Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng trong thời gian qua dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Sự hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được khai trương hoạt động vào ngày 18/09/1996 với số vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam và 23 cán bộ nhân viên. Trụ sở đầu tiên đặt tại số 5 Lê Thánh Tông, Hà Nội.
VIB chi nhánh Hồng Bàng được thành lập năm 2004. VIB Hải Phòng có trụ sở chính tại số 23 Lạch Tray, Ngô quyền, Hải Phòng. Mạng lưới hoạt động của VIB Hải Phòng ngày càng được mở rộng, VIB Hải Phòng có 1 Chi nhánh trực thuộc (Chi nhánh Hồng Bàng) và 5 phòng giao dịch (phòng giao dịch Hải An, phòng giao dịch Bạch đằng, phòng giao dịch Trần Phú, phòng giao dịch Thủy Nguyên, phòng giao dịch Điện Biên Phủ). VIB chi nhánh Hồng Bàng cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng khách hàng tại khu vực Hải Phòng và nhiều tỉnh thành khác.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam được quản lý bởi hội đồng quản trị (HĐQT) và điều hành bởi tổng giám đốc (TGĐ). VIB được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất; thực hiện kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Điều hành các phòng là Trưởng phòng, giúp việc trưởng phòng là các phó phòng. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước TGĐ, HĐQT thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời có quyền giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong phòng, quản lý, theo dõi, đánh giá kết quả công việc đã giao và phải liên đới chịu trách nhiệm trước TGĐ, HĐQT về những sai phạm xẩy ra của cán bộ phòng mình do buông lỏng quản lý. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Các phòng, ban trong VIB đều có chức năng tham mưu cho TGĐ và HĐQT trong vấn đề tổ chức và hoạt động quản lý kinh doanh. Tuy có cùng chức năng nhưng mỗi phòng, ban lại có nhiệm vụ khác nhau như:
- Phòng hành chính nhân sự: phụ trách công tác hành chính văn phòng và công tác nhân sự của chi nhánh.
- Phòng khách hàng doanh nghiệp: chịu trách nhiệm kinh doanh cho vay doanh nghiệp
- Phòng khách hàng cá nhân: chuyên về cho vay cá nhân và các dịch vụ thẻ của ngân hàng.
- Phòng quản lý tín dụng: chuyên về thẩm định các món vay do phòng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp đưa lên và xử lý nợ quá hạn
- Phòng tiền tệ – kho quỹ: nhận và quản lý an toàn các loại tiền mặt và hồ sơ thế chấp của khách hàng…đồng thời tiến hành kiểm kê định kỳ hoặc đột xuất tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, hồ sơ lưu trữ trong kho.
- Phòng kế toán và dịch vụ ngân hàng: cung cấp các dịch vụ thanh toán và tiền gửi cho khách hàng
- Tổ kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Mô hình tổ chức của VIB Hải Phòng tương đối chặt chẽ và gọn nhẹ, bao gồm:
- Hình 1: Mô hình tổ chức của VIB Hải Phòng
Trong xu thế hội nhập ngày nay thì con người luôn là yếu tố trung tâm và quan trọng nhất nên VIB Hải Phòng luôn tổ chức các lớp học chuyên môn nghiệp vụ, luân phiên thuyên chuyển nhân viên cùng vị trí chức danh giữa các điểm giao dịch nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh thời gian qua của ngân hàng
2.1.3.1. Công tác huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động cơ bản của NHTMCP nói chung và NHTMCP Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng nói riêng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay NHNN đang thắt chặt chính sách tín dụng thì việc huy động vốn lại càng gặp nhiều khó khăn và cạnh tranh gay gắt. Nhận thức được các khó khăn đó VIB Hồng Bàng đã tích cực đẩy mạnh công tác huy động vốn bằng cách đa dạng hóa các hình thức, các kênh huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế như tổ chức các chương trình khuyến mại hấp dẫn cho khách hàng, tặng quà khách hàng VIP nhân dịp sinh nhật … Cùng với đó là mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch với 7 điểm giao dịch đã giúp VIB Hồng Bàng luôn tăng huy động và hoàn thành kế hoạch huy động vốn đề ra.
Tính đến thời điểm 31/12/2025: tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt 2.105.912 triệu đồng đạt 134% huy động vốn năm 2024. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
- Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ năm 2023- 2025
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy tình hình huy động vốn từ tiền gửi của VIB Hồng Bàng trong 3 năm qua đã tăng đáng kể từ 1.012.436 triệu đồng năm 2023 đã tăng lên 2.105.912 triệu đồng vào năm 2025, tăng 1.093.477 triệu đồng tương đương 108% với các hình thức sản phẩm dịch vụ huy động vốn đa dạng, phong phú đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy lượng vốn huy động trong dân cư ngày càng tăng giúp chi nhánh giảm huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng.
