Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại. Thực tiễn áp dụng và những vấn đề đặt ra dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
Lời mở đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động thương mại ở nước ta ngày càng phát triển phong phú và đa dạng. Các giao dịch thương mại do đó cũng được mở rộng, trở nên phức tạp; một giao dịch thương mại có thể liên quan đến rất nhiều lĩnh vực. Khi đó, người mua, người bán muốn tiết kiệm thời gian và công sức tìm kiếm đối tác giao dịch thường nhờ đến người môi giới thương mại. Chính vì vậy, người môi giới thương mại có vai trò thúc đẩy hoạt động thương mại diễn ra nhanh chóng.
Nhận thức được vai trò của người môi giới đối với sự phát triển của thương mại, Luật thương mại năm 2005 đã đưa hoạt động môi giới vào đối tượng điều chỉnh của Luật. Các luật chuyên ngành khác như Luật chứng khoán năm 2006, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật hàng hải năm 2005… cũng quy định về hoạt động môi giới trong các lĩnh vực cụ thể.
Tuy nhiên, các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại hiện nay vẫn chưa có sự hiểu biết đầy đủ về những quy định của pháp luật đối với hoạt động môi giới thương mại. Thêm vào đó, từ khi Luật thương mại 2005 ra đời đến nay, hoạt động môi giới thương mại đã phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp, phát sinh nhiều vấn đề mới cần có sự xem xét để điều chỉnh. Vậy Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định như thế nào về môi giới thương mại? Thực tiễn áp dụng Luật này trong bốn năm qua đã nảy sinh những vấn đề gì? Những vấn đề gì cần được sửa đổi, bổ sung để các quy định về môi giới thương mại sát với thực tiễn hơn, giúp hoạt động này ngày càng phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước?
Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu đó, tôi chọn vấn đề “Những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại. Thực tiễn áp dụng và những vấn đề đặt ra.” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại, đồng thời phân tích việc áp dụng Luật trong thực tế và chỉ ra những bất cập trong các quy định đó cũng như những vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng; đề tài đề xuất giải pháp và kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung để các quy định về môi giới thương mại của Luật này hoàn thiện hơn, mang tính khả thi cao hơn, phù hợp với thực trạng hoạt động thương mại hiện nay ở Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Để đạt được mục đích đã nêu trên, khóa luận này thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về môi giới thương mại như khái niệm, đặc điểm, vai trò… của môi giới thương mại trong hoạt động thương mại;
- Phân tích những quy định của Luật thương mại năm 2005 về môi giới thương mại, tập trung chỉ ra những bất cập trong các quy định này của Luật;
- Chỉ ra thực trạng áp dụng những quy định về môi giới thương mại của Luật thương mại 2005 trong hoạt động môi giới chứng khoán và môi giới bất động sản;
- Làm rõ những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi những quy định về môi giới thương mại của Luật thương mại năm 2005;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định về môi giới thương mại trong Luật thương mại năm 2005 và giải pháp gỡ bỏ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của Luật thương mại Việt Nam 2005 về môi giới thương mại và những văn bản dưới luật có liên quan. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này cũng bao gồm các vấn đề về môi giới thương mại trong Luật thương mại năm 1997, Luật chứng khoán năm 2006 và Luật kinh doanh bất động sản năm 2006.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung, khóa luận nghiên cứu những quy định của Luật thương mại năm 2005 về môi giới thương mại. Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu những quy định có liên quan đến môi giới thương mại của Luật thương mại 1997.
Về mặt thời gian, khóa luận tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến hoạt động môi giới thương mại kể từ khi Luật thương mại năm 2005 ra đời và dự báo về sự phát triển của hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp so sánh luật học.
5. Kết cấu của đề tài Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung khóa luận bao gồm ba chương:
- Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động môi giới thương mại và pháp luật về môi giới thương mại.
- Chương 2. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về môi giới thương mại, tình hình thực thi các quy định về hoạt động môi giới thương mại và những vấn đề đặt ra.
- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về hoạt động môi giới thương mại nhằm phát triển hoạt động môi giới thương mại trong thời gian tới.
