Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá về công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Trung tâm dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Những yêu cầu cơ bản của công tác tổ chức quản lý và khai thác Nguồn tin khoa học nội sinh
2.1.1. Khái quát về vốn tài liệu thư viện:
Định nghĩa: “Vốn tài liệu thư viện là bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của từng thư viện, nhằm phục vụ cho người đọc của chính thư viện hoặc các thư viện khác, được phản ánh toàn diện trong bộ máy tra cứu, cũng như để bảo quản lâu dài trong suốt thời gian được người đọc quan tâm. Tùy theo diện bổ sung có thể phân ra vốn tài liệu tổng hợp, đa ngành, chuyên ngành, chuyên biệt‟‟ [18]
Vốn tài liệu tổng hợp: Bao gồm các loại hình tài liệu khác nhau về tất cả hay phần lớn các ngành tri thức (chủ yếu trong các thư viện công cộng) Vốn tài liệu đa ngành: Gồm những tài liệu về một số ngành tri thức. Vốn tài liệu chuyên ngành: Gồm những tài liệu về một ngành tri thức nhất định
Vốn tài liệu chuyên biệt: Gồm những tài liệu được chọn lựa theo dấu hiệu nào đó. Theo dạng tài liệu (tài liệu sáng chế, phát minh, tra cứu, luận án,…) hoặc dành cho đối tượng bạn đọc nào đó (người dùng tin khiếm thị, khiếm thính,…) – Các đặc tính của vốn tài liệu thư viện:
Tính hệ thống:
- Vốn tài liệu bao hàm hệ thống tri thức nhất định
- Vốn tài liệu của một thư viện nào đó là bộ phận của hệ thống vốn tài liệu của địa phương, ngành, cả nước.
- Tính mở: Vốn tài liệu không ngừng được bổ sung, tăng cường sách mới hay nói một cách hình ảnh thì vốn tài liệu thư viện luôn là cơ thể sống động, phát triển Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
- Tính bền vững: Vốn tài liệu tồn tại cùng với thư viện
- Tính thông tin: Chứa đựng những thông tin mới nhất, đầy đủ nhất có thể về ngành nào đó.
- Tính giá trị: Đáp ứng những giá trị khoa học, thực tiễn, tư tưởng của thời đại, của đất nước
Nguồn tin khoa học nội sinh về cơ bản là kết quả của quá trình xây dựng, tích lũy lâu dài theo chính sách phát triển nguồn tin hợp lý, được xây dựng trên công tác tổ chức quản lý, khai thác và căn cứ vào cơ sở nhu cầu đích thực của NDT. Bởi vậy, nguồn tin khoa học nội sinh cũng như các loại nguồn tin khác của một cơ quan Thông tin-Thư viện, cần phải đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức.
Nguồn tin khoa học nội sinh là loại hình tài liệu đặc thù, hay loại hình tài liệu chuyên biệt, có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động nghiên cứu, cũng như học tập, giảng dạy của các trường đại học, học viện, các tổ chức R & D. Do đó, việc tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh một cách khoa học và hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc tổ chức phục vụ nhu cầu thông tin khoa học của bạn đọc. Do đó, nguồn tin khoa học nội sinh trong một cơ quan Thông tin-Thư viện ngoài việc cần mang những đặc tính chung của các loại hình tài liệu thì cũng cần có những đặc thù riêng của loại hình tài liệu chuyên biệt. Và công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh cần đạt được những yêu cầu, mục tiêu cơ bản như sau:
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
2.1.2. Cơ chế đảm bảo việc tuân thủ pháp luật
Trước tiên, việc tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh cần phải được thực hiện theo cơ chế đảm bảo tuân thủ pháp luật. Như đã biết, các hoạt động cơ bản để tạo ra nguồn tin khoa học nội sinh về cơ bản đều là các hoạt động có kế hoạch, chịu sự quản lý của trường đại học. Những hoạt động liên quan tới vấn đề tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh đều là những vấn đề hết sức nhạy cảm, liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ. Ở nước ta, về cơ bản các nguồn lực để triển khai các hoạt động tạo ra nguồn tin khoa học đều do Nhà nước trực tiếp cung cấp hoặc được đảm bảo thông qua Nhà nước. Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này và đã ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định và hướng dẫn thực hiện việc quản lý và tổ chức khai thác nguồn tin các loại. Một số văn bản như:
Luật Khoa học và Công nghệ, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2001.
Nghị định số 159/2004/ NĐ-CP do Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 31/08/2004 về hoạt động thông tin Khoa học và Công nghệ. Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Nghị định số 30/2006/ NĐ-CP do Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 29/03/2006 về thống kê Khoa học Công nghệ.
Quy chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ (ban hành kèm theo Quyết định số 03/2007/ QĐ-BKHCN ngày 16/03/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ). Tại điều 17 của Nghị định số 159/2004/ NĐ-CP đã quy định rõ:
- Công dân Việt Nam và công dân nước ngoài bảo vệ học vị tiến sĩ tại Việt Nam, trước khi bảo vệ chính thức, phải nộp 01 bản luận văn kèm theo 01 bản tóm tắt cho Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
- Công dân Việt Nam bảo vệ học vị tiến sĩ khoa học hoặc luận án tiến sĩ ở nước ngoài khi về nước phải nộp 01 bản luận văn kèm theo 01 bản tóm tắt cho Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
- Công dân Việt Nam và công dân nước ngoài bảo vệ học vị thạc sĩ tại Việt Nam, trước khi bảo vệ chính thức, phải nộp 01 bản luận văn kèm theo 01 bản tóm tắt cho cơ quan thông tin khoa học và công nghệ hoặc thư viện của cơ sở đào tạo. Công dân Việt Nam bảo vệ học vị thạc sĩ khoa học ở nước ngoài, khi về nước phải nộp 01 bản luận văn kèm theo 01 bản tóm tắt cho cơ quan thông tin khoa học và công nghệ hoặc thư viện nơi cử đi đào tạo.” [2]
Bên cạnh việc tuân thủ những quy định từ các văn bản pháp luật đề ra, công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh cũng cần phải chú trọng và tuân thủ Bộ luật Dân sự về quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.3. Tính đầy đủ, tính hệ thống của nguồn tin được quản lý
Theo tác giả Trần Mạnh Tuấn, “Nguồn tin nội sinh của trường đại học được tạo nên từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu. Nguồn tin này được xem như là hệ thống thông tin phản ánh đầy đủ, hệ thống về các thành tựu cũng như tiềm lực, định hướng phát triển của trường đại học” [14]. Như vậy, nguồn tin khoa học nội sinh phản ánh những kết quả khoa học cụ thể của toàn thể đội ngũ cán bộ khoa học cũng như các nghiên cứu sinh và sinh viên. Mặt khác, nó còn phản ánh sự phong phú, đa dạng trong các hoạt động đào tạo và các lĩnh vực khoa học cũng như các lĩnh vực ngành nghề mà trường tổ chức đào tạo. Nó là cơ sở để phản ánh tiềm lực về nguồn nhân lực khoa học, một bộ phận quan trọng nhất của tiềm lực khoa học, tiềm năng đào tạo của mỗi cơ quan này.
