Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của công ty May 10 sang thị trường EU dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

I/ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY MAY 10

1. Lịch sử hình thành và phát triển

Tiền thân của công ty may 10 ngày nay, là các xưởng may quân trang được thành lập ở các chiến khu trong toàn quốc từ năm 1946 để phục vụ trong kháng chiến chống pháp.

Từ năm 1954, sau khi kháng chiến thắng lợi, các xưởng may từ Việt Bắc, Khu Ba, Khu Bốn, liên Khu Năm và Nam Bộ tập hợp về Hà nội thành xưởng may 10 thuộc cục quân nhu -Tổng cục hậu cần- Bộ quốc phòng. Với nhiệm vụ chủ yếu là may quân trang cho bộ đội với chất lượng cao và nhiều loại quân trang cho các binh chủng của quân đội.

Tháng 2 năm 1961, do yêu cầu phát triển kinh tế đất nước với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xí nghiệp may 10 chuyển từ Bộ Quốc Phòng sang Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lý. Nhiệm vụ của xí nghiệp là sản xuất theo kế hoạch của Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng mặt hàng chủ yếu vẫn là may quân trang cho bộ đội (chiếm tới 90- 95% tổng sản lượng may mặc của công ty) và sản xuất các mặt hàng cho xuất khẩu và dân dung (5- 10%).

Tháng 1 năm 1964, May 10 lại một lần nữa chuyển đổi, chịu sự quản lý của Bộ Nội Thương với nhiệm vụ sản xuất gia công hàng may mặc phục vụ cho xuất khẩu theo Nghị Định Thư giữa Việt Nam – Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đồng thời sản xuất hàng may mặc phục vụ cho xuất khẩu. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Năm 1971, xí nghiệp May 10 lại quay về chịu sự quản lý chỉ đạo của Bộ Công Nghiệp Nhẹ với nhiệm vụ may quân trang cho quân đôị và gia công xuất khẩu hàng may mặc.

Sang năm 1975, xí nghiệp May 10 chuyển sang bước ngoặt mới trong nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là chuyên làm hàng may xuất khẩu. Có thể nói đây là điểm khởi đầu cho sự phát triển về sau của xí nghiệp May 10. Những năm sau đó, xí nghiệp liên tục xuất sang thị trường các nước XHCN từ 4-5 triệu áo sơ mi có chất lượng cao.

Tháng 8 năm 2015, Liên Xô cũ tan rã và khối XHCN – Đông Âu sụp đổ liên tục đã làm cho các ngành hàng xuất khẩu của nước ta đứng trước những khó khăn lớn. Thị trường quen thuộc của xí nghiệp may mười mất đi, hàng loạt các đơn đặt hàng, các hợp đồng bị huỷ bỏ hoặc không được thanh toán khiến xí nghiệp May 10 cũng như một số xí nghiệp khác khốn đốn và có nguy cơ bị phá sản. Trước tình hình đó, xí nghiệp May 10 phải tìm hướng giải quyết ngay những khó khăn về thị trường, mạnh dạn chuyển sang thị trường “khu vực 2”. Bên cạnh đó, xí nghiệp thực hiện giảm biên chế, đầu tư đổi mới 2/3 thiết bị cũ, lạc hậu bằng các thiết bị mới hiện đại. Các bạn hàng mới được thiết lập, khó khăn từng bước được tháo gỡ, các sản phẩm của xí nghiệp từng bước chiếm lĩnh được thị trường trong nước, vươn tới các thị trường khó tính khác như Đức, Pháp,Nhật Bản, Mỹ …..

Trước những đòi hỏi của thị trường may mặc trong nước cũng như trên thế giới, ngày 14/1/2017 với quyết định số 1090/TCLĐ của Bộ Công Nghiệp Nhẹ, xí nghiệp May 10 đã chuyển đổi tổ chức, phát triển thành công ty May 10 thuộc Tổng công ty dệt may Việt nam. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

  • Với tên giao dịch Việt Nam : Công Ty May 10
  • Tên giao dịch quốc tế : GARMENT COMPANY 10
  • Tên viết tắt : GARCO 10
  • Tổng số vốn của công ty : 20 000 000 VNĐ
  • Trong đó : Vốn cố định 17 tỷ VNĐ
  • Vốn lưu động 3 tỷ VNĐ
  • Trụ sở chính: Thị trấn Sài Đồng – Gia Lâm – Hà Nội

Sau khi phát triển thành công ty, khả năng sản xuất của công ty tăng lên nhanh chóng, thể hiện ở cả số lượng sản phẩm tăng, số lao động tăng, số xí nghiệp liên doanh liên kết tăng. Cho đến nay, công ty May 10 trực tiếp chỉ đạo quản lý bảy xí nghiệp thành viên và tham gia vào các liên doanh, liên kết khác.Với dây chuyền sản xuất hiện đại, cơ sở vật chất khang trang, kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước, uy tín của công ty trên thị trường ngày càng được củng cố. Công ty May 10 đang thực sự trên đà phát triển mạnh mẽ.

2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

Việc chuyển xí nghiệp May 10 thành công ty May 10 không chỉ là thay đổi một tên gọi mà quan trọng hơn có sự thay đổi về chức năng, cơ cấu của bộ máy điều hành, thay đổi cả tư duy và hình thức hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay, bộ máy tổ chức của công ty gồm nhiều phòng và kinh doanh rất hiệu quả. Mỗi phòng có một chức năng khác nhau.

  • Bộ máy tổ chức của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau
  • Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý của công ty may 10

Đứng đầu tổ chức bộ máy quản lý của công ty là tổng giám đốc – người nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Tổng công ty giao để quản lý và sử dụng theo mục tiêu và nhiệm vụ được giao, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn. Giúp việc cho Tổng giám đốc là ba phó Tổng giám đốc, được quyền thay mặt Tổng giám đốc giải quyết các công việc khi Tổng giám đốc vắng mặt. Chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về các quyết định của mình. Được Tổng giám đốc uỷ quyền đàm phán và ký kết một số hợp đồng kinh tế với khách hàng trong và ngoài nước.

  • Phòng kế hoạch: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Là bộ phận tham mưu của cơ quan Tổng giám đốc quản lý công tác kế hoạch và xuất nhập khẩu, công tác cung cấp vật tư sản xuất, soạn thảo và thanh toán các hợp đồng. Xây dựng và đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất của các đơn vị để đảm bảo hoàn thành kế hoạch cuả công ty, tổ chức tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu.

  • Phòng kinh doanh:

Là bộ phận tham mưu cho cơ quan Tổng giám đốc tổ chức kinh doanh thương mại tại thị trường trong và ngoài nước, công tác cung cấp vật tư, trang thiết bị theo yêu cầu, đầu tư phát triển và phục vụ kịp thời cho sản xuất.

Nghiên cứu sản phẩm chào hàng, tổ chức thông tin quảng cáo giới thiêu sản phẩm.

Đàm phán ký hợp đồng tiêu thụ với khách hàng, đặt hàng sản xuất với phòng kế hoạch.

Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm may mặc và các hàng hoá khác theo quy định của Công ty tại thị trường trong và ngoài nước nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả kinh tế cao.

  • Phòng kỹ thuật:

Là phòng chức năng tham mưu giúp Tổng giám đốc quản lý công tác kỹ thuật công, kỹ thuật cơ điện, công tác tổ chức sản xuất, nghiên cứu ứng dụng phục vụ sản xuất các thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và tiến bộ kỹ thuật mới, nghiên cứu đổi mới máy móc thiết bị theo yêu cầu của công nghệ nhằm đáp ứng sự phát triển kinh doanh của công ty.

  • Ban đầu tư phát triển:

Ban đầu tư phát triển xây dựng và quản lý công trình là đơn vị nghiệp vụ về xây dựng cơ bản, có chức năng tham mưu cho cơ quan Tổng giám đốc về quy hoạch, đầu tư phát triển công ty. Lập dự án đầu tư, tổ chức thiết kế, thi công và giám sát thi công các công trình xây dựng cơ bản. Bảo dưỡng, duy trì các công trình xây dựng vật kiến trúc trong công ty.

  • Phòng tài chính kế toán:

Có chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác tài chính- kế toán của công ty nhằm sử dụng đồng tiền và đồng vốn đúng mục đích, đúng chế độ chính sách, hợp lý và phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

  • Văn phòng: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Là đơn vị tổng hợp, vừa có chức năng giải quyết về nghiệp vụ sản xuất kinh doanh, vừa làm nhiệm vụ về hành chính xã hội.

Có chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác cán bộ, lao động tiền lương, hành chính quản trị, y tế nhà trẻ, bảo vệ quân sự và các hoạt động xã hội theo chính sách và pháp luật hiện hành.

  • Phòng chất lượng:

Tham mưu giúp việc cho cơ quan Tổng giám đốc trong công tác quản lý toàn bộ hệ thống chất lượng của công ty theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002, duy trì và đảm bảo hệ thống chất lượng hoạt động có hiệu quả.

Kiểm tra, kiểm soát chất lượng từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất để sản phẩm xuất xưởng đáp ứng tốt các tiêu chuẩn kỹ thuật đã quy định.

  • Các xí nghiệp may thành viên và xí nghiệp liên doanh:

Là đơn vị sản xuất chính của công ty, tổ chức sản xuất hoàn chỉnh sản phẩm may từ khâu nhận nguyên liệu đến khi nhập thành phẩm vào kho theo quy định.

  • Trường công nhân kỹ thuật may thời trang:

Là đơn vị trực thuộc cơ quan Tổng giám đốc có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý,cán bộ nghiệp vụ, cán bộ điều hành và công nhân kỹ thuật các ngành nghề phục vụ cho quy hoạch cán bộ, sản xuất kinh doanh và theo yêu cầu của các tổ chức kinh tế. Công tác xuất khẩu lao động, đưa công nhân viên, học sinh đi học tập tu nghiệp ở nước ngoài.

  • Các chi nhánh:

Là đơn vị trực thuộc cơ quan Tổng giám đốc có chức năng ký kết một số hợp đồng kinh doanh, giải quyết các thủ tục xuất nhập khẩu trực tiếp theo sự uỷ quyền của cơ quan Tổng giám đốc.

Lãnh đạo của công ty May 10 đã thường xuyên quan tâm đến công tác tổ chức và quản lý. Coi đó là một nhân tố quan trọng có tính quyết định đến sự thành bại của công ty. Bộ máy lãnh đạo được cơ cấu gọn nhẹ làm việc rất có hiệu quả, giúp công ty từng bước vượt qua khó khăn, đương đầu với những thách thức của cơ chế thị trường, đạt những thành quả to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Công ty vươn lên khai thác những lợi thế so sánh trong các nguồn lực về vốn, cơ sở vật chất, con người. Đồng thời mạnh dạn đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại, tiếp thu công nghệ tiên tiến để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

  • Về mặt nhân lực, công ty hiện đang sử dụng một số lượng lao động rất lớn.
  • Trong đó: – Trực tiếp sản xuất là 2391 người
  • Gián tiếp là 798 người
  • Tổng cộng là 3189 lao động đang làm việc tại công ty. Chất lượng lao động được tổng hợp qua bảng sau:

Nhìn chung lao động của công ty trong mấy năm gần đây có những biến động lớn do nhu cầu của phát triển sản xuất. Số lao động sản xuất trực tiếp có tay nghề cao, chuyên môn tốt và có tinh thần lao động hăng say. Cán bộ công nhân viên tại các phòng ban được phân bổ khoa học, có chuyên môn, kinh nghiệm phong phú luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Phương thức quản lý dựa trên bốn nguyên tắc sau:

  • Xây dựng môi trường làm việc tích cực.
  • Tạo hướng chiến lược.
  • Sắp xếp và phân bổ các nguồn lực.
  • Đào tạo con người.

3. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của công ty May 10 trong những năm gần đây

Công ty đã giữ vững và phát triển các thị trường xuất khẩu như Cộng hoà liên bang Đức, Nhật Bản, Hungari, Hồng Kông, Canada và Hàn Quốc. Mặt khác, công ty đã quan tâm đến việc nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước. Công ty đã xác định việc tìm kiếm thị trường có ý nghĩa rất quan trọng, giữ được chữ tín với khách hàng.

Công ty May 10 đã coi thị trường như là một vấn đề sống còn của mình. Điều này càng có ý nghĩa với hàng dệt – may vi tính khác biệt của nó. Ngoài những nhân tố quan trọng như chất lượng tốt và giá cả phải có sức cạnh tranh, sản phẩm may mặc còn phải đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, đảm bảo hợp thời trang, hợp mốt, hợp với thời tiết, khí hậu và mang bản sắc dân tộc.

Công ty đã thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm. Trong cơ chế thị trường đa dạng hoá sản phẩm là việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng nó vừa có tác dụng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của khách hàng, vừa là biện pháp đê doanh nghiệp hạn chế những rủi ro trong kinh doanh.

Sau 5 năm hoạt động sản xuất kinh doanh theo điều kệ của công ty May 10 đã đạt được những thành quả tốt, thể hiện qua các chỉ tiêu sau: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

  • Tổng doanh thu năm 2025 so với năm 2021 tằng 2,75 lần
  • Nộp ngân sách tăng : 1,35 lần
  • Lợi nhuận tăng : 2,06 lần
  • Thu nhập bình quân theo đầu người tăng: 1,39 lần.
  • Lao động tăng : 1,46 lần.

Đó là những con số mang tính khái quát thể hiện bước tiến vững chắc của May 10 trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên để thấy được quá trình phát triển một cách rõ nét hơn, cụ thể hơn thì phải xét các chỉ tiêu trên trong cả một quá trình

Chỉ tiêu tổng doanh thu: là chỉ tiêu tổng hợp nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

  • 8 Kết quả hoạt dộng kinh doanh của công ty

II: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10 SANG EU Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

1. Thị trường của công ty

Hoạt động chính của công ty chủ yếu là hướng về xuất khẩu và gia công. Đây là một hoạt động kinh doanh chính chiếm tỷ trọng lớn. Trong phát triển hiện nay của công ty May 10. Do vậy thị trường nước ngoài được coi là thị trường các đơn vị may mặc trong ngành may mặc nước ta hiện nay.