Chương 1. Những vấn đề chung về hoạt động môi giới thương mại và pháp luật về hoạt động môi giới thương mại
1.1 Hoạt động môi giới thương mại
1.1.1 Khái niệm về hoạt động môi giới thương mại
“Môi giới” là “chủ thể (một cá nhân, một nhóm, một tổ chức, một hãng…) làm trung gian cho hai hoặc nhiều chủ thể khác để những chủ thể này có thể tạo được quan hệ trong giao tiếp, trong hoạt động kinh doanh”. Cũng có thể hiểu, “môi giới là người làm trung gian giúp hai bên tiếp xúc, trao đổi việc gì đó”.
Như vậy, có thể hiểu hoạt động môi giới là hoạt động kết nối người mua và người bán, giúp người mua và người bán gặp nhau để họ tiến hành các giao dịch nhằm thực hiện mục đích của mình.
Từ đó suy ra, môi giới thương mại (MGTM) là hoạt động trung gian giúp các bên tiếp xúc với nhau nhằm thực hiện các hoạt động thương mại.
Theo Điều 45, Luật thương mại Việt Nam năm 1997, hoạt động môi giới thương mại là một trong mười bốn hành vi thương mại (xem phụ lục 1). Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan (khoản 1, Điều 5, Luật thương mại Việt Nam năm 1997). Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội (khoản 2, Điều 5, Luật thương mại Việt Nam năm 1997).
Theo Điều 93 Luật thương mại Việt Nam năm 1997, người môi giới thương mại là thương nhân làm trung gian cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Có thể thấy, Luật thương mại Việt Nam năm 1997 hiểu hoạt động thương mại theo nghĩa rất hẹp. Do đó, phạm vi hoạt động của người môi giới thương mại cũng chỉ thuộc lĩnh vực mua bán hàng hóa và cung ứng các dịch vụ liên quan đến việc mua bán hàng hóa. Trong thời gian Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, nhiều hoạt động môi giới nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật nhưng lại được quy định trong các văn bản luật khác như: Bộ luật hàng hải năm 1990 quy định về hoạt động môi giới hàng hải, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định về hoạt động môi giới bảo hiểm…
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có cách hiểu tương tự Luật thương mại năm 1997 về khái niệm người môi giới thương mại. Điều 150 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ rằng, “môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.
Điểm khác biệt là ở chỗ, trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng hơn rất nhiều so với Luật thương mại năm 1997. Theo khoản 1, Điều 3, Luật thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Có thể thấy, theo Luật này, khái niệm “hoạt động thương mại” được hiểu rất rộng.
Sự mở rộng của khái niệm “hoạt động thương mại” nói trên phù hợp với xu hướng phát triển của thương mại và cách hiểu của các nước trên thế giới về thuật ngữ này. Sự mở rộng như thế cũng tạo cơ sở pháp lý cho các nhà môi giới khi họ thực hiện những hoạt động môi giới thương mại.
Từ những phân tích ở trên, có thể kết luận, hoạt động môi giới thương mại là hoạt động thương mại, trong đó một người đóng vai trò là trung gian giúp người mua và người bán hoặc các chủ thể khác gặp nhau để họ tiến hành đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại.
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại
Từ cách hiểu về hoạt động môi giới thương mại như trên, có thể rút ra các đặc điểm sau đây của hoạt động môi giới thương mại:
Thứ nhất, hoạt động môi giới thương mại là hoạt động được thực hiện trong lĩnh vực thương mại.
Đặc điểm này giúp phân biệt hoạt động môi giới trong những lĩnh vực không nhằm mục đích sinh lợi với hoạt động môi giới thương mại nhằm mục đích sinh lợi. Khái niệm “thương mại” đã được pháp luật của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Những điều ước quốc tế song phương và đa phương (ví dụ: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới) đều xác định hoạt động thương mại không chỉ bao gồm hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ mà còn bao gồm cả những hoạt động liên quan đến đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Chính sự phong phú của các hoạt động thương mại đã dẫn đến tính đa dạng, phức tạp của hoạt động trung gian thương mại.
Thứ hai, hoạt động môi giới thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian. Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại thông thường có hai bên tham gia. Hoạt động môi giới thương mại có ba bên tham gia: bên thuê dịch vụ môi giới thương mại, bên môi giới thương mại và bên thứ ba. Bên môi giới có thể hỗ trợ cho bên thuê dịch vụ môi giới trong việc gặp gỡ, giao dịch với bên thứ ba. Mục đích của bên môi giới thương mại là nhận được thù lao mà bên thuê dịch vụ môi giới sẽ trả cho họ.
