Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam
Trong các đối tượng sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu là đối tượng được đăng kí bảo hộ nhiều nhất ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Điều đó cho thấy, tầm quan trọng của nhãn hiệu ngày càng được khẳng định. Việc sử dụng đúng đắn chức năng của nhãn hiệu theo đúng pháp luật sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Song song với sự phát triển đó, uy tín và thị phần của nhãn hiệu không ngừng gia tăng góp phần bồi đắp nên giá trị nhãn hiệu và biến nó thành tài sản có giá trị của doanh nghiệp.
Cũng bởi những lợi ích to lớn đó của nhãn hiệu, mà hiện nay, tại Việt Nam thực trạng làm hàng giả, bắt chước hoặc nhái theo các nhãn hiệu được công chúng ưa chuộng ngày càng phổ biến, phát triển cả về quy mô và độ tinh
- Khóa luận xin điểm tình hình về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong một vài năm vừa qua.
1. Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đang diễn ra trong tất cả các ngành kinh tế
Như trên đã trình bày, cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đang ngày càng phát triển về chiều rộng, các hành vi đăng kí và sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ liên quan cũng như với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, đang xảy ra trong hầu hết các thị trường, từ thị trường hàng hóa bình dân đến hàng hóa cao cấp, từ hàng tiêu dùng cho đến hàng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất… Nếu không được ngăn chặn ngay từ đầu, hậu quả mà các hành vi cạnh tranh này đem lại không chỉ làm thiệt hại đến lợi nhuận, uy tín của doanh nghiệp, mà nguy hiểm hơn còn làm thiệt hại sức khoẻ cũng như tính mạng người tiêu dùng do dùng hàng giả, hàng “nhái”, kém chất lượng, đặc biệt là trong thị trường dược phẩm, vật tư y tế. Có thể khảo sát một số vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu điển hình xảy ra trong thời gian vừa qua trên một số thị trường sau:
- Thị trường dược phẩm Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Hiện nay trên thị trường dược phẩm có số lượng các vụ vi phạm gần như nhiều nhất, các đơn khiếu nại vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dược phẩm chiếm hơn 40% tổng các đơn khiếu nại vi phạm. Có nhiều kiểu làm nhái như: nhái tên, mẫu mã, bao bì…, chẳng hạn như trường hợp thuốc Decolgen, một sản phẩm của Công ty dược phẩm Philipines, đến nay đã có khoảng 7 loại thuốc làm nhái sản phẩm này như Decoagen, Debacongen, Devicongent…, mẫu mã viên thuốc cũng được lập hình thoi nổi giống hệt; thuốc Notamine, Primperan bị bốn công ty tại thành phố Hồ Chí Minh làm nhái; hộp Calium corbiere bị đến sáu công ty nhái, khi bị khiếu nại và sửa mẫu mã đến lần thứ ba vẫn là bị nhái. Có đến 30 công ty dược Việt Nam khắp các tỉnh thành nhái mẫu mã của Sanofi, bao gồm từ công ty sản xuất dược cấp quận đến thành phố và cả công ty khá nổi tiếng của trung ương…[33].
Xin dẫn ra một vụ việc cụ thể gần đây liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn của chủ thể vi phạm là Công ty Dược phẩm trung ương 25. Vụ việc cụ thể như sau:
Công ty Dược phẩm N.V.ORGANON là một công ty dược phẩm chuyên nghiên cứu và phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Năm 2012, công ty đã cho ra đời một loại thuốc trị tiêu chảy mang tên “ANTIBIO”. Sản phẩm này đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu số 21670 vào ngày 25/10/2012 cho các sản phẩm “Thuốc và các sản phẩm dược dùng cho người”, tức là thuộc nhóm 5 theo bảng Phân loại quốc tế hàng hóa, dịch vụ NIXƠ.
Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa của N.V.ORGANON như sau:
- Hình 2.1. Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu
Tuy nhiên, sau đó trên thị trường dược phẩm bỗng nhiên xuất hiện một sản phẩm thuốc trị tiêu chảy mang nhãn hiệu tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “ANTIBIO” đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí. Đó là nhãn hiệu “UPHA – BIO” của Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 25 – thành viên của Tổng công ty Dược, trực thuộc bộ Y tế Việt Nam.
Mẫu hai sản phẩm như sau:
- Hình 2.2. Mẫu sản phẩm của hai công ty Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Sau khi phát hiện ra hành vi xâm phạm của Xí nghiệp dược phẩm Trung ương 25, chủ sở hữu nhãn hiệu “ANTIBIO” là Công ty dược phẩm N.V.ORGANON đã thông qua đại diện là Công ty tư vấn Sở hữu công nghiệp và Chuyển giao công nghệ (P&TB) thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, gửi đơn yêu cầu thẩm định tới Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Sau quá trình thẩm định, Cục Sở hữu trí tuệ đã xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa của Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 25 dựa vào các dấu hiệu sau:
- Về cách phát âm: khi phát âm theo tiếng Anh thì hai tên này na ná như nhau vì có hậu tố với âm “BI-ÂU”.
- Nhóm sản phẩm: cả hai loại hàng hóa trên đều thuộc nhóm 5 (dược phẩm).
- Màu sắc: hai nhãn hiệu đều là màu đen trắng.
- Cách trình bày: Cả hai nhãn hiệu đều được đặt ở cùng một vị trí trên bao bì sản phẩm. Hơn nữa tên nhãn hiệu của cả hai sản phẩm đều được đặt trong một hình e-líp màu trắng, xung quanh là màu xanh nước biển.
- Công dụng: cả hai loại thuốc đều có công dụng trị tiêu chảy.
Do vậy, với những phân tích như trên, Cục Sở hữu trí tuệ có đầy đủ cơ sở để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 25 vì nhãn hiệu này sẽ gây ra sự nhầm lẫn về nơi đã sản xuất ra sản phẩm, tức là người tiêu dùng sẽ lầm tưởng rằng thuốc mang nhãn hiệu “UPHA-BIO” là của công ty N.V.ORGANON sản xuất. Đây chính là một dạng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.
- Thị trường thực phẩm Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thị trường thực phẩm với rất nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú cũng chính là môi trường thuận lợi để các hành vi cạnh tranh không lành mạnh phát triển.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Rượu Hà Nội, địa chỉ tại 94 phố Lò Đúc, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng kí số 48922, bảo hộ tổng thể nhãn hiệu “HALICO, VODKA HANOI, hình” (bao gồm cả màu sắc) cho các sản phẩm “Các loại rượu” thuộc nhóm 33 vào ngày 20/06/2020.
Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa như sau:
- Hình 2.3. Văn bằng bảo hộ có liên quan
Tuy nhiên, sau đó, trên thị trường đồ uống cũng xuất hiện nhãn hiệu “VODKA” được sử dụng trên sản phẩm rượu của công ty TNHH Hải Hà, địa chỉ tại Phù Cừ, Hưng Yên. Nhãn hiệu này đặt trong sự so sánh với nhãn hiệu của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Rượu Hà Nội như sau:
- Hình 2.4. Mẫu sản phẩm của hai công ty
Hai nhãn hiệu này tương tự với nhau ở các dấu hiệu sau:
- Chữ cái, từ ngữ: hoàn toàn trùng nhau, cả hai đều mang tên “VODKA”, mặc dù vị trí đặt tên nhãn hiệu không giống nhau hoàn toàn.
