Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1- Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang
2.1.1- Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang
Tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Bắc Giang là Ngân hàng kiến thiết tỉnh Hà Bắc, được thành lập từ năm 1958. Lúc đầu chỉ là một phòng cấp phát trực thuộc Ty tài chính. Đến năm 1963 được thành lập là Chi hàng kiến thiết, với nhiệm vụ cấp phát vốn cho các công trình xây dựng thuộc vốn ngân sách Trung ương và vốn ngân sách địa phương. Đến năm 1981 được đổi tên là Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cấp phát. Đến năm 1988 toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam chuyển thành hệ thống Ngân hàng 2 cấp. Đến năm 1990 hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng được đổi tên là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam. Lúc này Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Hà Bắc có tên gọi là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Bắc.
Đầu năm 1995 toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nhận được quyết định chuyển toàn bộ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp, vốn tín dụng ưu đãi sang Cục đầu tư, lúc này Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thực sự trở thành một Ngân hàng thương mại.
Đến đầu năm 1997, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá 9 về việc phân lại địa giới hành chính, tỉnh Hà Bắc được chia tách thành 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Bắc Giang được tái lập từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.
2.1.2- Cơ cấu tổ chức bộ máy, nhiệm vụ và chức năng của các phòng nghiệp vụ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang
2.1.2.1- Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang
Về mặt cơ cấu tổ chức, BIDV .BG có 170 cán bộ, trụ sở chính đóng tại số 02 đường Nguyễn Gia Thiều – Thành phố Bắc Giang- Tỉnh Bắc Giang. Gồm có các phòng ban như sau: Ban giám đốc có 03 người, trong đó có 01 giám đốc và 02 phó giám đốc, mô hình hiện tại của chi nhánh tại HSC được thực hiện theo dự án HĐH bao gồm như sau:
Khối tín dụng:
- 1- Phòng Quan hệ khách hàng Cá nhân
- 2- Phòng Quan hệ khách hàng Doanh nghiệp
Khối dịch vụ khách hàng:
- 3- Phòng dịch vụ khách hàng
- 4- Phòng tiền tệ kho quỹ
Khối hỗ trợ kinh doanh:
- 5- Phòng kế hoạch nguồn
Khối quản lý nội bộ:
- 6- Phòng tổ chức hành chính
- 7- Phòng tài chính kế toán
- 8- Phòng kiểm tra nội bộ
Khối trực thuộc:
- 9- Phòng giao dịch 1
- 10- Phòng giao dịch Lục Ngạn
- 11- Điểm giao dịch số 3
- 12- Điểm giao dịch số 4
Có 02 điểm giao dịch và 01 phòng giao dịch trên địa bàn Thành phố và 01 phòng giao dịch đóng tại thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn. Trong một mô hình cơ cấu này, Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang rất coi trọng yếu tố con người và coi đó là hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do đó công tác cán bộ, đào tạo cán bộ thường xuyên được quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ, được củng cố phát triển theo yêu cầu của mỗi nghiệp vụ kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
- Cơ cấu tổ chức của BIDV Bắc Giang
2.1.2.2- Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
- Giám đốc chi nhánh: chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ bộ máy quản lý của ngân hàng
- Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh: Trợ giúp cho Giám đốc chi nhánh trong lĩnh vực cho vay, đầu tư, giám sát việc thực hiện kế hoạch.
- Phó Giám đốc phụ trách kế toán: Trợ giúp cho Giám đốc chi nhánh trong việc chấp hành các chế độ kế toán.
Phòng Khách hàng Doanh nghiệp: Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng doanh nghiệp bằng tín dụng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng doanh nghiệp nhằm mở rộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưu thông và tiêu thụ; Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao; Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp uỷ quyền; Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước, trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn thuộc Chính phủ, các Bộ ngành… ; Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề hướng khắc phục.
Phòng Khách hàng Cá nhân: Bao gồm 02 bộ phận chính là Bộ phận cho vay và bộ phận huy động tiền gửi dân cư. Bộ phần cho vay chuyên khai thác mảng khách hàng là các cá nhân vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng. Bộ phận huy động tiền gửi dân cư tiết kiệm, có chức năng huy động nguồn vốn để điều chuyển nguồn vốn huy động.
Phòng Kế toán: Phản ánh kịp thời chính xác các nghiệp vụ kế toán phát sinh, thực hiện tính đúng, tính đủ các khoản thu nhập, chi phí, lỗ lãi, hỗ trợ cho Phó giám đốc phụ trách kế toán và Giám đốc chi nhánh, trực tiếp điều hành công tác đối ngoại và dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về và ngược lại.
Phòng quản lý & dịch vụ ngân quỹ: Có nhiệm vụ điều hòa tiền mặt và ngân phiếu thanh toán một cách linh hoạt, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thu chi tiền của khách hàng, quản lý tài sản cầm cố, thế chấp và các chứng từ, ấn chỉ có giá ngắn hạn khác; chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Phòng Quản lý Rủi ro: Chịu trách nhiệm rà soát, phát hiện kịp thời các dấu hiệu rủi ro; đánh giá mức độ rủi ro đối với các phương án vay vốn do các phòng Khách hàng, phòng Giao dịch chuyển lên, đưa ra phương án khắc phục trình người có thẩm quyền quyết định nhằm hạn chế tối đa những rủi ro khi đưa ra quyết định đầu tư.
- Phòng Hành chính – Tổ chức: Thực hiện công tác giao dịch trong các lĩnh vực về liên hệ công tác, tổ chức, quản lý nhân sự.