Thứ ba, trong hoạt động môi giới thương mại, song song tồn tại hai mối quan hệ phát sinh trên cơ sở của hai hợp đồng.
Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi giới thương mại, quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng môi giới được ký giữa người thuê môi giới và người môi giới. Quan hệ thứ hai phát sinh giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba, quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng do hai bên ký kết với nhau (có thể là hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ). Thông thường, người môi giới đóng vai trò là người giới thiệu bên thuê dịch vụ môi giới với bên thứ ba và không tiến hành giao dịch với bên thứ ba.
Thứ tư, bên môi giới thương mại phải có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba.
Trong hoạt động môi giới thương mại, bên môi giới thương mại đóng vai trò là một thương nhân độc lập với bên thuê dịch vụ môi giới và bên thứ ba. Bên môi giới cung ứng dịch vụ cho bên thuê dịch vụ môi giới để nhận tiền thù lao. Bên môi giới không phải là nhân viên làm công ăn lương của bên thuê dịch vụ môi giới. Bên môi giới có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Thứ năm, quan hệ giữa bên môi giới và bên thuê dịch vụ môi giới là quan hệ hợp đồng từng lần, ngắn hạn.
Người môi giới là cầu nối giữa các bên mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ. Mỗi một người môi giới chủ yếu hoạt động trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định và bên thuê dịch vụ môi giới cũng không cố định. Hơn nữa, cũng chỉ trong những trường hợp cụ thể, khi các bên không đủ thời gian hoặc kinh nghiệm…, họ mới nhờ đến vai trò của người môi giới. Ví dụ, khi muốn thuê tàu để chở hàng hóa xuất khẩu, người bán hàng cần nhờ đến người môi giới để tìm kiếm người chuyên chở; trong trường hợp khác, khi người bán hàng không có nhu cầu xuất khẩu hàng hóa mà chỉ tiêu thụ trong nội địa, người đó sẽ không cần đến dịch vụ môi giới thuê tàu. Tính chất của công việc môi giới (như đã phân tích ở trên) dẫn đến mối quan hệ dựa trên hợp đồng từng lần, ngắn hạn giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi giới.
Thứ sáu, người môi giới không đại diện cho quyền lợi của một bên nào.
Theo Điều 150, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, người môi giới thương mại là “thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa”. Như vậy, người môi giới là một trung gian đơn thuần, đứng giữa người mua và người bán, không đại diện cho quyền lợi của bên nào. Nghĩa vụ và trách nhiệm của người môi giới được quy định trong hợp đồng đã ký kết giữa bên thuê dịch vụ môi giới và bên môi giới.
Thứ bảy, người môi giới không đươc tham gia vào việc thực hiện hợp đồng giữa các bên trừ khi được bên thuê dịch vụ môi giới ủy quyền.
Theo khoản 4, Điều 151, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, bên môi giới thương mại “không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới”. Trong thực tế, do hoạt động thương mại ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng, người được môi giới muốn tiết kiệm thời gian và công sức thường ủy quyền cho người môi giới thực hiện một số công việc khác ngoài việc kết nối người mua và người bán. Ví dụ: người môi giới trong lĩnh vực hàng hải có thể tham gia vào việc giao nhận hàng, làm thủ tục hải quan; người môi giới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa có thể thay mặt chủ hàng thu tiền hàng…
1.1.3 Phân biệt hoạt động môi giới thương mại và một số hoạt động trung gian thương mại khác Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Người trung gian thương mại và các hoạt động của họ là đối tượng quan tâm của pháp luật các nước trên thế giới. Điểm chung nhận thấy trong các văn bản pháp luật nước ngoài là khó có thể tìm thấy một định nghĩa chính thức về hoạt động trung gian thương mại, nhưng thay vào đó có thể tìm thấy khá nhiều quy định về từng loại người trung gian tham gia giúp đỡ để các bên xác lập, thực hiện các giao dịch thương mại. Ví dụ, Điều 1.201 Luật thương mại Hoa Kỳ định nghĩa: “Đại diện là người đại lý, nhân viên công ty hoặc hiệp hội, người được ủy thác trông nom, người thực hiện, người quản lý tài sản, và bất kỳ người nào được trao quyền hành động hộ người khác”; Điều 2.210 của Luật trên có viết: “Một bên có thể thực hiện hay với bổn phận của mình thông qua một sự ủy thác, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc bên khác có những quyền ưu tiên trong việc giữ nguyên bản việc thực thi bổn phận, thực hiện các hành vi trong hợp đồng”.