Với đặc thù phản ánh tiềm lực đào tạo, nghiên cứu khoa học của các cơ quan, tổ chức nên nguồn tin khoa học nội sinh của cơ quan, tổ chức ấy phải đảm bảo được sự đầy đủ, toàn diện về tất cả các chuyên ngành, lĩnh vực đào tạo.
Bên cạnh đó, nguồn tin khoa học nội sinh là sản phẩm của trí tuệ, quá trình quản lý nguồn tin khoa học nội sinh là hoạt động có định hướng theo mục tiêu: Xác định mục tiêu, lập kế hoạch để thực hiện mục tiêu, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch nhằm xây dựng, phát triển, sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tin có giá trị này. Vì đây là hoạt động có mục tiêu, kế hoạch rõ ràng nên nguồn tin nội sinh được quản lý cũng cần có hệ thống, được tổ chức khoa học để mang lại hiệu quả cao nhất trong việc đạt được những mục tiêu đã đề ra cũng như mang lại hiệu quả cao nhất trong việc đáp ứng nhu cầu tin của bạn đọc.
Bên cạnh đó, yêu cầu cơ bản đối với các dạng tài liệu nói chung là tính hệ thống: Vốn tài liệu bao gồm hệ thống tri thức nhất định, là một bộ phận của vốn tài liệu của địa phương, đất nước. nguồn tin khoa học nội sinh cũng là loại tài liệu bao hàm những nội dung tri thức cao, là một bộ phận của vốn tài liệu của một cơ quan Thông tin-Thư viện cụ thể. Do đó, công tác tổ chức quản lý và khai thác loại hình nguồn tin này cần đảm bảo tính hệ thống để mang lại hiệu quả quản lý, khai thác cao.
2.1.4. Tính thuận tiện, thân thiện trong sử dụng Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Mục đích cuối cùng của việc tổ chức và quản lý nguồn tin khoa học nội sinh là để phục vụ cho nhu cầu của bạn đọc. Mà nhu cầu của bạn đọc thì rất đa dạng và phong phú, từ những thông tin mang tính khoa học, thời sự, đến những thông tin đi sâu vào những vấn đề cụ thể mà bạn đọc đang nghiên cứu. Việc sử dụng nguồn tin khoa học nội sinh cũng cần được quan tâm bởi tính giá trị của loại hình thông tin đặc biệt này. Nên các cơ quan Thông tin-Thư viện cần sử dụng tất cả mọi hình thức và phương pháp nhằm thỏa mãn đầy đủ, chính xác và tối đa mọi yêu cầu của NDT đối với nguồn tin nội sinh. Hệ thống nguồn tin nội sinh cũng như các sản phẩm, dịch vụ và bộ máy tra cứu phải hiện đại, thân thiện, dễ sử dụng giúp bạn đọc lựa chọn đúng tài liệu mình cần một cách nhanh nhất.
Việc tổ chức kho tài liệu nội sinh cần đảm bảo để bạn đọc dễ dàng sử dụng. Cách sắp xếp kho cần dựa trên nhu cầu của bạn đọc (những tài liệu có tần suất sử dụng cao được sắp xếp ở nơi dễ tìm kiếm nhất), các sản phẩm dịch vụ dành cho bạn đọc cần dễ dàng tra cứu và sử dụng.
2.1.5. Tính cập nhật
Cũng theo tác giả Trần Mạnh Tuấn, nguồn tin khoa học nội sinh là kết quả của quá trình hoạt động khoa học của một cơ quan, tổ chức, của các trường đại học hay các tổ chức R&D,…nó được sản sinh và tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau nhưng nhìn chung các nguồn tin này chứa đựng hàm lượng chất xám cao, được đầu tư nhiều về công sức, trí tuệ, và nó còn là sự kế thừa về mặt khoa học.
Những người thực hiện công tác nghiên cứu khoa học được phép sử dụng nguồn tin khoa học nội sinh để làm tài liệu tham khảo, kế thừa các kết quả đã được nghiên cứu, thí nghiệm, khảo sát vào trong công trình khoa học của mình. Cũng vì thế, các kết quả nghiên cứu của họ lại được sử dụng làm tài liệu tham khảo, tra cứu,…trong các hoạt động sau này. Trong khoa học, bên cạnh sự kế thừa thì luôn cần có sự đổi mới, sáng tạo, thường xuyên cập nhật những thông tin khoa học mới nhất.
Nguồn tin khoa học nội sinh là cơ sở để công tác quản lý khoa học có thể đưa ra các dự án, xây dựng các đề án phát triển khoa học tiếp theo. Thông qua nguồn tin khoa học nội sinh, các cán bộ làm công tác quản lý khoa học có thể nắm được những diện đề tài khoa học mũi nhọn đang được nghiên cứu, những vấn đề khoa học nóng hổi được quan tâm, và lĩnh vực nào chưa được nghiên cứu. Từ đó sẽ có kế hoạch cho công tác nghiên cứu tiếp theo.
Đặc biệt, với đặc thù là Trung tâm Thông tin-Thư viện của một trường đào tạo pháp luật, nên kho tài liệu nội sinh của Trung tâm cũng đòi hỏi phải liên tục cập nhật những tài liệu về những vấn đề mới của pháp luật, các đề tài theo pháp luật hiện hành, những điểm mới bổ sung, sửa đổi trong các bộ luật của Quốc hội,…để luôn đảm bảo tính mới và cập nhật tài liệu đáp ứng nhu cầu tin đa dạng phong phú của bạn đọc.
2.2. Những nội dung cơ bản của công tác tổ chức quản lý và khai thác Nguồn tin khoa học nội sinh Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Nguồn tin khoa học nội sinh là một loại hình nguồn tin đặc thù, bên cạnh những đặc trưng riêng biệt thì công tác tổ chức quản lý và khai thác loại hình nguồn tin này cũng bao gồm những nội dung cơ bản của công tác tổ chức quản lý và khai thác kho tài liệu nói chung. Đó là:
Công tác thu thập bổ sung nguồn tin khoa học nội sinh:
Công tác bổ sung là bổ sung vốn tài liệu trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu, và lựa chọn những tài liệu có nội dung tư tưởng tốt, có giá trị khoa học, thực tiễn nghệ thuật cao để đáp ứng nhu cầu đọc và đáp ứng thông tin của người dùng chính thư viện đó và của xã hội”.[18]
Công tác bổ sung của thư viện phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Chế độ chính trị, xã hội của đất nước.
- Loại hình thư viện, chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của thư viện đó.
- Đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của từng địa phương.
- Ngân sách cụ thể của thư viện
- Trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn của người trực tiếp làm công tác bổ sung.
Nguyên tắc bổ sung vốn tài liệu:
- Công tác bổ sung cần đảm bảo nguyên tắc về tính Đảng: đòi hỏi thư viện phải chọn lựa, đưa vào vốn tài liệu của mình những tài liệu phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Bổ sung vốn tài liệu phải căn cứ vào tình hình, tính chất của cơ quan mình; phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành, từng vùng; đồng thời, vốn tài liệu của từng thư viện cũng phải xây dựng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ của mình.