Cũng qua bảng số liệu cho thấy tiền gửi của các tổ chức kinh tế lại giảm qua các năm cụ thể là thời điểm 31/12/2023 là 14.485 triệu đồng nhưng đến 31/12/2025 lại chỉ còn 12.625 triệu đồng chỉ ra rằng chi nhánh đã không thu hút được nhiều tiền gửi từ các tổ chức kinh tế. Tuy nhiên tiền huy động từ dân cư lại tăng lên đáng kể từ 997.951 triệu đồng ngày 31/12/2023 lên 2.093.287 triệu đồng thời điểm 31/12/2025 tăng 2,09 lần. Cùng với đó huy động vốn của chi nhánh bằng đồng ngoại tệ và tiền đồng cũng tăng đáng kể cho thấy chính sách huy động vốn của chi nhánh đang đi đúng hướng.
Hiện nay công tác quản lý tiền gửi dân cư cũng được VIB Hồng Bàng thực hiện thường xuyên, nghiêm túc tại các phòng giao dịch thông qua công tác kiểm tra của các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ. Qua đó đã khắc phục những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi của dân cư và các chứng từ quan trọng giúp nâng cao uy tín của ngân hàng với khách hàng.
2.1.3.2. Kết quả cho vay và đầu tư
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng hàng đầu không chỉ riêng VIB Hồng Bàng mà còn với tất cả các ngân hàng, tuy nhiên sử dụng vốn huy động được sao cho hiệu quả thì lại gặp rất nhiều khó khăn. Tại VIB Hồng Bàng khi nhân viên tín dụng muốn cho vay khách hàng thì phải chuyển hồ sơ vay lên phòng quản lý tín dụng. Tại đó món vay sẽ được thẩm định lại một cách khách quan và chi tiết, nếu đáp ứng đủ điều kiện mới được chuyển sang Giám đốc phê duyệt.
Tính đến thời điểm cuối năm 2023, dư nợ của toàn NHTMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Hồng Bàng đạt 948.326 triệu đồng, đến cuối năm 2024 đạt 1.354.452 triệu đồng, tăng 406.126 triệu đồng tương đương tăng 42.8%. Và đến cuối năm 2025 dư nợ của toàn chi nhánh đã tăng lên 1.772.108 triệu đồng tương đương tăng 30,8%.
- Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ cho vay của VIB Hồng Bàng
- Hình 2: Sự tăng trưởng dư nợ VIB Hồng Bàng qua các năm 2023 – 2025
Qua hình 2 cho chúng ta thấy được sự tăng trưởng dư nợ của VIB Hồng Bàng từ năm 2023 đến năm 2025.
2.1.3.3. Các hoạt động kinh doanh khác Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Ngoài 2 dịch vụ cơ bản của ngân hàng đó là huy động vốn và tín dụng thì hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng cũng mang lại nguồn thu rất lớn và tương đối an toàn cho VIB Hồng Bàng.
- Bảng 2.3: Doanh thu DV và KD ngoại tệ của VIB Hồng Bàng
Qua bảng trên cho thấy hoạt động cung ứng các dịch vụ (thanh toán, thẻ, ngân quỹ) của chi nhánh tăng đáng kể qua các năm. Năm 2023 đạt 8.124 triệu đồng. Trong các nguồn thu nhập thì thu nhập từ cung cấp dịch vụ ít rủi ro nhất cho ngân hàng do đó chi nhánh luôn cố gắng tối đa hoá nguồn thu này. Doanh thu dịch vụ năm 2024 của chi nhánh đạt 11.756 triệu đồng và đến năm 2025 đạt 13.400 triệu đồng tăng 13,9% so với năm 2024.
Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ cũng được VIB Hồng Bàng luôn đặt lên hàng đầu bởi ngày nay việc thanh toán bằng ngoại tệ rất phổ biến. Thu dịch vụ kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh năm năm 2023 đã đạt 5.931 triệu đồng. Đến năm 2025 thu từ kinh doanh ngoại tệ đạt 9.286 triệu đồng tăng gấp 1,57 lần so với năm 2023.
Có được kết quả như trên là do sự cố gắng của tất cả các cán bộ nhân viên của toàn chi nhánh để mở rộng các mối quan hệ với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mặt khác nó cũng chứng tỏ quyết tâm của chi nhánh cố gắng phát triển dịch vụ phấn đấu đạt mục tiêu an toàn trong kinh doanh.
2.1.3.4. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025
Năm 2025 là một năm có nhiều biến động của kinh tế thế giới cũng như trong nước mà đặc biệt là tỷ lệ lạm phát ngày càng cao. Tuy nhiên được coi là một huyết mạnh trong lưu thông tiền tệ thì các NHTM nói chung và NHTMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Hồng Bàng nói riêng phải gánh vác nhiệm vụ hết sức khó khăn. Chi nhánh vừa phải cố gắng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong tình hình mới vừa phải khắc phục những tồn đọng cũ.
Trước những khó khăn thử thách đó, ý thức được những mặt yếu, VIB Hồng Bàng luôn đề ra những phương hướng kinh doanh tích cực vừa bám sát những định hướng, nhiệm vụ đề ra, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của VIB Hồng Bàng có nhiều phát triển qua các năm. Năm 2023 tổng lợi nhuận trước thuế của chi nhánh đạt 25.527 triệu đồng. Cùng với đó lợi nhuận năm 2025 cũng tăng lên đáng kể đạt 42.251 triệu đồng tăng 8.932 triệu đồng so với năm 2024 tăng 26,8%. Có được kết quả trên là do có sự cố gắng của tất cả cán bộ nhân viên của chi nhánh và minh chứng cho sự hợp lý của cơ cấu và sử dụng nguồn vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên, chi nhánh vẫn còn một số tồn tại nhất định. Tỷ lệ vốn huy động so với tổng nguồn vốn đầu tư còn thấp, sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn dừng lại ở những sản phẩm truyền thống, việc đưa những loại hình dịch vụ mới có công nghệ cao vào hoạt động vẫn còn chậm, hoạt động marketing ngân hàng vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức.