- Phòng Kế hoạch tổng hợp: Quản lý và cung cấp các thông tin phần mềm liên quan đến các hoạt động về kế toán, tín dụng.
- thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với các cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Sự liên quan giữa các phòng: hàng ngày trên cơ sở các hồ sơ tín dụng đã được phòng tín dụng hoàn thiện đưa sang phòng kế toán – ngân quỹ để giải ngân đồng thời trên cơ sở các giao dịch phát sinh về cho vay thu nợ kế toán cung cấp số liệu để phòng tín dụng theo dõi chặt chẽ từng khách hàng. Phòng tín dụng tiếp thị khách hàng quảng bá dịch vụ ngân hàng tiếp thị khách hàng tăng nguồn vốn cho ngân hàng. Cuối tháng kết hợp cùng tín dụng kế toán cung cấp số liệu chính xác, sao kê để phòng tín dụng hoàn thiện báo cáo tín dụng kịp thời nhanh chóng.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang luôn thực hiện chiến lược kinh doanh: Lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng làm mục tiêu, lấy hiệu quả và an toàn trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Ngân hàng làm tiêu chuẩn hàng đầu, vì sự tiến bộ, phát triển lớn mạnh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, hành động theo luật pháp và những nguyên tắc có đạo đức trong kinh doanh Ngân hàng, giữ vị thế là một trong những Ngân hàng lớn mạnh, giữ vai trò chủ đạo là Ngân hàng đứng đầu về lĩnh vực đầu tư phát triển.
2.1.3- Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang có quy mô hoạt động lớn, kinh doanh đa năng, phát triển mạnh trên địa bàn. Năm 2002, chi nhánh thành lập thêm chi nhánh cấp 2 tại thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn để mở rộng cho vay vào kinh tế trang trại, vườn đồi, cho vay tiêu dùng ở huyện và một số huyện lân cận.
Vào những năm trước đây, do chi nhánh đầu tư lớn, chủ yếu vào một số doanh nghiệp nhà nước ( công ty xi măng Bắc Giang, công ty vật liệu chịu lửa Cầu Đuống, xí nghiệp gạch Hồng Thái, công ty Tân Xuyên,…) làm ăn kém hiệu quả, lỗ kéo dài, không trả được nợ vay ngân hàng, nợ khó đòi tồn đọng phát sinh lớn, nợ quá hạn nhiều, nên ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Tuy nhiên vào những năm trở lại đây, hoạt động kinh doanh của chi nhánh đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, tích cực. Một số hoạt động kinh doanh như bảo lãnh, thanh toán quốc tế, dịch vụ khách hàng đang từng bước phát triển, mở rộng và bước đầu có hiệu quả, khách hàng vay vốn đa dạng phong phú bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ gia đình và tư nhân cá thể. Cơ cấu đầu tư có sự thay đổi phù hợp với chủ trương, định hướng của Nhà nước, của ngành,…Nhờ vậy hoạt động của chi nhánh đã và đang được củng cố ngày một phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.
Theo Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang như sau:
- Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tổng quát
Căn cứ vào những chỉ tiêu báo cáo trên ta thấy từ năm 2023-2025:
- Tổng tài sản trong các năm liên tục tăng: Năm 2024 là 1.614.788 triệu đồng tăng 20,07% so với năm 2023, năm 2024 đạt 2.329.154 triệu đồng.
- Dư nợ: Năm 2024 là 1.368.538 triệu đồng tăng 12,21% so với năm 2023, năm 2025 đạt được là 1.640.545 triệu đồng.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong 3 năm đều ở mức nhỏ hơn 3%
- Lợi nhuận đạt được luôn vượt mức được giao ( >20 tỷ đồng )
- Huy động vốn: Năm 2024 là 924.327 triệu đồng tăng 26,74% so với năm 2023, năm 2025 đạt được là 1.323.230 triệu đồng.
2.1.3.1- Công tác huy động vốn
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, một trong những đặc trưng cơ bản là “đi vay để cho vay” do đó nguồn vốn huy động hay còn gọi là đầu vào của Ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho hoạt động của Ngân hàng. Qua đây ta nhận thấy rằng tình hình huy động vốn của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang nói chung tăng dần qua các năm, cơ cấu nguồn vốn huy động: Năm 2024 là 924.327 triệu đồng tăng 26,74% so với năm 2023. Đây là thành tích to lớn trong công tác huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang.
Một nguồn vốn lớn, ổn định là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, nó quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác, quyết định đến khả năng thanh toán, chi trả, đến năng lực cạnh tranh của mỗi Ngân hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang đã luôn coi trọng công tác huy động vốn dưới mọi hình thức để đảm bảo quy mô nguồn vốn tiếp tục tăng trưởng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ta có thể thấy rõ hơn ở bảng sau: Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
- Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn tại BIDV. BG
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng nói chung tăng dần qua các năm, cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2024 đạt 924.327 triệu đồng tăng 195.035 triệu đồng, tốc độ tăng 26,74% so với năm 2023. Đến 31/12/2025 nguồn vốn huy động đã đạt tới 1.323.230 triệu đồng tăng lên so với năm 2024 là 398.903 triệu đồng. Đây là thành tích trong công tác huy động vốn của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang. Công tác huy động vốn đạt được là do các nguyên nhân:
- Tình hình kinh tế chính trị ổn định diễn biến theo chiều hướng tích cực, các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Chính sách tiền tệ của NHNN cho phép thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong cho vay, nới lỏng biên độ tỷ giá tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng quyền tự chủ.
