Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, hoạt động thương mại và buôn bán trên thế giới ngày càng có nhiều tiến bộ cả về chiều rộng và chiều sâu. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ càng ngày càng có nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh tham gia vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Mỗi một chủ thể sản xuất, kinh doanh sẽ đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mà mình sản xuất. Do vậy, muốn lựa chọn được sản phẩm chất lượng đảm bảo phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng tài chính của mình, người tiêu dùng phải dựa vào nhãn hiệu được gắn trên mỗi sản phẩm. Vì vậy, ngày nay, nhãn hiệu đóng một vai trò to lớn trong việc xây dựng danh tiếng cho hàng hóa được chào bán, gia tăng doanh số, tăng lợi nhuận thu được cho doanh nghiệp; đồng thời buộc chủ sở hữu nhãn hiệu cố gắng duy trì và nâng cao chất lượng của hàng hóa, dịch vụ có sử dụng nhãn hiệu đó, nghĩa là nhãn hiệu góp phần kích thích sự tiến bộ của kinh tế. Cũng chính bởi những lợi ích mà nhãn hiệu đem lại mà trên thị trường xuất hiện rất nhiều vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đên nhãn hiệu là các hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép nhãn hiệu đang được bảo hộ bởi các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đã có chỗ đứng trên thị trường nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm mà không phải mất công tạo dựng hình ảnh và uy tín.

Do đó để bảo vệ quyền và lợi ích của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, phát triển kinh tế bền vững thì việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng trong thời gian qua nhưng hệ thống này vẫn tỏ ra còn nhiều bất cập. Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nằm tản mạn ở các văn bản khác nhau, do đó gây khó khăn cho công tác thực thi và bảo hộ. Chính vì vậy, để ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, cần phải xây dựng pháp luật phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tương thích với các quy định quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý có hiệu quả các hành vi này.

Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, em đã chọn đề tài: “Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam” nhằm nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan và nâng cao hiệu quả các hoạt động ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này.

2. Tình hình nghiên cứu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Cạnh tranh không lành mạnh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, các bài viết thường phổ biến dưới dạng bài báo, tin điện tử và thường khai thác về đề tài cạnh tranh không lành mạnh nói chung hoặc là cạnh tranh không lành mạnh trong liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp, như: “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của TS. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, ThS nguyễn Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội (2023), hay “ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS.Lê Hồng Hạnh, ThS. Đinh Thị Mai Phương, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội (2021). Cho đến nay việc đi sâu nghiên cứu về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu còn rất hạn chế.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, khóa luận đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.
  • Phân tích thực trạng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, sử dụng chuyên gia, kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Các phương pháp này được sử dụng trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau.

5. Bố cục khóa luận Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Ngoài lời nói đầu và kết luận, khoá luận có bố cục gồm 3 chương:

  • Chương I: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.
  • Chương II: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam.
  • Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam.

Để hoàn thành khóa luận, em đã cố gắng tìm tòi, tổng hợp và phân tích các thông tin, tư liệu thu thu thập được. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và vốn kiến thức còn ít ỏi, kinh nghiệm chưa nhiều, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong trường và sự góp ý của bạn đọc.

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU

I. Nhãn hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1. Nhãn hiệu

1.1 Khái niệm nhãn hiệu

Trong nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng khi nó được coi như một công cụ tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm trên thị trường, tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thu hút khách hàng, tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng, tạo dựng giá trị trong quá trình củng cố ấn tượng từ người tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Uy tín của nhãn hiệu gây ấn tượng với người tiêu dùng còn tạo sức mạnh đẩy lùi hàng ngoại tại thị trường nội địa và có khả năng đứng vững trên thị trường nước ngoài, củng cố sức cạnh tranh của hàng hóa trên trường quốc tế [3, tr. 40].

Dựa vào chức năng của nhãn hiệu hàng hóa, có thể định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng hóa là một dấu hiệu dùng để nhận biết hàng hóa của một nhà sản xuất và phân biệt chúng với các nhà sản xuất khác”[20].

Trên cơ sở quan điểm trên, mỗi nước đưa ra các dấu hiệu cụ thể có thể được bảo hộ làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu được coi là nhãn hiệu ở mỗi nước là khác nhau. Có những dấu hiệu có thể được coi là nhãn hiệu tại quốc gia này nhưng lại không được bảo hộ tại quốc gia khác. Sự khác biệt trong khái niệm nhãn hiệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như: trình độ nhận thức của người tiêu dùng ở mỗi quốc gia, đặc điểm thị trường, yếu tố văn hóa, đạo đức truyền thống và thói quen sử dụng hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng… Để cụ thể hóa nhận xét trên, khóa luận xin đưa ra một số khái niệm nhãn hiệu được quy định trong luật pháp của các quốc gia Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc và Australia.

Tại Hoa Kỳ, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được quy định trong Luật nhãn hiệu hàng hóa (Lanham Act năm 1946). Theo đó, nhãn hiệu hàng hóa bao gồm “bất kỳ từ ngữ, tên, biểu tượng, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất, kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất khác và để chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hóa[…]” [35].

Khái niệm nhãn hiệu được quy định tại Bộ luật Sở hữu trí tuệ của Pháp cũng khá tương đồng với khái niệm nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ, trong đó quy định: Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

“Nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể biểu thị bằng đồ hoạ có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của cá nhân hoặc pháp nhân. Dấu hiệu có thể bao gồm: i)từ ngữ, sự kết hợp của từ ngữ, tên họ và tên địa lý, tên bút danh, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt; ii)dấu hiệu có thể nghe được như âm thanh, đoạn nhạc; iii)dấu hiệu hình như hình ảnh, nhãn sản phẩm, dấu , đường viền, khắc chạm nổi, hình ảnh ba chiều, logo, hình dáng sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm, sự kết hợp , sự sắp xếp hoặc sắc thái của màu sắc”[36].

Các dấu hiệu được coi là nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Luật nhãn hiệu hàng hóa Trung Quốc năm 2018 bao gồm: từ ngữ, hình ảnh, chữ cái, chữ số, dấu hiệu ba chiều, sự kết hợp của màu sắc, và sự kết hợp của các yếu tố đó có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng hóa [37].