- Hình 3: Sự tăng trưởng lợi nhuận trước thuế VIB Hồng Bàng 2023- 2025
2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
2.2.1. Huy động vốn theo thời gian
Nếu như phân tích huy động vốn theo loại tiền cho chúng ta biết được sự tăng trưởng huy động vốn của đồng nội tệ và ngoại tệ và cơ cấu loại tiền huy động từ đó đưa ra giải pháp huy động vốn tốt thì khi phân tích huy động vốn theo kỳ hạn sẽ giúp đưa ra giải pháp sử dụng vốn hiệu quả nhất.
- Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian
- Hình 4: Sơ đồ huy động vốn theo thời gian của VIB Hồng Bàng
Qua bảng cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian cho ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn huy động được của VIB Hồng Bàng. Huy động vốn không kỳ hạn của chi nhánh năm 2023 là 292.256 triệu đồng, chiếm 28,86% tổng nguồn vốn. Đặc biệt sang năm 2024 vốn không kỳ hạn của chi nhánh tăng đáng kể đạt 576.981 triệu đồng tương đương tăng 97,4% so với năm 2023. Đánh giá bước tiến bộ của chi nhánh trong huy động vốn đặc biệt là huy động vốn không kỳ hạn. Năm 2025 huy động vốn không kỳ hạn của chi nhánh đạt 759.954 triệu đồng, tăng 31,7 % so với năm 2024. Huy động vốn không kỳ hạn của chi nhánh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động được và tăng qua các năm là một tín hiệu rất tốt cho sự tăng trưởng huy động vốn của chi nhánh. Vốn không kỳ hạn là một nguồn vốn tuy có biến động lớn nhưng lại mất chi phí rất thấp nên nếu huy động được nguồn vốn này lớn sẽ tạo điều kiện cho chi nhánh phát triển.
Huy động vốn kỳ hạn dưới 12 tháng (ngắn hạn): nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn huy động được của chi nhánh. Năm 2023 huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh đạt 452.400 triệu đồng. Năm 2025 huy động vốn ngắn hạn chi nhánh đạt 967.278 triệu đồng, tăng 44,1% so với năm 2024. Nhìn chung huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh thường chiếm 50% tổng nguồn vốn huy động và tăng dần qua các năm. Điều này có được là do chi nhánh bước đầu thực hiện đa dạng hoá kỳ hạn gửi và các hình thức trả lãi phong phú nên đã thu hút được lượng tiền gửi rất lớn từ khách hàng.
Huy động vốn kỳ hạn trên 12 tháng (trung và dài hạn): qua bảng trên cho thấy huy động vốn trung và dài hạn cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn của chi nhánh. Năm 2023 huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh là 267.779 triệu đồng. Năm 2025 huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh đạt 378.681 triệu đồng, tăng 18,1% so với năm 2024 trong khi đó năm 2024 là 320.714 triệu đồng. Nhìn chung huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh có xu hướng tăng đều qua các năm. Tuy nguồn vốn huy động trung và dài hạn thường có chi phí lớn nhưng lại ổn định giúp chi nhánh có được kế hoạch sử dụng vốn lâu dài.
2.2.2. Huy động vốn theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Như đã trình bày ở chương 1 có nhiều phân loại các hình thức huy động vốn khác nhau tuỳ thuộc theo các tiêu chí và mục đích khác nhau. Huy động vốn theo loại tiền là một tiêu thức chính để các NHTM nói chung và VIB Hồng Bàng nói riêng dễ phân chia và đánh giá được tình hình huy động vốn tiền đồng và ngoại tệ của mình từ đó đưa ra chính sách huy động vốn phù hợp với từng loại tiền.
2.2.2.1. Huy động vốn bằng nội tệ
Tại VIB Hồng Bàng thì huy động vốn bằng đồng nội tệ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động được. Trong những năm gần đây thì huy động vốn bằng tiền đồng của VIB Hồng Bàng được tăng lên đáng kể.
- Bảng 2.6: Huy động vốn nội tệ VIB Hồng Bàng 2023 – 2025
Qua bàng trên cho thấy huy động vốn bằng đồng VND của VIB Hồng Bàng tăng lên đáng kể qua các năm. Nếu như năm 2023 huy động vốn bằng đồng VND của VIB Hồng Bàng chỉ đạt 827.324 triệu đồng thì sang năm 2024 đã tăng 629.355 triệu đồng đạt 1.456.679 triệu đồng. Không những thế năm 2025 tổng huy động vốn bằng đồng nội tệ VIB Hồng Bàng đã đạt 1.914.529 triệu đồng tăng 457.849 triệu đồng so với năm 2024.