- Màu sắc: đều là màu xanh da trời đậm
- Hình ảnh: cả hai hình ảnh thể hiện trên sản phẩm tương tự nhau
- Nhóm sản phẩm: đều thuộc nhóm 33 (Các loại rượu).
Như vậy, đây cũng là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa. Hành vi này sẽ khiến người tiêu dùng không tránh khỏi sự nhầm lẫn trong việc lựa chọn sản phẩm trên thị trường.
Một vụ việc xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa khác xảy ra gần đây đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người tiêu dùng cũng như của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là vụ việc Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt My và Công ty trách nhiệm hữu hạn Quang Minh sản xuất hai loại trà xanh mang nhãn hiệu O2 và trà xanh Ω có các dấu hiệu trùng, tương tự với nhãn hiệu trà xanh 0 độ của Công ty Tân Hiệp Phát. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Trà xanh 0 độ của Công ty Tân Hiệp Phát đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và kiểu dáng, mẫu mã bao bì. Nhãn hiệu trà xanh 0 độ với bao gồm: logo Number One và chữ 0 độ thật to trên nhãn hàng. Hiện dòng sản phẩm này có sức tiêu thụ rất mạnh trên thị trường nước giải khát, chiếm trên 40% thị phần nước giải khát của doanh nghiệp. Lợi dụng uy tín sẵn có trên thị trường của sản phẩm trà xanh 0 độ , Công ty Việt My đã sản xuất loại trà xanh mang nhãn hiệu O2 có các dấu hiệu màu sắc, bao bì, cách trình bày nhãn hiệu hàng hóa trên bao bì sản phẩm giống hệt với nhãn hiệu trà xanh 0 độ của Công ty Tân Hiệp Phát. Tiếp đó, trên thị trường tiếp tục xuất hiện sản phẩm trà xanh mang nhãn hiệu Ω của Công ty Quang Minh với các dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu trà xanh 0 độ của Tân Hiệp Phát.
Trước vụ việc như trên, Công ty Tân Hiệp Phát đã có ý định khởi kiện hai Công ty Việt My và Công ty Quang Minh ra toà án vì tội nhái nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, trước hành động xin lỗi công khai của hai đơn vị vi phạm, Công ty Tân Hiệp Phát đã huỷ bỏ quyết định khởi kiện hai Công ty trên, đổi lại hai Công ty này buộc phải cam kết thu hồi các sản phẩm nhái mang nhãn hiệu O2 và Ω đang lưu thông trên thị trường cho đến ngày 04/08/2024. Tổng cộng có hơn 30.000 chai trà xanh O2 đã bị thu hồi và tiêu huỷ. Các sản phẩm trà xanh Ω chưa được tung ra thị trường, tuy nhiên Công ty Quang Minh cũng cam kết tiêu hủy toàn bộ vỏ chai và nhãn mác dự tính đưa ra thị trường.
- Thị trường may mặc
Một trong những thị trường thường xuyên xảy ra các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu với những thủ đoạn tinh vi đó là thị trường may mặc. Các sản phẩm càng có uy tín thì lại càng có nhiều loại hàng giả, hàng nhái với các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn xuất hiện. Công ty May Việt Tiến tại thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Tổng Công ty May Việt Nam với các sản phẩm mang nhãn hiệu “VIETTIEN” là một ví dụ điển hình cho hiện tượng trên. Kể từ năm 2017, nhãn hiệu “VIETTIEN” mặc dù đã được đăng kí bảo hộ nhưng vẫn bị “vay mượn” một cách trắng trợn. Đến nay, có khoảng 90 cửa hàng kinh doanh hàng nhái mang nhãn hiệu “VIETTIEN”, 12 cửa hàng vi phạm bảng hiệu. Gần đây, Công ty May Việt Tiến đã đề nghị truy tố một cơ sở trên địa bàn Hà Nội và đã thu giữ trên 22.000 sản phẩm giả nhãn hiệu “VIETTIEN” và cùng các cơ quan chức năng thu giữ 21 máy móc làm hàng giả cùng một số lượng lớn phụ liệu có liên quan[39]. Mặc dù hiện nay, Công ty May Việt Tiến đã chú trọng hơn đến việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên, nhưng cho đến nay, Công ty cũng chỉ mới cùng các cơ quan chức năng xử lý được 70%- 80% các vụ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
- Thị trường nguyên vật liệu xây dựng Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thị trường nguyên vật liệu xây dựng cũng xuất hiện rất nhiều các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa.
Vụ việc cạnh tranh không lành mạnh gần đây liên quan đến nhãn hiệu thép “Việt Nhật” của chủ sở hữu là Công ty cổ phần thép Hải Phòng (HPS), địa chỉ Km số 6, Quốc lộ 5, P. Quán Toan, Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng. Nhãn hiệu thép “Việt Nhật” được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa số 43649 cho sản phẩm thép thuộc nhóm 06.
Giấy chứng nhận đăng kí đăng kí nhãn hiệu như sau:
- Hình 2.5. Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa
Tuy nhiên, một thời gian sau, Công ty cổ phần thép Việt Nhật, Quận Lê Chân, Tp Hải Phòng đã cho sản xuất và lưu thông sản phẩm thép mang nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu “Việt Nhật” đã cấp Văn bằng bảo hộ của Công ty Cổ phần thép Hải Phòng (HPS). Hơn nữa, Công ty còn sử dụng tên thương mại trùng với tên thương mại của công ty HPS. Vụ việc này đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận giải quyết và xác định đây là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, Công ty Cổ phần thép Hải phòng (HPS) hoàn toàn có thể đến các cơ quan chức năng yêu cầu thi hành các biện pháp xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh này.
Như vậy, qua việc tìm hiểu một số vụ cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu điển hình trong thời gian qua tại Việt Nam, có thể nhận thấy rằng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu xảy ra, len lỏi vào tất cả các ngành kinh tế, những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh càng thu được nhiều lợi nhuận, các nhãn hiệu càng có uy tín trên thương trường thì lại càng có nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh bất chính xâm phạm.
2. Số lượng các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu có dấu hiệu tăng dần Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung cũng như liên quan đến nhãn hiệu nói riêng không chỉ ngày càng mở rộng về phạm vi mà số lượng các vụ vi phạm cũng đang có dấu hiệu tăng lên rõ rệt.
- Bảng 2.1. Vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới lĩnh vực Sở hữu công nghiệp giai đoạn 2021-2023
Như vậy, trước đây, khi công tác giám định sở hữu công nghiệp thuộc về trách nhiệm của Cục Sở hữu trí tuệ, phòng thực thi và giải quyết khiếu nại của Cục đã tiếp nhận và thẩm định khá nhiều vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Trong số đó, các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu luôn chiếm tỉ lệ lớn nhất và có xu hướng tăng lên qua các năm. Năm 2021, số vụ việc cạnh tranh không lành mạnh là 22, đến năm 2023, số lượng này đã tăng 18% với 26 vụ vi phạm.