Theo pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của Australia, “âm thanh, mùi vị có thể được đăng kí. Thêm vào đó, nhãn hiệu hàng hóa được đăng kí ngay cả khi chúng không có sẵn tính phân biệt với điều kiện là nhãn hiệu hàng hóa đó đã đạt được tính phân biệt thông qua sử dụng” [8, tr. 16].

Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã định nghĩa nhãn hiệu như sau: “nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc” và “có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác” [16].

Như vậy qua việc tìm hiểu quy định của các quốc gia khác nhau về nhãn hiệu, có thể nhận thấy rằng khái niệm nhãn hiệu được quy định trong pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước là khá tương đồng, tức là đều dựa vào chức năng cơ bản của nhãn hiệu để quy định rằng nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể sản xuất, kinh doanh khác nhau trên thị trường. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Tuy nhiên, phạm vi các dấu hiệu cụ thể được cơ quan đăng kí bảo hộ làm nhãn hiệu tại các quốc gia trên thế giới rộng hơn phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ làm nhãn hiệu tại Việt Nam. Tại Việt Nam, các dấu hiệu được bảo hộ làm nhãn hiệu chỉ được giới hạn ở: từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều, hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc. Trong khi đó, tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ làm nhãn hiệu đã được mở rộng, bao gồm cả các dấu hiệu âm thanh như ở Pháp và các dấu hiệu mùi vị như ở Australia. Chính sự khác biệt về trình độ phát triển, trình độ nhận thức của người tiêu dùng, trình độ quản lý cũng như khả năng thực thi quyền sở hữu công nghiệp của mỗi quốc gia đã tạo ra sự khác biệt trong khái niệm nhãn hiệu. Do vậy, trong điều kiện hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam cần có những quy định sửa đổi, bổ sung các dấu hiệu về nhãn hiệu cần được bảo hộ cho phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế, thông lệ quốc tế, sự phát triển kinh tế – xã hội và đòi hỏi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hiện nay.

Dựa theo tính chất các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu, có thể phân loại dấu hiệu thành các nhóm cơ bản sau: dấu hiệu hình, dấu hiệu chữ, dấu hiệu màu, dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu mùi vị, dấu hiệu ba chiều…

Nhãn hiệu hàng hóa có nhiều cách phân loại. Xét dưới góc độ phân loại đối tượng hàng hóa, dịch vụ mà nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng thì nhãn hiệu bao gồm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Thông thường, các văn bản quy phạm pháp luật các nước thường dùng thuật ngữ nhãn hiệu/nhãn hiệu hàng hóa để chỉ chung cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Theo chức năng và cách thức sử dụng, nhãn hiệu bao gồm: nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận.

1.2 Chức năng của nhãn hiệu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính sau: chức năng phân biệt; chức năng chỉ dẫn nguồn gốc hoặc xuất xứ; chức năng bảo đảm chất lượng và chức năng quảng cáo [32, tr. 22].

  • Chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các chủng loại hàng hóa, dịch vụ ngày càng trở nên đa dạng, phong phú. Muốn chọn lựa được hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng tài chính của mình, người tiêu dùng phải dựa vào các dấu hiệu hay nhãn hiệu hàng hóa mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh gắn trên sản phẩm hay bao bì sản phẩm khi đưa ra thị trường. Như vậy, với chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ, nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với những hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác bán trên thị trường. Đây đuợc coi là chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hóa.

  • Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc không có nghĩa là nhãn hiệu phải thông tin cho người tiêu dùng về người thực sự sản xuất ra sản phẩm hay người kinh doanh sản phẩm mà chỉ cần sao cho người tiêu dùng có thể tin tưởng vào doanh nghiệp có trách nhiệm về hàng hóa bán ra mang nhãn hiệu đó. Như vậy, nhìn vào nhãn hiệu, người tiêu dùng có quyền nghĩ rằng các sản phẩm mang nhãn hiệu đều có cùng nguồn gốc hoặc có mối liên hệ giữa các nhà sản xuất khác nhau sử dụng nhãn hiệu giống nhau.

  • Chức năng bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ

Chức năng chất lượng đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng về các thông tin của sản phẩm như chất lượng và giá cả của sản phẩm, qua đó người tiêu dùng có thể chọn được hàng hóa mong muốn và phù hợp với nhu cầu. Hay nói cách khác, nhãn hiệu có chức năng thông tin gián tiếp về sản phẩm.

  • Chức năng quảng cáo

Thông qua vai trò cá thể hóa sản phẩm bằng các dấu hiệu và màu sắc nhất định, nhãn hiệu còn có chức năng quảng cáo cho sản phẩm của doanh nghiệp, giúp sản phẩm sớm đến tay người tiêu dùng.

2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

2.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Để hiểu thế nào là bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, trước hết cần tìm hiểu thế nào là quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, các đặc trưng cơ bản của quyền này là gì.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một trong những quyền dân sự [5,tr. 25]. Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2022 thì : “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Từ đó, có thể hiểu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức (chủ thể) đối với nhãn hiệu (khách thể) và quyền được áp dụng các biện pháp hợp pháp để ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đăng kí cũng như trong quá trình sử dụng nhãn hiệu.

Trên thế giới, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa có thể được xác lập trên cơ sở sử dụng nhãn hiêu trên thực tế hoặc trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Cụ thể tại Việt Nam, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu do Cục Sở hữu trí tuệ cấp [6].

  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có các thuộc tính như sau:

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa bị giới hạn về thời Quyền này chỉ có hiệu lực trong thời hạn của văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cũng như theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia thì Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực trong vòng 10 năm kể từ ngày cấp. Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng kí nhiều lần, mỗi lần kéo dài 10 năm.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bị giới hạn về không gian. Cụ thể, quyền này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà trên cơ sở các quy định pháp luật nước đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phát sinh. Hay nói cách khác, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mang tính lãnh thổ triệt để. Nghĩa là, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chỉ được xác lập trên cơ sở pháp luật của chính quốc gia đã công nhận bảo hộ quyền đó và quyền này cũng chỉ có hiệu lực trong phạm vi nước công nhận bảo hộ[38]. Chẳng hạn, nhãn hiệu của các chủ thể nước ngoài muốn được bảo hộ tại Việt Nam thì khi đăng kí phải dựa vào các quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam. Ngược lại, các nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam như Trung Nguyên hay VINATABA đã được đăng kí bảo hộ tại Việt Nam nhưng vẫn có thể được bảo hộ tại các nước khác nếu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ của các nước đó.

Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền được độc quyền sử dụng và cấm người khác sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ nếu không được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép. Và quyền độc quyền này chỉ giới hạn đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của một chủ thể khác vì mục đích thương mại, chứ không áp dụng trong các trường hợp vì mục đích phi thương mại. Hơn nữa, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chỉ áp dụng đối với nhóm sản phẩm/dịch vụ mà nhãn hiệu đã đăng kí mà không mở rộng bảo hộ đối với các sản phẩm/dịch vụ khác[7, tr5-12]. Ngoài ra, vì Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu được quyền gia hạn nhiều lần nên quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là vô hạn với điều kiện nhãn hiệu vẫn duy trì được tính phân biệt trong thời gian sử dụng.

2.2 Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Từ những đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu như trên, suy ra bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một chính sách rất cần thiết của Chính phủ nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, bên cạnh các biện pháp tự bảo vệ mang tính chủ động của chủ sở hữu nhãn hiệu. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Theo Từ điển tiếng Việt, “bảo hộ” có nghĩa là bảo vệ, giữ gìn và che chở. Như vậy, hiểu một cách khái quát thì bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là sự bảo vệ của Nhà nước, của xã hội đối với quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu. Cụ thể hơn, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là sự bảo đảm của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cho các chủ thể là cá nhân, tổ chức, bảo vệ quyền đó và chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của người khác. Nhà nước, tổ chức cơ quan xác lập quyền quy định thủ tục, trình tự để xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu phải đăng ký. Muốn được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp phải nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bao gồm ba nội dung chính:

  • Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
  • Xác lập quyền: Cơ quan có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu ( Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu) cho các chủ thể khác nhau khi các chủ thể này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định.
  • Bảo vệ quyền: Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng cách áp dụng các phương thức, biện pháp khác nhau.

2.3 Điều kiện để được bảo hộ nhãn hiệu

Một nhãn hiệu muốn được bảo hộ, hay một dấu hiệu muốn được coi là nhãn hiệu bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được chuẩn hóa trên toàn thế giới. Nhìn chung, có hai loại điều kiện cơ bản như sau:

Thứ nhất, các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải có tính độc đáo hoặc có khả năng phân biệt các sản phẩm khác nhau. Tức là, nhãn hiệu phải giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với các hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác. Tính độc đáo ở đây phải được đánh giá trong mối quan hệ với hàng hóa có gắn nhãn hiệu đó[9]. Ví dụ, từ “táo” hoặc hình một quả táo không thể được đăng kí cho mặt hàng táo, nhưng đối với hàng hóa là máy tính thì nó lại trở nên rất độc đáo, khi nó truyền tải một ý nghĩa không liên quan đến sản phẩm mang nhãn hiệu đó. Tính độc đáo của nhãn hiệu còn phụ thuộc vào sự nhận biết của người tiêu dùng. Hay nói cách khác, một nhãn hiệu được coi là độc đáo khi người tiêu dùng nhìn nhãn hiệu đó và có thể xác định được hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ từ một nhà sản xuất kinh doanh nhất định, từ đó họ có thể tìm, lựa chọn được sản phẩm mong muốn. Cũng chính vì vậy, việc đưa ra được một mức độ độc đáo cụ thể để một nhãn hiệu có thể được đăng kí là một việc làm không dễ dàng. Thực tế cho thấy họ có thể căn cứ vào tỷ lệ phần trăm số người tiêu dùng nhận biết được hàng hoá mang nhãn hiệu có nguồn gốc từ một cơ sở kinh doanh nhất định để xác định mức độ độc đáo của nhãn hiệu đó. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Hơn nữa, một nhãn hiệu không có khả năng phân biệt, tức là đã không thực hiện được chức năng cơ bản của nhãn hiệu, sẽ bị cơ quan đăng kí từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu. Chính vì vậy, các tên gọi chung; các dấu hiệu mô tả, tức là các dấu hiệu có sự chỉ dẫn về các đặc tính của hàng hóa hay xuất xứ địa lý, chứ không phải là sự dẫn chiếu đến nguồn gốc của hàng hóa (dấu hiệu phân biệt); các hình đơn giản; hay một khẩu hiệu quảng cáo dài dòng, rối rắm…cũng sẽ không được đăng kí làm nhãn hiệu.

Thứ hai, các dấu hiệu có những đặc tính gây hiểu lầm, lừa dối công chúng hoặc vi phạm tới trật tự công cộng và đạo đức xã hội cũng sẽ không được coi là nhãn hiệu hàng hóa [9]. Đây được coi là những dấu hiệu bị loại trừ, những dấu hiệu không được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa. Vì lợi ích của công chúng, các nhãn hiệu có nguy cơ lừa dối về tính chất, chất lượng hay các đặc tính khác hay nguồn gốc thương mại của hàng hóa đều không đủ điều kiện đăng kí. Một nhãn hiệu có khả năng phân biệt không đồng nghĩa với việc nhãn hiệu đó sẽ không có khả năng lừa dối công chúng. Chẳng hạn, một nhãn hiệu có các dấu hiệu mang tính liên tưởng, gợi dẫn mà vì thế nó có khả năng phân biệt, vẫn có thể có tính lừa dối khi những sản phẩm có gắn nhãn hiệu đó không có những đặc điểm như được phản ánh trên nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, khi xem xét nhãn hiệu hàng hóa phải dựa vào hai khía cạnh riêng rẽ: nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt và không mang tính lừa dối. Ví dụ như các nhãn hiệu gợi dẫn tới xuất xứ địa lý của hàng hóa sẽ là giả mạo nếu trên thực tế, hàng hoá có gắn nhãn hiệu đó không có nguồn gốc từ khu vực được chỉ dẫn. Thực tế, nhãn hiệu có chỉ dẫn trực tiếp đến xuất xứ địa lý tương đối hiếm, mà các doanh nghiệp thường sử dụng dẫn chiếu gián tiếp. Điều này gây ra rất nhiều khó khăn trong việc xem xét nhãn hiệu có phải là giả mạo hay lừa dối công chúng hay không. Một khía cạnh khác cần xem xét đó là, việc xác định một nhãn hiệu có mang tính lừa dối hay không phải gắn liền với hàng hóa sẽ sử dụng nhãn hiệu đó. Nghĩa là, tuỳ thuộc vào danh mục sản phẩm, mà một đơn đăng kí nhãn hiệu có thể coi là có khả năng phân biệt, không có tính lừa dối đối với một số sản phẩm này, nhưng lại là giả mạo hay lừa dối đối với các sản phẩm khác.