2.2.2.2. Huy động vốn bằng ngoại tệ
Không những huy động vốn bằng nội tệ của VIB Hồng Bàng tăng lên đáng kể qua các năm mà huy động vốn bằng đồng ngoại tệ cũng tăng lên một lượng lớn.
- Bảng 2.7: Huy động vốn ngoại tệ của VIB Hồng Bàng
Năm 2023 huy động vốn ngoại tệ quy đổi của chi nhánh đạt 185.112 triệu đồng. Tuy nhiên đến năm 2024 huy động vốn ngoại tệ quy đổi của chi nhánh lại giảm đáng kể chỉ đạt 112.476 triệu đồng giảm 72.635 triệu đồng. Nguyên nhân là do năm 2024 xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu do đó lãi suất huy động bằng ngoại tệ (USD) giảm cùng với tâm lý hoang mang nên người dân đã chuyển một phần tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ sang tiền gửi việt nam đồng hoặc mua vàng để cất trữ, đó cũng là một nguyên nhân khiến cho huy động vốn bằng ngoại tệ của chi nhánh giảm nhưng huy động vốn nội tệ lại tăng lên đáng kể.
Mặc dù vậy thì sang năm 2025 huy động vốn bằng ngoại tệ của chi nhánh đã có bước thay đổi đáng kể. Huy động vốn bằng ngoại tệ quy đổi của chi nhánh năm 2025 đạt 191.384 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 78.907 triệu đồng tương đương tăng 70, 15%. Có được kết quả trên là do sang năm 2025 thì nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế trong nước nói riêng đã và đang dần phục hồi. Cùng với đó chi nhánh cũng quan tâm hơn đến khách hàng gửi tiền qua việc thực hiện nhiều chương trình khuyến mại thu hút khách hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Nhìn chung qua bảng 2.7 cho thấy huy động vốn VIB Hồng Bàng tăng qua các năm. Tỷ lệ huy động vốn bằng đồng nội tệ thường chiếm trên 80% tổng nguồn vốn huy động được là một cơ cấu huy động vốn tương đối phù hợp, giúp chi nhánh chủ động trong việc cho vay đối với từng loại tiền đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Điều đó có thể thấy rõ qua hình 5 dưới đây:
- Hình 5: Sự tăng trưởng vốn ngoại tệ VIB Hồng Bàng 2023 – 2025
2.2.3. Mối quan hệ giữa huy động vốn và cho vay
2.2.3.1. Chi phí và lãi suất huy động vốn
Chi phí và lãi suất huy động là chỉ tiêu quan trọng để xác định kết quả kinh doanh. Một nguồn vốn huy động được coi là hiệu quả khi nó đáp ứng đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất: quy mô và cơ cấu của nguồn vốn đáp ứng được các nhu cầu kinh doanh của Ngân hàng.
- Thứ hai: chi phí cho nguồn vốn phải ở mức chấp nhận được.
Trong hai điều kiện trên thì điều kiện thứ hai được các NHTM quan tâm hơn cả khi tiến hành huy động vốn, bởi vì nó quyết định trực tiếp tới phương thức sử dụng vốn và đặc biệt là lợi nhuận kinh doanh của NHTM. Chi phí huy động vốn là toàn bộ số tiền mà NHTM bỏ ra để có được quyền sử dụng vốn huy động, thông thường nó bao gồm các khoản như: chi phí trả lãi tiền gửi; chi phí về cơ sở vật chất kỹ thuật; chi phí giao dịch … nhưng trong đó chủ yếu vẫn là chi phí trả lãi.
Lãi suất là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước và là yếu tố giữ vị trí quan trọng trong hoạt động NHTM. Khi phân tích chi phí huy động vốn người ta thường nhắc đến yếu tố lãi suất, đặc biệt là huy động bằng tiền gửi hay phát hành giấy tờ có giá. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến sự biến động của khối lượng vốn huy động cũng như tốc độ nhu cầu vay vốn và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM. Chính vì vậy trong thời gian qua ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng đã liên tục cố gắng đưa ra một mức lãi suất thích hợp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên lãi suất như thế nào được gọi là thích hợp thì còn phải tính toán đến nhiều yếu tố như: lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản NHNN quy định, và căn cứ vào chiến lược kinh doanh của Hội sở VIB. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Trong một vài năm gần đây, để tăng cường lượng vốn huy động, thu hút khách hàng, đẩy mạnh công cuộc đầu tư cho vay vào nền tinh tế cũng như tăng cường sức cạnh tranh thì các ngân hàng đã liên tục điều chỉnh mức lãi suất huy động của mình khá nhanh nhạy và linh hoạt. Điều này đã phản ánh kịp thời những biến động lên xuống thất thường trên thị trường tiền tệ và từ đó giúp VIB Hồng Bàng có được những điều chỉnh kịp thời về cơ cấu nguồn vốn huy động, tạo sự phù hợp giữa cơ cấu vốn huy động với cơ cấu vốn đầu tư cho vay. Thế nhưng với cơ chế lãi suất linh hoạt này lại gây không ít khó khăn cho khách hàng đến gửi tiền vì tiền gửi sau một thời gian ngắn lãi suất đã thay đổi.