Quan niệm của các nước về hoạt động trung gian thương mại và các loại hình của hoạt động này có thể mang những khía cạnh khác nhau, nhưng cơ bản vẫn mang những điểm giống nhau. Có thể hiểu về người trung gian thương mại như sau: “Trung gian thương mại là thương nhân thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân khác được xác định theo sự ủy thác”.
Luật thương mại Việt Nam năm 1997 không có điều nào quy định khái niệm về hoạt động trung gian thương mại, chỉ có các quy định về những loại hình của hoạt động này. Ví dụ: Quy định về Đại diện cho thương nhân (Điều 83), Môi giới thương mại (Điều 93), Ủy thác mua bán hàng hóa (Điều 99), Đại lý mua bán hàng hóa (Điều 111).
Khoản 11, Điều 3, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại”. Như vậy, theo Luật thương mại Việt Nam 2005, có bốn loại hình trung gian thương mại, đó là: Đại diện cho thương nhân, Môi giới thương mại, Ủy thác mua bán hàng hóa, Đại lý thương mại. Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Dưới góc độ kinh tế, bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý đều là người đảm nhiệm khâu phân phối hàng hóa từ người cung cấp đến người tiêu dùng; và các hoạt động trung gian thương mại nói trên đều là những phương thức phát triển kinh doanh.
Dưới góc độ pháp lý, bốn loại hình trung gian thương mại được đề cập đến trong Luật thương mại năm 2005 có những điểm khác nhau. Cụ thể:
Hoạt động môi giới thương mại và hoạt động Đại diện cho thương nhân (xem Bảng 1)
Theo Điều 141, Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”. Hình thức này thường xuất hiện khi quy mô hoạt động kinh doanh chưa lớn, việc đặt văn phòng đại diện là không có lợi, hoặc bên giao đại diện gặp nhiều khó khăn về mặt nhân sự.
Bảng 1: So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động Đại diện cho thương nhân
Theo Điều 155, Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác”.
Hoạt động môi giới thương mại và hoạt động Đại lý thương mại (xem Bảng 3)
Điều 166, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy, hoạt động đại lý thương mại không chỉ liên quan đến việc mua bán hàng hóa đơn thuần mà còn bao gồm cả việc cung ứng các dịch vụ kèm theo (ví dụ: dịch vụ trong lĩnh vực vận tải, bảo hiểm, giao nhận hàng hóa, hải quan, giám định…).
1.1.4 Vai trò của hoạt động môi giới thương mại Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, nhu cầu mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng tăng, yêu cầu về chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng khắt khe. Số lượng thương nhân cung cấp các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường rất nhiều; người có nhu cầu mua các hàng hóa, dịch vụ lại không thể nắm bắt hết các thông tin về sản phẩm cũng như về doanh nghiệp cung cấp sản phẩm đó; người có nhu cầu bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ cũng gặp khó khăn trong việc tìm thấy người mua và thuyết phục họ tin tưởng vào chất lượng sản phẩm của mình. Chính vì vậy, các nhà môi giới thương mại xuất hiện với vai trò là người kết nối giúp người mua và người bán gặp gỡ nhau, thương lượng về các điều kiện giao dịch và cuối cùng đi tới giao kết hợp đồng.
Vai trò quan trọng của hoạt động môi giới thương mại trong nền kinh tế thị trường thể hiện qua những điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động môi giới thương mại mang lại nhiều lợi thế cho các thương nhân trong việc tìm kiếm đối tác giao dịch.
Người môi giới thương mại thường hiểu biết, nắm vững tình hình thị trường, pháp luật và tập quán địa phương. Nhờ vào mối quan hệ rộng, người môi giới có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của thương nhân và sản phẩm mà thương nhân đó cung cấp. Do đó, người môi giới có thể giới thiệu cho người mua và người bán gặp nhau, đẩy nhanh quá trình tìm hiểu lẫn nhau giữa các đối tác, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. So với việc tự “mò mẫm” tham gia vào thị trường, việc sử dụng người môi giới thương mại có thể giúp các bên thuê môi giới giảm bớt rủi ro, tiết kiệm thời gian và công sức tìm hiểu đối tác.
Người môi giới thương mại là những tổ chức, cá nhân có các điều kiện nhất định về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp… Chính vì vậy, họ có khả năng đẩy mạnh các giao dịch thương mại, thậm chí giúp mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với giá có lợi cho bên thuê môi giới.
Sử dụng người môi giới thương mại (cũng như những người trung gian thương mại khác) là một hình thức của phân công lao động. Do sự chuyên môn hóa, người môi giới thương mại sẽ xây dựng mạng lưới quan hệ rộng, thu lượm các kiến thức, kinh nghiệm quý giá trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Các nhà sản xuất chuyên tâm vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà mình có thế mạnh, tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Như vậy, người môi giới thương mại giúp cho tất cả các hoạt động sản xuất, phân phối, tiêu dùng đều đạt hiệu quả.
Thông qua việc sử dụng dịch vụ môi giới thương mại, các nhà kinh doanh có thể hình thành mạng lưới tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên phạm vi rộng, tạo điều kiện cho để mở rộng, chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế nói riêng, người môi giới thương mại đóng vai trò là cầu nối để các nhà xuất nhập khẩu ở các nước khác nhau có thể dễ dàng ký kết hợp đồng với nhau. Các nhà môi giới thương mại nắm được nhiều thông tin về các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, có hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán kinh doanh của các nước. Nhờ đó, họ có thể trợ giúp bên mua và bên bán vượt qua các rào cản, tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng thương mại quốc tế.
Thứ hai, hoạt động môi giới thương mại thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Hoạt động môi giới thương mại khiến cho lượng hàng hóa lưu thông tăng, giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong một nước và giữa các quốc gia phát triển mạnh. Ngày 21/9/1953, Liên minh quốc tế của những người đại lý và môi giới thương mại (International Union of Commercial Agents and Brokers – viết tắt là IUCAB) ra đời. Sự kiện này cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động môi giới thương mại nói riêng và trung gian thương mại nói chung trong thương mại quốc tế. Hiện nay, thành viên của IUCAB bao gồm 20 hiệp hội của các nhà đại lý thương mại và môi giới độc lập, đại diện cho gần 47.000 hãng đại lý thương mại với 1,2 triệu đại lý trải suốt Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Nhờ vào hoạt động môi giới thương mại, quá trình lưu thông hàng hóa được đẩy mạnh. Người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận nhiều chủng loại hàng hóa với mẫu mã, chất lượng đa dạng; có cơ hội so sánh sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau. Điều này dẫn đến yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm, dịch vụ của khách hàng ngày càng cao, kích thích các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhằm đổi mới, phát triển sản phẩm, dịch vụ của mình để thu hút khách hàng.
Thứ ba, hoạt động môi giới thương mại góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, ổn định an ninh, trật tự xã hội.
Các loại hình hoạt động thương mại phát triển dẫn đến thị trường ngày càng phức tạp, có sự tham gia của nhiều chủ thể; hàng hóa được mua bán, cũng vô cùng phong phú, đa dạng. Thị trường lại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán, pháp luật… Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn mới phát triển, thông tin và các yếu tố cấu thành thị trường đều chưa hoàn hảo. Vì những lí do trên, các thương nhân tham gia mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thường gặp khó khăn trong việc tìm hiểu các thông tin như nguồn gốc, chất lượng, tình trạng pháp lý… của hàng hóa, dịch vụ.
Thông qua các cá nhân và tổ chức môi giới chuyên nghiệp, các chủ thể tham gia vào thị trường có cơ hội được cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về hàng hóa, dịch vụ. Điều này giúp ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ tư, hoạt động môi giới thương mại góp phần đẩy mạnh sự đổi mới chính sách pháp luật của Nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của hoạt động môi giới thương mại hỗ trợ đắc lực cho nhu cầu giao dịch ngày càng đa dạng và phức tạp của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về quản lý hoạt động môi giới. Thêm vào đó, thông qua các giao dịch môi giới trên thị trường, những điểm không phù hợp với thực tế của các quy định pháp luật sẽ bộc lộ. Đây là cơ sở để Nhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp thị trường hoạt động hiệu quả và ổn định.
1.2 Pháp luật về hoạt động môi giới thương mại Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
1.2.1 Sự cần thiết phải có pháp luật điểu chỉnh hoạt động môi giới thương mại
Thứ nhất, pháp luật về hoạt động môi giới thương mại ra đời sẽ hợp pháp hóa nghề môi giới, giúp người dân có cái nhìn tích cực về hoạt động này.
Trên thế giới, người môi giới thương mại xuất hiện từ rất sớm. Trong thời kỳ phong kiến, người môi giới đã xuất hiện trong mối quan hệ giữa vua chúa và thương gia[1]. Bước sang thời kỳ xã hội tư bản, hoạt động môi giới thương mại đã phát triển đạt đến trình độ cao. Họ thành lập nên các tổ chức với những quy định chặt chẽ mà điển hình là các Sở giao dịch hàng hóa. Họ xuất hiện trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, từ bất động sản, chứng khoán cho đến bảo hiểm, logistics; thậm chí ở cả lĩnh vực hôn nhân, giáo dục và việc làm… Theo thống kê của Liên minh quốc tế của những người đại lý và môi giới thương mại (IUCAB), mỗi năm, các thành viên của tổ chức này (bao gồm 20 hiệp hội đại diện cho các đại lý thương mại độc lập và các nhà môi giới) đã đóng góp cho nền kinh tế các nước Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ một khoản thu nhập xấp xỉ 2,4 tỉ đô la Mỹ (tương đương 2,1 tỉ euro).
Ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, nghề môi giới bị coi là “phe phẩy”, là bất hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận. Cho đến năm 1997, với sự ra đời của Luật thương mại năm 1997, hoạt động môi giới thương mại mới chính thức được thừa nhận.
Thứ hai, pháp luật về hoạt động môi giới thương mại góp phần hạn chế những mặt phi tích cực của hoạt động này.
Bất chấp những lợi ích to lớn mà hoạt động môi giới thương mại mang lại cho nền kinh tế, phương thức kinh doanh qua người môi giới thương mại cũng có những nhược điểm. Nhược điểm lớn nhất của phương thức này là bên thuê trung gian không liên hệ trực tiếp với khách hàng. Thực tế cho thấy, đã xảy ra rất nhiều tranh chấp phát sinh trong hoạt động môi giới thương mại. Tranh chấp có thể nảy sinh từ việc bên môi giới cung cấp thông tin không chính xác, không trung thực, gây hại đến lợi ích của bên thuê môi giới; hoặc bên thuê môi giới không hoàn thành nghĩa vụ trả thù lao cho bên môi giới; hay bên thuê môi giới có tranh chấp với bên thứ ba do hợp đồng gây tranh cãi mà người thảo hợp đồng là bên môi giới… Các loại tranh chấp trên chỉ có thể giải quyết được nếu có pháp luật về hoạt động môi giới thương mại.
Những lí do đã phân tích ở trên cho thấy sự cần thiết phải ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại.
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động môi giới thương mại Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
Ở Việt Nam, hoạt động môi giới thương mại được điều chỉnh bởi Luật thương mại Việt Nam năm 2005 và các Luật chuyên ngành khác như Luật chứng khoán năm 2006, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006… Các văn bản này thường quy định về chức năng, vị trí, vai trò của người trung gian môi giới, về quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới…
Các Luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại trong các lĩnh vực cụ thể như chứng khoán, bất động sản, hàng hải, bảo hiểm… Do đó, các điều khoản của chúng thường chi tiết và tỉ mỉ hơn Luật thương mại năm 2005. Tuy nhiên, xét một cách cơ bản, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 và các Luật chuyên ngành khác tập trung điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại ở những nội dung sau:
1.2.2.1 Quy định về phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động môi giới
Hoạt động môi giới nói chung được điều chỉnh bởi bộ Bộ luật dân sự năm 2005. Hoạt động môi giới thương mại do Luật thương mại năm 2005 điều chỉnh. Hoạt động môi giới trong từng lĩnh vực cụ thể được quy định trong các luật chuyên ngành. Ví dụ: hoạt động môi giới hàng hải được quy định trong Bộ luật hàng hải năm 2005, hoạt động môi giới chứng khoán do Luật chứng khoán năm 2006 điều chỉnh…
1.2.2.2 Quy định về điều kiện để thương nhân được tiến hành hoạt động môi giới thương mại
Theo Điều 150, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. Như vậy, theo Luật này, cá nhân, tổ chức muốn tiến hành hoạt động môi giới thương mại trước hết phải là thương nhân. Mà thương nhân chính là “các tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” (khoản 1, Điều 6, Luật thương mại Việt Nam năm 2005).
