Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất thì việc tối đa hoá lợi nhuận là một trong những mục tiêu hàng đầu. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giữa các doanh nghiệp luôn luôn có sự cạnh tranh gay gắt. Để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình làm sao để chi phí bỏ ra là thấp nhất nhưng lợi nhuận thu lại là cao nhất.
Chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm vì đây là chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ là tiền đề để tiến hành hạch toán kinh doanh xác định kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn là căn cứ quan trọng để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình sử dụng tài sản, vật tư, lao động,…
Để tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thì doanh nghiệp cần không ngừng tìm cách cải tiến, hoàn thiện hệ thống kế toán, đặc biệt là công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cùng vốn kiến thức đã được học ở trường, những hiểu biết thu thập được trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng em đã mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu và lựa chọn đề tài : “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
- Mô tả và phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và phát triển đầu tư Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần xây dựng và phát triển đầu tư Hải Phòng.
- Về thời gian: đề tài được thực hiện từ ngày 25/03/2011 đến ngày 31/07/2011
- Việc phân tích được lấy từ số liệu của năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Bao gồm các phương pháp hạch toán kế toán (phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối), các phương pháp phân tích kinh doanh (phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ,…), phương pháp nghiên cứu tài liệu…
- Phương pháp kỹ thuật trong trình bày: Kết hợp giữa mô tả và phân tích, giữa luận giải với bảng biểu và sơ đồ.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương chính :
- Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời gian nhất định để phục vụ cho quá trình sản xuất.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có đủ 3 yếu tố cơ bản:
- Đối tượng lao động.
- Tư liệu lao động.
- Lao động sống.
Tương ứng với các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh là các chi phí sản xuất kinh doanh nói chung của Doanh nghiệp bao gồm: Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
- Chi phí về các loại đối tượng lao động chủ yếu (nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ…)
- Chi phí về các loại tư liệu lao động chủ yếu (tài sản cố định)
- Chi phí về lao động (chi phí nhân công)
- Chi phí về các loại dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí bằng tiền khác.
Trong nền kinh tế thị trường, các chi phí trên đều được đo lường, tính toán bằng tiền, gắn với thời gian nhất định.
Độ lớn của chi phí sản xuất là một đại lượng xác định phụ thuộc vào hai nhân tố chính sau:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định.
- Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền lương của một đơn vị sản xuất đã hao phí.
Việc làm rõ bản chất của chi phí sản xuất trong doanh nghiệp giúp kế toán tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm từ đó phát huy được chỉ tiêu tính giá thành trong công tác quản lý, kiểm tra, giám đốc quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Vì vậy, thực chất của chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố đầu vào và được tập hợp cho từng đối tượng để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
1.2. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
1.2.1. Bản chất của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá, để hoàn thành một khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ, dịch vụ.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong suốt quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kĩ thuật mà doanh nghiệp đang thực hiện nhằm đạt được những mục đích sản xuất khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí bỏ ra là thấp nhất.
Giá thành còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất cũng như hiệu quả quản trị chi phí của doanh nghiệp.
Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành.
1.2.2. Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chính: chức năng bù đắp chi phí và chức năng lập giá.
Chức năng bù đắp chi phí: là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định phải bù đắp bằng chính số tiền thu được về tiêu thụ sản phẩm, bán sản phẩm và có lãi.
Chức năng lập giá: thể hiện giá bán sản phẩm phụ thuộc vào quy luật cung cầu thị trường, giá bán là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải được dựa trên cơ sở giá thành để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.
Như vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với lãng phí hay tiết kiệm lao động xã hội trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, giá thành sản phẩm cao hay thấp đều phản ánh kết quả của việc quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn của doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
1.3. Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều khoản mục với nội dung kinh tế, mục đích công dụng và phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau. Do vậy cần căn cứ vào những tiêu thức nhất định đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất mà phân loại chi phí sản xuất cho phù hợp.
1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Theo chế độ hiện hành thuộc phạm vi KTTC thì căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của CPSX, toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản, công cụ dụng cụ mà doanh nghiệp sử dụng.
- Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền lương phải trả, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo lương của công nhân viên hoạt động sản xuất doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản xuất.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp trả các dịch vụ mua từ bên ngoài để phục vụ cho sản xuất:
- Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ chi phí khác dùng trong hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý vi mô và quản lý vĩ mô. Với cách phân loại này các doanh nghiệp biết được cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán CPSX, xây dựng kế hoạch cung ứng, đảm bảo các yếu tố CPSX…, làm cơ sở cho việc tính toán thu nhập quốc dân.