- Bổ sung thường xuyên và có kế hoạch: chất lượng vốn tài liệu thư viện sẽ bị giảm sút khi không được bổ sung những tài liệu mới.
Để bổ sung tốt thì các thư viện cần xây dựng chính sách bổ sung cho mình.
Các hình thức bổ sung vốn tài liệu thư viện:
- Bổ sung ban đầu
- Bổ sung hiện tại
- Bổ sung hoàn chỉnh (hoàn bị)
Đối với nguồn tài liệu nội sinh, công tác bổ sung bên cạnh những yêu cầu chung thì việc bổ sung phải thường xuyên và có kế hoạch để tăng cường chất lượng của kho tài liệu nội sinh; có được chính sách bổ sung khoa học, hợp lý và phù hợp với pháp luật hiện hành. Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Công tác xử lý nguồn tin:
Là công đoạn tiếp theo của chu trình đường đi của tài liệu. Đây là công tác khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự đầu tư cao về trí tuệ và chất xám nhiều nhất vì hoạt động này sẽ quyết định đến chất lượng thông tin được xử lý cũng như hiệu quả phục vụ NDT. Đây chính là công tác chuẩn bị cho sự ra đời các sản phẩm, dịch vụ Thông tin-Thư viện và triển khai thực hiện chức năng hoạt động của cơ quan Thông tin-Thư viện. Công tác này được tổ chức thực hiện tốt sẽ làm gia tăng giá trị thông tin cũng như hiệu quả phục vụ NDT, giúp bạn đọc tìm kiếm và tiếp cận tài liệu một cách nhanh chóng
Công tác xử lý nguồn tin là hoạt động thứ hai của Trung tâm, sau công tác thu thập bổ sung tài liệu do phòng Bổ sung-Biên mục phụ trách nhằm tiến hành xử lý toàn bộ nội dung, hình thức của tài liệu và xây dựng bộ máy tra cứu tìm tin.
Công tác xử lý nguồn tin bao gồm các công đoạn:
- Xử lý kỹ thuật
- Xử lý hình thức
- Xử lý nội dung
Nguồn tin khoa học nội sinh là một loại hình tài liệu đặc thù được xử lý, bảo quản và khai thác. Chính vì vậy, việc tiến hành công tác xử lý nguồn tài liệu nội sinh về cơ bản cũng tuân theo các bước chung trong quy trình xử lý tài liệu, tương tự như khi xử lý những loại hình xuất bản khác. Tuy nhiên, với những đặc điểm đặc thù của loại hình tài liệu này cũng như căn cứ vào nhu cầu của đối tượng thường xuyên sử dụng nguồn tài liệu nội sinh, các cơ quan Thông tin-Thư viện cũng cần quy định thêm những điểm khác biệt khi xử lý so với các nguồn tài liệu khác.
Công tác tổ chức khai thác và phục vụ bạn đọc:
Là hoạt động nhằm tuyên truyền hoặc đưa ra các dạng tài liệu hay là bản sao của chúng, giúp đỡ người tới thư viện trong việc lựa chọn và sử dụng tài liệu đó. Công tác này được xây dựng dựa trên sự kết hợp các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau của việc phục vụ thư viện, phục vụ thông tin tra cứu. Nhiệm vụ cụ thể của công tác tổ chức phục vụ bạn đọc là giúp bạn đọc lựa chọn nhanh chóng, chính xác và đúng hướng những tài liệu, thông tin mà họ cần, phù hợp với nhu cầu của họ; giới thiệu những nguồn tin mới, có giá trị và phù hợp với từng đối tượng bạn đọc.
2.3. Đánh giá công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Trung tâm Thông tin-Thư viện trường đại học Luật Hà Nội Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Xuất phát từ những yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản của công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh, cũng như xác định những công việc, những nội dung cơ bản của công tác này để đối chiếu, nhận định những ưu điểm, hạn chế mà Trung tâm Thông tin-Thư viện trường đại học Luật Hà Nội đã làm được, có thể đưa ra một số đánh giá về công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin nội sinh của Trung tâm như sau:
2.3.1. Đánh giá chung
2.3.1.1. Ưu điểm
Có thể thấy ưu điểm mà Trung tâm đạt được trong công tác tổ chức quản lý và khai thác phục vụ nguồn tin khoa học nội sinh cho bạn đọc là việc thu thập được tiến hành tốt, nhất là việc nhận nộp lưu các loại tài liệu luận án được thực hiện thường xuyên và hiệu quả. Điều này đã giúp Trung tâm có được vốn tài liệu nội sinh phong phú và đa dạng bao quát hầu hết các chuyên ngành luật, có tác dụng hữu ích trong phục vụ đào tạo và nghiên cứu của nhà trường. Mặc dù vốn tài liệu nội sinh của Trung tâm so với một số thư viện của các trường đại học khác còn ít hơn nhưng toàn bộ nguồn tin khoa học nội sinh đều được đem ra phục vụ tại thư viện (một số thư viện chỉ phục vụ 1 phần tại thư viện, còn lại nguồn tin khoa học nội sinh thuộc chuyên ngành nào thì thuộc về khoa, bộ môn đó lưu giữ và phục vụ cho sinh viên khoa mình). Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc tìm hiểu được nhiều nguồn tin đa dạng và phong phú hơn, làm cho nguồn tin khoa học nội sinh của nhà trường có sự tập trung và ít phân tán hơn.
Trung tâm đã đáp ứng gần tối đa nhu cầu về giáo trình cho sinh viên. Có thể nói gần như 99 % sinh viên trong trường có đủ giáo trình được mượn cho cả kỳ học. Điều này không những giúp sinh viên có điều kiện học tập tốt nhất mà còn khẳng định Trung tâm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ hỗ trợ học tập, đào tạo, nghiên cứu trong nhà trường.
Nguồn tài liệu nội sinh của Trung tâm đã đáp ứng được tính đầy đủ và toàn diện khi các tài liệu đã bao quát và phản ánh hầu hết những chuyên ngành luật của trường, phản ánh được tiềm lực đào tạo cũng như định hướng phát triển của nhà trường trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Việc quản lý loại hình nguồn tin này cũng được tổ chức theo quy trình chặt chẽ của dây chuyền thông tin tư liệu mang tính hệ thống và khoa học cao.
Bên cạnh đó, Trung tâm có sự hỗ trợ từ dự án SIDA từ năm 1998 đến nay nên Trung tâm đã có được hệ thống cơ sở vật chất khang trang hiện đại với hệ thống máy tính, mạng, quạt, máy in, máy photocopy hiện đại,…giúp cho việc phục vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu về nguồn tin khoa học nội sinh của bạn đọc. Phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol 6.0 có tác dụng tích cực trong các công đoạn của dây chuyền thông tin tư liệu, thúc đẩy quá trình tự động hóa trong hoạt động của Trung tâm, nâng cao chất lượng hoạt động và giảm thiểu tối đa công sức và thời gian cho cán bộ, việc sử dụng phần mềm này đã hỗ trợ đắc lực cho Trung tâm trong việc tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh của mình.