- Sự nỗ lực và quyết tâm lớn của toàn thể CBCNV Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang tìm kiếm khai thác có chọn lọc với lãi suất hấp dẫn từ nhiều nguồn khác nhau.
- Mở rộng thêm mạng lưới quỹ tiết kiệm: Mở thêm 3 quỹ tiết kiệm tại nơi dân cư tập trung đông, nâng cấp hầu hết các quỹ tiết kiệm đảm bảo phục vụ khách hàng chính xác kịp thời.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang trong cơ chế thị truờng hiện nay là vô cùng khó khăn cả về thế và lực. Cùng nằm trên địa bàn có nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay doanh nghiệp tạo ra sức cạnh tranh gay gắt cho Ngân hàng. Nhưng bằng sự nỗ lực và quyết tâm lớn của Ban lãnh đạo và đội ngũ CBCNV Ngân hàng, trong những năm qua Ngân hàng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, từng bước thích ứng với môi trường cạnh tranh khốc liệt, với những chính sách khách hàng hợp lý bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền bằng cơ chế lãi suất linh hoạt hấp dẫn và phù hợp với điều kiện cạnh tranh, công tác tiếp thị, tuyên truyền, quảng cáo nhằm huy động tối đa mọi nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời của dân cư cũng như TCKT được chú trọng, đội ngũ cán bộ nhiệt tình năng nổ…
Qua đây ta nhận thấy rằng: Tiền gửi của các TCKT năm 2024 đạt 218.853 triệu đồng tăng 22.130 triệu đồng, tốc độ tăng đạt 11,25% so với năm 2023 và đến năm 2025 thì đạt tới 282.303 triệu đồng tăng 63.450 triệu đồng so với năm 2024. Nguyên nhân loại tiền gửi này tăng là do ngân hàng mở rộng dịch vụ thanh toán, kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng như thuận tiện cho việc chi trả tiền hàng, việc thanh toán không dùng tiền mặt, thu hút nhiều doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng.
Tiền gửi của cá nhân vẫn liên tục tăng: Năm 2024 đạt 510.502 triệu đồng, tăng lên 150.833 triệu đồng so với năm 2023, đến năm 2025 đạt 740.930 triệu đồng tăng lên 230.428 triệu đồng so với năm 2024. Như vậy, có thể thấy sự phát triển ổn định trong kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu nhờ nguồn này. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Cơ cấu tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi trung, dài hạn có sự thay đổi: Năm 2024 tiền gửi ngắn hạn tăng mạnh do tiền gửi của TCKT tăng (hay lượng tiền nhàn rỗi của TCKT chưa sử dụng đến), còn tiền gửi trung, dài hạn giảm. Đến năm 2025 thì tiền gửi ngắn hạn vẫn tăng mạnh đạt 739.686 triệu đồng; còn tiền gửi trung, dài hạn đó có xu hướng tăng trở lại đạt 583.544 triệu đồng, tăng 46,48% so với năm 2024. Điều này chứng tỏ các dịch vụ của Ngân hàng như: Thanh toán qua Ngân hàng, tiền gửi thanh toán,…cho các doanh nghiệp đó được chú trọng.
Với tình hình đó nguồn vốn huy động bằng VND và ngoại tệ có xu hướng tăng ở giai đoạn năm 2024, đến năm 2025 thì huy động bằng VND vẫn tăng nhưng tốc độ tăng không cao như năm trước, còn huy động ngoại tệ lại giảm đi rõ rệt.
Nhìn chung hoạt động huy động vốn của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang tăng trưởng khá cao.
2.1.3.2- Về tình hình sử dụng vốn
Song song với công tác huy động vốn thì nghiệp vụ sử dụng vốn có vai trò hết súc quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nếu coi như huy động vốn là điều kiện cần thì sử dụng vốn được coi là điều kiện đủ, quyết định đến sự sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn để cho vay nên nếu huy động vốn được nhiều mà không cho vay thì dẫn đến hậu quả “ách tắc vốn” nhưng ngược lại cho vay được mà không thu hồi được nợ thì lại càng không tốt. Do vậy, nghiệp vụ sử dụng vốn chỉ cần một sai lầm nhỏ có thể dẫn tới hậu quả khôn lường thậm chí có thể đi tới phá sản của bất cứ một Ngân hàng nào.
Nhận thức đúng đắn vấn đề này, Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang luôn coi trọng nghiệp vụ sử dụng vốn, đặt công tác tín dụng lên hàng đầu theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam. Ngân hàng chú trọng tăng trưởng tín dụng phải được kiểm soát vốn cho vay. Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, giảm dần dư nợ đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu nhỏ, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, coi trọng hiệu quả kinh tế và thực hiện nghiêm túc các quy chế về tín dụng hiện hành. Trong những năm qua, công tác tín dụng của Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả khả quan.
Ta có thể thấy được điều đó qua bảng số liệu:
- Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của BIDV. BG
Mới đây, lãnh đạo BIDV cũng nêu quan điểm rằng, chính sách tín dụng hiện nay và thời gian tới sẽ tập trung cho hướng bán lẻ, giảm bớt các khoản cho vay lớn đối với các doanh nghiệp lớn. Hướng này đồng nghĩa với sự mở rộng hơn cơ hội tiếp cận vốn cho các khách hàng nhỏ lẻ… Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: Sự tăng trưởng và phát triển dư nợ cho vay của Ngân hàng qua các năm: 2023 là 1.168.185 triệu đồng đến 2024 đạt 1.368.538 tăng lên 200.353 triệu đồng tốc độ tăng là 17,15%, năm 2025 tăng lên 272.007 triệu đòng so với năm 2024 tốc độ tăng là 19,87%. Về cơ bản tổng dư nợ cho vay qua các năm không ngừng tăng lên, điều này phản ánh xu hướng phát triển, sự nỗ lực đáng mừng của Ngân hàng, sự vươn lên vượt qua khó khăn thử thách để đạt được hiệu quả, tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo.
