Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam Giai Đoạn 2026 – 2030 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Được thành lập vào tháng 7/2016, cho đến nay thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam trải qua gần 10 năm hoạt động với các giai đoạn thăng trầm, từ lúc phát triển quá nóng sang tới giai đoạn suy thoái và hiện nay đang ở giai đoạn khởi sắc với những bước phát triển khá mạnh cả về chất và lượng. Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong những năm vừa qua có thể chưa thuyết phục được sự mong đợi của thị trường, nhưng phải thừa nhận rằng với những kết quả đạt được, đó là sự cố gắng, nỗ lực lớn của các chủ thể tham gia trên thị trường cũng như cấp, ngành quản lý. Nhìn một cách tổng quát thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành công đáng kể. Quy mô của thị trường không ngừng được mở rộng với tốc độ nhanh hơn, mạnh mẽ hơn đã làm xuất hiện hàng loạt các công ty chứng khoán. Là thành viên của thị trường, các công ty chứng khoán đã đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của hai Trung tâm giao dịch chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung.
Hiện nay, với sự ra đời và đi vào hoạt động của 105 công ty chứng khoán đã mang lại cho thị trường những bước phát triển mới, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu phát triển của thị trường nhưng đồng thời cũng tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các công ty chứng khoán. Hơn thế nữa, năm 2023 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều này đã mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức to lớn về cạnh tranh và hội nhập đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng.
Bên cạnh những bước phát triển đáng ghi nhận của thị trường chứng khoán Việt Nam và các công ty chứng khoán trong thời gian vừa qua, hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và chưa thực sự đem lại hiệu quả. Trong khi đó, trong môi trường hội nhập, cạnh tranh gay gắt như hiện nay để có thể tồn tại và phát triển được, các công ty chứng khoán Việt Nam buộc phải tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để tự khẳng định vị thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn bức thiết đó, em xin được lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2026- 2030 ” cho bài khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Năm 2024 là một năm đầy thách thức và khó khăn đối với thị trường chứng khoán thế giới nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng. Đứng trước những biến động bất lợi của thị trường chứng khoán trong năm 2024, là một chủ thể trên thị trường, hoạt động của các công ty chứng khoán cũng bị ảnh hưởng hết sức nặng nề. Điều này chứng tỏ trước các rủi ro và biến cố của thị trường, các công ty chứng khoán Việt Nam vẫn chưa thực sự chủ động, và còn tồn tại nhiều yếu điểm. Trước thực tiễn đó, bài khoá luận của em nhằm mục đích nghiên cứu và đánh giá đúng thực chất về hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2023-2025. Từ đó, phát hiện những thiếu sót, tìm ra những nguyên nhân gây hạn chế trong hoạt động của các công ty chứng khoán. Đồng thời, trong bài luận văn của mình, em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam, nên đối tượng nghiên cứu của bài luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trên thị trường chứng khoán.
4. Phạm vi nghiên cứu
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán trong những năm gần đây là sự tăng vọt về số lượng các công ty chứng khoán có mặt trên thị trường. Từ con số 55 công ty chứng khoán vào năm 2022, số lượng công ty chứng khoán tính tới quý 1 năm 2026 đã tăng gần gấp đôi lên 105 công ty. Số lưọng công ty chứng khoán lớn vừa là một lợi thế để nâng cao tính bao quát của vấn đề nghiên cứu, vừa là một khó khăn khi phân tích và tổng hợp số liệu. Do những khó khăn đó, trong bài luận văn của mình, em xin đi sâu vào việc phân tích tình hình hoạt động của một số công ty chứng khoán tiêu biểu. Đó là công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn (SSI), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC), công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS), công ty cổ phần chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), công ty cổ phần chứng khoán Hải Phòng (HASECO), công ty cổ phần chứng khoán Kim Long (KLS).
5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Để phục vụ cho việc tìm hiểu và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, luận văn được xây dựng trên cơ sở thu thập và phân tích số liệu của một số công ty chứng khoán điển hình trên thị trường. Trong đó, các phương pháp nghiên cứu không thể thiếu trong quá trình phân tích và hoàn thành đề tài là:
- Phương pháp thu thập – tổng hợp số liệu;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp liên hệ;
- Phương pháp thống kê.
6. Kết cấu luận văn
Bài luận văn của em có kết cấu gồm 3 phần như sau:
- Chương I. Khái quát chung về hoạt động của các công ty chứng khoán
- Chương II. Thực trạng hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam hiện nay
- Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam
Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như những khó khăn trong việc thu thập số liệu nên bài khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sẽ nhận được sự chỉ bảo, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình.
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
I. Vài nét về thị trường chứng khoán
1. Nguồn gốc hình thành của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai, xuất phát từ những sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu. Vào giữa thế kỷ 15, ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vật phẩm hàng hoá. Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ 15, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trường”. Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges Bỉ, tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một chữ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Vào năm 1547, thành phố ở Bruges Bỉ mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị cát lấp nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers Bỉ. Ở đây thị trường phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ 16 một quan chức đại thần của Anh Quốc đã đến quan sát và về thiết lập một mậu dịch thị trường tại London- Anh, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu. Sự phát triển của thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thành viên tham gia đông đảo và với nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy theo tính tất yếu, nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trường chứng khoán…Mỗi thị trường lại có các đặc tính riêng, thuận lợi cho việc giao dịch của người tham gia thị trường đó. Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành một cách tự phát cũng tương tự như vậy ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngay cả khi ở ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Ở Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập.