Trong qúa trình hoạt động kinh doanh của mình. Công ty May 10 từ chỗ khủng khoảng thiếu thị trường nước ngoài sau khi Liên Xô và một loạt cá nước XHCN ở Đông âu tan rã. Với nhận thức không thể sản xuất khi không có thị trường, đặc biệt với một đơn vị chuyên là hàng gia công xuất khẩu, cùng với sự nhanh nhậy năng động, Công ty May 10 đã chuyển hưỡng sang thị trường các nước ở ” khu vực 2″ từ năm 2018 trở lại đây công ty đã mở rộng được nhiều thị trường mới thâm nhập vào thị trường may mặc thế giới. Đến nay thị trường xuất khẩu của công ty đã tới gần 40 quốc gia trên thế giới. Sản phẩm của công ty sản xuất đã có mặt ở các nước rất khó tính đối với sản phẩm may mặc như Pháp, ý, Đức,… kêt cả ở thị trường quản lý hàng may mặc bằng hạn ngạch cũng như ở các nước, các khu vực không cần hạn ngạch nên xét theo vị trí địa lý, sản phẩm của công ty có mặt ở Châu á, Châu phi, Châu âu và Bắc Mỹ…

Thị trường của công ty hầu như ở khắp nơi trên thế giới ,, thị trường cá nước Tây âu ( EU) là thị trường quan trọng nhất của công ty thị trường này có tỷ trọng lớn với toàn bộ sản phẩm xuất khẩu.

9 TỶ TRỌNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CỦA CÔNG TY MAY 10

Qua bảng trên ta thấy tỷ trọng xuất khẩu của công ty vào thị trường EU là rất lớn, thường gấp mấy lần so với các thị trường khác. Mặc dù trong những năm gần đây thì kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường khác. Mặc dù trong những năm gần đây thì kim ngạch, xuất khẩu sang các thị trường khác đều tăng đã dần rút ngắn được khoảng cách so với EU. Nhưng xét về trị giá xuất khẩu thì vẫn còn kèm rất nhiều. Những yêu cầu về chất lượng, cũng như về mẫu mã ở các thị trường dần dần tương đương như nhau, bởi vì những đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao, cho nên các sản phẩm phải hoàn thiện.

Hiện nay trên thế giới các thị trường may mặc đã chia thành 2 khu vực đó là : khu vực nhập khẩu và khu vực xuất khẩu các sản phẩm may mặc. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

  • Các khu vực nhập khẩu bao gồm Tây Âu, Bắc Âu và các nước tư bản phát triển Bắc Mỹ và Canada.
  • Khu vực xuất khẩu bao gồm : Châu á, Bắc Phi và khu vực địa trung hải.

Việt Nam là một đất nước ở trong khu vực xuất khẩu hàng may mặc, ngành may mặc VN cũng đang trên đà phát triển đáp ứng cho nhu cầu đối với thị trường hàng may mặc thế giới. Việt Nam cũng đang phát huy lợi thế của mình trong ngành may mặc đó là lực lượng có tay nghề cao, giá nhân công thấp, vốn đầu tư không cần nhiều, lao động cần cù chịu khó… Việt Nam đang là một nước có nhiều cơ hội tăng cường buôn bán với các nước trên thế giới và trong khu vực. Trong khi xu hướng chung của thế giới là xoá bỏ hàng rào thuế quan để các nhà sản xuất phải có các biện pháp hạ giá thành.

Đối với ngành may mặc Việt Nam, thì công ty May 10 là một trong những đơn vị có vị trí hàng đầu. Được hình thành từ rất sớm của ngành may mặc VN. Khi nói đến hàng dệt may thì người ta thường nghĩ đến thị trường EU. Vì ở đó có những trung tâm tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới như : Pháp, ý, EU, với dân số trên 360 triệu người, chiếm 6,5% dân số thế giới. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vực này là cao nhất so với các khu vực khác trên thế giới do đó những yêu cầu của khách hàng khu vực Tây Âu về sản phẩm may mặc ngày càng cao, càng tinh tế và phong phú, tỷ lệ chi tiêu cho may mặc càng tăng lên, yêu cầu về thẩm mỹ đối với các sản phẩm may mặc có hệ số cao nhất so với các khu vực khác. Mức tiêu thụ ở thị trường này đối với hàng dệt may khá cao khoảng 17ng/1lần/năm .

Trình độ văn hoá của người dân khu vực này ở mức cao, lối sống thường chạy theo mốt cho nên sản phẩm may mặc không chỉ đơn thuần để đáp ứng nhu cầu bảo vệ ( nhu cầu cơ bản, cấp thấp ) mà còn phải đáp ứng nhu cầu làm đẹp, nhu cầu nâng cao địa vị, phẩm chất, đặc tính con người, hay nói cách khác nó liên quan đến yếu tố tinh thần của con người là giá trị văn hoá của sản phẩm may mặc đây là yêu tố cấu thành chất lượng sản phẩm may mặc, nhằm thực hiện cả hai chức năng cơ bản của sản phẩm may mặc là bảo vệ và làm đẹp đòi hỏi công ty May 10 phải có đủ nguyên liệu cho sản xuất, bên cạnh đó phải thiết kế kiểu dáng, màu sắc, kích thước phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Nếu làm được thì sản phẩm của công ty May 10 có giá trị sử dụng cao trên thị trường các nước EU. Một thị trường mà 90-95% dân số chạy theo mốt.

Hiệp định về buôn bán hàng dệt, may mặc giữa cộng đồng kinh tế EU và VN được đăng ký này 15/12/2017 tại Bỉ qui định hạn ngạch cho 151 mặt hàng dệt may vào EU. Từ tháng 11/2022 hiệp định dệt may VN và EU vừa ký kết cho giai đoạn 2023-2025 số hạn ngạch chỉ còn 29 mặt hàng có XK vào EU và còn được tự do chuyển đổi hạn ngạch giữa các mặt hàng một cách rộng rãi và dễ dàng từ 12-17%.

Như vậy hầu hết các mặt hàng đã được tự do xuất khẩu vào EU. Đây là môi truờng luật pháp thuận lợi cho Công ty May 10 cũng như các công ty khác trong ngành dệt may của VN.

2. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang EU. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Một trong những chìa khoá chính yếu cho thắng lợi của các nhà xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng may mặc nói riêng là phải biết được chính xác xem sản phẩm của mình đáp ứng đuợc nhu cầu của thị trường đến mức độ nào ? Do vậy cần thiết phải tiến hành phân tích, xem xét khả năng thích ứng của sản phẩm với thị trường EU ở mức độ nào. Nội dung phân tích, đánh giá khả năng thích ứng của sản phẩm với thị trường bao gồm :

  • Tìm sản phẩm mũi nhọn để XK
  • Phân tích đánh giá khả năng và mức độ thành công của sản phẩm trên thị trường.
  • Tìm và chỉ ra được khuyết tật của sản phẩm cần phải thay đổi, cải tiến.
  • Đánh giá việc thích ứng của DN với thị trường và đề ra phương pháp kiểm tra sự chấp nhạnh của sản phẩm trên thị trường .
  • Phân tích đánh giá sản phẩm được chú ý nhiều hơn đối với sản phẩm cạnh tranh những nội dung cần được phân tích, đánh giá là ưu nhược điểm của sản phẩm so với yêu cầu và so với sản phẩm cạnh tranh (so sánh chỉ tiêu chất lượng thẩm mỹ, nguyên liệu, kỹ thuật lắp ráp cắt may …).

Trên cơ sở phân tích đánh giá đó, May 10 đã điều chỉnh kiểm tra, hoàn chỉnh chiến lược sản phẩm của mình và tìm ra được những sản phẩm thích ứng với thị trường EU và được thị trường này chấp nhận. DO đó mà May 10 đã bảo vệ được thị phần, đã xâm nhập và tiến tới việc xây dựng mạng lưới xuất khẩu rộng khắp. Hơn nữa nó còn giúp công ty xuất khẩu hàng may mặc sang EU tránh những chi phí không cấn thiết có thể xẩy ra do thiếu hiểu biết thị trường. Sự thích ứng của một sản phẩm với một thị trường nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất phải kể đến đó là sự chấp nhanh của người tiêu dùng, trên cơ sở đó dẫn đến sự sắn sàng chấp nhạnh của các nhà nhập khẩu, buôn bán, bán lẻ.

Trong máy năm qua các sản phẩm mũi nhọn của May 10 xuất sang EU chủ yếu là: 10 Hạn ngạch và thực hiện xuất khẩu các sản phẩm mũi nhọn sang EU của công ty May 10.

3. Các phương thức xuất khẩu: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Các sản phẩm của May 10 được xuất khẩu chủ yếu dưới hình thức xuất khẩu trực tiếp. Đây là hình thức sau khi công ty sản xuất ra các sản phẩm theo đúng hợp đồng với nước ngoài thì công ty tự chịu trách nhiệm về kết qủa kinh doanh. Phương thức này có ưu điểm như tạo ra thế chủ động trong kinh doanh cho công ty, chủ động thâm nhập thị trường, có điều kiện nghiên cứu thị trường. Phương thức này đem lại hiệu quả kinh tế cao, không phải mất phí uỷ thác ( 1-1,5% giá trị là hàng xuất khẩu ) như ở phương thức uỷ thác xuất khẩu nhưng hình thức này có thể gặp rủi ro cao hơn, đòi hỏi có vốn nên công ty phải có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm vững vàng . Hình thức xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của công ty dưới hai dạng:

Gia công XK: XK trực tiếp các sản phẩm may mặc sau khi tiến hành gia công xong, công ty ký hợp đồng gia công với khách hàng nước ngoài, sau đó nhận nguyên vật liệu tổ chức gia công. Công ty có thể trực teíep gia công tại các chi nhánh thuộc công ty hoặc ở ngày tại công ty, sau đó xuất theo hợp đồng gia công. Hình thức này mang lại hiệu quả cao hơn so với xuất khẩu uỷ thác và bước đầu làm quen với thị trường nước ngoài, làm quen được công nghệ máy móc mới hiện đại. Nó tạo cơ sở bước đầu cho sự xâm nhập vào thị trường nước ngaòi của công ty. Phương thức này được công ty áp dụng ngày càng nhiều là vì đây là phương thức mà công ty sẽ không gặp phải khó lắm trong việc giải quyết đầu ra cho sản xuất, khắc phục được khó khăn do thiếu nguồn nguyên vật liệu có chất lượng, đồng thời cũng học hỏi được trình độ, công nghệ sản xuất.

Bán FOB: xuất khẩu trực tiếp dưới dạng bán FOB, Công ty chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu sau khi sản xuất xong tại nhà máy hoặc tại các chi nhánh của Công ty rồi đem bán cho khách hàng nước ngoài. Xuất khẩu dưới dạng này đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho công ty cũng như cho đất nước do công ty có thể chủ động sản xuất, tận dụng nguồn nguyên liệu nhân công trong nước… Xong do khâu tiếp thị còn hạn chế chất lượng sản phẩm chưa cao nền xuất khẩu dưới dạng này gặp nhiều khó khăn do Công ty mới bắt đầu thực hiện từ năm 2021. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Nhìn chung hai phương thức xuất khẩu trực tiếp này đều có những ưu nhược điểm khác nhau, nhưng trước tình hình thực tế nhất là năm 2015 sau khi Liên Xô tan rã, thị trường ở các nước Đông Âu sụp đổ, May 10 mất một phần lớn thị trường xuất khẩu, công ty May 10 đã đứng vững chủ yếu bằng hình thức may gia công, may gia công chiếm tỷ trọng lớn khoảng 95 so với tổng kim ngạch xuất khẩu sang EU. Một thực tế cho thấy là số lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty May 10 sang EU ngày càng tăng, do Công ty tích cực tìm kiếm khách hàng, cùng với việc bám sát các phân xưởng sản xuất, phối hợp chặt chẽ với các cơ sở và chi nhánh nhằm giải quyết kịp thời những công việc phát sinh trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, công ty đã xác định đúng : muốn đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu bước đầu phải thực hiện gia công, sau đó mới chuyển dần sang sản xuất để xuất khẩu ( bán FOB). Nhìn vào bảng dưới đây ta có thể thấy giá trị xuất khẩu theo phương thức may gia công tăng dần và trọng lượng lai nó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho DN.

III/ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NỖ LỰC MAR – MIX XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC Ở CÔNG TY MAY 10

Sau khi đã nghiên cứu, lựa chọn thị trường xuất khẩu trọng điểm, công ty sẽ tiến hành nghiên cứu chi tiết các hoạt động marketing ở trong thị trường trọng điểm này. Việc nghiên cứu nhằm mục đích cung cấp những thông tin để công ty xác lập được chiến lược xuất khẩu đồng thời có thể giúp công ty tiến hành triển khai chiến lược xuất khẩu này đạt hiệu quả cao.