Hình thức tổ chức kho mở tại các phòng phục vụ của Trung tâm tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc tiếp cận với tài liệu, tự do lựa chọn tài liệu sát thực với yêu cầu nhất. Hình thức này giúp đảm bảo tính thân thiện, thuận tiện trong sử dụng của công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh. Đặc biệt việc dán nhan đề gáy luận văn, luận án và đề tài nghiên cứu khoa học lại giúp bạn đọc dễ dàng hơn nữa trong việc tìm kiếm chính xác tài liệu mình cần.
Sự sắp xếp kho tài liệu nội sinh trên giá cũng đảm bảo tính khoa học : sắp xếp theo từng chuyên ngành (phân biệt với nhau theo màu sắc), trên giá các tài liệu được xếp theo thứ tự thừ trong ra ngoài, từ trái qua phải,…Quy trình tổ chức kho tài liệu cũng đảm bảo tính thống nhất. Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Trung tâm có sự linh hoạt trong công tác phân loại tài liệu, việc áp dụng bảng phân loại DDC cho các tài liệu ngoại văn, khung phân loại 19 lớp cho các tài liệu về kinh tế, văn hóa xã hội,… và bảng phân loại tài liệu luật học dành cho các tài liệu về các chuyên ngành luật giúp cho sự phân loại tài liệu của Trung tâm có được sự chi tiết, cụ thể. Điều này rất phù hợp với kho tài liệu nội sinh bởi hầu hết các khóa luận, luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu khoa học đều đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể của từng chuyên ngành luật.
Trung tâm có đội ngũ cán bộ nghiệp vụ có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm. Hơn nữa, trong số 19 cán bộ chính thức của Trung tâm, có tới 10 cán bộ trẻ với năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, tin học tốt, có sự năng động và nhiệt tình của tuổi trẻ. Trung tâm lại được thụ hưởng sự tài trợ của dự án SIDA, những cán bộ trẻ được hỗ trợ tạo điều kiện tối đa để học thêm các văn bằng về luật, nâng cao trình độ ngoại ngữ tại những Trung tâm đào tạo chất lương cao. Đây là điều kiện thuận lợi để Trung tâm triển khai các hoạt động nghiệp vụ và phục vụ tài liệu nói chung và nguồn tin khoa học nội sinh nói riêng, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện chất lượng cao đáp ứng tối đa nhu cầu của bạn đọc.
2.3.1.2. Hạn chế
Mặc dù công tác thu thập bổ sung nguồn tin khoa học nội sinh được tiến hành thường xuyên và hiệu quả nhưng so với những Trung tâm thông tin-thư viện của các trường đại học khác thì nguồn tin khoa học nội sinh vẫn còn khá hạn chế về số lượng, đặc biệt là dạng tài liệu luận văn luận án. Nguồn tài liệu này trên thực tế vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của bạn đọc. Nhiều bạn đọc khi vào tìm tài liệu (nhất là luận văn luận án) đã không thấy được tài liệu mình cần vì số lượng có ít.
Hệ thống sản phẩm dịch vụ của Trung tâm còn khá hạn chế, Trung tâm. Sản phẩm của Trung tâm chỉ còn nghèo nàn, về dịch vụ cũng chỉ có các dịch vụ cung cấp tài liệu, đào tạo người dùng tin và tư vấn thường xuyên được sử dụng nhiều hơn cả.
Trung tâm đang tiến hành triển khai dự án số hóa đối với các tài liệu nội sinh, nhưng hiện tại dự án SIDA đã hết thời hạn, điều này cùng gây khó khăn cho Trung tâm trong vấn đề kinh phí. Hơn nữa, bên cạnh vấn đề kinh phí thì những vấn đề liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình số hóa tài liệu cũng là một thách thức không nhỏ đối với Trung tâm hiện nay.
Cách thức tổ chức kho mở bên cạnh những ưu điểm thì cũng có những hạn chế. Vì bạn đọc được tự do lựa chọn tài liệu khiến cho tài liệu thường xuyên bị lộn xộn, không đúng vị trí, cán bộ thư viện mất nhiều thời gian cho việc sắp xếp lại tài liệu. Không những vậy, Trung tâm không trang bị hệ thống camera giám sát nên còn xảy ra tình trạng bạn đọc dọc, xé, chụp tài liệu trái quy định,…hơn nữa, với những tài liệu là luận án, luận văn chỉ có 2, 3 bản, thậm chí có 1 bản nếu bị rách hoặc mất trang sẽ gây khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin phục vụ học tập, nghiên cứu. Việc những tài liệu nội sinh bị hư hỏng cũng làm công tác phục vụ giảm hiệu quả.
Diện tích các phòng đọc còn hạn chế, đặc biệt là kho tài liệu luận án nên không gian tại thư viện phục vụ cho bạn đọc học tập và nghiên cứu cũng bị hạn chế theo.
Từ những nhận định khái quát trên, cùng với những yêu cầu của công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh, có thể đưa ra những đánh giá cụ thể trong từng khâu công tác mà Trung tâm đã thực hiện đối với nguồn tin nội sinh như sau:
2.3.2. Thực trạng nguồn tin khoa học nội sinh tại Trung tâm Thông tin-Thư viện trường đại học Luật Hà Nội Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Nguồn tin khoa học nội sinh của trường đại học Luật cũng được sinh ra trong quá trình hoạt động quản lý, giảng dạy, học tập và nghiên cứu của tập thể cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên trong trrường và cũng được lưu giữ trên các vật mang tin khác nhau như: giấy, đĩa mềm, CSDL,…
Nguồn tin khoa học nội sinh có vai trò quan trọng trong hoạt động phục vụ học tập, giảng dạy cũng như nghiên cứu của trường đại học Luật Hà Nội cũng như khẳng định vị thế, vai trò của Trung tâm trong hệ thống các Trung tâm Thông tin-Thư viện pháp luật và trong hệ thống các cơ quan thông tin khoa học cả nước. Nguồn lực thông tin này đã được tổ chức thành một hệ thống thông tin phản ánh tiềm lực, các thành tựu cũng như xu thể phát triển, định hướng nghiên cứu và đào tạo của Nhà trường. Và nhiệm vụ của Trung tâm chính là tạo lập và phát triển hệ thống thông tin này, để nguồn tin khoa học nội sinh thực sự trở thành một loại nguồn lực đặc biệt của Nhà trường.
Với vị thế là cơ quan Thông tin-Thư viện có chức năng phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, truyền bá pháp lý, tư vấn pháp luật và quản lí của một trường đào tạo cán bộ pháp luật có bề dày lịch sử với đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu là những nhà khoa học đầu ngành, Trung tâm hiện đang lưu giữ một khối lượng lớn tài liệu được hình thành trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của nhà trường. Đó chính là nguồn tin khoa học nội sinh.
Các loại tài liệu nội sinh của Trung tâm về căn bản cũng được chia làm 2 nhóm chính:
- Nguồn tin phản ánh kết quả học tập đào tạo: luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, tạp chí Luật học,…
- Nguồn tin phản ánh kết quả nghiên cứu nói chung của trường đại học Luật Hà Nội: các báo cáo nghiên cứu khoa học, kỉ yếu hội nghị, hội thảo. Loại hình nguồn tin này có số lượng khá ít
Tổng số vốn tài liệu nội sinh của Trung tâm có số lượng vào khoảng trên 87000 bản ấn phẩm.