1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí (mục đích, công dụng của chi phí)
Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí đối với quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ theo chế độ hiện hành thì toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được chia thành các khoản mục chi phí, bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ các chi phí về nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ tiền lương, tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, đội sản xuất ngoài hai khoản mục trên để hạch toán.
Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế của chi phí có tác dụng phục vụ cho việc quản lý CPSX theo định mức, dự toán chi phí, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản xuất sản phẩm và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, là tài liệu tham khảo để lập định mức CPSX và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau nhằm hạ giá thành cho sản phẩm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ HẢI PHÒNG. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
2.1. Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng (gọi tắt là CDI) trước đây là doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ năm 1992 với tên gọi là Công ty Xây lắp số 8 Hải Phòng, có trụ sở đặt tại số 5 đường Lạch Tray – thành phố Hải Phòng. Năm 1997, Công ty xây lắp số 8 Hải Phòng được phép mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đảm nhận hai nhiệm vụ nhận thầu xây lắp và đầu tư phát triển nhà ở, được UBND thành phố Hải Phòng quyết định lấy tên là Công ty Xây dựng và phát triển đầu tư theo quyết định số 669/QĐ-TCCQ ngày 30/05/1998 của UBND thành phố Hải Phòng.
Sau 13 năm hoạt động theo mô hình doanh nghiệp nhà nước, năm 2005 Công ty thực hiện quyết định cổ phần hoá của UBND thành phố và lấy tên là Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng theo quyết định số 408/QĐ-UB ngày 10/03/2005 của UBND thành phố Hải Phòng và hoạt động theo đăng kí kinh doanh số 0203001346 do Sở Kế hoạch Đầu tư Hải Phòng cấp ngày 1/4/2005.
- Vốn điều lệ : 10.817.200.000 (Mười tỷ, tám trăm mười bảy triệu, hai trăm ngàn đồng). Trong đó:
- Cổ phần thuộc Nhà nước là 0% vốn điều lệ.
- Cổ phần thuộc các cổ đông là CBCNV trong Công ty và cổ đông ngoài doanh nghiệp là 10.817.200.000đ chiếm 100% vốn điều lệ.
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần.
- Ngành nghề kinh doanh: + Nhận thầu xây dựng
- Công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và hạ tầng cơ sở
- Trang trí nội thất công trình
- Dịch vụ tư vấn thiết kế
- Dịch vụ mua bán nhà đất
- Nhà ở
Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp với các chức năng chủ yếu là: nhận thầu xây lắp công trình, đầu tư phát triển nhà ở, khu đô thị và kinh doanh bất động sản. Trải qua hơn 15 năm hoạt động, Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng đã hoàn thành tốt mọi yêu cầu nhiệm vụ được Thành phố giao, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Nhà nước, đảm bảo tăng trưởng liên tục. Tính đến nay, Công ty không những hoàn thành trách nhiệm bảo toàn vốn mà đã nâng vốn hoạt động của Doanh nghiệp lớn trên 300 lần so với số vốn được giao ban đầu là 365 triệu đồng. Hiện nay, Công ty đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp, công nhân lành nghề giàu kinh nghiệm, năng lực tài chính và kỹ thuật đảm bảo đáp ứng yêu cầu thi công xây dựng các công trình có quy mô lớn và thực hiện các dự án đầu tư theo nhu cầu thị trường.
Sau hơn mười chín năm hoạt động Công ty đang trên đà phát triển và thu được rất nhiều lợi nhuận. Sự phát triển của Công ty được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau:
2.2. Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
2.2.1. Đặc điểm và cách phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty
2.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất
Do tính chất của Công ty mà chi phí sản xuất của Công ty bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như việc ra quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất ở công ty được phân loại theo mục đích và công dụng, bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Là toàn bộ các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ (gạch, vôi, xi măng, cát, đá, sắt thép…)
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm chi phí tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp thi công công trình.
- Chi phí sản xuất chung: gồm các khoản chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định phân bổ cho công trình, chi phí dịch vụ mua ngoài cho công trình và chi phí chung khác phân bổ cho công trình.
2.2.1.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí tính bằng tiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định. Trong Công ty giá thành sản phẩm được phân thành giá thành dự toán và giá thành thực tế.
- Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành công trình.
- Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao công trình mà đơn vị đã thi công. Giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
2.2.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm.
2.2.2.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chính là khâu đầu tiên và cũng là khâu đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty.
Xuất phát từ đặc điểm của ngành xây dựng là sản phẩm mang tính đơn chiếc thi công lâu dài, phức tạp, cố định và có giá trị lớn, sản phẩm của Công ty thường là một công trình, hạng mục công trình – đó là đối tượng để Công ty tham gia đấu thầu ký kết hợp đồng thi công. Để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý và công tác kế toán, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của Công ty là “từng đơn hàng”.
2.2.2.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Do đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đơn hàng chính vì vậy đối tượng tính giá thành mà công ty xác định là sản phẩm cụ thể của từng đơn đặt hàng.
2.2.3. Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán cần phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng cần tính giá thành.
Công ty chỉ tiến hành tính giá khi đơn hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không thống nhất với kỳ báo cáo. Đối với những đơn hàng đến kỳ kế toán mà chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tập hợp theo đơn hàng đó đều coi là chi phí dở dang cuối kỳ chuyển sang kỳ sau. Còn những đơn hàng đã hoàn thành thì toàn bộ chi phí phí tập hợp theo đơn hàng đó sẽ được tính vào giá thành sản xuất của đơn hàng.
Công ty xác định kỳ tính giá thành là hàng tháng.
- Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Do đặc điểm loại hình sản xuất, sản phẩm của công ty là những đơn đặt hàng do vậy phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp theo đơn đặt hàng. Đặc điểm của phương pháp này là tính giá thành riêng biệt theo từng đơn đặt hàng nên việc tổ chức công tác kế toán chi phí phải được chi tiết hóa theo từng đơn đặt hàng.
2.2.4. Nội dung, trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Do phạm vi hoạt động của công ty tương đối rộng, thực hiện nhiều đơn hàng nên trong khuôn khổ đề tài này em xin lấy số liệu của đơn hàng số 04, công trình “Nhà dán Film cách nhiệt cao cấp” làm ví dụ minh họa. Công trình được khởi công từ ngày 02/05/2010 và kết thúc ngày 31/05/2010.
2.2.4.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
Chi phí NVL trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong giá thánh sản phẩm nên việc hạch toán chi phí NVL, quản lý NVL là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiểu rõ tầm quan trọng đó công ty luôn chú trọng tới việc hạch toán quản lý NVL từ khâu thu mua, vận chuyển tới quá trình sản xuất thi công ở công trường.
Phòng kế hoạch căn cứ vào khối lượng dự toán công trình, căn cứ vào tình hình sử dụng vật tư và tình hình tổ chức sản xuất… cũng như nhiều yếu tố có liên quan khác để kịp thời đưa ra định mức thi công và sử dụng NVL cho từng kỳ.
Các công trình thi công của công ty thường ở xa trụ sở của công ty, việc đi lại giữa các cơ sở gặp rất nhiều khó khăn nên công ty không tiến hành nhập kho NVL rồi xuất dùng khi cần mà NVL chủ yếu mua ngoài sử dụng ngay không qua nhập kho. Vật tư mua ngoài chuyển thẳng tới công trường thi công và thuộc trách nhiệm quản lý của đội trưởng công trình, hạng mục công trình thi công.
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ HẢI PHÒNG.
3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập. Trải qua hơn 15 năm hoạt động, Công ty Cổ phần Xây Dựng và Phát triển đầu tư Hải Phòng đã hoàn thành tốt mọi yêu cầu nhiệm vụ được Thành phố giao, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Nhà nước, đảm bảo tăng trưởng liên tục. Có được kết quả này là nhờ vào nỗ lực phấn đấu của tất cả cán bộ công nhân viên trong Công ty, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của phòng tài chính kế toán. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Qua thời gian thực tập tại Công ty, được tìm hiểu và tiếp cận với thực tiễn công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng, tuy còn hạn chế về khả năng nhận thức và kinh nghiệm thực tế nhưng qua bài viết này, em xin mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhận xét, một vài kiến nghị về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình để củng cố và hoàn thiện hơn công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty.
3.1.1. Ưu điểm
Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng là một đơn vị kinh doanh có số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên tục và nhiều. Công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được lãnh đạo đơn vị rất quan tâm để phù hợp với tình hình kinh tế thị trường hiện nay và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp đã đạt được những ưu điểm sau:
- Thứ nhất, về tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức bộ máy kế toán:
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng có mối quan hệ chỉ đạo từ trên xuống giúp cho Ban lãnh đạo Công ty thuận tiện trong việc quản lý điều hành.
Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung. Toàn bộ công tác kế toán tập trung tại phòng kế toán. Chứng từ sau khi được các phòng thu thập, kiểm tra xử lý được gửi về phòng kế toán. Phòng kế toán kiểm tra lại tính chính xác, hợp lệ của chứng từ, tổng hợp thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán. Mô hình này là phù hợp với địa bàn, quy mô vừa và nhỏ của doanh nghiệp, đảm bảo quản lý tập trung và thống nhất công tác kế toán, dễ phân công, xử lý và cung cấp thông tin kịp thời giúp lãnh đạo nắm bắt được tình hình hoạt động của Công ty.
Bộ máy kế toán tại Công ty với những nhân viên có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tiếp cận kịp thời với chế độ kế toán mới và vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình tại Công ty. Thêm vào đó, bộ máy kế toán có sự phân nhiệm rõ ràng đối với từng người tạo ra sự ăn khớp nhịp nhàng giữa các phần hành kế toán, nhân viên có tác phong làm việc khoa học, có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc nên luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thứ hai, về hệ thống sổ sách, chứng từ, tài khoản sử dụng: Việc sử dụng chứng từ và luân chuyển chứng từ tại Công ty cơ bản là thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính ban hành. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Hệ thống sổ sách của Công ty có ưu điểm là đơn giản, gọn nhẹ, không cồng kênh. Kế toán áp dụng hình thức Nhật ký chung. Đây là hình thức đơn giản, dễ vận dụng, phù hợp với trình độ năng lực và yêu cầu quản lý của Công ty.
Thứ ba, về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nhìn chung đã đi vào nề nếp. Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng và đối tượng tính giá thành là sản phẩm cụ thể của từng đơn hàng là hoàn toàn hợp lý có căn cứ khoa học, phù hợp với điều kiện sản xuất thi công của Công ty, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo sản xuất, quản lý giá thành và việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Do việc Công ty giao quyền chủ động cho các xí nghiệp nên việc quản lý vật tư chặt chẽ, không có hiện tượng hao hụt, mất mát vật tư. Mặt khác, do Công ty giao quyền chủ động cho các xí nghiệp cả trong việc sử dụng nhân công do đó việc tổ chức quản lý lao động tại công trình được tổ chức một cách linh hoạt, hợp lý và có chất lượng, các chi phí thiệt hại trong sản xuất hầu như không có. Công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang, cung cấp số liệu một cách chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác tính giá thành.
Việc Công ty tính giá thành theo phương pháp đơn đặt hàng là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng.
Những ưu điểm về quản lý và kế toán chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm nêu trên đã có tác dụng tích cực đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm xây lắp và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
3.1.2. Hạn chế
Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng Công ty cũng không tránh được những khó khăn, tồn tại nhất định, nhất là trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Thứ nhất, về việc theo dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Công ty không tiến hành nhập kho theo dõi hàng tồn kho mà chuyển thẳng đến chân công trình. Mặt khác do các công trình thường ở xa Công ty, việc Công ty giao quyền cho các xí nghiệp xây dựng chủ động trong việc theo dõi, bảo quản nguyên vật liệu nên Công ty không thể cử cán bộ xuống tận công trình để kiểm tra, giám sát, đánh giá chính xác tình hình sử dụng nguyên vật liệu tại các công trình. Công ty chỉ có thể dựa vào báo cáo sử dụng vật tư và các chứng từ có liên quan do các xí nghiệp gửi lên để đánh giá. Vì thế mà Công ty chưa theo dõi được chính xác số lượng thực tế đưa vào thi công công trình. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Thứ hai, về tiền lương, Công ty trả lương khoán và chưa có chính sách thưởng cho người lao động đồng thời không tiến hành trích các khoản trích theo lương cho người lao động nên chưa khuyến khích được người lao động tích cực hơn trong công việc. Vì vậy, hiệu quả sản xuất chưa cao.
Thứ ba, Công ty hạch toán các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất như: thiệt hại về sản phẩm hỏng… vào chi phí sản xuất chung. Những thiệt hại này gây ra tổn thất cho Công ty làm chi phí sản xuất tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.
Thứ tư, Công ty không hạch toán việc thu hồi phế liệu. Giá trị thu hồi phế liệu là một khoản làm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho Công ty.