1. Nỗ lực marketing sản phẩm may mặc xuất khẩu ở công ty

Thị trường EU là một thị trường khá rộng lớn, các quốc gia trong khối này đều là những nước giàu do đó sự đòi hỏi về sản phẩm may mặc phải có chất lượng cao, lấy được sự tín nhiệm và uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước. Sản phẩm may mặc của công ty rất đa dạng về mẫu mốt, phong phú về mầu sắc , kích cỡ và sản phẩm phải thể hiện được tính nổi trội, phong cách độc đáo biểu hiện thông qua từng sản phẩm.Không những thế, trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì việc làm cho sản phẩm của công ty mình vượt trội hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh là điều rất khó khăn. Để làm được điều này đòi hỏi nỗ lực không chỉ của ban lãnh đạo công ty mà nó còn là sự nỗ lực cuả tất cả cán bộ, công nhân viên trong toàn công ty.Nhận thức rõ điều này công ty May 10 đã nỗ lực thực hiện công tác marketing sản phẩm của mình, từ đó để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài và thị hiếu tiêu dùng của họ bằng việc hoạch định sản phẩm như sau:

Phát triển sản phẩm mới : Nếu như trước đây công ty chỉ tập trung vào sản xuất và nhận gia công sản phẩm là áo sơ mi nam thì giờ đây công ty đã nhận ra rằng thị trường luôn luôn biến động và con người luôn chạy theo xu thế của sự biến động đó, riêng về lĩnh vực thời trang thì đó là một yếu tố tất yếu và không thể không có đối với mỗi người dân. Chính vì vậy mà công ty đã tập trung vào việc đa dạng hoá sản phẩm. Thông qua các đơn đặt hàng của các bạn hàng nước ngoài và qua nghiên cứu thị trường cùng với những thông tin thu thập được mà công ty đã nhận thấy cần phải sản xuất thêm những sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng một cách tốt hơn. Do đó công ty đã tiến hành sản xuất và gia công thêm những mặt hàng xuất khẩu như sơ mi nữ, áo jacket. những sản phẩm này rất đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và màu sắc. Việc phát triển thêm sản phẩm mới vừa ổn định công ăn việc làm cho người lao động, đảm bảo cho người lao động có công ăn việc làm vừa tạo thêm được nguồn thu ngoại tệ cho công ty.Vì vậy công ty đã rất chú trọng vào việc phát triển và đa dạng hoá sản phẩm. Bên cạnh đó công ty cũng đồng thời cải tiến sản phẩm, đây là việc mà công ty luôn coi trọng. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, công ty đã nhận thức rõ một điều là: “Một sản phẩm đang có kiểu dáng và mẫu mã như hiện tại thường là không phù hợp với nhu cầu và thị hiếu đương thời của người tiêu dùng. Vậy thì sản phẩm đó phải được chú trọng đến việc đa dạng hoá và thay đổi kiểu mốt của sản phẩm nhanh chóng và thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường”. Do đó công ty đã không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm theo nguyên tắc sản phẩm cải tiến sẽ thích nghi được với khuynh hướng xã hội và kiểu mốt thời trang của thị trường mỗi nước. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Để nâng cao chất lượng sản phẩm thì một yếu tố nữa mà không thể không nói đến: đó là nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân viên và đổi mới công nghệ. Trong những năm qua, công ty đã nhập một số thiết bị, công nghệ hiện đại như máy may công nghiệp, máy cắt, máy là, máy giặt, máy thêu,…. Những máy móc thiết bị này giúp cho công ty đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn một cách đồng bộ. Mặc dù có sự trợ giúp của máy móc thiết bị hiện đại thì vẫn phải đánh giá cao vai trò của người công nhân may. Máy móc thiết bị hiện đại thì doanh nghiệp khác cũng có thể mua được, nhưng lực lượng công nhân với kỹ thuật may tốt mới chính là niềm tự hào của công ty.

Do công ty trước đây phần lớn là tập trung cho hàng xuất khẩu và may gia công nên thị trường trong nước công ty đã ít chú ý tớ. Nhưng hiện nay công ty đã nhận ra rằng đây là một thị trường tiềm năng và mang lại lợi nhuận đáng kể cho công ty. Công ty đã đa dạng hoá sản phẩm:

  • Cùng một kiểu dáng sơ mi, cùng chất liệu nhưng với màu sắc khác nhau công ty đã tạo ra nhiều sơ mi.
  • Cùng một kiểu dáng nhưng khác chất liệu, khác ,màu sắc thì lại có nhiều sản phẩm sơ mi khác nhau hơn nữa.
  • Khác cả về kiểu dáng, chất lượng, màu sắc thì công ty tạo ra rất nhiều loại sản phẩm.

Nếu như tiếp tục tách biệt chúng ra thì số loại sản phẩm khác nhau rất nhiều sẽ làm khó cho việc kiểm soát. Theo cách tính như vậy thì tại May 10 số loại sơ mi hiện nay là trên ba mươi loại khác nhau. Công ty thường xuyên thay đổi mẫu mã, loại vải nhưng nhìn chung thì số loại sơ mi ở các năm khá ổn định ở mức ba mươi loại.

Hiện nay, May 10 khẳng định mục tiêu mở rộng thị trường trong nước và chuyển đổi từ may gia công sang may xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn nên chính sách sản phẩm được đặt lên hàng đầu. Sản phẩm mới ở đây được hiểu dưới góc độ người tiêu dùng, tức là khách hàng nhận thấy có sự khác biệt so với những sản phẩm đã có.

Nhãn mác của sản phẩm: đối với hàng may gia công và may xuất khẩu thì nhãn do bên đặt gia công quy định họ sử dụng nhãn mác của họ, nhãn mác theo quy định và yêu cầu thiết kế của phía đối tácl. Còn đối với nhãn mác của sản phẩm trong nước: trước đây do xuất phát từ tâm lý chuộng hàng ngoại của khách hàng nên nhãn mác trên sản phẩm đều dùng nhãn mác nước ngoài. Nhưng hiện nay tâm lý tiêu dùng của người Việt nam đã có những thay đổi. Họ có kinh nghiệm hơn trong việc lựa chọn hàng, do đó họ quan tâm tới chất lượng hơn là xuất xứ hàng hoá đó. May 10 vẫn dùng những nhãn mác nổi tiếng của nước ngoài nhưng trên kệ bầy hàng của công ty có gắn tên công ty và giá sản phẩm để người mua có thể khẳng định chất lượng sản phẩm và hình ảnh của công ty trên thị trường. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Về bao gói: đối với hàng may xuất khẩu và may gia công thì bao gói tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng và trong hợp đồng, bao bì có thể là do công ty sản xuất có thể là do phía đối tác gửi sang. Đối với áo sơ mi, bao gói có ý nghĩa quan trọng không chỉ vì nó bảo vệ sản phẩm mà nó còn làm tăng giá trị cảm nhận cho người mua. Quá trình bao gói áo sơ mi khá phức tạp từ gấp gọn gàng bằng máy công nghiệp cùng với một số phụ liệu như: gim, giấy cứng….đến cho vào bao bì. Nhưng bao bì lại có nhiều loại. Với những áo sơ mi nhằm thị trường cao cấp thì công ty sử dụng hộp giấy cứng, trong đó có ghi tên công ty. Ngược lại, với những sơ mi nhằm vào thị trường cấp thấp hơn thì công ty dùng túi ny lông. Khi bán sản phẩm, ngoài bao bì sản phẩm còn có túi ny lông to hơn, trên đó ghi tên công ty, địa chỉ cửa hàng và đại lý của công ty(có cả số điện thoại ). Chiếc túi còn có tác dụng như một công cụ quảng cáo tuyên truyền.

Đó là những nỗ lực marketing sản phẩm hàng may mặc của công ty trong thời gian qua. Và nó đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Công ty định hướng rằng phải tiếp tục thực hiện nỗ lực marketing sản phẩm ngày càng tốt hơn.