Trong tổng dư nợ cho vay: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn liên tục tăng. Cho vay Doanh nghiệp nhà nước đã bị thu hẹp tập trung cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Tỷ lệ cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và khách hàng cá nhân, hộ gia đình ngày càng tăng cho thấy Ngân hàng đã chú trọng tới thành phần này.
Nhìn chung, hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng đã có sự tăng trưởng qua các năm, đó là thành tích đáng ghi nhận.
2.1.3.3- Các hoạt động khác
Bên cạnh các sản phẩm chính, sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng, ngày càng đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm dịch vụ truyền thống (thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, chi trả kiều hối) được nâng cấp hoàn thiện hơn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu cũng như về số lượng giao dịch… Tuy nhiên, với sự linh hoạt trong kinh doanh, chi nhánh đã đi đầu trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ như đại lý chứng khoán, phối hợp với các quỹ tín dụng trên địa bàn cung cấp các sản phẩm dịch vụ (chi trả kiều hối) đến các xã, huyện; Thu hộ ngân sách Nhà nước đã đạt được kết quả ban đầu khá khả quan, đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ bán lẻ ( BSMS, thẻ..) cũng góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu nguồn thu trong hoạt động dịch vụ, giảm bớt sự lệ thuộc vào các loại hình dịch vụ truyền thống.
Về tình hình thu dịch vụ ròng hàng năm và thu từ các hoạt động dịch vụ ngân hàng bán lẻ khác được thể hiện trong bảng dưới đây: Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
- Bảng 2.4: Doanh thu các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác giai đoạn 2023– 2025 tại BIDV.BG
Qua bảng trên có thể thấy chi nhánh đã có mức tăng trưởng khá ấn tượng về thu dịch vụ ròng nói chung và thu từ thị trường bán lẻ nói riêng, điều này cho thấy chi nhánh đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, thu hút ngày càng nhiều khách hàng doanh nghiệp và cả cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán ở chi nhánh. Từ chỗ thu dịch vụ ban đầu là 9.828,97 triệu đồng năm 2023; đến năm 2024 chi nhánh đã đạt 10.499 triệu đồng, và tăng mạnh lên 14.251 triệu đồng trong năm 2025.
Như vậy, về cơ bản, các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác trong thời gian vừa qua đã được chi nhánh triển khai, đi vào hoạt động và đạt được những kết quả đáng kể. Vượt qua những khó khăn về khủng hoảng kinh tế trong nước, nguồn thu phí dịch vụ đã có bước tăng trưởng cao và ổn định. Đây là tiền đề hết sức quan trọng cho chi nhánh trong việc tiếp tục phát triển dịch vụ trong thời gian sắp tới.
2.1.3.4- Kết quả kinh doanh của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang
Với sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của toàn bộ đội ngũ Cán bộ Công nhân viên trong những năm qua, NH ĐT&PT Bắc Giang đã đạt được nhiều kết quả tốt trong hoạt động kinh doanh.
- Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của NH ĐT&PT BG năm 2024-2025
- Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh 1
Qua bảng trên cho thấy lợi nhuận kinh doanh năm 2025 đã tăng trưởng khá mạnh, do hoạt động kinh doanh hiệu quả tổng thu nhập tăng 11,89% làm lợi nhuận tăng 28,29% tương ứng 6900 triệu đồng, từ đó phần nào ảnh hưởng tốt đến hoạt động của chi nhánh trong năm vừa qua. Mặc dù chỉ tiêu lợi nhuận vẫn chưa đánh giá được thực chất tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhưng nó cũng nói lên đựoc đến chất lượng dịch vụ của Ngân hàng.
Những con số đã nói lên phần nào sự nỗ lực của ngân hàng trong quá trình phát triển hoàn thiện nghiệp vụ kinh doanh, quy mô hoạt động của chi nhánh đang được mở rộng, sự tín nghiệm cuả khách hàng ngày càng tăng lên, hứa hẹn tiềm năng phát triển lớn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Bắc Giang trong tương lai.
2.2- Thực trạng mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với DNVVN của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang từ năm 2023 đến 2025. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
2.2.1- Số lượng các DNVVN có quan hệ tín dụng với Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang.
DNVVN trên địa bàn Bắc Giang ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của tỉnh nhà. Số lượng DNVVN có quan hệ với Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang không ngừng tăng lên. Theo thống kê mới nhất tình hình khách hàng quan hệ với Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang trong 3 năm gần đây:
- Bảng 2.6: Khách hàng doanh nghiệp có quan hệ với Ngân hàng ĐT&PT BG
Doanh nghiệp tại Bắc Giang đa phần là DNVVN. Hoạt động của các doanh nghiệp này còn nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm. Số lượng khách hàng có quan hệ với Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang chiếm tỷ lệ >30% trong tổng số doanh nghiệp tại địa bàn. Với tiềm lực của mình Ngân hàng cần đẩy mạnh mở rộng tín dụng với loại hình doanh nghiệp này.