Thứ năm, về việc trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định. Tài sản cố định của Công ty do được mua sắm từ lâu nên một số tài sản đã xuống cấp. Mặc dù vậy kế toán vẫn không trích trước các khoản sửa chữa lớn cho chúng mà khi xảy ra kế toán sẽ hạch toán vào chi phí sản xuất trong kỳ. Vì vậy những kỳ chúng phát sinh làm chi phí sản xuất tăng đột biến, gây biến động lớn cho giá thành.
3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Hiện nay trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, đặc biệt với cơ chế thị trường mở cửa, nước ta đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường tiềm năng mới. Đây chính là những cơ hội, thách thức để các doanh nghiệp tự khẳng định mình, tìm chỗ đứng vững chắc của mình trên thị trường. Muốn vậy mỗi doanh nghiệp phải luôn chủ động tìm cho mình phương thức hoạt động có hiệu quả đáp ứng kịp thời sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Để thực hiện được chiến lược này, vấn đề đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt coi trọng là nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Nhận thức được vấn đề trên, Công ty cần phải sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu vào, khắc phục tình trạng thất thoát lãng phí trong quá trình tập hợp chi phí. Vì thế kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán toàn Công ty. Bởi lẽ những thông tin cung cấp từ bộ phận này không chỉ nhằm mục đích tính đúng, tính đủ chi phí để từ đó tính toán được giá thành một cách chính xác, linh hoạt, mặt khác nó còn là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Do đó tính tất yếu đối với Công ty là phải hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn thế giới để có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong khi đó thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng còn tồn tại nhiều nhược điểm. Vì vậy việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng mang tính tất yếu.
3.3. Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng.
Việc hoàn thiện tổ chức kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng cần dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, đảm bảo sự phù hợp giữa đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp với chế độ kế toán chung. Bởi vì mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, do đó vận dụng chế độ kế toán một cách linh hoạt, hợp lý trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, tích chất hoạt động và quy mô của mình sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng.
Thứ hai, đảm bảo sự tuân thủ thống nhất, chặt chẽ giữa những quy định trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, trong chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành với chế độ kế toán đặc thù ngành sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, đảm bảo sự tiết kiệm và hiệu quả trong việc tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp. Muốn vậy, phải tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của kế toán để chất lượng công tác kế toán đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
Thứ tư, đảm bảo thực hiện tốt chức năng thông tin cho nhà quản lý vì mục tiêu của việc hoàn thiện công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để nhà quản trị ra các quyết định đúng đắn.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
Qua thời gian nghiên cứu, trên cơ sở kiến thức, phương pháp luận đã thu nhận được ở nhà trường kết hợp với tình hình thực tế ở Công ty, đề tài này của em đã hệ thống hóa được lý luận chung về công tác kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm
Đề tài đã mô tả và phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành của công trình “Nhà dán film cách nhiệt cao cấp” tại Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đầu tư Hải Phòng theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định 15/2006/ QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ tài chính.
Đề tài đã đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây dựng và phát triển đầu tư Hải Phòng nhằm tăng cường quản trị chi phí, cụ thể:
Kiến nghị công ty hạch toán vật tư thừa, phế liệu thu hồi cuối kỳ nhằm làm giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ từ đó nhằm tăng cường quản trị chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Kiến nghị công ty áp dụng phần mềm kế toán MISA để hiện đại hóa công tác kế toán, nhằm tiết kiệm lao động kế toán, phục vụ công tác mở, ghi, khóa sổ kế toán và lập báo cáo tài chính nhanh chóng, chính xác, kịp thời.
Kiến nghị công ty nên trích các khoản trích theo lương cho công nhân trực tiếp sản xuất và trả theo mức lương tối thiểu đối với công nhân trực tiếp không đi làm do không có việc trong tháng nhằm tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp.
Kiến nghị về khoản chi phí sản xuất chung, đối với khoản chi phí nào có thể tập hợp riêng được thì nên tập hợp riêng theo từng đơn hàng, còn khoản chi phí nào không tập hợp riêng được thì nên tập hợp chung rồi cuối tháng tiến hành phân bổ nhằm phản ánh chính xác chi phí chung thực tế phát sinh trong tháng, đảm bảo tính chính xác của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí XĐKQKD tại Cty VIPCO

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Kế toán chi phí và tính giá thành tại Cty Xây dựng […]