2. Nỗ lực marketing giá xuất khẩu ở công ty Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Chính sách giá là một vấn đề cực kỳ quan trọng và phức tạp vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Nếu làm tốt chính sách giá thì nó sẽ đem lại cho công ty những kết quả cụ thể đó là tỷ phần thị trường, uy tín, doanh số bán…

  • Cơ sở định giá cho sản phẩm xuất khẩu của công ty căn cứ vào các yếu tố:
  • Chi phí vận chuyển bảo quản trong kho + Chi phí vận chuyển tới cảng, sân bay
  • Chi phí cho dịch vụ, lệ phí cảng, sân bay, hải quan + Các chi phí khác có liên quan
  • Nhu cầu thị trường về hàng may mặc

Tình hình cạnh tranh: Nhìn chung sản phẩm hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của may 10 nói riêng đã được đánh giá là có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong các yếu tố trên khi định giá xuất khẩu, công ty đặc biệt quan tâm đến những yếu tố như chi phí sản xuất và chi phí xuất khẩu, coi đó là cơ sở chính để công ty định giá. Tuy nhiên tuỳ từng thị trường, từng khách hàng mà công ty có sự điều chỉnh giá một cách linh hoạt.

  • Cơ sở định giá sản phẩm may gia công gồm:

Tiền gia công ( gồm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm do 2 bên thống nhất trên cơ sở xem xét tiền công lao động, khấu hao, chi phí quản lý, lợi nhuận của bên nhận gia công).

  • Giá cả nguyên vật liệu
  • Chi phí đào tạo ( đào tạo, hướng dẫn công nhân lao động, cán bộ kỹ thuật của bên nhận gia công).
  • Chi phí đào tạo ( đào tạo, hướng dẫn công nhân lao động, cán bộ kỹ thuật của bên nhận gia công).
  • Chi phó bao gói, giao nhận vận chuyển ( chi phí đóng gói hàng gia công, chi phí nguyên liệu gia công, chi phí vận chuyển giao hàn gia công, chi phí chứng từ giao hàng gia công làm thủ tục hải quan).

Xác định chi phí hợp lý không những đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên đặt gia công và nhận gia công mà còn tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa 2 bên. Công ty đã căn cứ vào những yếu tố đó để xác định giá cho sản phẩm gia công với mức giá thích hợp.

Phương pháp xác định giá : Do côn ty thường may gia công và may xuất khẩu theo đơn đặt hàng của phía đối tác nước ngoài và mục tiêu của công ty là xâm nhập vào nhiều thị trường để thúc đẩy số lượng tiê thụ -> từ đó tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước nên công ty thường áp dụng xác định giá theo chi phí cận biên đơn giản, bao gồm các bước:

  • Tính chi phí bình quân cho một sản phẩm. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

So sánh giá xuất khẩu với chi phí biến đỏi bình quân cho một sản phẩm.Trong tổng hợp nếu giá xuất khẩu lớn hơn thì công ty chấp nhận giá xuất khẩu do khách hành đưa ra và ký hợp đồng.

Về hình thức thanh toán: Quyết định thanh toán là một vấn đề quan trọng trong buôn bán quốc tế. Đồng tiền thanh toán công ty thường sử dụng 2 đồng tiền đô la Mỹ và Mác Đức. Đây là hai đồng tiền có khả năng chuyển đổi .Thời hạn thanh toán thì tuỳ vào phương thức thanh toán hay trong từng hợp đồng cụ thể mà công ty và bên đối tác có thể đưa ra thời hạn có lợi cho cả hai bên.

Đối với thị trường nội địa thì chính sách giá được thể hiện như sau: Những số liệu về chỉ tiêu tiêu thụ nguyên liệu phụ: là những chi phí để hoàn thành một sản phẩm cùng với số liệu của phòng lao động như định mức giớ lao động/ 1áo, đòi hỏi trình độ tay nghề thợ. Phòng kế toán sử dụng những báo cáo từ cá phòng tiện để xác định chi phí sản xuất giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu gốc để công ty xác định giá. Giá sản phẩm tới thị trường còn phụ thuộc voà các chi phí khác chi phí vận chuyển lưu kho, chi phí quản lú, chi phí bán hàng, thuế và lợi nhuận.

Đứng ở góc độ người sản xuất nếu giá bán bằng tổng cá chi phí sản xuất tới tiêu thụ cộng với một tỷ lệ lợi nhuận trừ thuế thì việc xác định giá trở nên dễ dàng và lợi nhuận tính ngay được, nhưng May 10 đã không sử dụng cách tính đó đối với thanh toán nội địa để xác định giá cho tất cả sản phẩm của mình, mà chỉ dựa vào đó kết hợp với yếu tố thanh toán Mar để làm quyết định giá.

Cùng với số lượng sản phẩm phong phú, công ty cũng đưa ra các loại giá phù hợp mỗi loại sản phẩm. Nếu chỉ xét đơn thuần về giá thì sơ mi của công ty thuộc loại giá cao, phần lớn sơ mi của công ty ở mức giá từ 90.000đ đến 150.000đ. Vì sơ mi của May 10 chiếm 80% là hàng cao cấp.

Sự chấp nhân giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm sơ mi của công ty thể hiện sự đúng đắn của công ty trong việc quyết định giá một cách linh hoạt nhưng đó là người tiêu dùng mau lẻ còn đối với những khách hàng lớn và những đại lý thì chính sách giá có khác. Đối với các cửa hang đại lý công ty áp dụng những mức hoa hồng luỹ tiến nhằm kích thích tiêu thụ. Mức hoa hồng mà các đại lý được hưởng phụ thuộc vào doanh số bán hàng của cửa hàng.

3. Nỗ lực Mar phân phối của công ty

Hiện nay công ty May 10 chưa phân phối trực tiếp được sản phẩm đến tay tiêu dùng nước ngoài mà vẫn phaỉ cá nhà nhập khẩu. Các nhà nhập khẩu này đều là những nhà kinh doanh lớn chuyên doanh hàng may mặc thời trang. Do đó họ có sẵn các cửa hàng buôn bán và bán lẻ, hơn nữa lại râ am hiểu về thị trường nên việc phân phối sản phẩm ít gặp khó khăn.

Nỗ lực hiện tại của công ty là cố gắng thiết lập được mối quan hệ rộng rãi với nhiều nhà nhập khẩu để sản phẩm của công ty được phân phố ngày càng nhiều đến người tiêu dùng để làm được điều này công ty đã không ngừng cải tiến mẫu mốt, kiểu dáng và nâng cao chất lượng của sản phẩm, đồng thời phải tích cực tìm tòi nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng để đáp ứng được nhu cầu cho họ một cách tốt nhất. Kênh phân phối mà công ty thường sử dụng để phân phối sản phẩm xuất khẩu là: Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Để quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra nhanh và thông suốt, công ty đã chủ động lựa chọn, triển khai các phương tiện đẻ khi giao hàng cho nhà XK sẽ được nhanh chóng thuận lợi nhất; công ty luôn chú trọng đến việc các phương tiện vận chuyển từ công ty đến kho hàng ở cảng để khi thuyền cuả nhà nhập khẩu đến, hàng hoá đã sẵn sàng. Làm tốt công tác này có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ giúp hàng hoá của công ty nhanh chóng được phân phối đến tay người tiêu dùng mà nó còn đảm bảo uy tín của công ty đối với các nhà nhập khẩu bởi lẽ hầu hết các nhà nhập khẩu đều đánh giá rất cao việc giao hàng đúng hẹn của đối tác và điều này ảnh hưởng rất lớn đến khâu phân phối tiếp theo của họ.