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, các phương thức giao dịch ở các sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến dần theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch. Các sở giao dịch đã dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử thay cho thủ công trước kia. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán thế giới trải qua một lịch sử phát triển thăng trầm. Vào những năm 1875-1913, thị trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Nhưng sau đó, mốc khủng hoảng đầu tiên của thị trường chứng khoán được đánh dấu bằng “ngày thứ năm đen tối ” tức ngày 29/10/1929. Ngày này đã làm cho thị trường chứng khoán Tây, Bắc Âu và Nhật Bản khủng hoảng mất lòng tin. Cho tới chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, các thị trường chứng khoán mới hồi phục dần và phát triển mạnh. Năm 1987, một lần nữa thị trường chứng khoán thế giới lại điên đảo với “ngày thứ hai đen tối” do hệ thống thanh toán kém cỏi đã không đảm đương được yêu cầu của giao dịch. Giá chứng khoán sụt giảm ghê gớm, công chúng đầu tư mất lòng tin và một loạt các phản ứng dây chuyền khác đã chứng minh hậu quả của cuộc khủng hoảng lần này còn nặng nề hơn cuộc khủng hoảng năm 1929. Theo quy luật tự nhiên, sau gần hai năm mất lòng tin, thị trường chứng khoán thế giới lại đi vào giai đoạn ổn định và phát triển cho đến ngày nay. Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá chứng khoán của tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều sụt giảm trầm trọng. Tuy ở mỗi khu vực và mỗi nước mức độ ảnh hưởng là khác nhau, song tất cả các cuộc khủng hoảng đều gây ra sự ngừng trệ cho thị trường chứng khoán toàn cầu và tất nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước. Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 160 sở giao dịch chứng khoán, phân tán khắp các châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước ở khu vực Đông Âu như Balan, Hunggari, Séc, Nga… và các nước Châu Á khác như Trung Quốc vào những năm 1980 – đầu năm 1990.
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới cho thấy thời gian đầu, thị trường hình thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là các nhà đầu cơ, dần dần về sau mới có sự tham gia ngày càng đông đảo của công chúng. Khi thị trường bắt đầu xuất hiện sự trục trặc và bất ổn, chính phủ buộc phải can thiệp bằng cách thành lập các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi của công chúng đầu tư và sau đó dần dần hệ thống pháp lý cũng bắt đầu được ban hành. Kinh nghiệm đối với những thị trường mới hình thành về sau này cho thấy, thị trường sau khi thiết lập chỉ có thể hoạt động có hiệu quả, ổn định và nhanh chóng nếu có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: hàng hoá, luật pháp, con người, bộ máy quản lý và đặc biệt sự giám sát và quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước. Điển hình như một số thị trường chứng khoán có sự trục trặc ngay từ ban đầu như thị trường chứng khoán Thái Lan, Inđônêsia. Các thị trường này hoạt động trì trệ trong một thời gian dài do thiếu hàng hoá và không được quan tâm đúng mức. Thị trường chứng khoán Philippine cũng là một ví dụ tương tự. Thị trường này hoạt động kém hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của sở giao dịch chứng khoán Makita và Manila. Thị trường chứng khoán Balan, Hungari cũng gặp trục trặc do việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặc quá thấp…
Có thể nói, thị trường chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang phát triển đang cần thu hút luồng vốn lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân.
2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
2.1. Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành chính là người cung cấp các chứng khoán và các công cụ thị trường chứng khoán khác ra thị trường. Tổ chức phát hành bao gồm:
Chính phủ và chính quyền địa phương: là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái phiếu công trình, trái phiếu chính quyền địa phương.
Các doanh nghiệp: là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tài chính: là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ.
Để phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành phải thoả mãn những điều kiện và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
2.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư chứng khoán là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư chứng khoán có thể đồng thời mang hành vi của nhà đầu tư thuần tuý (mua và sở hữu chứng khoán với kỳ vọng hưởng lợi ích thuần tuý từ hoạt động của tổ chức phát hành), của người buôn bán chứng khoán và của người đầu cơ. Nhà đầu tư chứng khoán có thể chia thành hai nhóm chủ yếu:
Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thương xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Thông thường đó chính là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức chủ yếu như sau: các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
2.3. Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán…Tuỳ theo điều kiện cụ thể, chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán có thể quy định cụ thể về quy mô vốn điều lệ tối thiểu đối với từng nghiệp vụ.
Uỷ ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) là cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán. Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán bao gồm:
- Có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán (đối với các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang thiết bị).
- Có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Luật chứng khoán (2023) đã có những quy định rất cụ thể và chặt chẽ về hoạt động của các công ty chứng khoán. Trong đó, có một số các quy định rất đáng chú ý như sau:
- Quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán.
- Ưu tiên thực hiện của khách hàng trước lệnh của công ty chứng khoán.
- Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, ngăn chặn những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan… Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
2.4. Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Hầu hết các quốc gia có thị trường chứng khoán đều có cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán. Ở Hoa Kỳ đó là Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán, ở Nhật Bản đó là Uỷ ban Giám sát chứng khoán và giao dịch chứng khoán, ở Anh đó là Uỷ ban Đầu tư Chứng khoán và ở Việt Nam đó là Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
2.5. Các chủ thể khác trên thị trường
Ngoài tổ chức phát hành, công chứng đầu tư, công ty chứng khoán và cơ quan quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán thì thị trường chứng khoán còn chịu sự điều chỉnh của một số chủ thể khác. Các chủ thể đó là: ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tài chính, hiệp hội kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ, và công ty đánh giá sự tín nhiệm.
Đầu tiên là ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại có thể tham gia thị trường chứng khoán với nhiều tư cách khác nhau như là chủ thể cho vay trên thị trường thế chấp, người phát hành trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng giám sát.
Thứ hai là công ty cho thuê tài chính. Công ty cho thuê tài chính là một loại hình công ty tài chính hoạt động chủ yếu là cho thuê tài sản, thiết bị và các động sản khác. Hoạt động của công ty này thực chất cũng là một hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp.
Tiếp theo là hiệp hội kinh doanh chứng khoán. Đây là tổ chức của các nhà kinh doanh chứng khoán, các công ty chứng khoán nhằm bảo vệ lợi ích chung của giới kinh doanh chứng khoán. Hiệp hội kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản.
Ngoài ra còn có tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ và công ty đánh giá hệ số tín nhiệm. Trong đó, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ là pháp nhân thành lập hoạt động theo mô hình công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của pháp luật với chức năng tổ chức và giám sát các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán.
Còn công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể. Mỗi công ty đánh giá hệ số tín nhiệm có hệ thống thang điểm riêng cho đánh giá của mình.
3. Hàng hóa trên thị trường chứng khoán Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
3.1. Cổ phiếu (Stock)
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và ích lợi hợp pháp của cổ đông đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Khi một công ty phát hành cổ phiếu nhằm huy động vốn, thì số vốn cần huy động được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn góp. Cổ đông chính là chủ sở hữu đơn vị phát hành tương ứng với tỷ phần vốn góp tại công ty. Thời gian đáo hạn của cổ phiếu dài bằng thời gian tồn tại của công ty cổ phần. Quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông chính là quyền và lợi ích của người sở hữu vốn. Quyền và lợi ích của cổ đông bao gồm quyền, lợi ích vật chất và quyền và lợi ích phi vật chất. Quyền và lợi ích vật chất bao gồm: quyền nhận cổ tức, hưởng giá trị gia tăng vốn từ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị phát hành, nhận lại phần vốn góp khi công ty chấm dứt hoạt động, quyền chuyển nhượng vốn góp…Quyền và lợi ích phi vật chất bao gồm quyền tham gia quản lý đơn vị phát hành, quyền biểu quyết, quyền mua trước cổ phiếu của đợt phát hành bổ sung cổ phiếu…Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông (còn gọi là cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến được phát hành nhằm xác nhận đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông tại công ty cổ phần, cổ tức của cổ phiêu phổ thông phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị phát hành. Một công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phiếu phổ thông.
Loại cổ phiếu thứ hai là cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu dãi là loại cổ phiếu xác nhận một số quyền và lợi ích của cổ đông ở mức cao hơn so với các cổ đông phổ thông. Tuy nhiên, họ sẽ bị hạn chế ở một số quyền và lợi ích khác. Cổ phiếu ưu đãi bao gồm cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại.
Trong đó, cổ phiếu ưu đãi cổ tức là cổ phiếu được trả cổ tức ở mức cao hơn so với cổ tức của cổ phiếu phổ thông hoặc được trả với mức ổn định hàng năm. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết là cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi chỉ phát hành cho một số đối tượng đặc biệt, người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không được quyền chuyển nhượng cho người khác.
Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là cổ phiếu được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông.
3.2. Trái phiếu (Bond)
Trái phiếu là công cụ nợ do các cơ quan công quyền, các công ty đang hoạt động phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường trong đó các trái chủ được cam kết sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi trong một thời hạn nhất định. Về bản chất phát hành trái phiếu chính là một hình thức vay nợ. Người mua và sở hữu trái phiếu được gọi là trái chủ hay chính là chủ nợ của đơn vị phát hành. Trái chủ được hưởng các quyền và lợi ích của một chủ nợ. Họ sẽ được ưu tiên thanh toán tiền lãi và hoàn trả tiền gốc khi đơn vị phát hành trái phiếu giải thể hoặc phá sản. Thời gian đáo hạn của trái phiếu là hữu hạn. Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các công ty cổ phần, mà còn có thể các loại hình doanh nghiệp khác. Ngoài ra Chính phủ trung ương và các chính quyền địa phương cũng có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn trên thị trường.