Để tạo điều kiện huy động vốn của mình hoạt động có hiệu quả cũng như giảm thiểu rủi ro và khó khăn cho khách hàng, trong ba năm qua, Hội sở VIB đã nhiều lần tổ chức điều chỉnh tăng (giảm) lãi suất huy động một cách hợp lý trên quy mô rộng dựa trên cơ sở sự cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ. Đây là điều mà không phải ngân hàng nào cũng làm ngay được. Vì là một chi nhánh trực thuộc nên lãi suất huy động của VIB Hồng Bàng chịu nhiều ảnh hưởng của chính sách huy động vốn của VIB Hội sở. Tuy nhiên để linh hoạt trong hoạt động huy động vốn của mình VIB Hồng Bàng cũng đã đưa ra một số biện pháp riêng đê tăng cường huy động vốn phù hợp với môi trường cạnh tranh tại địa phương như trích một phần kinh phí tặng quà cho khách hàng VIP, khách hàng thân thiết gửi tiền tại chi nhánh của mình nhân dịp sinh nhật. Chính từ điều tưởng chừng rất nhỏ ấy nhưng lại nhận được phản ứng rất tốt từ phía khách hàng vì với ngân hàng Quốc tế Việt Nam thì khách hàng cũng như những thành viên trong một đại gia đình.
2.2.3.2. Sự phù hợp giữa vốn huy động và vốn sử dụng theo kỳ hạn
Một ngân hàng hay chi nhánh ngân hàng được coi là sử dụng vốn có hiệu quả khi nguồn vốn huy động được phải phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn hay nói cách khác là phù hợp với thời gian sử dụng vốn. Tính cân đối giữa các kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay ra có đảm bảo không cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn. Nếu dùng nhiều nguồn vốn huy động ngắn hạn mà cho vay dài hạn thì sẽ có nhiều rủi ro như mất khả năng thanh toán, và về mặt kinh tế chưa chắc đã hiệu quả vì huy động vốn ngắn hạn phải có dự trữ bắt buộc mà khoản này không sinh lời trong khi huy động vốn dài hạn thì không phải dự trữ bắt buộc mà có thể sử dụng 100% vốn huy động được.
Trong thực tế, sự tăng trưởng liên tục về quy mô cũng như về cơ cấu nguồn vốn nói chung và nguồn vốn huy động nói riêng vân chưa hoàn toàn có thể đánh giá công tác huy động vốn tại NHTM là có hiệu quả. Thật vậy, nếu như NHTM huy động vốn nhiều mà sử dụng ít thì ắt sẽ dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Ngược lại, nếu HĐV được ít mà nhu cầu sử dụng vốn lại nhiều thì rủi ro xảy ra đối với NHTM càng lớn hơn, khi đó NHTM chắc chắn sẽ dần dần bị mất khách hàng và để hạn chế, nó buộc phải tìm đến những khoản vay với lãi suất cao như: vay các tổ chức tín dụng hoặc các NHTM khác … Như vậy, ngay cả khi NHTM huy động được nhiều vốn thì hiệu quả kinh doanh vẫn chưa chắc sẽ cao, và để đạt được hiệu quả cao thì biện pháp duy nhất mà các NHTM phải làm đó là kết hợp một cách hài hoà giữa nguồn vốn huy động với khả năng cho vay.
Đối với việc đáp ứng nhu cầu đầu tư cho vay ngắn hạn, trong những năm gần đây cho thấy, chi nhánh luôn đáp ứng được nhu cầu cho vay đối với các khoản vay này do phần lớn nguồn vốn huy động của chi nhánh là nguồn vốn ngắn hạn.
- Bảng 2.8: Vốn huy động và cho vay ngắn hạn
- Hình 6: Tình hình huy động và cho vay vốn ngắn hạn
Qua bảng 2.8 cho thấy nhìn chung huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh luôn đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn và luôn ở mức tương đối an toàn.
- Bảng 2.9: Vốn huy động và cho vay trung và dài hạn
- Hình 7: Tình hình huy động và cho vay vốn trung và dài hạn
Qua bảng 2.9 cho thấy nguồn huy động vốn dài hạn của chi nhánh không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay dài hạn. Chính vì vậy VIB Hồng Bàng phải sử dụng một phần vốn huy động được từ ngắn hạn để cho vay dài hạn. Tuy nhiên việc này cũng có mặt tích cực và hạn chế. Mặt tích cực là dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn sẽ tiết kiệm được một phần chi phí do huy động vốn ngắn hạn thường có lãi suất thấp nhưng cho vay trung và dài hạn thường có lãi suất cao hơn cho vay ngắn hạn tuy nhiên lại mang rủi ro cho chi nhánh. Nếu chi nhánh không tăng cường huy động dài hạn, mà lượng vốn cho vay trung và dài hạn lại nhiều không đảm bảo chu kỳ quay vòng vốn dẫn đến khó khăn trong thanh khoản
2.3. Đánh giá thực trạng huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Căn cứ vào các chỉ tiêu đã phân tích ở trên ta thấy hiệu quả hoạt động huy động vốn của VIB Hồng Bàng trong thời gian qua tương đối cao. Điều này thể hiện qua các kết quả đạt được cụ thể như sau:
2.3.1.1. Khối lượng vốn huy động lớn, tăng trưởng ổn định và hiệu quả
Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội từ các tổ chức kinh tế, từ các tầng lớp dân cư là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM. Huy động vốn tạo nguồn lực để ngân hàng cho vay và đầu tư ra. Một ngân hàng mạnh, phát triển bền vững là một ngân hàng có nguồn vốn lớn, phát triển ổn định và hiệu quả. Do vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của công tác huy động vốn. Nhận thức được điều này nên Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Hồng Bàng đã rất quan tâm tập trung nguồn lực cho công tác huy động vốn. Quy mô nguồn vốn huy động của chi nhánh đều tăng qua các năm (xét về số tuyệt đối cũng như tương đối). Nếu như năm 2023 tổng huy động vốn của chi nhánh chỉ đạt 1.012.436 triệu đồng thì sang năm 2024 đã tăng lên đạt 1.569.155 triệu đồng, tăng 556.719 triệu đồng tương đương tăng 54,99%. Con số này là kết quả sự nỗ lực lớn của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong toàn chi nhánh.