Bên cạnh đó trong khi tìm kiếm thị trường mới và thiết lập quan hệ buôn bán với cá nhà nhập khẩu, công ty cũng cố gắng tìm hiều và lựa chọn những nhà nhập khẩu có kênh phân phối ngắn để đảm bảo vừa giảm được chi phí cũng như tiền hoa hồng của các trung gian và hàng hoá của công ty đến tận tay người tiêu dùng có giá cả hợp lý.

Còn đối với thị trường trong nước, chính sách phân phối đã lan rất rộng như những năm trước đây sơ mi của May 10 chỉ bán Hà Nội nhưng gần đây công ty đã mở thêm cửa hàng bàn và giới thiệu ở một số tỉnh khác. Tại Hà Nội công ty mở 8 cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, ngoài ra còn có 20 đại lý bán lẻ.

Trong số 8 cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm thì có 7 cửa hàng đặt ở nội thành Hà Nội, cửa hàng còn lại đặt ngày tại cổng công ty May 10 ở Gia Lâm. Cửa hàng bàn và giới thiệu sản phẩm May 10 không chỉ thực hiện việc bán lử mà còn thực hiện cả chức năng bán buôn,bán số lượng lớn. Tuy nhiên lượng bán buôn không nhiều. Tại các cửa hàng của công ty luôn dự trữ đủ hàng, những sản phẩm mà May 10 bán ra thị trường nội địa Quá trình đảm bảo hàng được thực hiện khá đơn giản các cửa hàng chủ động kiểm kê và theo dõi để biết loại sơ mi nào đã bán hết hay gần hét, sản phẩm mới nào cảu công ty mà cửa hàng chưa có bán. Khi đã nắm được nhu cầu tăng dự trữ cho loại áo nào, cỡ số nào,mầu sắc nào thì cửa hàng cử nhân viên về công ty để lựa chọn. Việc vận chuyển cũng được làm trực tiếp là dùng xe của công ty chuyển hàng tới cửa hàng.

4. Nỗ lực Marketing xúc tiến thương mại xuất khẩu hàng may mặc ở công ty Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của các công ty kinh doanh nói chung và của công ty May 10 nói riêng đó là xúc tiến thương mại . Nếu làm tốt công việc xúc tiến thương mại sẽ đảm bảo khả năng kinh doanh của công ty thành công hơn, bởi lẽ hoạt động này nhằm tìm kiếm thúc đẩy những cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại cho khách hàng là đưa sản phẩm đến với khách hàng, là tìm cách làm cho sản phẩm của mình được quan tâm, chú ý hơ hấp dẫn hơn ngay khi khách hàng nhìn thấy nó. Nhận thức được tầm quan trong này công ty đã tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại để làm sao sản phẩm củ công ty khi sản xuất ra và được đưa ra thị trường các nước khách hàng nhìn thấy, cảm nhận thấy và có thể dùng thử. Nếu như trong nỗ lực Mar sản xuất, Mar định giá và Mar phân phối công ty đều đã làm tốt thì đến khâu cuối cùng trong Mar – Mix mà công ty thực hiện là xúc tiến thương mại công ty cũng làm tốt thì nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của công ty . Thực tế đã cho thấy trong thời gian qua nhờ sự nỗ lực rất lớn của hoạt động Mar xúc tiền thương mại mà công ty đã thu hút được nhiều thành tựu đáng kể. Đó là công ty đã mở rộng thêm được quan hệ buôn bán với nhiều nhà nhập khẩu ở một số nước như Đức, Anh, Pháp…

  • Trong tương lai, công ty sẽ mở rộng sản phẩm suất khẩu sang toàn khối EU.

Chính sách giao tiếp khuyếch trương của May 10 so với các doanh nghiệp khách cùng ngành thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam thì May 10 thực hiện chính sách này tương đối tốt. Hàng năm công ty dành cho chính sách này một khoản ngân sách hàng chục triệu đồng. Các công cụ mà May 10 thực hiện chính sách giao tiếp khuyếch trương gồm có quảng cáo, tuyên truyền, khuyến mãi, sẽ và xúc tiến bán trực tiếp. Đây là dùng để khuyếch trương trong thị trường nội địa.

Công ty thực hiện trương trình quảng cáo sản phẩm của công ty trên các phương tiện thông tin đại chúng như đai, ti vi, báo chí

  • Các hoạt động xúc tiến bán hàng ở công ty gồm:

Tham gia hội chợ triển lãm : Đây là hình thức quảng cáo đặc biết được công ty quan tâm và khai thác triệt để, vì nó là nơi thích hợp cho việc giới thiệu sản phẩm , thiết lập mối quan hệ với bạn hàng ký kết hợp đồng và tìm hiểu thị trường của công ty . Tuy nhiên do mọi chi phí cho việc tham gai vào hội trợ triển lãm trong nước và quốc tế công ty phải tự lo liệu, nên không phải hội chợ nào công ty cũng tham gia. Mục đích của việc trưng bày sản phẩm của công ty tại các hội trợ triển lãm là để giới thiệu sản phẩm của mình với khách hàng nước ngoài và để họ hiểu thêm về sản phẩm , để họ biết được sản phẩm của công ty đa dạng phong phú kiểu mốt hợp thời trang và đạt chất lượng quốc tế.

Hàng mẫu: Được tiến hành thong qua hệ thống chuyển phát nhanh, chủ yếu phục vụ các khách hàng truyền thống về mặt hàng với công ty và một số khách hàng có yêu cầu về hàng mẫu.

Thư chào hàng: Được công ty sử dụng tương đối phổ biến vì đây là loại quảng cáo chi phí thấp và cùng một lúc công ty có thể chào hàng tới nhiều khách hàng nước ngoài.

Catalge cũng giống như hình thức hàng mẫu, cataloge chủ yếu phục vụ các khách hàng truyền thống hay các khách hàng có yêu cầu gửi cataloge sang. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

5. Môi trường kinh doanh của công ty

5.1. Môi trường kinh doanh bên trong công ty.

Như bất kỳ công ty nào, hoạt đọng sản xuất kinh doanh của May 10 cũng gắn liền với những điều kiện doanh bên trong của mình những yếu tố thuộc môi trường bên trong công ty bao gồm tài chính, nhân lực, quản trị, phương pháp kinh doanh tổ chức…

Xét về tình hình tài chính, công ty May 10 có được sự ổn định nguồn vốn cố định và lưu động liên tục tăng.