Cơ quan đăng kí nhãn hiệu cũng sẽ từ chối các đơn đăng kí nhãn hiệu có biểu hiện trái với đạo đức xã hội hoặc ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Ví dụ các dấu hiệu được sử dụng là: tranh ảnh thô tục, biểu tượng của các cơ quan quyền lực nhà nước hay của các đảng phái chính trị bất hợp pháp; hay các dấu hiệu là biểu tượng do Nhà nước, tổ chức quốc tế, cơ quan đoàn thể sử dụng cũng không được đăng kí làm nhãn hiệu. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã đưa ra các điều khoản cụ thể quy định các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu. Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, một nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện sau: i) là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; ii) có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Như vậy, một nhãn hiệu sẽ được Cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ nếu thoả mãn hai điều kiện: có thể tri giác được và có khả năng phân biệt.

Về khả năng tri giác được, đây cũng chính là một điều kiện bảo hộ được nêu ra tại khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS, theo đó “… Các thành viên có thể quy định như là điều kiện để được đăng kí rằng các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”.

Tuy nhiên, hiện nay, tại một số quốc gia trên thế giới, phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ còn được mở rộng sang cả các dấu hiệu âm thanh như âm nhạc, tiết nhạc mà con người có thể nhận biết được qua “thính giác”, và các dấu hiệu mùi vị được nhận biết qua “khứu giác” hay nhãn hiệu chỉ đơn thuần được thể hiện bằng một màu sắc nhất định.

Về khả năng phân biệt của nhãn hiệu, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra khái niệm thế nào là một nhãn hiệu có khả năng phân biệt tại Khoản 1 và các dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt tại Khoản 2. Nhìn chung , các dấu hiệu không được đăng kí làm nhãn hiệu bao gồm: các hình đơn giản; tên gọi thông thường của hàng hóa; các dấu hiệu mô tả đặc tính của sản phẩm; hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp; dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của các hàng hoá và dịch vụ trùng hoặc tương tự ; dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như tên thương mại đang được sử dụng, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ [16].Việc xác định dấu hiệu đăng kí có trùng với nhãn hiệu của hàng hóa, dịch vụ tương tự hay với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác hay không là việc làm tương đối đơn giản, bắng cách xem xét xem chúng có phải là bản photocopy y nguyên của nhau hay không. Nhưng để xác định tính “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” giữa các loại nhãn hiệu với nhau hay giữa nhãn hiệu đăng kí với các đối tượng sở hữu công nghiệp trên là một công việc khá khó khăn. Việc đưa ra tiêu chuẩn hay đáp số chung cho mọi trường hợp để xác định tính tương tự có khả năng gây nhầm lẫn là công việc không thể do đặc điểm riêng biệt của mỗi trường hợp là khác nhau.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng phương pháp điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về điều kiện đăng kí bảo hộ nhãn hiệu là phù hợp với phương pháp điều chỉnh của pháp luật quốc tế về sở hữu công nghiệp. Các quy định trên chính là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng như là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quyết định xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

II. Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

1. Cạnh tranh không lành mạnh

  • Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh

Đã từ lâu cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành một đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, bởi cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, buộc họ phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ, nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Mục đích của cạnh tranh không gì khác ngoài việc làm thế nào để hàng hoá, dịch vụ của mỗi doanh nghiệp được “bán chạy” trên thị trường. Hay nói một cách khái quát hơn, đó chính là vấn đề lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp muốn đạt được thông qua quá trình sản xuất, kinh doanh của mình. Pháp luật của các quốc gia đều ghi nhận và coi quyền cạnh tranh lành mạnh như là một quyền đương nhiên của doanh nghiệp và được Nhà nước bảo vệ.

Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện nay, đối nghịch với hành vi kinh doanh lành mạnh, trung thực, ngày càng xuất hiện nhiều loại hình làm ăn chụp giật, sử dụng các thủ đoạn không minh bạch, cạnh tranh không lành mạnh của những doanh nghiệp vì “nôn nóng” muốn có lợi nhuận tức thời mà không muốn đầu tư nhiều tiền bạc và công sức. Để đạt được điều đó, họ đã thực hiện các hành vi thương mại không trung thực nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh, lợi nhuận cho bản thân mình. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác, đến người tiêu dùng và rộng ra là tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế. Đó chính là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

  • Vậy cạnh tranh không lành mạnh là gì? Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Hiện nay, trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh. Nhìn chung, có 3 quan niệm cơ bản như sau:

Quan niệm thứ nhất cho rằng “cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả các hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp”[2]. Quan niệm này được phản ánh rất rõ trong quy định của Luật Cạnh tranh Mông Cổ.

Quan niệm thứ hai được thể hiện trong Điều 10Bis của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, theo đó, “bất kì hành vi nào đi ngược lại các hành động trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là cạnh tranh không lành mạnh”.

Quan niệm thứ ba về cạnh tranh không lành mạnh chỉ ra: “cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của người tiêu dùng”.

Như vậy, theo quan niệm thứ nhất, phạm vi các hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh là rất rộng, có thể bao gồm cả các hành vi hạn chế cạnh tranh. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc sử dụng phương thức áp dụng pháp luật do bản chất, tính chất, mức độ nguy hại cho thị trường của các hành vi trên là khác nhau. Ngược lại, phạm vi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quan điểm thứ hai lại chỉ bó hẹp ở các hành vi “không trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp”. Quan niệm thứ ba đã dung hoà được hạn chế của hai quan niệm còn lại, khi cạnh tranh không chỉ có trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp như trong quan niệm thứ hai, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác. Đây cũng chính là quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam khi đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh. Là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm cạnh tranh không lành mạnh không được đưa ra trong Luật Sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ chỉ liệt kê những hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Khái niệm “cạnh tranh không lành mạnh” được quy định tại khoản 4 Điều 3 trong Luật Cạnh tranh 2021 như sau:

“Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”[17 ]. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Từ định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh được nêu ra trong Luật Cạnh tranh, có thể nhận thấy cạnh tranh không lành mạnh phải có các dấu hiệu sau:

  • Vì mục đích cạnh tranh;
  • Nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu (cụ thể), hay nói khác đi sẽ không thể nói đến cạnh tranh không lành mạnh khi mà các chủ thể không ở trong vị thế “cạnh tranh” với nhau [44];
  • Vi phạm pháp luật hoặc đi ngược lại với đạo đức, tập quán tốt đẹp;
  • Đã và sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh, và thông qua đó tìm cách tạo cho mình những mối lợi hoặc thế mạnh bất chính.