Bao gồm các loại hình:
- Luận án, luận văn (DSVLA)
- Đề tài nghiên cứu khoa học (DSVKH)
- Giáo trình (DSVGT, MSVGT)
- Bài trích
- Tài liệu hội nghị, hội thảo (DSVHT)
- Xuất bản phẩm định kỳ (Tạp chí Luật học)
2.3.2.1. Luận án, luận văn Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Trường đại học Luật Hà Nội là một trường có bề dày lịch sử nghiên cứu trên 36 năm. Bên cạnh việc đào tạo cán bộ pháp luật hệ chính quy, trường còn tổ chức đào tạo các hệ tại chức, văn bằng 2, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Hàng năm số học viên cao học, nghiên cứu sinh của trường đều tăng lên, cuối mỗi khóa học, sinh viên, các học viên cao học và nghiên cứ sinh đều phải làm khóa luận, luận văn, luận án tốt nghiệp.
Hiện tại Trung tâm đang lưu giữ 3829 đầu luận văn, luận án,tương ứng với 5456 bản (có những đầu khóa luận, luận văn luận án có 2, 3 bản). Luận án, luận văn của Trung tâm được tổ chức tại kho đọc mở để bạn đọc tự lựa chọn đề tài phù hợp, được phân thành các chuyên ngành cụ thể:
- Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
- Luật hiến pháp
- Luật hành chính
- Luật kinh tế
- Luật tài chính
- Luật ngân hàng
- Luật môi trường
- Luật lao động
- Luật dân sự
- Luật hình sự
- Luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tốt tụng lao động, tố tụng kinh tế.
- Luật quốc tế
Mỗi chuyên ngành có khoảng trên 400 cuốn, đặc biệt luật Kinh tế là chuyên ngành có số lượng luận án luận văn nhiều nhất, khoảng > 1500 cuốn.
Số lượng khóa luận, luận văn, luận án phong phú trên chính là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ công tác học tập cũng như nghiên cứu của bạn đọc tại Trung tâm.
2.3.2.2. Giáo trình
Trường đại học Luật Hà Nội với thế mạnh là trường đào tạo cán bộ pháp luật hàng đầu cả nước với đội ngũ cán bộ, giảng viên đầu ngành tham gia biên soạn giáo trình không chỉ cho nhà trường mà còn cho các trường, cơ sở đào tạo khác trong cả nước. Với tổng số 70632 bản ấn phẩm, vốn tài liệu giáo trình của Trung tâm luôn đa dạng và phong phú, thuộc đầy đủ các chuyên ngành mà nhà trường đào tạo, và cả những chuyên ngành khác như Triết học Mác-lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xã hội học,…Với chính sách của nhà trường, Trung tâm tự hào luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu tài liệu giáo trình của sinh viên (khoảng trên 90 %). Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Giáo trình phục vụ bạn đọc được tổ chức cả tại phòng mượn (MSVGT) và phòng đọc tầng 2 (DSVGT). Sinh viên có thể mượn giáo trình trong suốt kì học, và có thể tham khảo khi đọc tài liệu tại chỗ tại phòng đọc. Sinh viên của trường khá hài lòng với cơ chế cho mượn giáo trình cũng như mức độ đáp ứng nhu cầu về giáo trình của thư viện.
2.3.2.3. Xuất bản phẩm định kì
Trường đại học Luật Hà Nội có tạp chí Luật học được thành lập từ năm 1994 theo Quyết định số 763 – QĐ/TCCB ngày 9 tháng 9 năm 1994 của Bộ trưởng Bộ tư pháp. Mỗi cuốn tạp chí Luật học dày 80 trang được ra 1 tháng/ 1 kỳ.
Những tôn chỉ, mục đích:
- Đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường.
- Thông tin, giới thiệu về các kết quả nghiên cứu khoa học pháp lí trong và ngoài nước
- Trao đổi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Các chuyên mục chủ yếu: Nghiên cứu-trao đổi; Xây dựng pháp luật; Nhà nước và pháp luật nước ngoài; Luật so sánh; Đào tạo; Thông tin.
Mỗi tháng, thư viện bổ sung 25 cuốn tạp chí Luật học, trong đó lưu 2 cuốn và 23 cuốn để phục vụ bạn đọc.
Đến nay, tạp chí Luật đã trở thành một tài liệu hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu, cũng như giảng dạy của giảng viên và sinh viên, học viên trong trường.
2.3.2.4. Báo cáo, kỉ yếu hội nghị hội thảo
Trường đại học Luật Hà Nội là nơi tổ chức đào tạo cán bộ pháp luật trình độ cao cho đất nước, nên việc nghiên cứu khoa học cũng là đặc thù riêng. Trong quá trình đào tạo, nhà trường luôn chú trọng gắn liền nghiên cứu khoa học với việc cải cách, đổi mới trong phương pháp giảng dạy và học tập, nghiên cứu những đổi mới trong pháp luật của Nhà nước,…Trường đang ngày càng đổi mới để phù hợp với yêu cầu chung của xu thế đào tạo mới, trường đã chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, giúp sinh viên chủ động hơn trong học tập và nghiên cứu.
Để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhà trường đã liên tục tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo. Rất nhiều hội nghị, hội thảo về pháp luật với quy mô lớn được tổ chức. Trung tâm đang lưu giữ 113 đầu báo cáo kỉ yếu hội nghị hội thảo, tương ứng với 181 bản để phục vụ bạn đọc tại phòng đọc 1.
2.3.2.5. Đề tài, công trình nghiên cứu khoa học Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Trường đại học Luật Hà Nội cũng là một trường đại học có bề dày nghiên cứu khoa học. Cán bộ, giảng viên, sinh viên, nghiên cứu sinh trong trường đã thực hiện rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Tuy nhiên, việc thu thập bổ sung nguồn tài liệu này chưa được quan tâm đúng mức. Trung tâm hiện chỉ có một số lượng tài liệu báo cáo nghiên cứu khoa học nhỏ với 127 tên đề tài, tương đương với 165 bản tại phòng đọc tầng 1 cùng với kho luận văn luận án. Các đề tài mà Trung tâm đang lưu giữ đều là những đề tài nghiên cứu khoa học đạt giải từ cấp trường trở lên.
2.3.3. Công tác thu thập bổ sung nguồn tin khoa học nội sinh
Trung tâm đã căn cứ vào các luật, nghị định, quy chế của Chính phủ cũng như của trường đại học Luật Hà Nội về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm để tổ chức thu thập, quản lý, khai thác các nguồn tin khoa học nội sinh của mình. Tuy nhiên hiện nay Trung tâm chưa có một văn bản pháp lý cụ thể nào để thực hiện chức năng này. Hiện Trung tâm tiến hành công tác bổ sung tài liệu dựa trên việc kí kết tiêu chuẩn ISO 9001-2008- Hệ thống quản lý chất lượng- Các yêu cầu.