BH.12 Tình hình vốn kinh doanh của công ty

Qua bảng trên, ta nhận thấy lượng vốn cố định của công ty lớn hơn rất nhiều so với lượng vốn lưu động. Điều đó là vì hoạt động chủ yếu của công ty là may gia công với vậy lượng vốn lưu động đòi hỏi không lớn ngược lại máy móc, trang thiết bị cần phải được hiện đại hoá thường xuyên đòi hỏi vốn cố định lớn.

Về máy móc, thiết bị: Công ty May 10 không ngừng cải tiến và thay đổi, nâng cấp dần trang thiết bị, máy móc từng bước đưa dây chuyền sản xuất và các máy móc hiện đại vào sản xuất để đáp ứng những đòi hỏi yêu cầu về kỹ thuật của khách hàng. Việc đổi mới máy móc thiết bị đã làm cho năng suất lao động của công nhân tăng nhan. Chất lượng cũng cao hơn rất nhiều. ( Năng suất lao động của công nhân tăng từ 8 áo sơ mi/ ca – 20 áo sơ mi/ ca).

Với năng lực hiện có gần hơn 1000 máy may chủ yếu là các máy chuyên dùng. Với thời gian đưa vào sử dụng chưa nhiều e với giá trị còn lại trên 80%. Đây là một số gắng đầu tư trọng điểm và đúng hướng của công ty May 10, tạo lợi thế cạnh tranh của công ty đối với các doanh nghiệp may khác.

BH.13 Tình hình thiết bị của công ty May 10

Yếu tố môi trường chính trị đã và đang ảnh hưởng tới hoạt động của công ty, ảnh hưởng tích cực lớn và có nghĩa quan trọng đối với hoạt động là công ty được phép mở rộng thị trường xuất khẩu, gia công. Nhưng ngược lại nó cũng dẫn tới những tác động tiêu cực, như sự cạnh tranh của hàng nước ngoài ngay tại thị trường trong nước. Xét về khía cạnh luật pháp, do đặc điểm kinh tế nước ta manh mún nên luật pháp chưa thực sự bảo vệ được người sản xuất. Kinh doanh chân chính. Đây cũng là sự khó khăn đối với May 10 ở thị trường trong nước, vì hiện nay rất nhiều sản phẩm của công ty bị nhái nhãn, làm giả. Phần lớn sản xuất của May 10 là dành cho xuất khẩu nên những thay đổi về chính sách tiền tệ, ngoại hối ảnh hưởng trực tiếp đến công ty. Trong thời gian qua giá trị của đồng tiền Việt Nam tương đối ổn định nên không kích thích xuất khẩu bởi vì trong khi các nước tham gia thị trường xuất khẩu và gia công hàng may có xu hướng phá giá tiền của họ.

Tiến độ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy quá trình cải tiến sản phẩm, thay đổi chu kỳ sống của sản phẩm … tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho năng suất may tăng, chi phí bình quân giảm, chất lượng sản phẩm tăng… Điều đó dẫn đến sự thúc đẩy doanh nghiệp liên tục bổ sung thêm máy móc hiện đại, để tránh lạc hậu.

IV -ĐÁNH GIÁ CHUNG Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

1. Ưu điểm và những thành tựu mà công ty đã đạt được

Thông qua thực trạng xuất khẩu hàng may mặc và đông thời qua thực trạng triển khai nỗ lực marketing – ,,, của công ty trong thời gian qua ta thấy công ty đã đạt được một số thành tựu sau:

Về sản phẩm : sản phẩm của công ty đã được các bạn hàng nước ngoài đánh gía cao về chất lượng , kiểu dáng, hợp thời trang và được tổ chức quốc tế AFAQ – ASCERI công nhận đạt tiêu chuẩn , quản lý chất lượng ISO 9002.

Về uy tín của công ty : Do quá trình hoạt động kinh doanh lâu dài và để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đó của công ty luôn thông suốt và thuận lợi công ty đã luôn đạt chữ tín lên đầu và trước tiên trong mọi quan hệ làm ăn với bạn hàng kể cả trong nước và bạn hàng nước ngoài. Với bạn hàng nước ngoài công ty luôn bảo đảm giao hàng đúng hẹn, đúng thời gian đúng số lượng và chất lượng do đó công ty đã được các bạn hàng cả truyền thống trước đây và bạn hàng mới rất tin tưởng.

Với sự lãnh đạo sáng suốt và năng động cảu ban lãnh đạo công ty ngày càng phát triển. Bằng đầu óc năng động, sáng tạo các cán bộ lãnh đạo trong công ty đã luôn tìm tòi, suy nghĩ để có thể cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm hơn nữa. Đồng thời nghiên cứu sáng tạo để đưa ra những sản phẩm hợp thời trang, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Giữa các phòng ban trong bộ máy tổ chức ở công ty với các chi nhánh, các trạm sản xuất các thông tin cũng như cách giải quyết các khó khăn vướng mắc được thông qua rất nhanh và được hỗ trợ rất kịp thời. Do đó mà các hoạt động kinh doanh trong công ty cũng như định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty trong các giai đoạn tiếp theo được thông qua và quán triệt rất nhanh từ lãnh đạo đến các nhân viên trong công ty hơn thế nữa, bộ máy tổ chức trong công ty không cồng kềnh mà rất gọn nhẹ, linh hoạt nhờ thế mà luôn đảm bảo sự truyền thông tin từ ban lãnh đạo đến từng thành viên trong công ty nhanh chóng chính xác.

2. Những tồn tại và hạn chế Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

Bên cạnh những ưu điểm va thành tựu đạt được, công ty vẫn còn gặp phải một số những vướng mắc khó khăn hay những tồn tịa và hạn chế như:

Hoạt động nghiên cứu thị trường và tiếp cận thông tin còn yếu kém. Trong hoạt động xuất khẩu công ty chủ động tìm kiếm bạn hàng phần lớn khách hàng từl tìm kiếm đến công ty để ký hợp đồng. Công ty thường không nắm sát được nhu cầu thực tế của một số thị trường nên nhiều khi đã bỏ lỡ các cơ hội tham gia mở rộng thị trường. Nguyên nhân là do công ty thiếu những thông tin đầy đủ về thị trường, không thu thập phân tích, nghiên cứu đánh giá tiềm năng thị trường công ty dự định tham gia.

Trình độ cán bộ XNK chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động xuất khẩu của công ty . Khả năng ngoại ngữ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc giao dịch trực tiếp với bạn hàng khi ký hợp đồng, thiếu am hiểu về nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu nói chung và xuất nhập khẩu ngành may nói riêng.

Việc tổ chức và thực thi các hoạt động marketing ở công ty cũng là một hạn chế. Mặc dù công ty cũng khá quan tâm đến 4 yếu tố của marketing – mix, song công ty vẫn chưa áp dụng chúng một cách hài hoà. Đa số sản phẩm của công ty được xuất khẩu sang thị trường tiêu thụ nước ngoài, nhưng việc giới thiệu sản phẩm của công ty ở thị trường này lại rất hạn chế, chủ yếu là thông qua marketing từ xa. Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Chuyên đề: Giải pháp Marketing mix xuất khẩu hàng may mặc

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Chuyên đề: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của Cty May […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993