Như vậy, không phải bất cứ hành vi nào xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp đều bị coi là cạnh tranh không lành mạnh, mà chỉ những hành vi xuất phát từ một chủ thể đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan; trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh thì mới bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.

Sau khi đã tìm hiểu thế nào là cạnh tranh không lành mạnh và xem xét các dấu hiệu thể hiện bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, khoá luận xin đi vào tìm hiểu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể, được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay.

Theo Điều 39 Luật cạnh tranh Việt Nam 2021, 10 hành vi sau bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

  • Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
  • Xâm phạm bí mật kinh doanh;
  • Ép buộc trong kinh doanh;
  • Gièm pha doanh nghiệp khác;
  • Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
  • Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
  • Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
  • Phân biệt đối xử của hiệp hội;
  • Bán hàng đa cấp bất chính;
  • Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định[17]. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Như vậy, Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2021 đã liệt kê cụ thể 10 hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong số 10 hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên thì chỉ có hai hành vi đầu tiên đó là: “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” và “xâm phạm bí mật kinh doanh” được xem là có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các hành vi khác như: phân biệt đối xử của hiệp hội, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh…, chỉ liên quan gián tiếp đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp và không xảy ra phổ biến trong thực tế.

Tuy nhiên do đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2021 tương đối rộng, ngoài cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh còn điều chỉnh cả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Do vậy, để bám sát hơn với đối tượng nghiên cứu của khoá luận là cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, khóa luận xin phân tích các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong luật chuyên ngành là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022. Theo Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 thì các hành vi sau bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung:

  1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;
  2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
  3. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
  4. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng[16].

Theo khoản 2 Điều 130, chỉ dẫn thương mại trong quy định trên là các “dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa” [16]. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Như vậy, hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh đầu tiên được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ là tương đồng với hành vi cạnh tranh không lành mạnh đầu tiên trong Luật Cạnh tranh, đó là hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn”. Các đối tượng (chỉ dẫn thương mại) mà các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sử dụng để gây nhầm lẫn được liệt kê tại khoản Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ cũng chính là các đối tượng thuộc phạm trù “chỉ dẫn” được quy định tại Luật Cạnh tranh. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một điều là phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ đối với các chỉ dẫn thương mại có thể được sử dụng để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh rộng hơn (một cách tương đối) so với quy định trong Luật Cạnh tranh. Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Cạnh tranh, đối tượng “nhãn hiệu” không được liệt kê trong khái niệm “chỉ dẫn”, và khái niệm “chỉ dẫn” ở đây được đặt trong trạng thái mở, bao gồm “tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ”[17].

Hơn nữa, Luật Sở hữu trí tuệ còn đưa ra định nghĩa rất cụ thể về nhãn hiệu, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… . Trong khi đó, những khái niệm này không được định nghĩa trong Luật Cạnh tranh, trong khi đây là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ, là cơ sở quan trọng để khách hàng nhận biết sản phẩm cùng loại trên thị trường.

Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ chưa định lượng được mức sai số có trong các thông tin của chỉ dẫn làm nên sự nhầm lẫn [4]. Tức là một khi doanh nghiệp bắt chước toàn bộ các chỉ dẫn thương mại của doanh nghiệp khác, chúng ta sẽ dễ dàng xác định được là có sự nhầm lẫn. Một khi các chỉ dẫn thương mại không hoàn toàn giống, nghĩa là vẫn tồn tại một mức độ khác biệt nhất định, thì pháp luật phải xác định sự khác biệt đến mức độ nào có thể gây nhầm lẫn và có thể không tạo ra sự nhầm lẫn.

  • Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Trước thực trạng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; thì việc công nhận và thực thi quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể bị xâm phạm lợi ích do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh kể trên là rất cần thiết.

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cũng mang những đặc điểm riêng, khác biệt với các đối tượng còn lại của quyền sở hữu công nghiệp.

Thứ nhất, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh chỉ được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh [16]. Hay nói cách khác, quyền này chỉ được xác lập khi xuất hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một chủ thể sản xuất, kinh doanh nào đó trên thực tế. Và khi hành vi cạnh tranh không lành mạnh này làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm thì họ có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ mình.

Thứ hai, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh có thể cùng một lúc thuộc về nhiều người. Trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực tạo ra nhiều lợi nhuận, việc có nhiều chủ thể cùng tham gia là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, cùng một lúc một bên cạnh tranh có thể cạnh tranh với nhiều chủ thể khác nhau, dẫn đến cùng một lúc hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một chủ thể có thể làm ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác nhau và đương nhiên trong những trường hợp này, nhiều bên sẽ có quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó. Do vậy, đây là điểm khác biệt của quyền chống cạnh tranh không lành mạnh so với các quyền khác.

Thứ ba, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh không những thuộc về các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường mà còn thuộc về người tiêu dùng. Trong khi các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chỉ làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp, thì đối với cạnh tranh không lành mạnh, bên cạnh chủ sở hữu, người tiêu dùng cũng bị xâm phạm đến lợi ích, bởi họ là người trực tiếp tiêu dùng sản phẩm có biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ tư, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh không thể chuyển giao. Nếu như đối với các quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chủ sở hữu luôn có quyền thực hiện các hoạt động chuyển nhượng, mua bán, lixăng… thì đối với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, chủ thể quyền không thể thực hiện các hoạt động chuyển giao do quyền chống cạnh tranh không lành mạnh không gắn trực tiếp với tài sản, không được coi là một tài sản, nên không thể chuyển giao.

2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Như khóa luận đã đề cập, hiện nay trên thị trường, xuất hiện ngày càng nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể làm ăn phi pháp, lợi dụng uy tín sẵn có của các nhãn hiệu đã được pháp luật công nhận và bảo hộ nhằm tạo ra lợi thế giả tạo, bất chính mà không phải đầu tư nhiều công sức. Điều này sẽ khiến người tiêu dùng lầm tưởng chất lượng của các sản phẩm kém chất lượng với các sản phẩm đã tạo được uy tín trước đó. Việc quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện từ rất sớm và hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành các quy định điều chỉnh, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng trong pháp luật của quốc gia.