Đến cuối năm 2023, để đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như các đòi hỏi của tổ chức thương mại thế giới WTO, Cục Sở hữu trí tuệ không còn nhận trách nhiệm công tác giám định sở hữu công nghiệp nữa, mà công tác này được chuyển sang cho các cơ quan thi hành cấp cơ sở. Tuy nhiên, với chức năng xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua việc cấp Văn bằng bảo hộ, phòng thực thi và giải quyết khiếu nại của Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận rất nhiều đơn khiếu nại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Hơn nữa, số lượng các đơn yêu cầu đăng kí nhãn hiệu bị từ chối do sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự, gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu hàng hóa liên quan hoặc với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như: tên thương mại đang được sử dụng; chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp… đã được cấp Văn bằng bảo hộ hoặc có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn đăng kí sớm hơn cũng có dấu hiệu tăng lên rõ rệt.
- Bảng 2.2. Số lượng đơn khiếu nại của bên thứ ba về việc cấp Văn bằng bảo hộ
Như vậy, nhìn vào bảng số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy, nhãn hiệu luôn là đối tượng sở hữu công nghiệp có đơn khiếu nại về việc cấp Văn bằng bảo hộ nhiều nhất. Hơn nữa, qua các năm, số lượng đơn khiếu nại của bên thứ ba về việc cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu cũng tăng dần. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Điều này cho thấy các nhãn hiệu yêu cầu đăng kí có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh có chiều hướng tăng lên.
3. Thủ đoạn của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ngày càng tinh vi
Không chỉ số lượng các vụ việc làm giả hay nhái nhãn hiệu ngày càng tăng mà thủ đoạn của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên còn trở nên ngày càng tinh vi hơn, sử dụng mọi cách thức nhằm đánh lừa người tiêu dùng. Các hành vi làm giả, nhái nhãn hiệu hàng hóa tinh vi đến mức mà chính doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa bị xâm phạm cũng không thể phát hiện được. Đến khi phát hiện ra, tuy có một số biện pháp khắc phục nhưng không đáng kể, nhiều doanh nghiệp đành sống chung với hàng giả.
Nhiều nhãn hiệu được làm giả rất tinh vi, giống với nhãn hiệu hàng hóa chính hãng đến từng chi tiết, chỉ khi kiểm tra mã vạch trên nhãn hàng hóa mới có thể phân biệt được đâu là hàng thật, đâu là hàng giả.
Các doanh nghiệp vi phạm thường sử dụng các nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa không rõ nguồn gốc để sản xuất ra sản phẩm, sau đó gắn nhãn hiệu được làm giả lên hàng hóa đó nhằm đánh lừa người tiêu dùng về nguồn gốc thực sự của hàng hóa.
Hơn thế nữa, các thủ đoạn, mánh khóe nhằm đưa hàng hóa có nhãn hiệu vi phạm quyền sở hữu công nghiệp từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam cũng ngày càng tinh vi hơn. Chẳng hạn như các đối tượng vi phạm thường lợi dụng hành lý xách tay để nhập các mặt hàng có kích thước nhỏ, nhập qua nhiều cửa khẩu khác nhau khiến cho chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa không nắm được để kịp thời đề nghị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục.
Đáng ngại hơn, nhiều đối tượng có hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa lại là cán bộ của các doanh nghiệp Nhà nước có chức năng sản xuất kinh doanh hay các đại lý phân phối hàng, thậm chí cả các nhà sản xuất có thương hiệu.
4. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Tại Việt Nam, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng bắt nguồn từ một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, do hành vi sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu luôn đem lại cho các chủ thể mức lợi nhuận cao hơn gấp nhiều lần so với việc phải đầu tư vào xây dựng một nhãn hiệu mới cho các sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường của doanh nghiệp. Chính vì thế, hiện nay, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được thực hiện bởi nhiều đối tượng, kể cả những người lao động thuần tuý, trên nhiều địa bàn và lĩnh vực khác nhau.
Thứ hai, trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, thu nhập bình quân của người tiêu dùng còn thấp, trong khi đó giá cả các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt khá cao. Chính sự mất cân đối này đã khiến người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn những hàng hóa có mẫu mã giống các sản phẩm có uy tín nhưng giá bán lại rất thấp. Lợi dụng tình trạng này, không ít doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sẵn sàng làm giả hàng hóa, sử dụng nhãn hiệu tương tự dễ gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu nổi tiếng vì mục đích gia tăng lợi nhuận kinh doanh. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc tình trạng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ngày càng gia tăng.
Thứ ba, các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chưa ý thức đầy đủ về việc bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách đăng kí bảo hộ nhãn hiệu. Hơn thế nữa, trình độ nhận thức về tác hại của cạnh tranh không lành mạnh đến lợi ích cộng đồng còn hạn chế. Hiện nay, rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, coi sở hữu trí tuệ là một bộ phận trong chiến lược phát triển của mình.
Thứ tư, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, cũng như các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm này chưa được quy định tập trung, thống nhất trong một văn bản pháp luật duy nhất mà vẫn còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực khác nhau, làm phát sinh nhiều kẽ hở trong thực tiễn áp dụng. Bên cạnh đó, các cơ quan thực thi trong công tác xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng đôi khi còn chồng chéo về nhiệm vụ và chức năng. Đội ngũ cán bộ thực thi còn thiếu và năng lực còn yếu.
II. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
1. Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam
1.1 Pháp luật quốc tế
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế cơ bản có quy định về việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng sau:
- Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước vào ngày 08/03/1949.
- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS). Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp định TRIPS vào ngày 07/11/2023.
- Công ước Stockholm 1967 về việc thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước vào ngày 02/07/1976.
Ngoài các công ước đa phương quy định về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, Việt Nam còn tham gia ký kết các Hiệp định song phương, như:
- Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký vào tháng 7 năm 2017 và có hiệu lực vào tháng 12 năm 2018. Đây là Hiệp định được thành lập và kí kết theo những quy chuẩn nhất định của WTO.
- Hiệp định Việt Nam – Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ được kí kết vào ngày 07 tháng 07 năm 2016 tại Hà Nội, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 06 năm 2017. Hiệp định này bao gồm hai nội dung là bảo hộ lẫn nhau và hợp tác về sở hữu trí tuệ. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
1.2 Pháp luật quốc gia
Hiện nay, việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng tại Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2016;
- Bộ luật Dân sự 2022;
- Luật Hải quan 2018;
Luật Sở hữu trí tụê năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành, gồm:
- Nghị định số 103/2023/NĐ-CP ngày 22/09/2023 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tụê về sở hữu công nghiệp;
- Nghị định số 105/2023/NĐ-CP ngày 22/09/2023 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Nghị định số 106/2023/NĐ-CP ngày 22/09/2023 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp.
- Thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ số 01/2024/TT-BKHCN ngày 14/02/2024 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2023/NĐ-CP ngày 22/09/2023 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
- Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp số 01/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2025 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Luật Cạnh tranh năm 2021 và các văn bản hướng dẫn thi hành, gồm:
- Nghị định số 05/2023/NĐ-CP ngày 09/01/2023 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh; Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
- Nghị định số 06/2023/NĐ-CP ngày 09/01/2023 về việc thành lập và quy định chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;
- Nghị định số 116/2022/NĐ-CP ngày 15/09/2022 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh;
- Nghị định số 120/2022/NĐ-CP ngày 30/09/2022 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
Nhận xét:
- Những mặt tích cực
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng đã tạo ra một hệ thống các quy định về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong một thể thống nhất với các quy định xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói chung, có nội dung cơ bản phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, đạt độ tương thích với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước.
Thứ hai, pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng đã chủ động tạo môi trường pháp luật để hạn chế tối đa hậu quả của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đầu tư vào khoa học – công nghệ, phát triển sản xuất, kinh doanh.
- Những mặt hạn chế
Thứ nhất, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh lien quan đến nhãn hiệu, cũng như các biện pháp xử lý các hành vi này chưa được quy định tập trung, thống nhất trong một văn bản pháp luật duy nhất mà vẫn còn nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khác nhau, làm phát sinh nhiều kẽ hở trong thực tiễn áp dụng. Hay nói khác đi, hiện nay, các quy phạm pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chưa được ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật riêng. 5 biện pháp xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến Sở hữu công nghiệp còn được quy định bởi quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khác nhau. Ví dụ như, thủ tục tiến hành xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính vừa được quy định trong pháp luật cạnh tranh vừa được điều chỉnh bởi pháp luật sở hữu trí tuệ với những quy định giải quyết khác nhau. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền trong công tác xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đôi khi còn chồng chéo về nhiệm vụ và chức năng. Đội ngũ cán bộ thực thi còn thiếu và năng lực còn yếu. Các quy định của pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, tính thực thi không cao nên chưa ngăn cản và xử lý hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thứ hai, các chế tài xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng tại Việt Nam chủ yếu mới chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính. Lợi thế của biện pháp hành chính là áp dụng nhanh chóng, không tốn nhiều thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên, mức xử phạt quy định trong các văn bản pháp luật cạnh tranh là còn thấp so với mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh thu được, dẫn tới việc doanh nghiệp vi phạm sẵn sàng nộp phạt. Ngoài ra, trong khi biện pháp hình sự là một biện pháp rất quan trọng nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, thì lại chỉ được áp dụng đối với các cá nhân phạm tội mà không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân, trong khi nhóm tội về sở hữu công nghiệp chủ yếu là do tổ chức thực hiện.
Thứ ba, hiện nay, tại Việt Nam chưa có luật riêng điều chỉnh từng đối tượng sở hữu trí tuệ. Kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển với hệ thống pháp luật về sở hữu công nghiệp tương đối phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp… thì các nước này đều có luật riêng điều chỉnh từng đối tượng sở hữu trí tuệ như: Luật nhãn hiệu hàng hóa, Luật sáng chế…, một số ít nước có Bộ luật sở hữu trí tuệ như Pháp hoặc có nước vừa có Luật bản quyền và Luật sở hữu công nghiệp. Như vậy, hệ thống luật pháp của Việt Nam chưa phù hợp với mô hình phổ biến của các quốc gia trên thế giới, do đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung.
Thứ tư, trong các quy định của pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, chưa có các quy định điều chỉnh từng lĩnh vực cạnh tranh. Hiện nay, cạnh tranh không lành mạnh diễn ra rất phức tạp ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh. Mỗi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh lại có những đặc thù riêng, do đó, cạnh tranh không lành mạnh ở mỗi lĩnh vực sẽ mang những đặc điểm, mức độ và tính chất khác nhau nên cần có những quy định cụ thể điều chỉnh từng lĩnh vực cạnh tranh. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền mới chỉ ban hành một số văn bản liên quan đến hoạt động kinh doanh xe máy, như Quyết định 147/2019/QĐ-TTg ngày 25/10/2019 về cơ chế điều hành quản lý xuất nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp xe hai bánh gắn máy và phụ tùng, giai đoạn 2019-2022 và Quyết định 01/2020/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về các quy định cụ thể trong việc quản lý chất lượng và Sở hữu công nghiệp áp dụng cho xe máy, động cơ và phụ tùng xe máy được sản xuất, lắp ráp trong nước và nhấp khẩu. Ngoài ra, trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác, còn thiếu vắng những quy định pháp luật kiểu này. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thứ năm, các quy định về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng chưa bao quát hết các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể xảy ra trong thực tế, do đó khi có những trường hợp ngoại lệ thì rất khó có thể tìm được một cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ sở hữu nhãn hiệu. Chẳng hạn như hiện tượng chiếm dụng, sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhâm lẫn với các nhãn hiệu đã gây dựng được uy tín trên thị trường xảy ra ngày càng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn quá ít các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Do đó, còn khó khăn trong việc giải quyết nhanh chóng và dứt điểm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu như trên.
Như vậy, trong những năm qua, Nhà nước ta đã cố gắng rất lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật chống xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong đó có cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu và đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Tuy nhiên, hệ thống đó vẫn còn có những bất cập so với yêu cầu đầy đủ và hiệu quả. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi phải có sự đánh giá, phân tích đúng mức những bất cập đó để có những giải pháp khắc phục trong thời gian sớm nhất.
2. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của các cơ quan thực thi và hỗ trợ thực thi Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
- Các cơ quan thực thi
Như khóa luận đã đề cập ở phần trên, các quy định về việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được đề cập tới trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Chính vì vậy, hiện nay hệ thống chủ thể thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu bao gồm nhiều cơ quan chức năng khác nhau.
Hiện nay, hệ thống chủ thể thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam bao gồm các cơ quan chính sau:
- Cục Quản lý cạnh tranh;
- Cục Sở hữu trí tuệ;
- Cục Quản lý thị trường (QLTT) thuộc Bộ Công thương, các Chi cục và đội Quản lý thị trường trực thuộc;
- Toà án;
- Cảnh sát kinh tế;
- Tổng Cục Hải quan và Hải quan các cửa khẩu trên toàn quốc;
- Thanh tra chuyên ngành về sở hữu công nghiệp thuộc Bộ khoa học công nghệ và các Sở khoa học công nghệ và môi trường các Tỉnh, thành phố.
Sau đây khoá luận xin đi vào tìm hiểu hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của từng cơ quan trên, từ đó có cái nhìn tổng quát về thực trạng công tác xử lý của các cơ quan thực thi pháp luật.
- Cục quản lý cạnh tranh (QLCT)
Cục Quản lý cạnh tranh được thành lập vào tháng 2 năm 2022. Chức năng của Cục đó là: tổ chức và thực hiện các quy định của pháp luật cạnh tranh, các quy định về bảo vệ người tiêu dùng, chống bán phá giá, chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa để bảo vệ các ngành công nghiệp sản xuất trong nước, đối phó với những hành vi thương mại không công bằng… Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Các hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh nhằm thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tiêu chí hoạt động của Cục là tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh với cơ hội kinh doanh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp trên thị trường.
Các đơn vị trực thuộc Cục Quản lý cạnh tranh xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm có Ban Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Ban bảo vệ người tiêu dùng.