Những quy định về điều kiện đối với thương nhân môi giới tại Sở giao dịch hàng hóa chặt chẽ hơn so với thương nhân môi giới nói chung. Thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa chỉ được phép hoạt động tại Sở giao dịch hàng hóa khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 69, Luật thương mại Việt Nam năm 2005). Về vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch hàng hóa. Theo đó, thành viên môi giới phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện: là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp; vốn pháp định là 05 tỷ đồng trở lên; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải có bằng đại học, cử nhân trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; các điều kiện khác theo quy định của Điều lệ hoạt động của Sở Giao dịch hàng hóa (Điều 19, Nghị định 158/2006/NĐ-CP).
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 chỉ quy định một cách khái quát về điều kiện để thương nhân được tiến hành hoạt động môi giới thương mại. Điều kiện này được quy định cụ thể hơn ở các luật chuyên ngành.
Ví dụ, theo Luật kinh doanh bất động sản năm 2006, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã và đăng kí kinh doanh; đồng thời phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản (khoản 2, Điều 8). Trong trường hợp cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập, cá nhân này cần đăng kí kinh doanh và có chứng chỉ môi giới bất động sản (khoản 3, Điều 8). Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
1.2.2.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên môi giới và bên được môi giới
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ về quyền, nghĩa vụ của bên môi giới và nghĩa vụ của bên được môi giới. Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đề cập đến quyền của bên được môi giới.
Từ khái niệm về hoạt động môi giới thương mại (Điều 150, Luật thương mại Việt Nam năm 2005) có thể suy ra, nghĩa vụ quan trọng nhất của bên môi giới là làm trung gian để các bên được môi giới đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Quyền quan trọng nhất của bên môi giới là được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.
Cụ thể, Điều 151 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 nêu lên bốn nghĩa vụ của bên môi giới. Trong đó, đáng chú ý nhất là nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tư cách của các bên được môi giới, nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ. Đồng thời, bên môi giới không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới.
Song song với những nghĩa vụ được quy định tại Điều 151, bên môi giới có quyền hưởng thù lao môi giới. Quyền này phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau, trừ khi có thỏa thuận khác (khoản 1, Điều 153). Mức thù lao môi giới, nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng môi giới, sẽ được xác định theo giá của dịch vụ môi giới trong các điều kiện tương tự về phương thức và thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán…(khoản 2, Điều 153).
Tương ứng với quyền của bên môi giới, bên được môi giới có nghĩa vụ trả thù lao và chi phí hợp lý khác cho bên môi giới; đồng thời cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ (khoản 1, 2, Điều 152).
So với Luật thương mại Việt Nam năm 2005, các luật chuyên ngành có những quy định tỉ mỉ hơn về quyền và nghĩa vụ của bên môi giới thương mại. Những quy định này, về cơ bản, khá thống nhất với Luật thương mại Việt Nam năm 2005. Các luật chuyên ngành thường không đề cập đến quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới; và không phải luật chuyên ngành nào cũng quy định cả về quyền và nghĩa vụ của bên môi giới. Chẳng hạn, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có nêu rõ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (Điều 91), nhưng Luật chứng khoán năm 2006 lại chỉ nhắc đến nghĩa vụ của công ty chứng khoán – chủ thể duy nhất được Luật này cho phép tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán (Điều 71).
Điểm không thống nhất thường gặp giữa Luật thương mại Việt Nam và các luật chuyên ngành là sự khác biệt trong quy định về quyền hưởng thù lao môi giới hay hoa hồng môi giới – quyền quan trọng nhất đối với bên môi giới. Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng quy định luật môi giới thương mại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Quy định của Luật môi giới thương mại Việt Nam […]