So với các loại nguồn tin được bổ sung bằng phương thức thông thường, hay qua trao đổi, tặng biếu,…các nguồn tin khoa học nội sinh của Trung tâm được thu thập bằng phương thức nhận nộp lưu. Đối với loại hình nguồn tin là luận văn, luận án, khóa luận, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, tài liệu hội nghị hội thảo: Do các tác giả nộp cho Trung tâm sau khi bảo vệ. Đây cũng là nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức được giao tiến hành các công trình nghiên cứu hoặc của các tổ chức tiến hành hội nghị, hội thảo. Điều khó khăn trong việc thu thập nguồn thông tin này là việc các cán bộ thư viện không thể dễ dàng bao quát, tìm kiếm, nhận biết và thu thập đầy đủ nguồn tin khoa học nội sinh trong trường. Mặc dù vậy nhưng việc bổ sung tương đối đều đặn đã góp phần xây dựng vốn tài liệu nội sinh của Trung tâm ngày càng lớn mạnh, đầy đủ hơn.
Công tác thu thập bổ sung đã tạo cho Trung tâm vốn tài liệu nội sinh khá đa dạng, phong phú về các chuyên ngành luật từ luật Dân sự, Hình sự, tới Kinh tế, Môi trường,..với nhiều loại hình tài liệu cả luận án, luận văn, tạp chí tới các bài trích, công trình nghiên cứu khoa học,…đây là nguồn lực thông tin hữu ích phục vụ bạn đọc trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy nhiên, với số lượng tài liệu nội sinh hiện nay, Trung tâm vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của bạn đọc. Nhất là với các loại luận văn, luận án chỉ trên 5000 cuốn mà nhu cầu của bạn đọc về loại hình tài liệu này là rất cao. Điều này đòi hỏi Trung tâm cần tăng cường hơn nữa trong việc chú trọng bổ sung luận án, luận văn một cách thường xuyên, chủ động và đều đặn.
2.3.4. Công tác xử lý nguồn tin khoa học nội sinh Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
2.3.4.1. Xử lý kỹ thuật
Là giai đoạn xử lý sơ lược cho tài liệu, sau khi tiếp nhận đóng dấu của thư viện vào trang tên sách và trang thứ 17 của tài liệu, cán bộ bổ sung sẽ tiến hành in nhãn và in mã vạch, ghi số ĐKCB vào trang tên sách và trang 17.
- Đăng kí tài liệu:
Trung tâm tiến hành việc đăng kí tài liệu nội sinh với sổ đăng kí tổng quát và sổ ĐKCB. Sổ đăng kí tổng quát của thư viện có tên là “Sổ nhập và phân kho sách”, bao gồm 6 cột:
- Cột thứ nhất ghi số thứ tự của lần nhập vào thư viện
- Cột thứ hai ghi tên tài liệu
- Cột thứ 3 ghi tổng số tài liệu nhập vào thư viện tương ứng với mỗi tên tài liệu
- Cột thứ tư ghi số lượng tài liệu được phân về phòng đọc (theo tên tài liệu).
- Cột thứ năm ghi số lượng tài liệu được phân về phòng mượn (theo tên tài liệu).
Mẫu sổ này giúp Trung tâm quản lý được vốn tài liệu nói chung cũng như của từng kho riêng một cách dễ dàng. Tuy nhiên, khi giao nhận tài liệu thì mỗi kho lại có sổ giao nhận tài liệu riêng.
Đăng kí cá biệt: Vì nguồn tài liệu nội sinh đều là những tài liệu chuyên ngành nên việc ĐKCB cho tài liệu được chia theo các nhóm ngành để tiện cho việc quản lý và đảm bảo cho sổ ĐKCB không quá lớn, tránh xảy ra sai xót, nhầm lẫn. Mẫu sổ ĐKCB của Trung tâm gồm 9 cột:
- Cột 1: Ghi ngày tháng đăng kí tài liệu
- Cột 2: Ghi số ĐKCB của từng tài liệu
- Cột 3: Ghi tên tác giả và tên sách
- Cột 4: Năm kiểm kê
- Cột 5: Ghi nơi xuất bản, năm xuất bản
- Cột 6: Ghi giá tiền
- Cột 7: Ghi số vào sổ tổng quát
- Cột 8: Ghi ngày và số biên bản xuất
- Cột 9: Ghi chú.
Ký hiệu ĐKCB cho tài liệu nội sinh tại Trung tâm được tạo lập bởi 3 yếu tố: Kho tài liệu, loại tài liệu, số thứ tự trong sổ ĐKCB
Kho tài liệu: kí hiệu để phân chia các kho là các chữ cái viết tắt in hoa:
- DSV: Đọc sinh viên MSV: Mượn sinh viên
- DGV: Đọc giáo viên
- MGV: Mượn giáo viên
Loại tài liệu: cũng sử dụng các chữ cái viết tắt in hoa:
- GT: Giáo trình
- LA: Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
- KH: Đề tài nghiên cứu khoa học HT: Tài liệu hội nghị, hội thảo
Số thứ tự trong sổ ĐKCB: Trung tâm quy định sử dụng dãy 4 hoặc 6 chữ số bắt đầu từ 0001 để thiết lập số thứ tự trong các kho
Ví dụ cuốn : Tài phán kinh tế Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện : Luận án thạc sĩ luật học / Nguyễn Thế Thành.- H.: Trường đại học Luật Hà Nội, 1997 có số ĐKCB là DGVLA0036.
2.3.4.2. Xử lý hình thức Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Xử lý hình thức chính là công việc mô tả thư mục (biên mục). Đây là quá trình nhận dạng và mô tả một tư liệu (ghi lại những thông tin về hình thức, nội dung, trách nhiệm biên soạn, mô tả vật lý,…của tài liệu ấy). Đồng thời lựa chọn và thiết lập các điểm truy nhập, trừ các điểm truy nhập theo chủ đề.
Công việc biên mục sơ lược được tiến hành song song với quá trình tạo lập số ĐKCB cho tài liệu ngay khi tài liệu mới được bổ sung về Trung tâm. Công việc biên mục thực sự bắt đầu với việc thiết lập các giá trị ngầm định cho các trường của các trường của tài liệu cần biên mục hay xây dựng, chỉnh sửa các mẫu biên mục.
Trung tâm sử dụng khổ mẫu biên mục MARC và quy tắc biên mục AnhMỹ AACR 2 trong việc biên mục các tài liệu nói chung và các tài liệu nội sinh nói riêng.
Trên thực tế, phân hệ biên mục của phần mềm Libol 6.0 được được các cán bộ của Trung tâm sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế, với việc xây dựng các mẫu biên mục cụ thể cho từng loại hình tài liệu, Thư viện đã đảm bảo tinh nhất quán giữa các biểu ghi thư mục. Khác với các Thư viện khác,
Trung tâm chỉ sử dụng chủ yếu cho sách, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, …Còn đối với tạp chí, Trung tâm chỉ xử lý biên mục đối với bài trích, không xử lý biên mục cho ấn phẩm vì lý do: độc giả chỉ quan tâm đến những bài viết có liên quan đến chuyên ngành và chỉ tìm những bài viết đó. Nắm bắt được nhu cầu đó của độc giả, một phần giảm bớt thời gian, công sức của cán bộ thư viện thì các cán bộ của Trung tâm đã lựa chọn các bài viết có nội dung liên quan đến chuyên ngành để xử lý biên mục.