Bước sang năm 2024, VIB Hồng Bàng tiếp tục đạt được nhiều thành công trong công tác huy động vốn. Nếu như năm 2024 huy động vốn toàn chi nhánh Hồng Bàng đạt 1.569.155 triệu đồng và thì sang năm 2025 huy động vốn toàn chi nhánh tăng thêm 536.757 triệu đồng, đạt 2.105.913 triệu đồng tương đương tăng 34,21%.
Qua số liệu thống kê của ba năm trở lại đây, ta có thể thấy hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Hồng Bàng đạt hiệu quả rất cao, mức tăng trưởng nguồn vốn khá lớn và ổn định. Sự tăng trưởng về nguồn vốn đó được biểu hiện ở cả hình thức lẫn kỳ hạn nguồn vốn huy động hết sức phong phú và đa dạng.
Nguồn vốn huy động tăng qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư của mình. Hơn nữa với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn nguồn tiền cho vay nên đã giúp VIB Hồng Bàng chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra nguồn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên đã tạo điều kiện giúp cho VIB Hồng Bàng chủ động được nguồn vốn, giảm chi phi đầu vào, mặt khác giúp chi nhánh mở rộng các dịch vụ liên quan đến ngân hàng như tập trung phát triển thẻ, triển khai trả lương qua tài khoản cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
2.3.1.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn.
Như đã phân tích ở bảng số 2.8 và bảng 2.9 chúng ta thấy cơ cấu nguồn vốn huy động và nhu cầu sử dụng vốn của VIB Hồng Bàng trong thời gian qua là tương đối phù hợp. Với cơ cấu phù hợp sẽ tạo điều kiện cho chi nhánh Hồng Bàng chủ động nguồn vốn trong kinh doanh và phát triển ổn định bền vững.
2.3.1.3. Đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng
Trong thời gian bốn năm qua số lượng cán bộ công nhân viên của VIB Hồng Bàng đã tăng lên đáng kể. Có được sự lớn mạnh đó là do uy tín và niềm tin của cán bộ nhân viên vào sự lãnh đạo của lãnh đạo chi nhánh. Điều đó đã tạo nên sức mạnh đoàn kết làm cơ sở phát triển hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động kinh doanh của toàn chi nhánh.
2.3.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn VIB Hồng Bàng cũng gặp phải một số trở ngại.
Thứ nhất, mặc dù quy mô huy động vốn tăng nhưng tăng chưa đều. Nền tảng nguồn vốn chưa thực sự vững chắc do vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các khách hàng gửi tiền với khối lượng lớn, nguồn huy động từ dân cư còn tăng chậm. Vốn huy động của chi nhánh tăng lên qua các năm chủ yếu là do chi nhánh đã huy động được nguồn tiền gửi từ khách hàng tiềm năng với khối lượng lớn. Chính vì vậy tạo ra sự phụ thuộc vào nguồn tiền gửi của những khách hàng này, chỉ cần họ có thay đổi nhu cầu gửi tiền là sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn của cả chi nhánh.
Thứ hai, một số sản phẩm của ngân hàng chưa thực sự phát huy tác dụng thu hút vốn khi không tạo nên được sự khác biệt nổi trội để tăng khả năng cạnh tranh của mình. Sản phẩm huy động chủ yếu của chi nhánh vẫn chỉ là huy động tiết kiệm thông qua nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, một số sản phẩm mới như: tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm theo thời gian thực gửi chưa thực sự thu hút được sự chú ý của khách hàng.
Thứ ba, công nghệ ngân hàng liên tục được đổi mới và hoàn thiện song vẫn còn hạn chế. Đôi lúc mạng của chi nhánh bị lỗi nên khó khăn cho khách hàng trong quá trình giao dịch làm cho khách hàng phải chờ. Trang thiết bị kỹ thuật của chi nhánh chưa thực sự hiện đại và cần đổi mới.