2.2.2- Tình hình hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang.
2.2.2.1- Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN trong tổng dư nợ
Dư nợ đối với DNVVN của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang chiếm tỷ lệ không nhỏ trên tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng, điều này cho thấy được hầu hết các quan hệ tín dụng của Ngân hàng là đối với DNVVN.
- Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN trong tổng dư nợ của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy được dư nợ tín dụng đối với các DNVVN chiếm tỷ lệ khá lớn và không ngừng tăng trong thời gian qua với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng trên 95%/năm. Qua đây chứng tỏ Ngân hàng đang ngày càng mở rộng thị phần ra khối DNVVN theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.
2.2.2.2- Tình hình cho vay- thu nợ- dư nợ đối với DNVVN
Trong những năm gần đây, Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang đã không ngừng mở rộng tín dụng đối với các DNVVN. Món vay thực hiện ngày càng tăng lên chứng tỏ sự quan tâm của Ngân hàng đối với các DNVVN. Để thấy rõ hơn ta có thể xem xét bảng số liệu sau: Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
- Bảng 2.8: Tình hình cho vay- thu nợ- dư nợ đối với DNVVN của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang
Năm 2024, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn phục hồi sau những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2022-2023. Nhưng nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy: Trong những năm qua doanh số cho vay đối với các DNVVN của Ngân hàng vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá, năm 2024 đạt 1.245.964 triệu đồng tăng 16,63% so với năm 2023, đến năm 2025 đã tăng lên 1.455.886 triệu đồng tăng lên 16,84%so với năm 2024. Tốc độ tăng doanh số cho vay liên tục tăng trong các năm chứng tỏ Ngân hàng đang ngày càng quan tâm chú trọng mở rộng đầu tư tín dụng cho các DNVVN.
Bên cạnh công tác tìm kiếm, khai thác, mở rộng thị trường tín dụng thì công tác thu nợ cũng được Ngân hàng thực hiện một cách nghiêm túc vì nó phản ánh đến chất lượng và hiệu quả tín dụng của Ngân hàng. Nhìn vào số liệu trên ta thấy doanh số thu nợ liên tục tăng qua các năm và tăng mạnh vào các năm 2025. Điều này đã phản ánh sự nỗ lực, cố gắng của tập thể cán bộ tín dụng trong việc quản lý nợ cũng như công tác thu nợ.
Về dư nợ tín dụng đối với DNVVN: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN năm 2024 tăng 13,28% so với năm 2023, sang năm 2025 dư nợ cho vay đối với DNVVN đã đạt được 1.077.765 triệu đồng tăng 143.399 triệu đồng tức là tăng 15,34% so với năm 2024. Như vậy, dư nợ cho vay DNVVN nhìn chung tăng dần qua các năm, điều này cho thấy Ngân hàng đã mở rộng quy mô đầu tư, chú ý đến việc đầu tư váo các DNVVN hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu hút được nhiều khách hàng đến xin vay vốn. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng liên tục tăng cho thấy Ngân hàng đã chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng đi đôi với việc tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN lành mạnh nhằm đảm bảo an toàn trong vốn vay và cho vay có hiệu quả.
2.2.2.3- Tình hình dư nợ đối với DNVVN theo thành phần kinh tế
Trong cơ cấu dư nợ đối với DNVVN xét theo thành phần kinh tế, từ năm 2023 đến nay nhìn chung tăng lên đối với khu vực ngoài quốc doanh, và giảm dần khu vực nhà nước.
Thực tế đó được thể hiện trong bảng sau: Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
- Bảng 2.9: Tình hình dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo thành phần kinh tế
Nhìn vào bảng số liệu trên ta nhận thấy: Dư nợ cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ lệ lớn nhất là vào năm 2024, 2025 nguyên nhân do khu vực DNNN bị thu hẹp lại nhường chỗ cho các DNNQD. Trong thời gian này điều kiện vay áp dụng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được nới lỏng hơn, với số lượng các DNVVN ngoài quốc doanh có tốc độ tăng trưởng rất nhanh đóng góp rất lớn cho vào nền kinh tế, trong khi đó thì hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm sút kém hiệu quả khả năng thu hồi nợ có phần khó khăn gây rủi ro cho Ngân hàng. Hơn thế nữa hầu hết các Doanh nghiệp nhà nước đang trong tiến trình cơ cấu lại theo chủ trương của Chính phủ dưới nhiều hình thức: Cổ phần hoá, giao khoán, cho thuê nên hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này có ảnh hưởng đến các chính sách tín dụng của Ngân hàng. Vì vậy mà xu hướng của Ngân hàng trong giai đoạn này là đầu tư vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, một thị trường đang có nhu cầu vốn rất lớn.
2.2.2.4- Tình hình dư nợ đối với DNVVN theo thời hạn
Cơ cấu dư nợ theo thời hạn của Ngân hàng có sự thay đổi rõ rệt trong những năm gần đây.
Bảng 2.10: Tình hình dư nợ đối với DNVVN theo thời hạn
- Trong đó:
Dư nợ tín dụng ngắn hạn: Năm 2024 đạt 694.234 triệu đồng tăng 125.106 triệu đồng đến năm 2025 đạt được 851.434 triệu đồng tăng 157.200 triệu đồng so với năm 2024. Vốn tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng đã hỗ trợ các doanh nghiệp bổ xung vốn lưu động, mua nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất. Trong đó: Dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng mạnh vào năm 2024 đó là do trong năm Ngân hàng đã đặc biệt quan tâm đáp ứng kịp thời nhu cầu vật tư để phát triển sản xuất. Đến năm 2025 mặc dù dư nợ vẫn tăng với tốc độ cao hơn so với năm 2024 đó là do Ngân hàng đã chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng đi cùng với tăng trưởng dư nợ tín dụng lành mạnh, đảm bảo an toàn và hiệu quả cho vốn vay.