Tiền lãi trái phiếu thường là ổn định so với mệnh giá. Trái phiếu được xếp là loại chứng khoán có thu nhập ổn định. Lãi suất của các loại trái phiếu tại các thời điểm khác nhau phụ thuộc vào cung cầu vốn trên thị trường. Ngoài ra, lãi suất trái phiếu cũng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Rủi ro càng lớn thì lãi suất càng cao. Cũng như vậy, thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Trái phiếu bao gồm nhiều loại khác nhau. Tuỳ thuộc vào từng tiêu chí phân chia sẽ có nhiều loại khác nhau: Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Căn cứ vào hình thức thể hiện, trái phiếu được chia thành trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh.
Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của đơn vị phát hành. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ đến ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.
Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
Theo chủ thể phát hành, thì trái phiếu được chia thành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp.
Trái phiếu chính phủ: là công cụ vay nợ dài hạn do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trính công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ. Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Trái phiếu chính phủ bao gồm: trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu đầu tư, công trái…
Trái phiếu doanh nghiệp: là các loại trái phiếu so các doanh nghiệp phát hành để vay vốn dài hạn. Trái phiếu doanh nghiệp có đặc điểm là trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu. Trái phiếu doanh nghiệp bao gồm hai loại là trái phiếu có đảm bảo và trái phiếu không đảm bảo (hay còn gọi là trái phiếu tín chấp).
3.3. Chứng khoán có thể chuyển đổi (Convertable securities)
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó lấy một hoặc một số chứng khoán loại khác.
Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là: cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi và trái phiếu có thể chuyển đổi. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi có thể do nhiều lý do. Đối với đơn vị phát hành, phát hành chứng khoán chuyển đổi có thể do tại thời điểm phát hành chưa thích hợp với việc phát hành cổ phiếu phổ thông, muốn giảm chi phí phát hành hoặc cũng có thể đơn thuần nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu đang xuống giá. Đối với nhà đầu tư, chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn nhất định ở chỗ nó có thể kết hợp được tính an toàn của chứng khoán có thu nhập ổn định với tính có thể đầu cơ của chứng khoán có thu nhập thay đổi. Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát.
Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tuỳ thuộc vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan về giá giữ công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng ta có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của nhà đầu tư. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
3.4. Chứng khoán phái sinh (Derivatives)
Chứng khoán phái sinh là các chứng khoán được phát hành trên cơ sở các chứng khoán đã có nhằm các mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro hoặc tìm kiếm lợi nhuận. Chứng khoán phái sinh bao gồm nhiều loại như: quyền chọn (options), giao dịch tương lai (futures), quyền mua cổ phần (rights), chứng quyền (warrant)…
Quyền chọn (Options) là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước. Quyền chọn bao gồm quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option).
Quyền chọn mua được thực hiện trong trường hợp dự đoán giá chứng khoán có xu hướng tăng. Quyền chọn bán được thực hiện trong trường hợp dự đoán giá chứng khoán có xu hướng giảm. Chứng khoán là đối tượng của giao dịch được gọi là chứng khoán cơ sở (underlying securities). Đối với quyền chọn mua nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền.. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn (at the money), và nếu cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money). Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hóa cơ sở.
Cũng như các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn có thể sử dụng để tìm kiếm lợi nhuận. Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất.
Hợp đồng tương lai (futures) là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai. Hợp đồng tương lai hay còn gọi là hợp đồng giao sau rất giống với hợp đồng kỳ hạn (forward). Tuy nhiên, hợp đồng tương lai đã được chuẩn hoá nên đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Quyền mua cổ phần (right) hay còn gọi là đặc quyền ngắn hạn mua cổ phần hoặc quyền mua trước là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành bổ sung cổ phiếu mới nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã xác định. Quyền mua cổ phần là một quyền chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu phổ thông. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định.
Chứng quyền (warrant) là loại chứng khoán được phát hành cùng với viêc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán đó được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong một thời hạn nhất định. Chứng quyền được phát hành khi tổ chức lại các công ty hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường. Chứng quyền còn được gọi là đặc quyền dài hạn mua cổ phần.
4. Cấu trúc và phân loại cơ bản thị trường chứng khoán
4.1. Căn cứ vào tính chất luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán có thể được chia thành thị trường sơ cấp (primary market) và thị trường thứ cấp (secondary market).
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các công cụ tài chính dài hạn mới phát hành (phát hành lần đầu). Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các công cụ tài chính dài hạn phát hành. Thị trường này chính là thị trường phát hành. Thông qua thị trường sơ cấp, quy mô vốn của các đơn vị phát hành và của nền kinh tế sẽ gia tăng. Thị trường sơ cấp là một trong những kênh huy động vốn tài trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp cũng như cho toàn nền kinh tế.