Các dịch vụ ngân hàng truyền thống chưa nhiều và các dịch vụ ngân hàng hiện đại chưa được sử dụng. Tuy hiện nay các dịch vụ tiện ích của ngân hàng điện tử đã được triển khai và khá thông dụng trên thị trường nhưng VIB Hồng Bàng vẫn chưa triển khai tốt. Ngoài ra dịch vụ ATM của chi nhánh còn nhận được rất nhiều khiếu nại từ các khách hàng do đó VIB Hồng Bàng cần cải tiến lại các dịch vụ này. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Thứ tư, đội ngũ nhân viên làm công tác huy động vốn còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ. Khách hàng nước ngoài gửi tiền vào ngân hàng ngày càng tăng nhưng trình độ ngoại ngữ của cán bộ ngân hàng chưa cao, chưa đáp ứng hết nhu cầu của khách hàng. Tác phong phục vụ khách hàng chưa thật nhiệt tình nên chưa tạo được ấn tượng tốt với khách hàng. Trong môi trường các ngân hàng cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì phong cách phục vụ tốt sẽ là một yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng.
2.3.3. Nguyên nhân
Sở dĩ có các hạn chế trên là dô một số nguyên nhân chủ yếu sau:
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất: các sản phẩm huy động vốn còn đơn điệu,chưa đa dạng và tiện ích cho khách hàng. Mặc dù chi nhánh đã có nhiều cố gắng trong công tác HĐV nhưng hình thức cũng như kỳ hạn HĐV chưa thực sự phong phú, còn đơn điệu và mang tính chất cổ truyền chưa đáp ứng được hết nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Hình thức huy động VIB Hồng Bàng đang áp dụng hiện nay vẫn chỉ là tiền gửi tiết kiệm thông thường và tiền gửi doanh nghiệp, hình thức huy động chứng chỉ tiền gửi và tiết kiệm theo thời gian thực gửi tuy được xem là hình thức HĐV năng động đáp ứng nhanh nhạy cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của chi nhánh nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn và không được sử dụng một cách thường xuyên.
Thứ hai: các hoạt động marketing chưa được triển khai đồng loạt và mạnh mẽ. Mặc dù VIB Hông Bàng đã tiến hành các chiến dịch quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm mới đến cho khách hàng dưới hình thức như: tặng quà cho khách hàng nhân dịp khuyến mại chung của VIB, tổ chức hội nghị khách hàng, gọi điện hỏi thăm khách hàng … Nhưng những hoạt động này chỉ mang tính chất lẻ tẻ chưa có chính sách hay kế hoạch lâu dài nên kết quả thu được không cao như mong muốn. Bên cạnh các hoạt động marketing chung của hệ thống thì VIB Hồng Bàng cũng ít triển khai các hoạt động quảng bá sản phẩm và hình ảnh của mình trên đài phát thanh và truyền hình địa phương.
Thứ ba: các biện pháp bổ trợ cho công tác huy động vốn còn nhiều hạn chế. Điều kiện làm việc của cán bộ công nhân viên còn chưa thuận lợi, địa điểm làm việc còn chật hẹp, trang thiết bị kỹ thuật chưa thực sự hiện đại và cần phải đổi mới thêm. Các trang thiết bị phục vụ cho nhân viên trực tiếp huy động vốn là các giao dịch viên còn chưa đang trang bị hiện đại, máy vi tính thường hay bị treo gây chậm trễ trong quá trình phục vụ khách hàng. Mạng lưới chi nhánh, các phòng giao dịch đã được mở rộng nhưng chưa rộng khắp toàn quốc. Hoạt động marketing chưa có những biện pháp tiếp cận khách hàng thích hợp dẫn đến tình trạng khách hàng chỉ biết đến một vài hình thức dịch vụ thông dụng khi họ có quan hệ giao dịch với ngân hàng. VIB Hồng Bàng chưa đưa ra được các biện pháp khuyến khích nhân viên trong toàn chi nhánh tham gia huy động vốn mà chỉ giao chung chung cho các phòng ban gây ra hiện tượng mọi người đều thấy có trách nhiệm huy động vốn nhưng không biết phải huy động bao nhiêu đạt chỉ tiêu và cũng không có chế độ khuyến khích khiến nhiều nhân viên có tâm lý huy động vốn được càng tốt mà không huy động được cũng không sao. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Thứ tư: về trình độ đội ngũ cán bộ, tuy công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng nghiệp vụ luôn được chi nhánh chú trọng quan tâm nhưng đến nay vẫn chưa đồng bộ. Do đó, hiệu quả của công tác xác định nhu cầu sử dụng vốn và xây dựng chính sách, kế hoạch huy động vốn chưa cao. Chi nhánh không thường xuyên tổ chức các lớp học trao dồi nghiệp vụ, cập nhật chính sách cũng như các sản phẩm mới tiện ích cho khách hàng tạo sức ỳ lớn cho cán bộ nhân viên.
2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, môi trường kinh tế – xã hội có nhiều biến động. Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng có nhiều diễn biến phức tạp không có lợi cho hoạt động ngân hàng. Bước sang năm 2023, tình hình kinh tế không mấy sáng sủa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện chậm lại, lạm phát tiếp tục tăng cao vượt xa dự báo của cơ quan chức năng. Cùng với đó là thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động. NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt (tăng dự trữ bắt buộc, khống chế dư nợ của các ngân hàng, lãi suất cơ bản biến động liên tục từ 8.75% đến 12% đến 14% rồi giảm xuống 7% lại tăng lên 8%). Đồng đô la Mỹ tăng giá liên tục làm thị trường ngoại hối khan hiếm đô la Mỹ nghiêm trọng dẫn đến tình trạng ngừng trệ các hoạt động thanh toán nước ngoài. Các doanh nghiệp thì mất thêm khoản chi phí khá lớn để mua đô la Mỹ thanh toán đúng thời hạn nếu không sẽ bị phạt hợp đồng. Sang năm 2024 tình hình kinh tế cũng được cải thiện nhưng không đáng kể: lạm phát tăng cao, giá vàng biến động thất thường, giá USD tăng nhanh… đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân trong việc cân nhắc sử dụng khoản tiền nhàn rỗi của mình. Tình hình kinh tế khó khăn khiến thu nhập của người dân và lợi nhuận doanh nghiệp bị giảm sút dẫn đến huy động vốn của Chi nhánh cũng giảm đáng kể.
Thứ hai, mạng lưới các NHTM ngày càng đông đảo khiến cho công tác huy động vốn của ngân hàng ngày càng vấp phải cạnh tranh gay gắt. Các ngân hàng TMCP liên tục khai trương các chi nhánh, phòng giao dịch và tổ chức nhiều đợt khuyến mại, quảng cáo, liên tục tung ra các chiến dịch nhằm thu hút vốn. Trong quá trình cạnh tranh để giữ và mở rộng thị phần, thu hút được vốn, các tổ chức này đua nhau tăng lãi suất huy động không dựa trên cơ sở cung cầu về vốn làm cho mặt bằng lãi suất trên thị trường tăng lên, gây khó khăn cho công tác tìm kiếm nguồn vốn huy động rẻ.Quá trình mở cửa, tiến tới tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam, các NHTM chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các ngân hàng nước ngoài trong mọi lĩnh vực hoạt động từ nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, mở rộng quy mô hoạt động cho đến việc thu hút nguồn lao động có kỹ năng trong khi nhu cầu của ngân hàng ngày càng tinh tế và có sự lựa chọn nhiều hơn. Hiện nay các ngân hàng luôn đặt mục tiêu huy động vốn lên hàng đầu, phân bổ chỉ tiêu huy động vốn đến từng nhân viên do đó mức độ cạnh tranh về huy động vốn ngày càng lớn.
Thứ ba, sự phát triển vượt bậc của thị trường tài chính như con dao hai lưỡi. Một mặt nó thúc đẩy hoạt động huy động vốn của NHTM qua việc tăng khả năng thanh khoản cho các loại giấy tờ có giá, một mặt nó thu hút nguồn vốn đầu tư trung dài hạn trong xã hội vào đó làm cho lượng vốn huy động này của ngân hàng giảm sút gây khó khăn cho việc mở rộng tín dụng trung, dài hạn của NHTM. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
Thứ tư, diễn biến lãi suất huy động và lãi suất cho vay trên thị trường biến động liên tục và không thuận lợi cho ngân hàng. Do có nhiều ngân hàng vẫn không tuân thủ theo điều hành lãi suất cơ bản của NHNN, không ngừng nâng lãi suất huy động để thu hút khách hàng đó tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Điều đó đã làm VIB Hồng Bàng mất một lượng lớn các khách hàng gửi tiền truyền thống và mặc dù khi lãi suất huy động vốn trên thị trường được ổn định thì các khách hàng này cũng khó quay lại với ngân hàng.
Thứ năm, tâm lý người dân vẫn ưa chuộng sử dụng tiền mặt. Nhất là trong giai đoạn mà lạm phát cao, họ giữ tiền mặt để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu. Những tiện ích về dịch vụ ngân hàng bán lẻ nhất là dịch vụ thanh toán bằng thẻ hầu như còn xa lạ với các tầng lớp dân cư. Mặt khác sự hiểu biết về ngân hàng của người dân còn hạn chế, trình độ cũng thấp trong thủ tục, chứng từ thanh toán qua ngân hàng dẫn đến các sản phẩm ngân hàng điện tử VIB Hồng Bàng đưa ra không được nhiều khách hàng sử dụng.
Thứ sáu, hệ thống luật pháp còn chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ và nhất quán, chưa theo kịp với thực tế đầy sinh động trong hoạt động kinh tế, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập kinh tế ngân hàng. Văn bản của NHNN vừa mới ban hành trong thời gian ngắn đã phải sửa đối, bổ sung. Tính thiếu minh bạch của thông tin, đặc biệt là các quy định về tài chính, kế toán, hợp đồng lao động, hợp đồng tín dụng và các chế tài kinh tế khác gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng, nhất là khi khả năng thực thi của pháp luật còn chưa cao.
Tóm lại, có thể nói rằng, hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – chi nhánh Hồng Bàng tuy đạt được một số kết quả đáng kể song vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định góp phần làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh nói của chi nhánh. Chính vì vậy vấn đề đặt ra cấp thiết đối với VIB Hồng Bàng trong thời gian tới là phải đưa ra những giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao để khắc phục những tồn tại trên để nâng cao hơn nữa hiệu quả huy động vốn. Có như vậy, VIB Hồng Bàng mới đáp ứng được yêu cầu ngày một tăng lên của nền kinh tế thị trường và vững vàng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng VIB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn của ngân hàng thương VIB […]