Trong thời gian qua, tuy số lượng các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu ngày một tăng tại Việt Nam, tuy nhiên, hoạt động xử lý các vụ việc này của Cục quản lý cạnh tranh đạt hiệu quả chưa cao.
Trước hết, số lượng các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được Cục nhận điều tra và xử lý vẫn là một con số rất ít ỏi. Sau hơn hai năm đi vào hoạt động, cụ thể là tính đến tháng 8/2024, Cục Quản lý cạnh tranh mới điều tra được vụ việc đầu tiên và đang trong quá trình xem xét 4-5 vụ khác nữa [40]. Nguyên nhân của tình trạng này là do 3 nguyên nhân cơ bản: thứ nhất, đó là do cách thức giải quyết của Cục Quản lý cạnh tranh đối với các vụ việc cạnh tranh nói chung còn mang tính “nửa vời”, vẫn dựa vào cách thức hoà giải giữa các bên liên quan là chính. Theo như quan điểm của Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh thì “thực thi Luật Cạnh tranh không chỉ là điều tra hay xử phạt vi phạm, mà công việc chính của các cơ quan quản lý cạnh tranh, đó là làm thế nào để các doanh nghiệp không vi phạm, hoặc nếu có và chưa đến mức quá nặng thì có thể hoà giải với nhau”[40]. Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh không mấy “thiết tha” với việc khiếu nại lên các cơ quan chức năng. Thứ hai, để khiếu nại về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và được Cục Quản lý cạnh tranh xử lý, doanh nghiệp cần phải trải qua rất nhiều khâu được quy định trong pháp luật cạnh tranh như: nộp hồ sơ khiếu nại, thụ lý hồ sơ, điều tra sơ bộ, điều tra chính thức, mở phiên điều trần (mất khoảng 6 tháng). Cách xử lý chậm chạp như trên sẽ không thể xử lý được các vụ việc mang tính tức thời. Thứ ba, quy định buộc người khiếu nại phải trả trước một khoản phí phục vụ cho việc xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh (10 triệu đồng) là chưa hợp lý. Bên bị kết luận vi phạm phải trả lại khoản phí này cho doanh nghiệp khiếu kiện. Tuy nhiên, việc đòi lại khoản phí này từ các chủ thể xâm phạm là một điều không dễ dàng.
Hơn nữa, cũng cần phải thấy rằng các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chưa được Cục Quản lý cạnh tranh xử lý một cách triệt để, vẫn còn tình trạng các doanh nghiệp tái phạm sau một thời gian bị xử lý. Nguyên nhân của hiện tượng này là do mức xử phạt trong quy định của pháp luật cạnh tranh còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Ở nhiều nước trên thế giới, mức xử phạt với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này thường rất cao, thường cao hơn rât nhiều lần mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật, mà cụ thể là theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 120/2022/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, việc bồi thường trong các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện theo các quy định của pháp luật dân sự. Cục Quản lý cạnh tranh không có thẩm quyền trong việc bồi thường thiệt hại cho các bên liên quan. Các quyết định của Cục Quản lý cạnh tranh liên quan đến việc xử lý vi phạm chỉ có thể được sử dụng làm căn cứ để khởi kiện và giải quyết bồi thường thiệt hại tại toà án dân sự. Mà việc đem vụ việc ra xử lý tại toà án dân sự thường tốn kém và mất rất nhiều thời gian, do vậy doanh nghiệp khiếu nại thường chỉ dừng lại ở các quyết định xử lý của Cục Quản lý cạnh tranh.
- Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Tiền thân của Cục Sở hữu trí tuệ là Cục Sáng chế, sau đổi thành Cục Sở hữu công nghiệp. Từ ngày 19/05/2020, Cục Sở hữu công nghiệp chính thức đổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ.
Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước và đảm bảo các hoạt động sự nghiệp về sở hữu trí tuệ. Cục Sở hữu trí tuệ có nhiệm vụ thực hiện theo thẩm quyền các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thi hành các biện pháp nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ được thi hành nghiêm chỉnh.
Cục Sở hữu trí tuệ là nơi tiếp nhận các đơn đăng kí nhãn hiệu của các doanh nghiệp sản xuẩt, kinh doanh tại Việt Nam. Một nhãn hiệu có được đăng kí bảo hộ hay không phải trải qua quá trình thẩm định hình thức và nội dung tại Cục Sở hữu trí tuệ. Nếu một nhãn hiệu không đáp ứng được tiêu chuẩn bảo hộ, có các dấu hiệu trùng hay tương tự gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đang được bảo hộ hoặc các nhãn hiệu có ngày nộp đơn hay ngày ưu tiên sớm hơn, hoặc với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, sẽ bị Cục Sở hữu trí tuệ từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng kí. Hơn nữa, trong khoảng thời gian từ lúc công bố các nhãn hiệu thoả mãn các điều kiện về hình thức lên Công báo cho đến trước ngày ra quyết định cấp Văn bằng bảo hộ, bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến với Cục Sở hữu trí tuệ về việc cấp hay không cấp Giấy chứng nhận đăng kí đối với đơn đó, nếu thấy nhãn hiệu đăng kí có dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình. Như vậy, ngay từ trong quá trình tiếp nhận và xét nghiệm đơn đăng kí thì Cục Sở hữu trí tuệ đã có thể xử lý được các đơn đăng kí nhãn hiệu có biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Công việc này thuộc về trách nhiệm của phòng Thực thi và giải quyết khiếu nại và 2 phòng nhãn hiệu hàng hóa thuộc Cục Sở hữu trí tuệ. Trong vài năm trở lại đây, công tác xử lý và ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các phòng ban này đã đạt được những kết quả khả quan. Số lượng các vụ khiếu nại của các bên thứ ba được giải quyết ngày một tăng. Việc ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngay từ khâu đăng kí đã góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu số lượng vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phát sinh sau này.
Tuy nhiên, theo nguyên tắc thì khoảng thời gian từ ngày Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận đơn đăng kí đến lúc cấp Giấy chứng nhận đăng kí cho người nộp đơn kéo dài khoảng 18 tháng (trong đó thẩm định hình thức: 01 tháng; công bố đơn: 02 tháng; thẩm định nội dung: 06 tháng). Trong khoảng thời gian này, tuy nhãn hiệu chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhưng các chủ thể vẫn có thể kinh doanh hàng hóa mang nhãn hiệu đó mà không bị pháp luật ngăn cấm. Chính vì vậy, trong khoảng thời gian này vẫn phát sinh các vụ tranh chấp liên quan tới việc sử dụng nhãn hiệu của các doanh nghiệp. Các trường hợp cạnh tranh không lành mạnh này cũng bị áp dụng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự. Do thủ tục xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh tại Cục Sở hữu trí tuệ thường rất nhanh chóng, chỉ kéo dài khoảng 7-10 ngày và người khiếu nại cũng không phải nộp một khoản phí ứng trước nào, nên số lượng đơn khiếu nại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sử dụng nhãn hiệu được gửi đến Cục Sở hữu trí tuệ ngày một tăng. Tuy nhiên, do hạn chế về nhân lực nên Cục Sở hữu trí tuệ vẫn rơi vào tình trạng quá tải. Do vậy, Luật Sở hữu trí tụê 2022 và Nghị định 105/2023/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật này, đã chuyển công tác giám định sở hữu công nghiệp về cho các cơ quan thi hành cấp cơ sở, góp phần làm giảm gánh nặng của Cục, do đó, các vụ cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu được chuyển sang Cục Quản lý cạnh tranh và một số cơ quan thực thi khác để tiến hành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Cục Quản lý thị trường (QLTT) Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Cục Quản lý thị trường là một trong những chủ thể được giao nhiệm vụ thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Lực lượng quản lý thị trường có chức năng kiểm tra, kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị trường và có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.