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các công cụ tài chính dài hạn đã phát hành trên thị trường sơ cấp. Nói một cách dễ hiểu thì thị trường thứ cấp chính là nơi mua đi bán lại các chứng khoán đã phát hành. Thị trường này ra đời nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho các công cụ tài chính dài hạn đã phát hành. Đặc điểm của thị trường này là một thị trường hoạt động một cách liên tục và cạnh tranh tự do. Điểm khác biệt lớn nhất giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp đó là thị trường thứ cấp không trực tiếp làm gia tăng quy mô vốn của đơn vị phát hành và của nền kinh tế. Xét về bản chất thì thị trường thứ cấp chỉ dịch chuyển quyền sở hữu vốn giữa các chủ thể tham gia thị trường mà thôi. Mặc dù không trực tiếp thực hiện chức năng huy động vốn nhưng gián tiếp thì thị trường thứ cấp có ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của thị trường sơ cấp. Mối quan hệ giữa hai thị trường này là mối quan hệ tương hỗ, quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau. Hoạt động của thị trường thứ cấp mà tích cực, sôi động thì khả năng huy động vốn trên thị trường sơ cấp sẽ khả quan. Hoạt động của thị trường thứ cấp mà ảm đạm, tiêu điều thì khả năng huy động vốn mới của doanh nghiệp cũng sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ không có công cụ tài chính dài hạn giao dịch trên thị trường thứ cấp. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
4.2. Căn cứ vào tính chất tổ chức hoạt động
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường giao dịch tập trung và thị trương giao dịch phi tập trung (thị trường OTC).
Thị trường giao dịch tập trung là thị trường giao dịch của các chứng khoán đã thoả mãn những tiêu chuẩn xác định và được diễn ra tại một địa điểm cụ thể với nguyên tắc và phương pháp giao dịch nhất định. Biểu hiện cụ thể của thị trường giao dịch tập trung là các Sở giao dịch.
Thị trường phi tập trung là thị trường giao dịch của các công cụ tài chính dài hạn chưa đủ điều kiện giao dịch trên thị trường tập trung thông qua hệ thống điện thoại hoặc máy tính đã nối mạng giữa các thành viên.
4.3. Căn cứ vào đối tượng giao dịch trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh, thị trường tín dụng thuê mua, thị trường cầm cố bất động sản.
Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đầu tư và trái phiếu chính phủ.
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn…
Thị trường tín dụng thuê mua là thị trường cho thuê tài sản với thời gian dài, không thể huỷ ngang và cho phép người thuê có quyền lựa chọn mua hoặc tiếp tục gia hạn thuê tài sản khi hợp đồng thuê mua đáo hạn.
4.4. Căn cứ vào phương thức giao dịch
Căn cứ vào phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán có thể chia thành thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn.
Thị trường chứng khoán giao ngay (spot market): là thị trường mua bán chứng khoán theo giá cả của ngày giao dịch. Tuy vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể thì việc thanh toán và giao chứng khoán có thể được thực hiện tiếp theo sau đó vài ngày.
Thị trường chứng khoán kỳ hạn (future market): là thị trường mua bán chứng khoán theo các hợp đồng định sẵn trong tương lai. Giá cả tương lai được thoả thuận ngay trong ngày giao dịch. Việc thanh toán và giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai.
II. Khái quát chung về công ty chứng khoán Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
1. Định nghĩa và các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Trong đó, môi giới chứng khoán là việc một công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện việc mua bán chứng khoán cho khách hàng.
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc công ty chứng khoán tổ chức bảo lãnh phát hành giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước, trong và sau khi chào bán chứng khoán ra công chúng.
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến sở hữu chứng khoán.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán có thể quy định cụ thể về quy mô vốn điều lệ tối thiểu đối với từng nghiệp vụ. Cụ thể như sau:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty chứng khoán chỉ được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Nói một cách khác, công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà nước cấp.
Công ty chứng khoán có các chức năng của người môi giới, người chuyên viên và người bảo lãnh chứng khoán. Để trở thành thành viên của Sở giao dịch, công ty chứng khoán cũng phải hội đủ những điều kiện do luật định và phải đăng ký kinh doanh chứng khoán trong Sở giao dịch chứng khoán.
2. Mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán trên thị trường Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Trên thế giới hiện nay có 2 loại mô hình hoạt động của công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh chứng khoán và công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán.
2.1. Công ty chuyên doanh chứng khoán
Đây là mô hình công ty chứng khoán phổ biến nhất cả ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
- Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn. Mô hình này đặc biệt được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
2.2. Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán là cao. Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán, khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng.
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, theo mô hình này, nếu có biến động trên thị trường sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày nay.
Tại Việt Nam, mô hình này tuy mới ra đời vài năm gần đây nhưng đang được triển khai ngày càng nhiều. Hầu hết các ngân hàng thương mại và cả quốc doanh ở Việt Nam hiện nay đều thành lập công ty chứng khoán riêng, hoạt động một cách độc lập với ngân hàng như công ty TNHH Chứng khoán HBBS trực thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội, công ty cổ phần chứng khoán Vietinbanksc trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam, công ty TNHH Chứng khoán VPBS trực thuộc Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Tuy nhiên, do quy mô các ngân hàng thương mại hiện nay còn chưa thực sự đủ lớn mạnh, và đặc biệt vốn dài hạn là thấp do hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn hạn, trong khi hoạt động của thị trường chứng khoán thuộc lĩnh vực vốn dài hạn nên mô hình công ty chứng khoán này còn bộc lộ nhiều hạn chế. Quá trình khắc phục những điểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài. Do đó, để bảo vệ an toàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập một công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng.