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được đề cập tới lần đầu tiên trong Công ước Paris năm 1883. Đây cũng được coi là công ước quốc tế đầu tiên và quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp. Ra đời từ năm 1883, Công ước Paris đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi sau đó nhằm hoàn chỉnh các thiếu sót trong các quy định trước đó. Qua các lần sửa đổi này, các nguyên tắc, quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp đã dần được bổ sung, các ví dụ cụ thể và điển hình về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng được đưa ra rất đầy đủ.

Theo văn bản mới nhất của Công ước Paris năm 1883, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 10bis. Theo đó, cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói chung bao gồm 3 hành vi: Hành vi gây ra sự nhầm lẫn, hành vi làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh và hành vi có thể lừa dối công chúng. Tuy nhiên, trong số 3 hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên chỉ có hai hành vi: gây ra sự nhầm lẫn và hành vi có thể lừa dối công chúng là có liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu. Sau đây, khóa luận xin đi vào phân tích hai hành vi trên: Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

  • Thứ nhất, đó là những hành vi gây ra sự nhầm lẫn. Theo Điều 10bis(1) thì đó là “tất cả các hành động có thể gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hóa, hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của người cạnh tranh” [21].

Như vậy, ta có thể hiểu bất kì một chủ thể nào đăng kí hay sử dụng nhãn hiệu, mà việc sử dụng đó có thể gây nhầm lẫn về cơ sở, hàng hóa, dịch vụ hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của một chủ thể khác đang ở vị thế cạnh tranh với mình, đều sẽ bị coi là có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Như vậy, cần lưu ý một điều là, việc sử dụng một nhãn hiệu giống hệt hay tương tự trên những hàng hóa rõ ràng không liên quan hoặc hoàn toàn khác biệt sẽ không bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Bởi lẽ, sự khác biệt hoàn toàn giữa các hàng hóa sẽ làm cho người tiêu dùng nghĩ rằng chúng có nguồn gốc từ các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau.

Thuật ngữ “gây nhầm lẫn” ở đây có thể mang nghĩa tương tự với thuật ngữ không có “tính phân biệt” hay “tính độc đáo”của nhãn hiệu đã nhắc tới ở chương trước, khi mà một nhãn hiệu được đăng kí hay sử dụng không có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Chính vì thế, người tiêu dùng không thể lựa chọn được mặt hàng mình mong muốn.

Ngoài việc sử dụng các nhãn hiệu thực sự gây nhầm lẫn, Điều 10bis còn buộc tất cả các nước thành viên ngăn chặn cả việc sử dụng nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn.

Cụ thê, các yếu tố sau thường được xét đến khi xác định xem một nhãn hiệu có gây nhầm lẫn hay không:

  • Mức độ độc đáo của nhãn hiệu được bảo hộ, hay đây chính là tính phân biệt của nhãn hiệu;
  • Quy mô và danh tiếng của chủ sở hữu nhãn hiệu đó;
  • Sự nhận biết của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu;
  • Sự tương tự của nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ liên quan. Cơ sở để đánh giá sự tương tự của các dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu, với một số khác biệt nhỏ, là giống nhau trên toàn thế giới, bao gồm; các yếu tố chung về hình thức, phát âm và ý nghĩa hay việc dịch từng từ của nhãn hiệu liên quan.

Sự nhầm lẫn thường xảy ra dưới hình thức “chỉ dẫn xuất xứ thương mại”. “Xuất xứ thương mại” hay “nguồn gốc thương mại” ở đây được hiểu là nơi mà hàng hóa được sản xuất hoặc kinh doanh. Do đó, hình thức nhầm lẫn này xảy ra khi mà việc đăng kí hay sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của một chủ thể có thể làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng những hàng hóa khác nhau có nguồn gốc từ cùng một nhà sản xuất, kinh doanh, thậm chí khi nguồn cơ sở kinh doanh này không được người tiêu dùng biết đến bằng tên của nó. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Hành vi gây nhầm lẫn nhằm mục đích cạnh tranh như trên có thể gây ra các hậu quả sau:

  • Đối với người tiêu dùng: gây thiệt hại về tài chính và sức khoẻ.
  • Đối với các đối thủ cạnh tranh: bị mất khách hàng, làm ảnh hưởng đến uy tín cũng như lợi nhuận.
  • Đối với môi trường kinh tế: làm hỗn loạn thị trường, gây thiệt hại lớn đến toàn bộ nền kinh tế và phúc lợi kinh tế.

Trên thực tế, việc đánh giá khả năng gây nhầm lẫn thường được xem xét trên cơ sở khảo sát thị trường. Ở một số nước trên thế giới, hành vi bị coi là gây nhầm lẫn, cạnh tranh không lành mạnh khi số liệu điều tra cho thấy khoảng 10% đến 15% người bình thường bị nhầm lẫn[14].

  • Thứ hai, đó là những hành vi có thể lừa dối công chúng. Cụ thể, “những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng hàng hóa”[21].

Lừa dối có thể được định nghĩa là là việc tạo ra một ấn tượng sai về sản phẩm hoặc dịch vụ thuộc sở hữu của đối thủ cạnh tranh. Lừa dối là hình thức phổ biến nhất của cạnh tranh không lành mạnh, và lừa dối có thể đem lại những hậu quả rất to lớn cho nền kinh tế nói chung và người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp nói riêng.

Hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên gần như tương tự với nhau và đôi khi là chồng chéo với nhau. Tuy nhiên, một điểm khác biệt lớn nhất và cơ bản nhất giữa hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên đó là: hành vi lừa dối trước tiên hướng tới người tiêu dùng chứ không trực tiếp hướng tới đối thủ cạnh tranh.

Hành vi lừa dối công chúng bao gồm:

  • Hành vi lừa dối “thông thường”;
  • Hành vi lừa dối đặc biệt, có thể dẫn tới những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ, như việc cố ý gây hiểu nhầm hoặc lừa dối công chúng trong lĩnh vực sức khỏe hoặc thuốc men.