Bên cạnh việc biên mục, dán nhãn cho các tài liệu, Trung tâm đã tiến hành việc dán nhan đề gáy cho toàn bộ 5456 cuốn luận văn luận án, 156 cuốn đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là một việc làm rất hữu ích trong việc giúp bạn đọc dễ dàng tìm kiếm tên tài liệu chính xác mà mình cần. Đồng thời cũng giúp cho việc sắp xếp các tài liệu luận án trên giá theo vần chữ cái dễ dàng hơn.
2.3.4.3. Xử lý nội dung
Xử lý nội dung tài liệu bao gồm các công đoạn như: Phân loại, định từ khóa, làm tóm tắt,…Đây là một công đoạn đòi hỏi cán bộ xử lý ngoài việc có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt thì cần phải có vốn kiến thức hiểu biết sâu rộng, nhất là kiến thức về các chuyên ngành Luật, bởi đa số các tài liệu nội sinh của Trung tâm là những tài liệu chuyên ngành sâu. Công đoạn này được thực hiện tốt sẽ rất hữu ích cho NDT trong việc tìm kiếm, lựa chọn các tài liệu phù hợp với nhu cầu tin của mình.
- Phân loại tài liệu: Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Hiện nay đối với các tài liệu nội sinh, Trung tâm sử dụng bảng phân loại các tài liệu Luật học để phân loại tài liệu vì nội dung của nguồn tin khoa học nội sinh đều đi sâu vào những chuyên ngành luật cụ thể.
Bảng phân loại các tài liệu luật học: Được triển khai biên soạn từ tháng 8/1996 và hoàn thiện vào tháng 5/1998. Đây là bảng phân loại được xây dựng trên cơ sở của sự phân loại khoa học luật đồng thời có tính đến sự phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo của nhà trường. Bảng phân loại này được triển khai dựa trên mục 34-Nhà nước và pháp quyền, các khoa học pháp lý của Bảng phân loại 19 lớp do Thư viện Quốc gia Việt Nam biên soạn.
Bảng phân loại các tài liệu luật học đã phản ánh đầy đủ nội dung của ngành Luật học và theo sát nội dung đào tạo của nhà trường. Đồng thời có tính đến xu hướng phát triển của khoa học luật theo cả hai chiều: phân ngành và liên ngành. Các bảng trợ ký hiệu cũng được xây dựng để phân loại các hình thức văn bản pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Đạo luật, Bộ luật, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, quyết định, Thông tư,… Sự linh hoạt trong công tác phân loại tài liệu đã mang lại hiệu quả cao trong vấn đề tổ chức quản lý, cũng như mang lại sự thuận tiện cho việc tổ chức khai thác phục vụ bạn đọc của Trung tâm. Hơn nữa, với việc sử dụng bảng phân loại các tài liệu Luật học cũng làm cho việc tra cứu của bạn đọc trở nên dễ dàng hơn bơi sự thân thiện của nguồn tài liệu đối với sinh viên trường Luật.
- Định từ khóa:
Bên cạnh việc phân loại tài liệu để xây dựng mục lục phân loại, tổ chức kho mở, xây dựng hệ thống ngôn ngữ tìm tin theo ký kiệu phân loại, Trung tâm đã nghiên cứu xử lý tài liệu, xây dựng hệ thống ngôn ngữ tìm tin bằng từ khóa. Các cán bộ của phòng bổ sung, biên mục đã nghiêm túc tuân thủ thực hiện tốt các quy định của việc định từ khóa tài liệu. Nên nhìn chung chất lượng của hệ thống từ khóa của Trung tâm khá tốt, đã phản ánh được đầy đủ những nội dung chủ yếu của các tài liệu, trong đó có các tài liệu nội sinh. Về hình thức và nội dung các từ khóa đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, trong quá trình định từ khóa nguồn tài liệu nội sinh, có rất nhiều các đề tài luận văn luận án thuộc chuyên ngành sâu, điều này gây khó khăn trong việc xác định chủ đề cũng như định từ khóa chính xác để mô tả đúng nội dung tài liệu. Sự phát triển của các ngành luật đòi hỏi các cán bộ của Trung tâm phải luôn tìm tòi, cập nhật những nguồn tin mới, các tạp chí khoa học chuyên ngành mới nhất,… để có thể hiểu sâu sát hơn về các thuật ngữ và xây dựng từ khóa chính xác nhất.
Hiện nay, Trung tâm vẫn sử dụng từ khóa tự do trong công tác xử lý tài liệu và tra cứu thông tin.
- Tóm tắt tài liệu:
Các tài liệu nội sinh được tóm tắt và đưa vào cơ sở dữ liệu thư mục nhằm giúp bạn đọc nắm được những nội dung cơ bản trước khi tiếp cận trực tiếp với tài liệu gốc.
Có thể thấy việc làm tóm tắt cho nguồn tài liệu nội sinh của Trung tâm đã đạt được mục đích cơ bản là giới thiệu cho người dùng nội dung của tài liệu gốc để họ có cơ hội đánh giá sự phù hợp của tài liệu so với yêu cầu của mình và sẽ quyết định có sử dụng tài liệu đó hay không.
Việc mô tả nội dung tài liệu được tiến hành khá tốt: NDT đã có những hình ảnh khái quát, xác thực nhất về tài liệu gốc, là những vấn đề mà nội dung tài liệu gốc đề cập đến. Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Tuy nhiên, việc làm tóm tắt cho nguồn tài liệu nội sinh nói riêng và vốn tài liệu thư viện nói chung chưa được Trung tâm chú trọng quan tâm, công tác tóm tắt tài liệu còn chưa tiến hành đồng đều đối với tất cả các loại hình tài liệu. Trung tâm chỉ tiến hành tóm tắt đối với tài liệu là luận văn, luận án, còn các loại giáo trình, báo cáo khoa học, kỷ yếu hội thảo,…chưa được tóm tắt để giúp bạn đọc khái quát những nội dung cơ bản nhất mà tài liệu đề cập tới.
2.3.5. Công tác tổ chức và bảo quản nguồn tin khoa học nội sinh
- Tổ chức bộ máy tra cứu:
Hiện nay, Trung tâm đã không còn sử dụng bộ máy tra cứu truyền thống, mà đã thực hiện tra cứu trực tuyến trên OPAC không chỉ với các loại tài liệu là nguồn tin khoa học nội sinh mà còn với tất cả các tài liệu với hệ thống máy tính của thư viện.
Tổng số CSDL mà thư viện xây dựng được là 19726 biểu ghi, trong số này, bạn đọc có thể truy cập vào website để tìm những thông tin thư mục về các nguồn tin khoa học nội sinh cần thiết.
Với phân hệ OPAC của phần mềm Libol 6.0, việc tra cứu, tìm kiếm những thông tin của bạn đọc trở nên dễ dàng hơn. Điều này đảm bảo yêu cầu về tính thân thiện cũng như thuận tiện trong công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh của Trung tâm.