Dư nợ trung và dài hạn: Dư nợ tín dụng trung và dài hạn đối với DNVVN giảm dần qua các năm, năm 2024 đạt 240.132 triệu đồng giảm 15.563 triệu đồng so với năm 2023, năm 2025 là 226.331 triệu đồng giảm đi 13.801 triệu đồng so với năm 2024.
Qua đây ta nhận thấy rằng Ngân hàng có xu hướng tập trung cho vay ngắn hạn bên cạnh đó thu hẹp cho vay trung và dài hạn lại, các khoản vay ngắn hạn là chủ yếu.
2.2.2.5- Chất lượng tín dụng đối với DNVVN Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Khi xem xét tình hình tín dụng đối với DNVVN ta không thể bỏ qua tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng, nếu như việc cho vay được coi là mặt tích cực thì nợ quá hạn sẽ là mặt trái để ta có cái nhìn toàn diện về kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên nợ quá hạn không phải là một tiêu chuẩn cứng nhắc mà ta nhìn vào đó để có thể nói rằng Ngân hàng cho vay có hiệu quả hay không. Nợ quá hạn của Ngân hàng đối với các DNVVN có những chuyển biến rõ rệt, nợ quá hạn giảm đáng kể cả về số lượng và tỷ lệ. Được thể hiện ở bảng dưới đây:
- Bảng 2.11: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Nợ quá hạn đối với DNVVN năm 2023 là 46.602 triệu đồng chiếm 5,65% tổng dư nợ, nhưng đến 2024 tỷ lệ này đã giảm xuống tới 4,5% trong dư nợ DNVVN, đến năm 2025 tỷ lệ Nợ quá hạn đã giảm xuống chỉ còn có 3,6%. đây là thành tích đáng ghi nhận của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang trong công tác tín dụng. Có được kết quả đó là do: Một mặt, do cơ chế chính sách của Nhà nước đối với DNVVN ngày càng được quan tâm hơn và tạo mọi điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển của DNVVN đảm bảo kinh doanh có lãi và có khả năng trả nợ Ngân hàng. Mặt khác, do tập thể cán bộ tín dụng đã nỗ lực cố gắng làm tốt công tác tín dụng từ khâu thẩm định khách hàng đến việc giám sát quản lý vốn vay, nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng.
2.3- Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Bắc Giang
2.3.1. Những kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Với việc ra đời của rất nhiều DNVVN kéo theo đó là sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng. Chính các đối tượng này đã mở ra một môi trường tín dụng lớn cho toàn hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang nói riêng. Do vậy trong thời gian qua, với mục đích mở rộng thị phần, tăng trưởng tín dụng, phát triển dịch vụ, Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang đã thực hiện chủ trương mở rộng tín dụng đối với DNVVN. Việc mở rộng này đã có những đóng góp không nhỏ cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang trong thời gian vừa qua. Thể hiện:
Góp phần phân tán rủi ro tín dụng: Số lượng DNVVN chiếm đại đa số trong các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tại Ngân hàng. Và trong 3 năm liên tục thì con số này đều tăng lên một cách nhanh chóng ở mọi thành phần kinh tế cũng như ở mọi ngành nghề. Đây là một dấu hiệu rất tốt để Ngân hàng có thể đa dạng hoá đối tượng khách hàng giúp phân tán rủi ro.
Góp phần vào kết quả kinh doanh của Ngân hàng: Dư nợ tín dụng đối với DNVVN chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dư nợ, tăng trưởng một cách đều đặn qua các năm. Do đó góp phần đáng kể vào tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Góp phần tăng thu dịch vụ và đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng: Mở rộng quan hệ tín dụng đối với các DNVVN giúp Ngân hàng thu hút thêm được nhiều đối tượng khách hàng sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng, làm tăng thêm các khoản thu phí đối với Ngân hàng đồng thời cũng đòi hỏi Ngân hàng phải tích cực nghiên cứu để đưa ra những sản phẩm dịch vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Góp phần mở rộng thị phần, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh: Hoạt động tín dụng đối với các DNVVN của Ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú với các phương thức cho vay linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng, giúp Ngân hàng mở rộng thêm được thị phần, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của bản thân Ngân hàng.
2.3.2- Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại
2.3.2.1- Những tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được rất đáng mừng thì trong hoạt động đầu tư tín dụng đối với DNVVN của Ngân hàng vẫn còn những hạn chế nhất định. Được thể hiện: Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Dư nợ tín dụng chưa tương xứng với tiềm năng: Số lượng DNVVN chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số doanh nghiệp có quan hệ với Ngân hàng nhưng số dư nợ lại chưa cao, tỷ trọng dư nợ của DNVVN của Ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Giang đứng thứ hai trong số các Ngân hàng trên địa bàn nhưng chỉ bằng 1/3 của NHNN&PTNT Bắc Giang.
Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa Ngân hàng và các cơ quan hữu quan Đáng lưu ý là thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay. Ví dụ: việc đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, khách hàng và cán bộ Ngân hàng phải qua phòng tài nguyên môi trường để thực hiện giao dịch bảo đảm nhằm chứng thực cho tài sản đó có thể thực hiện làm tài sản bảo đảm trong hợp đồng tín dụng. Điều này tạo ra tâm lý e ngại cho khách hàng vì đôi khi họ còn gặp nhiều vướng mắc khi làm việc với cán bộ của các cơ quan có liên quan.
Đội ngũ cán bộ còn thiếu kinh nghiệm: Với chủ trương trẻ hoá đội ngũ cán bộ tín dụng rất năng động, sáng tạo và được đào tạo bài bản nhưng còn ít về tuổi nghề nên chưa có đủ kinh nghiệm trong quan hệ với khách hàng cũng như khi tiếp cận giải quyết nghiệp vụ phát sinh.
2.3.2.2- Nguyên nhân của tồn tại
Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ nhiều phía: Từ bản thân Ngân hàng, từ phía các DNVVN và từ hệ thống chính sách của Nhà nước.
2.3.2.1- Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân từ phía Nhà nước
- Hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, rườm rà và thiếu tính đồng bộ.
- Luật pháp là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các chủ thể kinh tế.
Việc xây dựng các hành lang pháp lý hướng dẫn các chủ thể kinh tế đi đúng hướng luôn phải minh bạch rõ ràng và theo đúng với tiến trình diễn biến của tình hình kinh tế thì mới thực sự phát huy được hiệu quả. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay vẫn còn tình trạng: xử lý giải quyết trước rồi luật theo sau. Giữa các bộ luật còn thiếu tính đồng bộ như luật Ngân hàng với luật thuế, luật đất đai, luật dân sự, luật hình sự,…
Luật đất đai liên quan đến tài sản thế chấp nhưng việc chứng nhận quyền sử dụng là rất khó khăn đối với các doanh nghiệp. Và như vậy thì để có tài sản thế chấp nhằm tiếp cận vốn của ngân hàng đối với các doanh nghịêp không phải dễ dàng.
Luật các tổ chức tín dụng thì lại khống chế số tiền cho vay đối với từng loại hình doanh nghiệp do vậy hạn chế khả năng vay vốn của các doanh nghiệp mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp này là rất tốt.
- Quản lý đối với DNVVN vẫn còn nhiều sơ hở. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Nhiều doanh nghiệp được nhà nước cấp giấy phép thành lập và đăng ký kinh doanh vượt quá năng lực của bản thân doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động lại không có sự giám sát thường xuyên do vậy đã làm cho các Ngân hàng rất e ngại khi cho vay đối với các doanh nghiệp này.
- Chưa có những chính sách thành lập các trung tâm độc lập và chuyên nghiệp phục vụ cho hoạt động tín dụng.
Các thông tin về khách hàng chưa đầy đủ khiến cho các Ngân hàng gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình tìm hiểu thông tin của khách hàng, gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin giữa các Ngân hàng.
Khi có những trung tâm tư vấn sẽ giúp cho Ngân hàng giảm bớt thời gian cho việc tư vấn cho khách hàng trong việc làm thủ tục cho vay, và đồng thời cũng giúp cho khách hàng có thể làm thủ tục một cách nhanh chóng nhất, thiết lập mối quan hệ tín dụng với Ngân hàng một cách nhanh chóng, tận dụng được cơ hội kinh doanh.
Mặt khác hiện nay tất cả các tài sản đảm bảo đều do Ngân hàng tự đánh giá. Về phía các doanh nghiêp, với tâm lý e ngại rủi ro và không có đầy đủ kiến thức về thị trường, nên giá trị tài sản đảm bảo của các doanh nghiệp thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế. Do vậy các doanh nghiệp không có đủ tài sản đảm bảo để vay được số tiền theo đúng nhu cầu của mình. Có thể thấy việc thành lập một trung tâm đánh giá giá trị tài sản đảm bảo là cần thiết.
- Cơ chế quản lý kinh doanh còn lỏng lẻo.
Hiện nay trên thị trường tràn ngập các loại hàng hoá đa dạng, đa chủng loại mà không rõ nguồn gốc. Tình trạng nhập lậu hàng hoá, làm hàng nhái, hàng giả khiến cho các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển, mở rộng sản xuất. Và đôi khi cũng do những tình trạng trên mà các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Trong một môi trường như vậy các DNVVN với tiềm lực chưa đủ mạnh rất dễ lâm vào tình trạng phá sản, không có khả năng trả nợ Ngân hàng. Do đó việc tiếp cận tín dụng DNVVN đã khó nay càng khó hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng.
- Nguyên nhân từ phía các DNVVN
- Các DNVVN còn thiếu hiểu biết về quy chế cho vay của Ngân hàng
Có tâm lý sợ thủ tục của Ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giải quyết cho vay của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Nhiều doanh nghiệp mặc dù đã được cán bộ tín dụng hướng dẫn lập thủ tục, hồ sơ xin vay rất rõ ràng nhưng vẫn mất rất nhiều thời gian để hoàn thiện hồ sơ, khi ấy lại cho rằng Ngân hàng cố tình gây khó khăn, không tạo điều kiện cho vay.
- Năng lực tài chính thấp Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
Nguồn vốn của các DNVVN là rất thấp nhưng nhu cầu tín dụng cho sản xuất kinh doanh lại lớn. Vốn chủ sở hữu nhỏ nên các DNVVN phải dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài là chủ yếu do vậy tăng các khoản phải trả, khả năng thanh toán và tự tài trợ thấp. Điều này sẽ gây lên rất nhiều rủi ro nếu Ngân hàng cho vay các doanh nghiệp này.
Mặt khác, do không chủ động được nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên đa số DNVVN chưa lập được kế hoạch lưu chuyển tiền mặt trong năm gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc lập kế hoạch cho vay và thu nợ.
Việc thực hiện pháp lệnh kế toán, thống kê chưa nghiêm túc. Đa số các quyết toán và báo cáo tài chính của các DNVVN chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc. Số liệu phản ánh không trung thực tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc thẩm định cho vay.
Các doanh nghiệp không có đủ tài sản thế chấp hợp pháp. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là công ty TNHH, tài sản cá nhân và pháp nhân còn lẫn lộn, thiếu minh bạch nên Ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của khách hàng. Tuy nhiên khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, việc xử lý tài sản cũng gặp khó khăn phức tạp, mất nhiều thời gian, công sức mà cũng không đem lại hiệu quả.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh chịu sức ép cạnh tranh gay gắt
Trong môi trường hoạt động mà áp lực cạnh tranh rất gay gắt của hàng nhập lậu trốn thuế, xuất phát từ chính đặc điểm của mình là năng lực quản lý tài chính và trình độ kỹ thuật yếu kém nên sản phẩm sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh, làm ăn thua lỗ. Do đó các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ vay Ngân hàng. Điều này gây trở ngại trong việc tiếp cận vốn Ngân hàng của các doanh nghiệp.
- Uy tín của DNVVN còn rất nhiều hạn chế
Một số doanh nghiệp cố tình lừa đảo, trốn tránh trách nhiệm trả nợ, thiếu trách nhiệm trong vay trả. Chính vì vậy điều kiện vay vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường quy định chặt chẽ hơn, hầu như không sử dụng cho vay bằng tín chấp nên nhiều doanh nghiệp muốn vay vốn của Ngân hàng lại không đủ điều kiện xét duyệt cho vay.
Qua nghiên cứu ta nhận thấy Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ ở tất cả các mặt trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hoạt động tín dụng nói chung và của tín dụng đối với DNVVN nói riêng. Kết hợp hài hoà giữa lợi ích Ngân hàng và lợi ích của doanh nghiệp, cùng với chủ trương của Nhà nước, của Tỉnh nhà trong việc khuyến khích phát triển các DNVVN, Ngân hàng ĐT&PT Bắc Giang đã dần có những bước đi ngày một tiến gần hơn đến với các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng đối với các DNVVN còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc từ nhiều phía. Vấn đề đặt ra là: phải có những giải pháp đúng đắn để giải quyết những hạn chế đó, tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng cho vay DNVVN an toàn hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
2.3.2.2 – Nguyên nhân chủ quan
- Tâm lý e ngại của Ngân hàng
Mặc dù đã có những chủ trương mở rộng tín dụng đối với DNVVN nhưng bản thân Ngân hàng còn rất thận trọng trong việc cấp tín dụng cho các DNVVN đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bởi vì tỷ lệ rủi ro của thành phần này khá cao. Sự bất ổn của các DNVVN như tỷ lệ phá sản, sự tổn thương trước những thay đổi của thị trường khiến cho các doanh nghiệp khó tiếp cận vốn Ngân hàng. Vì vậy về mặt tâm lý và hiệu quả kinh tế Ngân hàng vẫn tập trung cho vay chủ yếu các khách hàng có nhu cầu vốn lớn, độ tin cậy cao.
- Chính sách tín dụng đối với các DNVVN
Tài sản đảm bảo luôn là vấn đề gặp phải rất nhiều khó khăn vướng mắc của các DNVVN. Trong khi đó, cán bộ tín dụng luôn quá coi trọng tài sản đảm bảo trong khi đó họ hiểu rằng tiềm lực thực sự của doanh nghiệp mới là nguồn trả nợ đáng tin tưởng và tài sản đảm bảo chỉ là nguồn trả nợ thứ hai, việc sử lý tài sản đảm bảo không hề đơn giản. Chính vì vậy đã làm mất đi một số khách hàng tiềm năng.
- Quy trình tín dụng
Quá trình thẩm định tín dụng còn gặp nhiều trở ngại trong khâu thu thập thông tin. Ngân hàng luôn trong tình trạng thụ động thiếu thông tin về doanh nghiệp do vậy việc đánh giá chính xác về tình hình thực tế của doanh nghiệp gặp phải rất nhiều khó khăn, phần nhiều chỉ là qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
- Hoạt động giao tiếp khuyếch trương
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng gay gắt, nhiều Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã chủ động tiếp cận khách hàng và sẵn sàng đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu của khách hàng từ việc cung cấp các dịch vụ Ngân hàng nhanh chóng, thuận tiện đến thái độ phục vụ tận tình chu đáo . Cho nên Ngân hàng cần có những hoạt động marketing hơn nữa.
- Đội ngũ cán bộ tín dụng
Với đội ngũ cán bộ tín dụng trẻ năng lực, trình độ, sự hiểu biết là cần thiết nhưng khả năng hiểu biết về các lĩnh vực khác ngoài ngành còn nhiều hạn chế, thời gian làm việc thực tế để tích luỹ kinh nghiệm còn chưa nhiều.
Kết luận chương 2
Chương 2 là những phân tích về tình hình kinh doanh trong giai đoạn từ năm 2023-2025 của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Giang; đánh giá những thành tích cũng như hạn chế của ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó, đề ra một số giải pháp ở chương 3. Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng mở rộng tín dụng của Ngân hàng BIDV […]