Vì hành vi lừa dối công chúng trước tiên hướng tới người tiêu dùng nên tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc xác định xem liệu một hành vi có phải là lừa dối hay không chủ yếu căn cứ vào phản ứng của người tiêu dùng chứ không dựa vào ý định của bên lừa dối. Ở một số quốc gia, những tiêu chuẩn xác định hành vi lừa dối được đặt ra dựa trên cơ sở quan điểm của người tiêu dùng trung bình, tức là những người tiêu dùng có được những thông tin đầy đủ và đủ thông minh để chống lại hầu hết những nguy cơ lừa dối.

Luật pháp Việt Nam cũng đã có những văn bản quy phạm pháp luật quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung. Nghị định 54/2017/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp, đã đưa ra những quy định khá chi tiết về vấn đề này. Sau đó, tới năm 2022, Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, trên cơ sở kế thừa những quy định của nghị định 54, đã mở rộng thêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong lĩnh vực tên miền, một lĩnh vực đang được quan tâm trong xu thế hiện nay. Theo Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2022, các hành vi sau bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

  1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;
  2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
  3. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên, và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu[…];
  4. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu[…]được bảo hộ của người khác[…] [16].

Như vậy, trước hết, có thể nhận thấy rằng hai hành vi cạnh tranh lành mạnh đầu tiên được liệt kê trong Điều 130 là tương đối giống với hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được quy định trong luật pháp quốc tế đã được khóa luận phân tích ở trên. Phạm vi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng đã được Luật Sở hữu trí tuệ mở rộng ra, thêm vào đó là hai hành vi đăng kí hay sử dụng của người đại diện hay đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và hành vi đăng kí và sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu.

Khoản 2 Điều 130 cụ thể hóa thế nào là các chỉ dẫn thương mại, theo đó, chỉ dẫn thương mại là “các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ” và nhãn hiệu là một trong các chỉ dẫn thương mại đó.

Cụ thể hành vi sử dụng nhãn hiệu nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo khoản 3 Điều 130 là hành vi gắn chỉ dẫn thương mại lên” hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo” [16].

Trong bối cảnh thương mại điện tử và Internet phát triển như vũ bão hiện nay, dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới phát sinh gần đây đó là lạm dụng, sử dụng nhãn hiệu đã có uy tín làm tên miền nhằm chiếm đoạt lợi thế về danh tiếng gắn liền với các nhãn hiệu đó, đã bắt buộc pháp luật sở hữu trí tuệ đưa ra các quy định mới điều chỉnh vấn đề này.

Đặc biệt, Nghị định 105/2023/NĐ-CP với các quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, đã cụ thể hóa hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Theo Điều 11.3 của Nghị định thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bao gồm: Đăng kí hoặc sử dụng các dấu hiệu bị nghi ngờ trùng gồm có “cùng cấu tạo, kể cả cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa và cách trình bày, hoặc tương tự gồm có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc với dấu hiệu thuộc phạm vi bảo hộ” và đăng kí hoặc sử dụng các dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về “bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng hệ thống tiêu thụ với hàng hóa thuộc danh mục, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ[…]” [27].

Ví dụ, tại Nhật Bản, các nhãn hiệu “Libbys” và “LiLys” được coi là tương tự về hình thức, “Sinka” và “Shinga” tương tự về phát âm, “Tiger” và “Tora” trùng nhau về ý nghĩa, cả hai nhãn hiệu trên đều có nghĩa là “hổ”…

Một văn bản quy phạm pháp luật nữa cũng đưa ra các quy định điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đó là Luật Cạnh tranh năm 2021. Trong số 10 hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê tại Điều 39 Luật Cạnh tranh thì chỉ có hành vi cạnh tranh đầu tiên là có liên quan một cách trực tiếp đến việc đăng kí và sử dụng nhãn hiệu, đó là hành vi sử dụng “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” [17]. Hành vi này tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 40. Nhìn chung, quan niệm về hành vi này là tương đồng với luật pháp quốc tế cũng như của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022.

3. Biện pháp xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

  • Biện pháp tự bảo vệ

Như khóa luận đã đề cập tới tại chương I, quyền Sở hữu công nghiệp là một quyền dân sự. Do đó, theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của pháp luật Việt Nam, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền tự bảo vệ khi xảy ra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình. Biện pháp tự bảo vệ đã được đề cập đến trong Bộ luật Dân sự 2022 và được cụ thể hóa trong Luật Sở hữu trí tuệ.

Trước hết, theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Dân sự 2022 thì: “tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” [15]. Hơn nữa, khoản 2 Điều 9 quy định khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có “quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại” [15].

Như vậy, khi xảy ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm có thể tự mình thực hiện các hành vi cụ thể để bảo vệ quyền sở hữu của mình; hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp thích hợp để xử lý các hành vi này. Tuy nhiên, việc chủ sở hữu nhãn hiệu áp dụng các biện pháp tự bảo vệ trên không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

Quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu bị cạnh tranh không lành mạnh còn được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

“Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh” [16].

  • Biện pháp hành chính Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Xử lý vi phạm hành chính đối với quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu nhãn hiệu nói riêng là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nhất định để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về các biện pháp hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ hoàn toàn dẫn chiếu tới các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các văn bản pháp luật cạnh tranh, đã được khóa luận đề cập ở phần trên. Điều này còn được thể hiện một lần nữa tại khoản 3 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó, “tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”[16], và còn được quy định tại Điều 16 Nghị định 106/2023/NĐ-CP (22/09/2023) về các quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp như sau: “Cá nhân, tổ chức có hành vi cạnh tranh không lành mạnh[…] về sở hữu công nghiệp thì bị xử phạt theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh” [26].

Biện pháp hành chính được quy định rất cụ thể trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Cạnh tranh dành một chương riêng đó là Chương V để quy định về việc điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh. Theo đó, tại khoản 2 Điều 56 của Luật này có quy định rằng: “Việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính”[17].

Cụ thể, xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính bao gồm những nội dung sau:

  • Các hình thức xử lý

Theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính liên quan đến nhãn hiệu, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử lý sau:

  • Xử phạt hành chính: bao gồm có hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung;
  • Các biện pháp khắc phục hậu quả. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Các hình thức xử phạt chính bao gồm: phạt cảnh cáo; phạt tiền. Về mức tiền phạt vi phạm, theo Điều 30, nghị định số 120/2022/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 30/09/2022 quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, thì hành vi “sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh[…] nhằm mục đích cạnh tranh” sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, và hành vi “sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn với hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi[…]” sẽ phải chịu mức phạt tiên từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng[25].

