN, KCX. Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ.

Đối với Hà Nội, có nhiều khả năng phát triển kinh tế trở thành trung tâm tài chính, thương mại và dịch vụ công nghệ của quốc gia cần học tập Singapore với những kinh nghiệm của họ. Cụ thể là cải thiện chính sách thu hút FDI theo hướng khuyến khích các nhà ĐTNN đầu tư vào lĩnh vực tài chính, dịch vụ thương mại và công nghệ cao.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng FDI vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x