- Công tác tổ chức và bảo quản kho tài liệu nội sinh:
Tài liệu nội sinh của thư viện được sắp xếp ở cả phòng đọc và phòng mượn của thư viện, tài liệu được sắp xếp trên giá theo từng chuyên ngành luật cụ thể. Trong mỗi chuyên ngành luật, tài liệu được sắp xếp theo chủ đề, dựa trên nguyên tắc các tài liệu mang tính chất tổng quát, các loại văn bản, quy định, bộ luật, luật,…được sắp xếp lên đầu, tiếp theo mới tới các chủ đề nhỏ hơn (căn cứ vào thứ tự các lớp trong bảng phân loại).
Ví dụ: trong chuyên ngành luật Lao động bao gồm các chủ đề:
- Vấn đề chung về luật Lao động
- Quan hệ pháp luật về học nghề
- Quan hệ pháp luật về việc làm
- Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động
- Bảo hiểm xã hội
- Chính sách đối với người lao động
- Tuyển dụng lao động
- Quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài và thỏa ước lao động
- Pháp luật về tiền lương
- Bảo hộ lao động Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Điểm đặc biệt trong công tác tổ chức kho tài liệu nói chung và kho tài liệu nội sinh nói riêng của Trung tâm là Trung tâm đã sử dụng hệ thống mã màu để sắp xếp tài liệu theo từng chuyên ngành luật. Việc sử dụng hệ thống mã màu không chỉ giúp bạn đọc dễ dàng tìm kiếm tài liệu mà còn mang tính thẩm mĩ cao. Hệ thống mã màu của Trung tâm không sử dụng độc lập như ở một số thư viện khác mà sử dụng làm màu của nhãn sách. Ví dụ:
- Sách giáo trình có nhãn sách màu xanh dương
- Luận án, luận văn ngành luật Kinh tế nhãn màu trắng
- Luật hôn nhân và gia đình có nhãn màu hồng
- Luật lao động nhãn màu vàng
- Luật quốc tế có nhãn gáy màu đỏ
Hệ thống chỉ dẫn xếp giá: ở đầu mỗi giá sách có chỉ dẫn xếp giá liệt kê tên các chuyên ngành (chủ đề) được xếp ở mỗi giá. Trong mỗi chuyên ngành, các chủ đề nhỏ lại được dán trên cánh giá hoặc mặt trên cạnh của giá sách để bạn đọc có thể dễ dàng tiếp cận và lựa chọn tài liệu.
Tài liệu nội sinh được bảo quản trong kho với điều kiện đảm bảo về độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng,…Trung tâm cũng trang bị hệ thống điều hòa, quạt trần, các thiết bị phòng chống cháy nổ,…để đảm bảo tránh khỏi những tác hại của môi trường đến tài liệu. Hàng tuần vào chủ nhật, Trung tâm có thuê người dọn vệ sinh làm sạch hệ thống máy tính, giá sách, kho sách, đảm bảo tài liệu không bị bụi bẩn xâm hại.
Bên cạnh đó, các cán bộ Trung tâm cũng thường xuyên nhắc nhở bạn đọc có ý thức giữ gìn tài liệu, vì nguồn tin khoa học nội sinh là những tài liệu rất quý, nó phản ánh tiềm lực đào tạo và nghiên cứu của nhà trường nên những bạn đọc có hành vi xé, dọc tài liệu,…sẽ bị Trung tâm đưa lên Quản lý sinh viên của nhà trường xử lý theo quy định.
Trong kho tài liệu nội sinh của thư viện, cũng có một số loại giáo trình, một số cuốn luận án bị rách nát, cũ,..Trung tâm cũng đã tiến hành phục chế tài liệu bằng việc dán những trang bị rách, rời khỏi gáy sách, những cuốn bị rách bìa thì lên danh sách để gửi đi đóng lại bìa.
Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng việc bảo quản nguồn tài liệu nội sinh của Trung tâm vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tài liệu bị dọc, xé, chụp trái quy định,…thường xuyên xảy ra làm nội dung của các tài liệu mất đi giá trị và tính đầy đủ, nhất là với luận văn, luận án khi những đề tài được nhiều người quan tâm bị xé đi những trang quan trọng, mà loại hình tài liệu này thường chỉ có từ 1-2 bản.
2.3.6. Công tác tổ chức khai thác và phục vụ bạn đọc Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Công tác phục vụ bạn đọc là khâu cuối cùng trong chu trình đường đi của tài liệu trong thư viện. Là một bộ phận trong nguồn tin của Trung tâm, nguồn tin khoa học nội sinh về cơ bản cũng được phục vụ như những nguồn tin khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của bạn đọc. Bên cạnh đó là những đặc trưng riêng trong phục vụ loại hình tài liệu này. nguồn tin khoa học nội sinh được Trung tâm tổ chức phục vụ cho tất cả các đối tượng bạn đọc: Cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên viên trong trường, giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên trong trường.
Nguồn tin khoa học nội sinh được bố trí ở tất cả các phòng phục vụ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của bạn đọc:
- Giáo trình: có ở phòng mượn kho kín, phòng đọc tầng 2 kho mở.
- Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, kỉ yếu hội nghị hội thảo: phục vụ tài phòng đọc kho mở tầng 1
- Tạp chí Luật học: phục vụ tại phòng đọc tầng 2 Thời gian phục vụ:
- Tại phòng đọc (1 và 2: từ 7h đến 19h các ngày từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần
Tại phòng mượn (và 2): làm theo giờ hành chính: sáng từ 7h30 đến 11h30, chiều từ 13h30 đến 16h30 các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần. Trong việc phục vụ nguồn tin khoa học nội sinh, đặc biệt là với nguồn tài liệu là luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học- những nguồn tài liệu xám nên vấn đề sở hữu trí tuệ rất được quan tâm. Trung tâm nghiêm cấm bạn đọc sao chụp tài liệu bằng máy ảnh, điện thoại, laptop hay các thiết bị khác mà chỉ được sử dụng máy photocopy của Trung tâm. Đối với nguồn tài liệu xám này thì bạn đọc chỉ được phép photo không quá 20 trang tài liệu. Điều này cũng làm hạn chế bạn đọc trong quá trình khai thác và sử dụng vì có nhiều tài liệu chỉ có 1 bản duy nhất khi mà nhiều bạn đọc có nhu cầu về cùng một chủ đề. Tuy nhiên, vấn đề bản quyền đối với việc sao chụp các tài liệu xám là vấn đề khá nhạy cảm nên bạn đọc không được phép phôtô quá số trang quy định. Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh.
Theo thống kê từ các phòng phục vụ, nguồn tin khoa học nội sinh là nguồn tin có nhu cầu phục vụ và tần số sử dụng rất cao, đặc biệt là với trường đại học Luật, một môi trường học tập và nghiên cứu vô cùng năng động. Từ đó, có thể khẳng định được về cơ bản trong công tác phục vụ nguồn tin khoa học nội sinh thì Trung tâm đã đảm bảo tính đầy đủ cũng như sự thuận tiện trong sử dụng khi mà bạn đọc được tự do lựa chọn nguồn tài liệu mình cần tại các phòng phục vụ của thư viện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Đánh giá quản lý khai thác nguồn tin khoa học nội sinh […]