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 4, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, các cá nhân, tổ chức có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như sau:

  • Thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
  • Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh. [25]

Ngoài mức phạt tiền và các hình thức xử phạt bổ sung nêu trên, theo quy định tại khoản 3 Điều 30, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả sau: “Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm” và/hoặc “Buộc cải chính công khai” [25].

  • Thủ tục xử lý vi phạm

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh bằng biện pháp hành chính phải tuân thủ theo một trong hai thủ tục:

  • Thủ tục tố tụng cạnh tranh;
  • Thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Thủ tục tố tụng cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh bao gồm các bước: thụ lý hồ sơ, điều tra sơ bộ, điều tra chính thưc, quyết định mở phiên điều trần và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Thời gian thụ lý, điều tra vụ việc và mở phiên điều trần thường kéo dài 6 tháng.

Ngoài ra, thủ tục xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng bằng biện pháp hành chính còn được quy định trong pháp luật Sở hữu trí tuệ, tại Nghị định 105/2023/NĐ-CP và Nghị định 106/2023/NĐ-CP. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ thì nghĩa vụ chứng minh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về người nộp đơn yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong khi đó, theo pháp luật cạnh tranh thì người nộp đơn chỉ phải nộp đơn và điều tra viên sẽ tiến hành điều tra (điều tra sơ bộ và điều tra chính thức) để xác minh xem có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu xảy ra trên thực tế hay không. Tuy nhiên, theo pháp luật cạnh tranh, người khiếu nại phải nộp một khoản tiền tạm ứng chi phí cho việc xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật, trong khi đó theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, người nộp đơn không phải nộp khoản chi phí này.

  • Thẩm quyền xử phạt vi phạm

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh, theo quy định tại Điều 119 Luật Cạnh tranh thì: “Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh có quyền áp dụng các hình thức xử phạt là cảnh cáo,[…] và áp dụng các biện pháp xử phạt khác” và kể cả Cơ quan quản lý cạnh tranh, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh cũng có thẩm quyền này.

Ngoài ra, theo Điều 17 Nghị định 106/2023/NĐ-CP, các cơ quan sau có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về Sở hữu công nghiệp: Cơ quan Thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ, cơ quan Quản lý thị trường, cơ quan Hải quan, cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

  • Biện pháp hình sự

Khi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến Sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng gây hậu quả hoặc có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội cấu thành tội phạm thì các cá nhân vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Năm 2016, Bộ luật Hình sự ra đời với các quy định về tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội, đã đề cập đến những hình phạt đối với tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp, trong đó có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Cụ thể, khoản 1 Điều 171 đã quy định: “Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp nhãn hiệu hàng hóa[…]đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa bị xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm”. Ngoài ra, các hành vi xâm phạm có tổ chức, các cá nhân phạm tội nhiều lần, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng sẽ bị xử phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Bên cạnh các hình phạt trên, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.

Đến năm 2025, Thông tư liên tịch số 01/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP của Toà án nhân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp đã được ban hành nhằm hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ. Thông tư này đã cụ thể hóa hình phạt đối với các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ nói chung trong đó có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Theo Thông tư thì dựa vào mức độ nghiêm trọng của các hành vi xâm phạm mà áp dụng các mức độ xử phạt khác nhau. Cụ thể, các cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu gây hậu quả “nghiêm trọng” sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp theo khoản 1 Điều 171 của Bộ Luật Hình sự. – Các cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu gây hậu quả “rất nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng”, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp theo khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật Hình sự.

  • Biện pháp dân sự

Theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu nhãn hiệu, biện pháp dân sự được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực Sở hữu trí tuệ là các tranh chấp dân sự, do đó, về nguyên tắc, các tranh chấp này được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự được quy định trong Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2021 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, do tính đặc thù của các tranh chấp liên quan đến Sở hữu trí tuệ nói chung, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã có những quy định rất cụ thể về thủ tục giải quyết tranh chấp Sở hữu trí tuệ nói chung cũng như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Theo Điều 203, thì bên bị xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ phải chứng minh mình là chủ thể quyền Sở hữu trí tuệ và phải cung cấp các chứng cứ về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hơn nữa, trong trường hợp bồi thường thiệt hại thì bên bị thiệt hại phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra.

Theo Điều 204, mức độ thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phải chịu. Cụ thể hơn, mức bồi thường thiệt hại được xác định theo quy định tại Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp không xác định được mức bồi thường thiệt hại thì toà án có thẩm quyền ấn định mức bồi thường tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá 500 triệu đồng.

Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của các chủ thể trong những trường hợp nhất định. Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải tuân thủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

  • Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Theo quy định của luật pháp Việt Nam, cơ quan hải quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ khi có đủ căn cứ cho rằng có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

Theo Điều 216 Luật Sở hữu trí tuệ thì các biện pháp kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu liên quan đến Sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng gồm: “Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”[16].

Luật hải quan năm 2018 cũng có quy định các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tụê tại Điều 57 và Điều 58. Khi yêu cầu cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến Sở hữu trí tuệ, người yêu cầu phải nộp các khoản phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể, người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải nộp số tiền bằng 20% giá trị lô hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan. Nếu không xác định được giá trị lô hàng thì người yêu cầu phải nộp số tiền tối thiểu là 20 triệu đồng.

Như vậy, qua việc tìm hiểu các biện pháp cụ thể để các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp có thể áp dụng khi xảy ra các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói chung và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, có thể nhận thấy, các quy định xử lý các hành vi xâm phạm này là tương đối đầy đủ, bao gồm từ các biện pháp cảnh cáo, xử phạt hành chính đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, tại Việt Nam dường như đang diễn ra xu hướng hành chính hóa các quan hệ dân sự, nghĩa là quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một quyền dân sự và các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đáng lẽ ra phải áp dụng các quy định của pháp luật dân sự để xử lý, thì ngược lại tại Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp bị xâm phạm lại thường sử dụng các biện pháp hành chính để giải quyết và ngăn chặn các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Đây là một tình trạng đi ngược lại với xu hướng của quốc tế trong việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng cần được điều chỉnh kịp thời trong thời gian tới. Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x