3. Cơ cấu tổ chức của các công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ mà công ty đó thực hiện và quy mô hoạt động kinh doanh của nó. Tuy nhiên, phải đảm bảo tách biệt giữa hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới và quản lý danh mục đầu tư. Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán bao gồm hệ thống các phòng ban chức năng được chia làm 2 khối tương ứng với 2 khối công việc như sau:
Khối 1 (Front office): Do ít nhất một phó giám đốc trực tiếp phụ trách, thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh chứng khoán như: tự doanh, môi giới, bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư. Đây là khối mang lại thu nhập chính cho công ty chứng khoán. Nhìn chung, khối này có quan hệ trực tiếp với khách hàng bởi vì ngoài nghiệp vụ tự doanh, khối này mang lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu đó.
Khối 2 (Back office): Thường cũng do một phó giám đốc phụ trách, thực hiện các công việc yểm trợ cho khối 1 như hành chính, tổ chức, kế toán…
- Biểu 1. Cơ cấu hoạt động kinh doanh công ty chứng khoán
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
4.1. Nhóm nhân tố khách quan
4.1.1. Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán luôn diễn ra trọng một bối cảnh kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế, mức độ ổn định của đồng tiền, của tỷ giá hối đoái, lãi suất vay vốn, tỷ lệ tiết kiệm của đầu tư, chỉ số giá chứng khoán trên thị trường… Mỗi sự thay đổi của các yếu tố trên đều tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán. Nếu kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư được mở rộng, đồng tiền ổn định, lãi suất và tỷ giá hối đoái có tính kích thích đầu tư, mở rộng thị trường chứng khoán sẽ trở thành cơ hội tốt cho công ty chứng khoán phát triển hoạt động qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngược lại, sự suy thoái kinh tế, giá chứng khoán sụt giảm, lạm phát phi mã… thì mọi sự hoạt động của công ty cũng sẽ bị đảo lộn hoàn toàn.
4.1.2. Môi trường chính trị pháp luật
Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố về chính trị, pháp luật, do đó, các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các diễn biến trên thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng. Hoạt động kinh doanh chứng khoán chỉ có thể phát triển trong một môi trường chính trị ổn định và pháp luật minh bạch. Trong nhân tố này thì vai trò điều tiết và kiểm soát của chính phủ có ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường chứng khoán. Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong hệ thống pháp luật có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán.
Các nhân tố về luật pháp, thể chế cùng với cơ chế chính sách về hoạt động kinh doanh chứng khoán trong từng thời kỳ là nhân tố cơ bản cho việc phát triển thị trường chứng khoán theo mục tiêu và định hướng của Nhà nước.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu ảnh hưởng rất nhiều của nhân tố chính trị. Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ và tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm thể chế chính trị, vấn đề an ninh, trật tự an toàn xã hội, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của chính phủ với các quốc gia khác trong tiến trình toàn cầu hoá, trong xu thế chính trị mới… khi các nhân tố này không được bảo đảm sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển của thị trường chứng khoán và làm ảnh hưởng đến nhu cầu chứng khoán trên thị trường. Vì vậy, nhà quản lý công ty chứng khoán phải biết phân tích và dự đoán xu hướng phát triển của các yếu tố đó để tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty cho phù hợp.
4.1.3. Môi trường công nghệ Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các công ty chứng khoán nâng cao hiệu quả trong quản lý kinh doanh. Nhờ khoa học công nghệ thông tin các công ty chứng khoán có thể tiết kiệm được chi phí quản lý, chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán từ đó giảm phí cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán. Tuy nhiên, nhân tố này cũng đòi hỏi các công ty chứng khoán phải chủ động nắm bắt được xu thế mới trong hoạt động kinh doanh chứng khoán do những thay đổi của khoa học công nghệ mang lại như: chủ động trong việc tiếp nhận khoa học công nghệ mới vào mở rộng các hình thức nhận lệnh từ xa, có kế hoạch phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh, các dịch vụ mới…
4.1.4. Môi trường đặc thù
Khác với các loại môi trường có tính chất tổng quát đã trình bày trên, môi trường đặc thù thường bao gồm các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán một cách trực tiếp và rõ rệt hơn. Hơn nữa đối với các yếu tố này, công ty chứng khoán có thể tác động hoặc kiểm soát chúng ở một mức độ nhất định. Thuộc về một trường đặc thù có các yếu tố như khách hàng, các hãng cạnh tranh và sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với công ty chứng khoán.
Hiện nay, kinh doanh phải thoả mãn nhu cầu phong phú, đa dạng của khách hàng. Khách hàng là yếu tố quyết định đến đầu ra đối với sản phẩm, dịch vụ của công ty chứng khoán. Khách hàng của công ty chứng khoán có thể là các nhà phát hành, các nhà đầu tư, họ có thể là khách hàng hiện tại nhưng cũng có thể là khách hàng tiềm năng trong tương lai. Thông thường khách hàng sẽ chi phối hoạt động của công ty, nhưng cũng có trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ của công ty. Khách hàng là một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán. Do vậy, công ty chứng khoán cần phải xây dựng chính sách khách hàng toàn diện, vừa giữ vững nền tảng khách hàng truyền thống, vừa khai thác được khách hàng tiềm năng. Đối với mỗi một đối tượng khách hàng, công ty cần có chính sách cụ thể để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường.