Cục Quản lý thị trường đã thành lập Phòng nghiệp vụ chuyên về chống hàng giả và hơn 500 Đội Quản lý thị trường đóng trên nhiều địa bàn, vừa có trách nhiệm trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, vừa chống hàng giả và các hành vi kinh doanh trái phép khác. Hơn nữa, Cục còn có các Đội chuyên chống hàng giả tại một số Chi cục như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, Cục Quản lý thị trường đã xây dựng một hệ thống tổ chức khá mạnh, rộng lớn trong công tác đấu tranh chống hàng giả nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.
Trong công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, lực lượng quản lý thị trường đã và đang tập trung vào các hoạt động sau:
- Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về sở hữu trí tuệ;
- Tham mưu các cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế kiểm soát hàng giả;
- Tổ chức phối hợp với các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ khác;
- Kết hợp với doanh nghiệp, người tiêu dùng và Hiệp hội (Hiệp hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng, Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam…);
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, trình độ cho đội ngũ kiểm soát viên thị trường;
- Chú trọng hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh chống hàng giả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thông qua các hoạt động như: điều phối viên của chương trình hợp tác Viêt-Pháp về chỉ dẫn địa lý và đấu tranh chống hàng giả từ năm 2015 đến nay, dự án APEC về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tù năm 2021…
Trong thời gian qua, lực lượng Quản lý thị trường luôn coi công tác đấu tranh phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, và đã đạt được những kết quả khả quan sau:
Năm 2025, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, Cục Quản lý thị trường đã khẳng định được vai trò của mình trong việc bình ổn thị trường và bảo vệ người tiêu dùng. Trong năm này, Cục Quản lý thị trường đã kiểm tra và xử lý 18.539 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng vi phạm quyền Sở hữu trí tuệ và an toàn VSTP. Tính đến hết năm 2025, Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội đã kiểm tra được 6.934 vụ, đạt 118% số vụ theo chỉ tiêu nghiệp vụ được giao, xử lý hành chính 5.658 vụ, đạt 102% so với chỉ tiêu nghiệp vụ, trong đó hàng vi phạm sở hữu công nghiệp có 247 vụ, 1.027 vụ vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa, và 1.840 vụ vi phạm khác. Tổng giá trị thu nộp ngân sách năm 2025 là gần 29 tỷ đồng, đạt 129%, trong đó xử phạt hành chính trên 8 tỷ đồng, trị giá hàng hoá tịch thu khoảng 9,7 tỷ đồng, trị giá hàng tiêu huỷ khoảng 4,7 tỷ đồng, hàng tịch thu đã bán trên 6,5 tỷ đồng[41]. Nhìn chung, theo số liệu thống kê, hàng năm, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra và xử lý hàng nghìn vụ vi phạm về hàng giả, trong đó, khoảng 60% số vụ vi phạm liên quan đên sở hữu trí tuệ. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Như vậy, từ số liệu thống kê trên cho thấy lực lượng quản lý thị trường tại Việt Nam đã góp phần tích cực trong việc chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong công tác thực thi đấu tranh chống hàng giả nói chung và chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, vẫn tồn tại nhiều hạn chế sau:
Thứ nhất, hoạt động của cơ quan Quản lý thị trường còn mang tính bị động. Khi có các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh nói riêng, cơ quan Quản lý thị trường cần phải xin ý kiến tham vấn Cục Sở hữu trí tuệ và quyết định xử phạt cũng dựa trên tham vấn của Cục Sở hữu trí tuệ, vì cơ quan này đóng vai trò quan trọng và chủ động trong việc xác định hành vi vi phạm. Do đó, việc xử lý vi phạm thường kéo dài và Cục Quản lý thị trường thường lâm vào tình trạng bị động chờ đợi kết quả giám định từ Cục Sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, số lượng cán bộ còn thiếu, đặc biệt kiến thức, trình độ chuyên môn về Sở hữu trí tuệ nói chung còn thấp, rất ít người được đào tạo về lĩnh vực này.
Thứ ba, chưa tạo dựng được mối quan hệ lâu dài và hợp tác giữa cơ quan Quản lý thị trường và các doanh nghiệp để cùng đấu tranh chống hàng giả nói chung và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.
- Cơ quan Hải quan
Cơ quan Hải quan gồm có: Tổng cục Hải quan trung ương, thuộc Bộ Tài chính; Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát và các đơn vị tương đương. Tổng cục Hải quan hướng dẫn chỉ đạo hải quan địa phương trong các vấn đề nghiệp vụ, trong đó có việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thông qua Cục Giám sát quản lý và Cục Điều tra chống buôn lậu. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Trong thời gian qua, công tác xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của các cơ quan hải quan đã đạt được những kết quả nhất định. Theo thống kê, từ đầu năm 2025 đến tháng 02/2026, Tổng cục Hải quan Việt Nam đã tiếp nhận và xử lý 26 đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đơn gia hạn thời gian kiểm tra, giám sát có liên quan đến sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa của các nhãn hiệu như: NOKIA, CHANNEL,NIKE, SEIKO, HP, EPSON, GUCCI, CASIO, ENSURE, ORAL-B,
GILETTE, PROCTER & GLAMBLE… Cơ quan Hải quan đã thông báo tạm thời dừng 10 trường hợp, tạm dừng làm thủ tục hải quan 05 trường hợp, xử lý 03 trường hợp xác định là hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ với tổng trị giá hàng hóa vi phạm ước tính khoảng 200 triệu đồng, số tiền phạt khoảng 400 triệu đồng[47].
Tuy nhiên, các hoạt động ngăn chặn, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại biên giới do cơ quan Hải quan thực hiện còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam đang ở trong giai đoạn đầu tư cơ sở ban đầu nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát của Hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ cho công tác xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng tại biên giới. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, việc áp dụng các biện pháp kiểm soát tại biên giới do Hải quan thực hiện nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.Cụ thể:
Thứ nhất, hải quan gặp khó khăn trong việc xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu là do chưa có văn bản pháp quy nào quy định những thủ tục hành chính, cơ chế hành chính của Hải quan trong việc phát hiện và xử lý vi phạm.
Thứ hai, hải quan Việt Nam chưa có lực lượng chuyên trách nghiệp vụ xử lý các trường hợp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới ở cả cơ quan trung ương cũng như địa phương. Do đó, vấn đề chỉ đạo và thực hiện cũng chưa thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thứ ba, hải quan Việt Nam chưa thiết lập được quan hệ hợp tác có hiệu quả với chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
Thứ tư, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và các khía cạnh liên quan để chỉ đạo thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Thứ năm, sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chuyên ngành chưa được chặt chẽ. Dù Hải quan có áp dụng các biện pháp chặt chẽ tại biên giới nhưng một khi hàng vi phạm vẫn được lưu thông công khai hoặc lén lút trong nội địa thì cũng sẽ làm vô hiệu hóa các biện pháp tại biên giới của Hải quan.
- Tòa án
Pháp luật tố tụng Việt Nam hiện đã có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ nói chung và xử lý các vụ cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói riêng.
Theo thông lệ, ở các nước trên thế giới thì Toà án đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xử lý các vi phạm về sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, nhưng ngược lại ở Việt Nam thì vai trò của Toà án rất mờ nhạt so với các cơ quan hành chính khác. Theo số liệu thống kê từ năm 2017 – 2022, mỗi năm trung bình có khoảng trên 10 vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết bởi hệ thống Toà án Việt Nam, tức là con số này chỉ chiếm khoảng 10% tổng số các vụ tranh chấp được giải quyết tại Toà án. Hơn nữa, hiện nay, trước khi xử phạt hành chính các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu thường có hoạt dộng hoà giải giữa các bên, nếu xử phạt hành chính mà vẫn vi phạm thì đề nghị ra cơ quan trọng tài. Do đó, vai trò của Toà án còn bị coi nhẹ. Vì vậy, trong tương lai các vụ vi phạm nghiêm trọng liên quan đến nhãn hiệu cần phải có sự can thiệp của Toà án, có như thế mới đủ sức răn đe, ngăn chặn triệt để các hành vi này.
- Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên có thể kể đến:
Thủ tục xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói chung thông qua Tòa án hiện nay tốn rất nhiều thời gian và công sức của bên khởi kiện. Thời gian giải quyết một vụ việc tại Tòa án tính từ khi thụ lý đến khi có bản án, quyết định sơ thẩm và thời gian giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với vụ án có kháng cáo, kháng nghị trung bình tại một cấp xét xử là từ 6 tháng đến 1 năm, có vụ phải xét xử nhiều lần nên thời gian giải quyết có thể kéo dài hơn 1 năm.
Mức đền bù bồi thường thiệt hại do Tòa án đưa ra đôi khi thấp hơn nhiều so với thiệt hại thực tế. Căn cứ xác định bồi thường thiệt hại không rõ ràng. Nhãn hiệu là loại tài sản vô hình, tuy nhiên hiện nay, để xác định mức bồi thường thiệt hại Tòa án vẫn áp dụng cách tính chung như bồi thường thiệt hại với tài sản hữu hình.
Phán quyết của Tòa án nhiều khi không thấu tình, đạt lý, không làm hài lòng các bên có liên quan. Cũng bởi việc giải quyết vi phạm của Tòa án đôi khi không tuân thủ theo các quy định của các văn bản pháp luật liên quan nên dẫn tới hiện tượng hai hay nhiều vụ việc có tính chất tương tự nhưng lại có những phán quyết và khung hình phạt khác nhau, gây ra nhiều tranh cãi sau này. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Khi thụ lý, giải quyết các tranh chấp về nhãn hiệu, Toà án nhân dân thường không áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm bên bị kiện tiếp tục sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đang có tranh chấp, hay cấm chuyển dịch quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu… Chính vì vây, trong thời gian giải quyết tranh chấp, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vẫn gắn nhãn hiệu hàng hóa đó lên các sản phẩm của mình và tiếp tục đưa những hàng hóa đó vào các kênh thương mại để lưu thông, làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa tiếp tục bị xâm phạm.
Số lượng thẩm phán hiểu biết chuyên sâu về sở hữu trí tuệ nói chung còn rất hạn chế. Các vụ việc liên quan đến nhãn hiệu thường mang tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi những người xét xử phải thực sự có trình độ tốt trong lĩnh vực này. Hiện nay, để đưa ra phán quyết, Toà án còn phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến của cơ quan chuyên môn.
Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có các toà án Sở hữu trí tuệ chuyên trách với các thủ tục xử lý tương ứng. Có như vậy, thì việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ được tập trung hơn, cũng như hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tụê đối với nhãn hiệu sẽ được nâng cao.
- Cảnh sát kinh tế
Lực lượng Cảnh sát kinh tế thường xuyên tiến hành các biện pháp, phối hợp với các lực lượng, các ngành, các cấp phát hiện và điều tra các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, thu giữ hàng hóa trị giá hàng trăm tỷ đồng. Tại Hội nghị sơ kết công tác phòng ngừa đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ năm 2025, từ năm 2019 đến năm 2025, các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý hàng ngàn vụ việc với gần 1.500 đối tượng có hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung.
Song, lực lượng Cảnh sát kinh tế vẫn vấp phải hạn chế chung, đó là trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhìn chung còn thấp. Do đó, việc phát hiện, điều tra những vụ việc trong thời gian vừa qua là một thành tích đáng ghi nhận, nhưng so với thực tiễn vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trên thị trường thì vẫn còn rất hạn chế.
- Cơ quan thanh tra khoa học và công nghệ Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Theo Nghị định 12/2016/NĐ-CP ngày 06/03/2016, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ ở trung ương và Thanh tra Sở khoa học và công nghệ ở cấp tỉnh là cơ quan thanh tra chuyên ngành sở hữu công nghiệp, một trong những cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các biện pháp xử lý vi phạm của Thanh tra chuyên ngành chưa thực sự mạnh mẽ và kiên quyết. Mãi cho đến ngày 01/09/2023, cơ quan này mới lần đầu tiên xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới Sở hữu công nghiệp[43]. Hơn nữa, số lượng cán bộ thanh tra còn quá ít để thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Sở hữu công nghiệp, hầu như là thanh tra chung cho các lĩnh vực khoa học công nghệ. Chính vì vậy, thực tế hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp nói chung và quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, việc chủ động tiến hành thanh tra, phát hiện và xử lý vi phạm còn hạn chế. Thêm vào đó, trình độ chuyên môn của các cán bộ thanh tra còn thấp cũng làm cho hoạt động thanh tra kém hiệu quả.
- Các cơ quan hỗ trợ thực thi
Cơ quan hỗ trợ thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới Sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng trước tiên phải kể đến Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trong thời gian qua, Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã đóng góp rất nhiều trong việc nâng cao nhận thức về Sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng thông qua các buổi sinh hoạt của chi hội, các lớp tập huấn về Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Hội Sở hữu trí tuệ chưa thực sự chú trọng đến việc tự bảo vệ cho quyền lợi của hội viên theo quy định của pháp luật mà vẫn còn trông chờ vào cơ quan quản lý nhà nước.
Bên cạnh Hội Sở hữu trí tuệ thì vai trò của các công ty đại diện Sở hữu công nghiệp cũng góp phần đáng kể trong công tác xử lý, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Hầu hết khiếu nại về xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra đều thông qua sự tư vấn và giải quyết của các công ty đại diện Sở hữu công nghiệp. Với sự am hiểu về pháp luật Sở hữu trí tuệ, các cơ quan này đã góp phần giúp các doanh nghiệp khiếu nại thành công. Trong thời gian qua, đáng chú ý phải kể đến các công ty đại diện Sở hữu trí tuệ Banca, công ty Sở hữu trí tuệ INVENCO, công ty Wincolaw… đã giúp rất nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thành công trong việc khiếu nại. Tuy nhiên, hệ thống tư vấn và các công ty đại diện Sở hữu công nghiệp này chưa thực sự hoạt động trên phạm vi rộng, chủ yếu chỉ tập trung tại các thành phố lớn, hơn nữa phí tư vấn cũng còn khá cao cũng là một điểm hạn chế đối với các cơ quan hỗ trợ thực thi này.
3. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Các chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đóng vai trò chủ chốt trong việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Song, hiện nay, phần lớn các chủ sở hữu quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chưa thực sự chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của mình, chưa có ý thức cao trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong khi đó, trình độ và hiểu biết về tác hại của xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với sức khỏe, lợi ích cộng đồng còn rất hạn chế. Hiện nay, rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên chăm lo về Sở hữu trí tuệ, hầu như chưa có doanh nghiệp nào có chiến lược về Sở hữu trí tuệ, coi vấn đề Sở hữu trí tuệ là một bộ phận trong chiến lược phát triển của mình. Tài sản trí tuệ chưa trở thành đối tượng quản lý như quản lý tài sản thông thường. Hơn nữa, trong thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng vào việc xây dựng thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, chất lượng hàng hóa nhưng lại chưa quan tâm đến khâu đăng kí bảo hộ nhãn hiệu của mình ở những khu vực thị trường đã và sẽ phát triển. Chẳng hạn như, hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh còn chưa nhận thức được rằng: hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu chỉ được xác lập sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu. Do đó, ngay sau khi nộp đơn yêu cầu đăng kí nhãn hiệu, rất nhiều doanh nghiệp đã tiến hành quảng cáo, in ấn, sử dụng nhãn hiệu đó cho các hàng hóa, dịch vụ của mình, mà không lường hết được hậu quả pháp lý của hành vi đó là đơn không được chấp thuận, có thể do Cục Sở hữu trí tuệ từ chối do không đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ, hoặc do bên thứ ba phản đối với lý do xâm phạm đến quyền của họ. Đây chính là hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra rất phổ biến trong quá trình đăng kí nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam. Hậu quả là các doanh nghiệp này phải chịu các thiệt hại về vật chất cũng như uy tín của mình. Một ví dụ cụ thể cho tình trạng này đó là trường hợp một doanh nghiệp ở Việt Nam nộp đơn đăng kí bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa “Kando và Hình” cho sản phẩm áo đi mưa. Sau khi nộp đơn đăng kí nhãn hiệu, chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu, chủ doanh nghiệp đã tiến hành việc quảng cáo, in ấn nhãn hiệu, sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm của mình mà không biết rằng dấu hiệu đăng kí “Kando và Hình” có các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh với nhãn hiệu “Rando và Hình” đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm cùng loại trước đó. Chủ sở hữu nhãn hiệu “Rando và Hình” đã yêu cầu chủ doanh nghiệp sử dụng dấu hiệu “Kando và Hình” phải ngừng ngay việc sử dụng, loại bỏ dấu hiệu trên các sản phẩm, biển hiệu, tiêu huỷ các giấy tờ, tài liệu có gắn dấu hiệu “Kando và Hình”. Hậu quả là doanh nghiệp này phải chịu mất mát về tài sản và phải thay đổi toàn bộ kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình.
Nhiều doanh nghiệp chưa có ý thức trong việc phát hiện và ngăn ngừa việc làm giả các sản phẩm của mình, chưa chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, kiểm soát. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Việt Nam khi bị xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình vẫn còn có tâm lý ngại tiếp xúc với Tòa án, ngại đưa việc tranh chấp ra Tòa án vì sợ mang tiếng bị coi là phải ra hầu tòa, không muốn đưa vấn đề ra công khai trước công chúng, sợ ảnh hưởng đến uy tín cũng như doanh số và mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu từ phía các chủ thể cũng vẫn còn rất hạn chế. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
4. Đánh giá hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam
4.1 Thành tựu
Trong thời gian qua, hoạt động thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã đạt được những thành công sau:
- Bộ máy thực thi pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã được hình thành từ hệ thống quản lý hành chính cho đến hệ thống tư pháp.
- Hệ thống quản lý hành chính đã phản ánh được thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng được phân định cũng khá rõ ràng giữa các bộ ngành thuộc Trung ương và các tỉnh thành.
4.2 Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của hệ thống thực thi và hỗ trợ thực thi cũng như chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp còn có những hạn chế sau:
Trình độ và chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế. Quyền Sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu còn là một khái niệm mới mẻ với Việt Nam, do vậy số lượng đội ngũ cán bộ trong cơ quan thực thi còn thiếu, chất lượng còn hạn chế. Các cán bộ chuyên trách trong hệ thống thực thi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu có trình độ đào tạo cao còn hiếm.
Việc thực thi pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung chủ yếu là hệ thống hành chính. Tuy nhiên hệ thống này lại bộc lộ rất nhiều bất cập sau: Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
Thứ nhất, thiếu sự hợp tác chặt chẽ mang tính chất ổn định giữa các chủ thể quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và các cơ quan thực thi. Các doanh nghiệp vẫn còn e ngại trong việc tiếp xúc với các cơ quan thực thi pháp luật.
Thứ hai, việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan là không rõ ràng, có sự chồng chéo. Hiện nay, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đăng kí nhãn hiệu thuộc về nhiều cơ quan khác nhau, bao gồm: Uỷ ban nhân dân các cấp, Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Thanh tra văn hóa, Cảnh sát kinh tế, Quản lý thị trường, Hải quan. Từ đó, làm nảy sinh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy lẫn nhau và làm cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trở nên rắc rối, phức tạp. Mặt khác bản thân từng cơ quan thực thi vẫn chưa thể thực hiện đầy đủ các biện pháp nhằm xử lý triệt để các hành vi canh tranh không lành mạnh này, dẫn đến người bị vi phạm không biết khiếu nại tại đâu. Chẳng hạn, khi bị xâm phạm do hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chọn lựa giữa Toà án và Cục Quản lý cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp gửi hồ sơ khiếu nại lên Cục Quản lý cạnh tranh thì Cục sẽ xử lý bằng cách phạt vi phạm hành chính đối với bên vi phạm và khắc phục hậu quả do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra. Còn nếu muốn được bồi thường, doanh nghiệp bị thiệt hại phải sử dụng quyết định của Cục để khởi kiện ra Toà án dân sự.
Thứ ba, vai trò của Toà án trong việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Sở hữu công nghiệp còn rất mờ nhạt so với các cơ quan hành chính. Thủ tục xét xử các vụ vi phạm còn rườm rà, phức tạp. Đội ngũ thẩm phán, điều tra viên xét xử các vụ vi phạm còn hạn chế cả về số lượng và trình độ. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com