Sự cạnh tranh giữa các công ty cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán. Để có được các lợi thế trong cạnh tranh về giá cả chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp… đòi hỏi công ty chứng khoán phải quan tâm đầu cho việc nghiên cứu thị trường, đổi mới thiết bị, nâng cao trình độ của nhân viên nghiệp vụ, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ cũ, phát triển các dịch vụ mới… Nhờ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh doanh và lợi nhuận của công ty.
Trong cơ chế thị trường, các công ty nói chung được quyền chủ động trong kinh doanh. Tuy nhiên, sự hoạt động của công ty chứng khoán luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, như Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, cơ quan thuế, cơ quan thanh tra… các cơ quan này cũng chi phối mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán. Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, sự quản lý Nhà nước đối với công ty chứng khoán chỉ mang tính chất định hướng và tác động gián tiếp theo nguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh công ty. Các công ty được tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính, đồng thời cũng tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh của mình.
4.2. Nhóm nhân tố chủ quan
4.2.1. Tiềm lực tài chính Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh đều phải đi mua hoặc phải đầu tư ứng trước. Do vậy, để tiến hành hoạt động kinh doanh công ty chứng khoán phải có vốn, vốn phải tích tụ và đạt được quy mô nhất định để thuê được đội ngũ nhân viên có chất lượng cao, để đầu tư máy móc, thiết bị thông tin hiện đại, để thực hiện các biện pháp hỗ trợ như khuyến mại, quảng cáo… Do đó vốn là tiền đề để nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty chứng khoán. Vốn của công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ, mà loại tài sản này lại được quyết định bởi loại hình nghiệp vụ mà công ty thực hiên. Vì vậy, đòi hỏi công ty chứng khoán phải có tiềm lực về tài chính. Tiềm lực tài chính của công ty không chỉ là số vốn hiện có mà còn thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính trong và ngoài công ty để phục vụ cho chiến lược phát triển của công ty. Tiềm lực tài chính đủ mạnh cho phép công ty mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hoá hoạt động, tối thiểu hoá chi phí để tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của công ty.
4.2.2. Uy tín hoạt động
Uy tín hoạt động của một công ty chứng khoán trên thị trường được thể hiện ở sự ổn định khách hàng, ở sự gia tăng nhanh chóng thị phần và doanh thu từ các hoạt động.
Uy tín hoạt động là sự đánh giá của khách hàng về sản phầm, dịch vụ của công ty, nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau từ bên trong công ty như: năng lực và uy tín của ban lãnh đạo, kinh nghiệm hoạt động, khả năng tài chính, chất lượng sản phẩm dịch vụ, trình độ chuyên môn của các cán bộ nhân viên trong công ty… Uy tín của một công ty chứng khoán là một tài sản vô hình mang lại lợi thế hoạt động kinh doanh cho công ty chứng khoán. Cùng một sản phẩm dịch vụ trên thị trường, công ty chứng khoán nào có uy tín hơn sẽ có nhiều cơ hội mở rộng hoạt động và phát triển dịch vụ, chiếm lĩnh được thị trường hơn công ty chứng khoán khác.
4.2.3. Năng lực quản trị kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Trong điều kiện ngày nay, dưới sức ép và tác động từ nhiều phía của môi trường kinh doanh, những yêu cầu sản phẩm dịch vụ cung cấp ngày càng đòi hỏi phải đáp ứng được các tiêu chuẩn hết sức khắt khe. Được sự trợ giúp của tiến bộ kỹ thuật công nghệ, khoa học về quản lý kinh doanh nói chung, quản trị công ty nói riêng đã phát triển những bước tiến nhảy vọt. Trong điều kiện đó, một công ty chứng khoán muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy quản lý kinh doanh đủ mạnh giúp cho nó có khả năng sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực trong quá trình kinh doanh. Chính vì lẽ đó, năng lực quản trị kinh doanh luôn được coi như một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động tới hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán.
4.2.4. Chất lượng nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng chất xám và tính sáng tạo trong sản phẩm tạo nên giá trị khác biệt của sản phẩm, do đó nhân tố quyết định đến tăng giá trị sản phẩm dịch vụ là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả trình độ của ban lãnh đạo công ty, đội ngũ nhân viên trong công ty và tinh thần, thái độ làm việc của họ.
Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối rất lớn của nhân tố con người.mTrong công ty chứng khoán, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng số một. Sản phẩm càng trìu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Những người quản lý hay nhân viên của công ty chứng khoán phải có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như độ tín nhiệm.
Khả năng quản lý và điều hành của ban lãnh đạo công ty quyết định đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực của công ty, quyết định đến năng suất, chất lượng dịch vụ, từ đó quyết định tới khả năng cạnh tranh của công ty. Trình độ quản lý giỏi của doanh nhân được coi như một tài sản lớn đảm bảo cho sự phát triển bền vững của công ty.
Đội ngũ nhân viên của công ty có kỹ năng và lành nghề mới tạo ra được sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, hàm lượng chất xám cao, gia tăng lợi nhuận cho công ty cũng như thu nhập cho nhân viên. Mặt khác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sự lành nghề của đội ngũ nhân viên trong công ty không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho thị trường, mà còn có thể làm giảm chi phí kinh doanh, giảm chi phí đào tạo, bồi dưỡng từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho công ty.
Ngoài nhân tố chủ quan, khách quan nêu trên, thì hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán còn phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, tốc độ phát triển của các ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế, nhận thức của công chúng về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Sự nhận biết đầy đủ các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của các nhân tố đó được coi như một điều kiện tiên quyết để tổ chức tốt và nâng cao hiệu quả các hoạt động của công ty chứng khoán.
III. Vai trò của các công ty chứng khoán đối với thị trường chứng khoán Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
1. Vai trò làm cầu nối giữa cung – cầu chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết vào quá trình luân chuyển của chứng khoán: từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến khâu giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp.
Trên thị trường sơ cấp, công ty chứng khoán là cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp các tổ chức phát hành huy động vốn một cách nhanh chóng thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Một doanh nghiệp khi thực hiện huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, thường họ không tự bán chứng khoán của mình mà thông qua một tổ chức chuyên nghiệp tư vấn và giúp họ phát hành chứng khoán. Đó là các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán…
Công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành. Với nghiệp vụ này, công ty chứng khoán thực hiện vai trò làm cầu nối và là kênh dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Trên thị trường thứ cấp, công ty chứng khoán là cầu nối giữa các nhà đầu tư, là trung gian chuyển các khoản đầu tư thành tiền và ngược lại. Trong môi trường đầu tư ổn định, các nhà đầu tư luôn chuộng những chứng khoán có tính thanh khoản cao, vì họ luôn có nhu cầu chuyển đổi số vốn tạm thời nhàn rỗi thành các khoản đầu tư và ngược lại. Công ty chứng khoán với nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư đảm nhận tốt vai trò chuyển đổi này, giúp cho các nhà đầu tư giảm thiều thiệt hại về giá trị khoản đầu tư của mình.
2. Vai trò góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Từ sau cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán thế giới ngày 28/10/1929, chính phủ các nước đã ban hành những luật lệ bổ sung cho hoạt động của thị trường chứng khoán, trong đó đòi hỏi một sự phối hợp giữa Nhà nước với các thành viên tham gia Sở giao dịch chứng khoán nhằm ngăn chặn những cơn khủng hoảng giá chứng khoán có thể xảy ra trên thị trường, vì nếu thị trường chứng khoán bị khủng hoảng thì không những nền kinh tế bị ảnh hưởng mà ngay cả quyền lợi nhà đầu tư, hoạt động của các công ty chứng khoán bị ảnh hưởng.
Theo quy định của các nước, các công ty chứng khoán có nghiệp vụ tự doanh phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá giảm và bán chứng khoán dự trữ ra khi giá lên quá cao nhằm góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có quy định này.
Dĩ nhiên, sự can thiệp của các công ty chứng khoán chỉ có hạn, phụ thuộc vào nguồn vốn tự doanh và quỹ dự trữ chứng khoán. Tuy vậy, nó vẫn có ý nghĩa nhất định, có tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường. Với vai trò này, các công ty chứng khoán góp phần tích cực vào sự tồn tại và phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.
3. Vai trò cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán với các chức năng và nghiệp vụ của mình cung cấp các dịch vụ cần thiết góp phần cho thị trường chứng khoán hoạt động ổn định. Với chức năng thực hiện tư vấn đầu tư, các công ty chứng khoán đã góp phần giảm chi phí giao dịch cho nhà đầu tư: thị trường chứng khoán cũng tương tự như tất cả các thị trường khác, để tiến hành giao dịch, người mua, người bán phải có cơ hội gặp nhau, thẩm định chất lượng hàng hóa và thỏa thuận giá cả. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán với những đặc trưng riêng của nó như người mua người bán có thể ở rất xa nhau, hàng hóa là vô hình, vì vậy để cung cầu gặp nhau, thẩm định chất lượng, xác định giá cả thì phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho một giao dịch để phục vụ cho việc thu thập, phân tích, xử lý thông tin… Công ty chứng khoán với lợi thế chuyên môn hóa, trình độ kinh nghiệm nghề nghiệp sẽ thực hiện tốt vai trò trung gian mua bán chứng khoán, giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí trong từng giao dịch.
Công ty chứng khoán còn cung cấp cơ chế xác định giá cho các khoản đầu tư: thông qua Sở giao dịch và thị trường giao dịch phi tập trung công ty chứng khoán cung cấp một cơ chế xác định giá nhằm giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác các khoản đầu tư của mình.
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, các công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho các tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý.
Trên thị trường thứ cấp, tất cả các lệnh mua bán thông qua các công ty chứng khoán được tập trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sở đó, giá chứng khoán được xác định theo quy luật cung cầu.
Ngoài ra, công ty chứng khoán còn cung cấp nhiều dịch vụ khác hỗ trợ giao dịch chứng khoán. Với các nghiệp vụ đa dạng của mình, công ty chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển của thị trường chứng khoán, là chất xúc tác, không thể thiếu cho hoạt động của thị trường chứng khoán. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán […]