Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng thị trường và vai trò của marketing đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về công ty.

2.1.1. Giới thiệu chung về công ty

  • Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng.
  • Tên giao dịch tiếng Anh: Hai Phong Electrical Mechanical Joint Stock Company.
  • Tên viết tắt: HAPEMCO
  • Vốn điều lệ đăng ký kinh doanh: 8,450 tỷ đồng.

Trong đó:

  • Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng – chiếm 15%
  • Vốn cổ đông trong công ty: 6,266 tỷ đồng – chiếm 74,2%
  • Vốn cổ đông ngoài công ty: 884 triệu đồng – chiếm 10,8%
  • Trụ sở chính: Số 734 đường Nguyễn Văn Linh – Lê Chân – Hải Phòng
  • Cơ sở 2: Số 20 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng
  • Điện thoại: 0313.835927 hoặc 0313.783328
  • Fax: 0313.85739.
  • Email: saleshapemco@gmail.vnn.

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.

Khoảng chục năm nay, trên thị trường quạt điện Việt Nam đã xuất hiện vô số các loại quạt có nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Đã xa rồi cái thời mà người người, nhà nhà chung thành duy nhất với những chiếc quạt con cóc, quạt trần hay kiểu quạt bàn vừa nhỏ vừa thô của Liên Xô (cũ). Nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân nay đã khác, gia đình nào cũng có ít nhất 2 đến 3 chiếc quạt, có thể là quạt Việt Nam, Trung Quốc, hay quạt Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp mắt và tiện dụng. “Quạt Phong Lan” Là một trong những thương hiệu Việt Nam khá nổi, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, tin dùng. Và nơi sinh ra sản phẩm này không ai khác chính là Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng.

Những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo tư bản tư doanh, chủ trương của Đảng ta lúc này là thành lập một loạt các nhà máy để sản xuất ra tư liệu sản xuất phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Trong tình hình đó Xí nghiệp Hải Phòng Điện Khí được phép thành lập theo Quyết định số 169/QĐ-TCCQ ngày 16/3/1961 cua UBND thành phố Hải Phòng . Xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 cơ sở tư doanh nhỏ trong nội thành Hải Phòng là: Xưởng Công Tư hợp doanh Khuy Trai, Xưởng loa truyền thanh và Xí nghiệp 19-8. Theo quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh thì Xí nghiệp là đơn vị duy nhất nằm trong vùng Duyên Hải sản xuất các loại quạt điện dân dụng. Từ khi thành lập cho đến nay Xí nghiệp đã trải qua nhiều nấc thăng trầm . Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Đây là thời kỳ Xí nghiệp hoạt động mang tính kế hoạch hóa tập trung, thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu của Thành phố giao. Từ những năm 1961-1980 Xí nghiệp sản xuất các loại động cơ, máy hàn phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Sản phẩm của nhà mày sản xuất ra được cung cấp cho ngành điện, ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông. Ở thời kỳ này do điều kiện chiến tranh có những giai đoạn xí nghiệp phải sơ tán, song với tinh thần cố gắng tất cả vì mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xí nghiệp luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu của cấp trên giao.

Về kết cấu sản phẩm chủ yếu của Xí nghiệp thời kỳ này gồm 3 sản phẩm chính, sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà Nước là:

  • Động cơ điện 3 pha từ 0,6 KW đến 10 KW
  • Máy hàn điện 3 pha từ 380V – 21KV
  • Quạt điện dân dụng và công nghiệp.

Về tổ chức bộ máy quản lý mang đầy đủ đặc điểm của thời kỳ bao cấp; Đảng lãnh đạo toàn diện. Vai trò của ban Giám đốc và điều hành không mang tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Về lao động: Số lao động trung bình 219 người (lao động gián tiếp 21%, lao động trực tiếp 79 %), trình độ lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông.

Từ năm 1984 Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng . Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của doanh nghiệp, sản phẩm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó . Chính vì vậy mà doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, mở rộng sản xuất, cơ cấu sản phẩm cũng đa dạng . Uy tín của sản phẩm đã chiếm lĩnh được lòng tin của khách hàng . Xí nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh, đạt vượt mức doanh thu so với giai đoạn trước. Từ năm 1984-1987 doanh nghiệp đã nhiều lần giữ lá cờ đầu về sản xuất – kinh doanh của Sở Công Nghiệp Hải Phòng và được thưởng nhiều huân chương và bằng khen của cấp trên.

Sản phẩm sản xuất là các loại quạt điện, động cơ điện, máy hàn. Trong đó sản phẩm chủ yếu là quạt điện mang nhãn hiệu “Phong Lan”. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Từ những năm cuối của thập niên 80, khi đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn nhất là trong khâu tiêu thụ. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng hóa từ nước ngoài tràn vào lấn át thị trường nội địa, hàng hóa từ các Tỉnh phía Nam tràn ra bán tràn lan với giá rẻ lấn át thị trường quạt điện của Xí nghiệp. Trong khi đó sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất bằng công nghệ đã lạc hậu, chất lượng thấp, giá thành cao, mẫu mã không được đổi mới kịp thời để đáp ứng nhu cầu của thị trường . Đồng thời đội ngũ Marketing của doanh nghiệp chưa đủ mạnh để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế mới. Chính vì vậy, doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phải đóng cửa, công nhân phải nghỉ việc nhiều tháng.

Trước tình hình đó, Đảng Ủy và Ban Giám Đốc đã ra quyết định phải nhanh chóng thay đổi công nghệ sản xuất ,đổi mới mẫu mã, kiểu dáng để kịp thời đưa ra thị trường sản phẩm đẹp về kiểu dáng , tiện dụng, chất lượng đảm bảo, giá thành hợp lý. Do đó doanh nghiệp dần dần ổn định, vượt qua được những khó khăn ban đầu, khôi phục sản xuất kinh doanh.

Tháng 10/1992 UBND Thành phố ra quyết định số 1208/QĐ – UB ngày 11/10/1992 đối với việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước đối với Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng . Từ đây doanh nghiệp được hoạt động một cách tự chủ, hạch toán có lãi . Sản phẩm sản xuất ra do thị trường quyết định chứ không mang tính kế hoạch hóa như trước đây nữa. Do đó doanh nghiệp chỉ sản xuất những sản phẩm thị trường cần và là thế mạnh của doanh nghiệp.

Sản phẩm sản xuất là các loại quạt, lồng quạt, cánh quạt các cỡ để phục vụ cho công nghệ sản xuất liên hoàn của doanh nghiệp và cung cấp linh kiện quạt cho các bạn hàng cùng sản xuất quạt điện.

Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ sản xuất được đầu tư hiện đại như: dây chuyền hàn lồng tự động, dây chuyền phun sơn tĩnh điện.

Từ năm 1999 – 2019 sản phẩm quạt điện Phong Lan của doanh nghiệp dã được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao. Thị trường của sản phẩm đã được mở rộng ra thị trường ngoài thành phố cũng như được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển , hội nhập với các nước lân cận, các khu vực kinh tế. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới, nhất là nhu cầu về vốn . Ngày 26/12/2019 Công ty Điện Cơ Hải Phòng đổi tên thành Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng theo Quyết định số 3430/QĐ-UB ngày 26/12/2019 của UBND thành phố Hải Phòng. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng số 0203000691 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hải Phòng cấp ngày 13/01/2020.

  • Vốn Điều Lệ trên Giấy đăng ký kinh doanh là 8,450 tỷ đồng.

Trong đó:

  • Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng, chiếm 15%
  • Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ , chiếm 15%
  • Vốn Cổ Đông trong Công ty: 6,266 tỷ, chiếm 74,20%
  • Vốn Cổ Đông ngoài Công ty: 884 triệu, chiếm 10,80%

Đến nay, Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng hoạt động đã được 6 năm dưới hình thức cổ phần hoá. Hoạt động đã lâu năm trong nghề và có bề dày lịch sử nên hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng, sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đặc biệt mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận và nâng cao thị phần đã được công ty thực hiện tốt trong 6 năm trở lại đây. Kể từ ngày được cổ phần hoá, Công ty đã tự chủ trong hoạt động lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, do đó từng năm qua, công ty đã thu được lợi nhuận vừa để chia cho các cổ đông, phần được giữ lại để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đặc biệt thị phần công ty trong vài năm trở lại đây đã tăng mạnh, mở rộng thị trường sản xuất ra các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Đó là những thắng lợi của tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty đã nỗ lực hết mình vì sự phát triển của toàn doanh nghiệp.

2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp (ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp) Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

  • Sản xuất các loại quạt điện, linh kiện quạt, các đồ điện gia dụng khác.
  • Kinh doanh xuất nhập khẩu máy móc, vật tư.
  • Kho bãi và lưu giữ hàng hóa.
  • Bán buôn, bán lẻ các loại sắt thép, đồ điện gia dụng và đồ điện công nghiệp.

2.1.4. Cơ cấu tổ chức (Sơ đồ cơ cấu tổ chức doanh nghiệp )

  • Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty

Về cơ cấu bộ máy quản lý, Công ty duy trì bộ máy quản lý theo kiểu Trực tuyến – chức năng.

Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng là một công ty Nhà nước đã cổ phần hoá, hoạt động đã lâu năm trong nghề, có bề dày lịch sử, hoạt động sản xuất kinh doanh đã được mở rộng, sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại. Việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến – chức năng là hoàn toàn hợp lý trong thời đại kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta hiện nay. Đây cũng là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được nhiều doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng. Nó vừa đảm bảo phát huy năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng, vừa đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến. Các phòng ban được bố trí tương đối gọn nhẹ, không chồng chéo và có quan hệ mật thiết với nhau về mạt nghiệp vụ. Điều này giúp cho công ty có thể dễ dàng kiểm tra việc thực hiện mệnh lệnh của Giám đốc và giúp cho Giám đốc có những chỉ đạo nhanh chóng kịp thời trong các hoạt động của công ty.

2.1.5.Công nghệ sản xuất sản phẩm:

Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt ngày nay, công nghệ sản xuất luôn luôn được quan tâm hàng đầu. Công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, tính năng độc đáo, giá thành hạ.Chính vì vậy công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng rất chú trọng đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất sản phẩm.

Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ sản xuất được đầu tư hiện đại như : dây chuyền hàn lồng tự động, dây chuyền phun sơn tĩnh điện.

Từ năm 2022, Công ty cổ phần điện cơ Hải Phòng hoàn thành đầu tư, đưa vào hoạt động dây chuyền kéo rút thép, công suất 4 tấn/ngày trị giá trên 500 triệu đồng. Dây chuyền này đã giúp công ty kéo rút thép từ phi 6mm xuống tới phi 4, phi 3, phi 2 mm, năng suất rút thép tăng gần gấp đôi, góp phần chủ động sản xuất lồng quạt là sản phẩm chính và phục vụ cho các đơn vị sản xuất công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Tháng 3/2026 thực hiện kế hoạch kiểm tra TĐC đối với các Doanh nghiệp sản xuất quạt điện trên địa bàn thành phố, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thành phố Hải phòng đã tiến hành kiểm tra trong đó: Công ty cổ phần điện cơ Hải phòng Công bố hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn theo TCVN 4264:1994.

Quy trình sản xuất quạt là quy trình tổng hợp, khép kín bao gồm các giai đoạn sau: tạo phôi, cắt gọt và sản xuất, ép nhựa, lắp ráp hoàn chỉnh, kiểm tra chất lượng sản phẩm và đóng gói nhập kho thành phẩm. Đó là 6 giai đoạn sản xuất để tạo ra thành phẩm và đóng gói lưu sản phẩm vào kho bãi. Mỗi giai đoạn thực những chức năng nhiệm vụ riêng. Sau đây là sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm quạt điện cơ:

  • Sơ đồ 2.2. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm quạt điện cơ:

Tạo phôi:

  • Đột dập các chi tiết cơ khí, sản xuất các khối tôn từ.
  • Quấn hạ dây động cơ quạt điện.

Cắt gọt:

  • Gia công cơ khí các chi tiết động cơ quạt.
  • Sản xuất lồng quạt.

Ép nhựa : Sản xuất các chi tiết kết cấu quạt như thân, cánh, vỏ nhựa quạt, đế quạt. Ba giai đoạn tạo phôi, cắt gọt và ép nhựa được tiến hành đồng thời ở các phân xưởng cơ khí và phân xưởng nhựa. Sự hoạt động nhịp nhàng của dây chuyền sản xuất được tiến hành theo kế hoạch của công ty đề ra.

Lắp ráp quạt: Là khâu cuối cùng trong quy trình sản xuất quạt điện. Bán thành phẩm từ các khâu trên được đưa đến phân xưởng lắp ráp để tiến hành lắp ráp quạt thành phẩm . Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Sau khi lắp ráp, sản phẩm được đưa đến bộ phận KCS dể kiểm tra chất lượng thành phẩm, nếu có sai hỏng thì tùy mức độ để có phương pháp xử lý cho phù hợp . Sản phẩm đạt tiêu chuẩn được đưa sang bộ phận đóng gói nhập kho.

Ngoài các chi tiết sản xuất tại chỗ để lắp ráp thành quạt thì Công ty còn nhập một số chi tiết như: Bộ điều khiển, hạt nhựa ABS, Sbin …

Như vậy để tạo ra thành phẩm là chiếc quạt điện hoàn chỉnh cần 6 công đoạn, với 4 công đoạn chính là tạo phôi, cắt gọt và sản xuất, ép nhựa và lắp ráp hoàn chỉnh. mỗi công đoạn là một công việc riêng rẽ, cần độ chính xác cao, tinh tế. Những công đoạn này rất quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể làm sản phẩm sai kỹ thuật, không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Công đoạn kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng đóng góp một phần quan trọng trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Các sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường đạt tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽ tạo ấn tượng tốt trong lòng khách hàng. Ngược lại bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm làm việc không hiệu quả để xảy ra hiện trạng có những sản phẩm bị lỗi vẫn được lưu hành trên thị trường sẽ gây ra tâm lý bất mã cho khách hàng và tạo ấn tượng không tốt trong quá trình sử dụng sản phẩm và tiêu thụ những sản phẩm tiếp sau đó.

2.2. Kết quả kinh doanh của công ty trong ba năm 2023 – 2025. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Bảng 2.3. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

  • Nhận xét:

Doanh thu năm 2024 giảm 6.870.000.000 so với năm 2023, tương ứng với tỷ lệ giảm là 8,36% dẫn đến lợi nhuận sau thuế của công ty giảm 521.640.000. Tuy nhiên đến năm 2025 doanh thu đã tăng so với năm 2024 là 14.183.000.000 tương ứng với tỷ lệ tăng là 18.83%, lợi nhuận sau thuế cũng tăng lên 1.778.280.000 tương ứng với 78.4%.

  • Nguyên nhân:

Năm 2024 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên tình hình kinh doanh của công ty không thuận lợi, lãi suất vay tăng cao mà nguồn vốn của công ty chủ yếu là vốn vay nên chi phí tài chính lớn, lợi nhuận giảm đi so với năm 2023. Nhưng đến năm 2025, tình hình kinh tế phục hồi, thu nhập của người dân tăng lên và họ có nhu cầu tiêu dùng hàng hoá nhiều hơn, công ty tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn nên doanh thu bán hàng tăng lên. Bên cạnh đó nhà nước kích cầu tiêu dùng nên lãi vay giảm, chi phí tài chính ít hơn, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng giảm từ 28% xuống 25% nên lợi nhuận sau thuế của công ty cũng tăng cao.

  • Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho biết cứ 100 đồng doanh thu bán hàng tạo ra có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Theo công thức trên ta có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của công ty trong ba năm 2023 – 2025 là:

Năm 2024 tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của công ty là 3.01%. Như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty không hiệu quả vì trong 100 đồng doanh thu tạo ra chỉ có 3.01 đồng lợi nhuận, giảm 0.38 đồng so với năm 2023. Năm 2025 cả doanh thu và lợi nhuận đều tăng và đặc biệt, tỷ số lợi nhuận trên doanh thu tăng từ 3.01% lên 4.52 %. Như vậy cứ 100 đồng doanh thu tạo ra có 4.52 đồng lợi nhuận, tăng thêm 1,51 đồng lợi nhuận so với năm 2024.

2.3. Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty.

2.3.1. Sản lượng tiêu thụ và doanh thu đạt được trên các thị trường từ 2023-2025 a) Sản phẩm quạt điện sản xuất tại công ty:

Công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng là doanh nghiêp đầu tiên tại Hải Phòng sản xuất ra các loại quạt điện. Sản phẩm của doanh nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt và sản xuất. Trong quá trình phát triển, sản phẩm đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhờ áp dụng tiến bộ KHKT và sự cố gắng của tập thể cán bộ, CNV, Công ty không ngừng đưa ra thị trường những sản phẩm với chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã ngày càng cao. Các sản phẩm mà Công ty hiện đang sản xuất cụ thể là: Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

  • Bảng 2.4: Danh mục các sản phẩm quạt điện của Công ty

Theo bảng trên ta thấy danh mục sản phẩm của công ty rất đa dạng, bao gồm 15 danh mục sản phẩm, vừa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, vừa phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Sản phẩm quạt cây, quạt trần, quạt rút, quạt treo tường đã rất quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay để đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng cao, danh mục sản phẩm của công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng đã tăng thêm các loại quạt như quạt hộp, quạt thông gió, quạt nóng lạnh đặc biệt là sản phẩm quạt mát hơi nước.

Quạt mát hơi nước là sản phẩm mới nhất trong thị trường quạt dân dụng hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, công ty cũng đã có chiến lược mở rộng sản xuất, nhập công nghệ mới và sản xuất ra sản phẩm này để phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, do giá loại quạt này đắt hơn nhiều so với những sản phẩm thông dụng khác và cũng khá đắt so với túi tiền người dân nước ta hiện nay nên doanh số của mặt hàng này vẫn còn thấp. Sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại là một điểm mạnh của công ty trong kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Nhờ đó khách hàng có thể dễ dàng lựa chọn cho mình một sản phẩm vừa ý.

  • b) Sản lượng tiêu thụ, doanh thu:

Nằm trong bối cảnh khó khăn chung do ảnh hưởng của khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới – trong đó ngành cơ khí tiêu dùng cũng không ngoài tác động của khó khăn này do biến động của thị trường, sức mua giảm. Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực cố gắng của mình, Công ty CP Điện cơ thuộc ngành công thương tiếp tục vượt lên để duy trì sự ổn định, phát triển. Công ty tích cực chủ động chuẩn bị mọi điều kiện sản xuất. trong năm 2025 công ty đã tiêu thụ được 1 triệu bộ lồng quạt, 150.000 quạt điện các loại, đạt doanh thu 89.52 tỷ đồng, tăng 19% so với năm trước, thực hiện đầy đủ nghiêm túc nghĩa vụ nộp thuế Nhà nước, giải quyết việc làm ổn định cho người lao động với thu nhập bình quân 2.51 triệu đồng/người/tháng. Chủ trương của công ty là sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của mọi khách hàng. Trước kia đối tượng khách hàng mà công ty hướng tới là những người có thu nhập thấp và khá, nhưng vài năm trở lại đây, công ty đã sản xuất thêm những mặt hàng cao cấp hơn và nhập khẩu một số loại quạt để phục vụ những đối tượng khách hàng có thu nhập cao.

Bảng 2.5 : Các chỉ tiêu về số lượng sản phẩm, doanh thu

  • Nhận xét : Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Năm 2024 do không nằm ngoài sự biến động của suy thoái kinh tế nên sản lượng tiêu thụ của công ty đã giảm đáng kể. Sản phẩm quạt điện giảm 15.000 chiếc tương ứng với mức giảm 9.38%. Bán thành phẩm lồng quạt giảm 1000 bộ tương ứng với mức giảm là 7.7%. Tuy nhiên sang năm 2025 thì công ty đã khắc phục được khó khăn, tăng sản lượng tiêu thụ quạt điện lên 24.14%, lồng quạt tăng 16.67 %. Cụ thể sản lượng tiêu thụ của từng loại sản phẩm được tiêu thụ qua các năm 2023, 2024 và 2025 được thể hiện trong bảng 2.6.

Bảng 2.6. Cơ cấu sản lượng tiêu thụ từ năm 2023-2025

  • Nhận xét:

Nhìn vào bảng cơ cấu ta thấy: cơ cấu tiêu thụ sản phẩm các mặt hàng của công ty không đồng đều, một số mặt hàng được tiêu thụ rất mạnh như: quạt bàn, quạt treo, quạt rút, quạt đứng, quạt hộp, do chúng đều là những sản phẩm truyền thống của công ty, có nhiều kiểu dáng mẫu mã khác nhau và chúng rất thông dụng đối với các hộ gia đình. Những mặt hàng còn lại tiêu thụ chậm: Quạt mát hơi nước, quạt sưởi bàn, quạt nóng lạnh, quạt thông gió, quạt đảo trần. Nguyên nhân là do đây là những mặt hàng mới, giá thành cao, đa số chỉ phục vụ cho những đối tượng khách hang có thu nhập khá trở lên. Bên cạnh đó công ty chưa làm tốt công tác marketing giới thiệu những mặt hàng mới này nên số lượng khách hàng biết đến còn ít.

  • Cơ cấu thị trường:

Sản phẩm của công ty được bán tại thị trường chính là Hải Phòng, ngoài ra còn tiêu thụ tại các tỉnh ngoài thông qua hệ thống các đại lý của công ty. Công ty xác định: Thị trường tiêu thụ là yếu tố quyết định để thúc đẩy sản xuất nên ngoài thị trường truyền thống tiêu thụ ở khu vực nội thị bằng các giải pháp tiếp cận thị trường đến với người tiêu dùng, Công ty mở hướng đi sâu đến tận vùng sâu, vùng xa; phía Bắc, miền Trung, áp dụng nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, dịch vụ hậu mãi, giảm giá thành, giảm giá bán để đẩy mạnh tiêu thụ. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

  • Bảng 2.7 : Cơ cấu thị trường tiêu thụ của công ty năm 2025:

Nhìn vào bảng cơ cấu ta thấy tỷ lệ quạt điện bán tại Hải Phòng hàng năm chiếm tỷ lệ lớn, còn lượng tiêu thụ ở các thị trường ngoài tỉnh rất thấp. Nguyên nhân là do khâu cung ứng hàng cho các đại lý chưa kịp thời, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, mạng lưới tiêu thụ của công ty ở các tỉnh ngoài còn hẹp về quy mô, công tác quảng cáo giới thiệu sản phẩm của công ty chưa thực hiện tốt, chưa thường xuyên, giá cả còn cao. Ở các tỉnh ngoài công ty chưa có nhiều nhà phân phối nên hàng hoá không kịp thời cung cấp cho khách hàng nhất là vào thời điểm giữa mùa hè, nhu cầu sử dụng quạt điện tăng cao. Ngược lại tại thị trường Hải Phòng, sản phẩm của công ty đã có từ lâu đời nay, uy tín của sản phẩm đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người tiêu dùng. Có thể nói “Quạt Phong Lan” có độ bền rất cao, các thông số chính xác và đảm bảo về độ an toàn. Giá cả quạt Phong Lan phù hợp với khả năng thanh toán của đông đảo người tiêu dùng ( mức thu nhập của người lao động ở Hải Phòng thường cao hơn các tỉnh khác). Mặt khác mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của công ty ở Hải Phòng rất dày đặc, thuận tiện cho người mua hàng, công tác quảng cáo thực hiện tốt hơn. Việc bảo hành sửa chữa sản phẩm của công ty được tổ chức rất chu đáo, kịp thời đáp ứng tốt đối với mọi khách hàng có nhu cầu. Điều đó đã góp phần thúc đẩy cho sản lượng quạt điện của công ty tiêu thụ tại thị trường chính này ngày càng tăng lên về số lượng, chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số bán hàng tại công ty.

2.3.2.Thị phần của công ty:

  • Bảng 2.8. Thị phần quạt điện năm 2025
  • Biểu 2.9. Thị phần quạt tại Việt Nam 2025
  • Bảng 2.10 : Tốc độ tăng trưởng thị phần tại Hải Phòng:
  • Bảng 2.11. Tốc độ tăng trưởng thị phần tại Hải phòng

Thị phần của doanh nghiệp được xác định bằng công thức:

Sản phẩm Quạt Phong Lan chiếm một tỷ trọng lớn nhất tại khu vực Hải Phòng (60%), chiếm vị trí ưu thế trên thị trường Hải Phòng. Nhưng xét tổng thể thị trường quạt Việt Nam thì Quạt Phong Lan có thị phần nhỏ (13.77%). Như vậy quạt Phong Lan chưa mở rộng được nhiều sang các thị trường ngoại tỉnh. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Qua bảng tốc độ tăng trưởng thị phần ta có thể thấy thị phần quạt Phong Lan đang bị thu hẹp dần tại thị trường Hải Phòng, nhường chỗ cho sự gia tăng của quạt Hoa Phượng và các hãng quạt khác.

Như vậy tại thị trường Hải Phòng, công ty có lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của mình vì có thị phần rất lớn. Nhưng xét trên thị trường toàn quốc thì khả năng cạnh tranh của công ty không bằng công ty Cổ phần Quạt Việt Nam vì quạt ASIA của công ty Cổ phần Quạt Việt Nam chiếm thị phần lớn hơn.

Trên đây là số liệu mà công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng cử nhân viên đi điều tra thị trường năm 2025. Tuy nhiên số liệu trên chỉ là con số ước tính của công ty chứ chưa có con số điều tra cụ thể, chính xác vì rất khó có thể biết được các con số chính xác về tình hình kinh doanh của các công ty.

Quạt điện Phong Lan có sản lượng bán ra tăng hàng năm là do có thị trường truyền thống, có uy tín nhiều năm. Song tốc độ tăng hàng năm lại chậm hơn quạt Hoa Phượng. Sở dĩ là do mẫu mã của quạt Phong Lan chậm đổi mới. Nguyên nhân chính để Hoa Phượng tăng nhanh được là đổi mới nhanh về mẫu mã sản phẩm, giá thành hạ. Hoa Phượng là đơn vị không sản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối mà sản phẩm sản xuất ra được do mua linh kiện từ các hãng khác nhau. Các linh kiện đó được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, được chuyên môn hoá nên giá rẻ hơn. Việc phân tích ở trên cũng là những bài học cần rút kinh nghiệm kịp thời trong việc tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty trong năm 2026.

2.3.3 Đối thủ cạnh tranh của công ty:

  • a) Đối thủ cạnh tranh trực tiếp:

Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng có ưu thế hơn các doanh nghiệp cùng ngành khác nhờ truyền thống lâu đời, hiện nay “Quạt Phong Lan” đã xây dựng được thương hiệu của mình. Tuy nhiên xây dựng được thương hiệu đã khó, để duy trì và phát triển nó lại càng khó khăn hơn, nhất là khi công ty ngày càng phải đối mặt với nhiều thử thách trong sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ của mình. Khó có ngành nào mà hàng nội lại chiếm ưu thế như ngành điện cơ. Theo nhận định của các chuyên gia thì có đến 95% các loại quạt điện được tiêu thụ trên thị trường là hàng Việt Nam như quạt Phong Lan, Hoa Phượng, ASIA, Hoa Lan, Thống Nhất, Điện cơ 91,…còn quạt ngoại chiếm thị phần nhỏ nhưng cũng nhiều chủng loại như KDK (Nhật), Mitsubishi, Panasonic (Thái Lan), Tatung (Đài Loan), Midea (Trung Quốc)… Hiện nay công ty đang đứng trong một cuộc cạnh tranh khốc liệt để giành lấy thị phần. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng là doanh nghiệp đầu tiên tại miền Bắc sản xuất quạt điện nên Quạt Phong Lan có ưu điểm hơn các đối thủ của mình là có bề dày lịch sử phát triển. Thương hiệu quạt Phong Lan đã được rất nhiều người tiêu dùng biết đến, đặc biệt là người tiêu dùng ở Hải Phòng. Tuy nhiên quạt Phong Lan có nhược điểm là chậm đổi mới cải tiến sản phẩm hơn các đối thủ. Thông thường các đối thủ ra sản phẩm mới từ năm trước thì sang năm sau quạt Phong Lan mới có sản phẩm mới. ngoài ra hoạt động marketing của công ty chưa hiệu quả bằng một số đối thủ như điện cơ 91, điện cơ Thống Nhất, ASIA. Mặc dù ra đời sau quạt Phong Lan mấy chục năm nhưng họ đã rất nhanh chóng xây dựng được thương hiệu của mình. Đặc biệt là quạt ASIA đã vượt qua quạt Phong Lan để trở thành doanh nghiệp hàng đầu của quạt điện Việt Nam nhiều năm liền (do báo Sài Gòn tiếp thị tổ chức bình chọn). Quạt Phong Lan chưa có độ bền, độ an toàn và chưa tiết kiệm điện năng như quạt ASIA. Còn lại so với các đối thủ khác như Hoa Phượng, Sao Mai, Hoa Lan, đặc biệt là quạt Trung Quốc thì Quạt Phong Lan có chất lượng tốt hơn nhưng giá lại cao hơn nhiều nên khó cạnh tranh với họ ở những thị trường vùng nông thôn, khách hàng có thu nhập thấp. Do đó bên cạnh việc phải cải tiến chất lượng để cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn, sản phẩm có chất lượng cao thì công ty còn phải tìm những biện pháp giảm giá thành để có thể cạnh tranh được với “hàng chợ” không rõ nguồn gốc xuất xứ có giá rất rẻ đang gia tăng với tốc độ chóng mặt. Đây quả là một bài toán khó mà doanh nghiệp cần phải tính toán thật kỹ lưỡng để tìm ra đáp án.

Trước tình hình ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trong nước và nước ngoài xuất hiện, công ty cần có những biện pháp và chính sách mới để nâng cao hình ảnh và khả năng cạnh tranh của mình.

  • Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

Lực lượng này bao gồm các công ty hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng họ có khả năng làm điều đó nếu họ muốn. Theo dự báo của các nhà khoa học thì mùa hè những năm tới sẽ có nhiều đợt nắng nóng kéo dài, nhiệt độ ngày một tăng lên khiến nhu cầu sử dụng quạt càng gia tăng. Nhận thấy thị trường quạt điện là một mảnh đất màu mỡ nên đã có rất nhiều doanh nghiệp chuyển hướng kinh doanh sang mặt hàng này. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp kinh doanh thiết bị gia đình cũng kinh doanh thêm mặt hàng quạt điện như hàng tiêu dùng LION ( trước đây kinh doanh các mặt hàng nồi cơm điện, máy xay sinh tố, nay có thêm mặt hàng quạt điện). Nhận diện các đối thủ mới có thể thâm nhập vào ngành là một điều quan trọng, bởi họ có thể đe doạ đến thị phần của các công ty hiện có trong ngành, họ sẽ đem vào cho ngành các năng lực sản xuất mới. Chính vì vậy công ty cần có nhiều biện pháp để giữ vững thị phần, tăng lượng sản phẩm tiêu thụ.

2.4. Hoạt động marketing của công ty ba năm 2023-2025: Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

2.4.1. Nghiên cứu thị trường.

Công ty xác định nghiên cứu thị trường là công việc cần thiết đầu tiên đối vời bất cứ doanh nghiệp nào trong quá trình kinh doanh. Một doanh nghiệp không thể khai thác hết tiềm năng của mình cũng như không thoả mãn tất được nhu cầu của khách hàng nếu không có được đầy đủ các thông tin chính xác về thị trường.

Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ nắm được những thông tin cần thiết về giá cả, cung cầu hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang kính doanh hoặc sẽ kinh doanh để đề ra những phương cán chiến lược và biện pháp cụ thể được thực hiện mục tiêu kinh doanh đề ra. Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trường kinh doanh, phân tích so sánh số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp đối với các doanh nghiệp. Để công tác nghiên cứu thị trường đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp cần kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu tại bàn ( là phân tích các số liệu) và phương pháp nghiên cứu tại hiện trường ( là thu thập các thông tin).

Doanh nghiệp nên tiến hành nghiên cứu thị trường theo trình tự sau: xác định mục tiêu nghiên cứu thị trường, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu thị trường, xác định và lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, thực hiện, điều chỉnh kế hoạch và viết báo cáo.

Trong ba năm 2023, 2024 và 2025, công ty đều cử nhân viên đi nghiên cứu khảo sát thị trường. Đội ngũ nhân viên phòng tiêu thụ sản phẩm đã được bổ sung thêm: Năm 2024, phòng có 15 người, sang năm 2025 tuyển thêm 5 người nữa là 20 nhân viên. Ngoài ra công ty có thuê một số chuyên gia nghiên cứu khảo sát thị trường, tìm hiểu thông tin của đối thủ cạnh tranh và nhận những thông tin phản hồi của khách hàng. Tuy nhiên việc nghiên cứu mới dừng ở mức độ đó, công ty vẫn còn hạn chế trong việc nắm bắt những nhu cầu mới của thị trường để đáp ứng kịp thời.

2.4.2. Hoạt động marketing-mix: Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

  • a) Chính sách sản phẩm:

Chất lượng sản phẩm là yếu tố sống còn được Công ty đưa lên hàng đầu để giữ uy tín, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Để làm được việc này, Công ty áp dụng triệt để hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2016, quản lý bộ máy giám sát kỹ thuật, KCS giám sát đầu vào, phát huy sáng kiến sáng tạo. Đến nay Công ty đã sản xuất 20 loại quạt dân dụng, 15 loại quạt công nghiệp với đủ lượng hàng chuẩn bị đưa ra thị trường vào vụ quạt mùa hè tới. Hiện nay, sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết các tỉnh phía Bắc và các tỉnh, thành phố lớn trong toàn quốc.

Tuy nhiên, tốc độ thay đổi kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm hàng năm của công ty rất chậm không đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Nguyên nhân của việc chậm cải tiến mẫu mã sản phẩm của công ty là do hoạt động nghiên cứu thị trường không hiệu quả nên công ty không nắm bắt được những nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng để có những cải tiến phù hợp với thị hiếu đó. Theo đánh giá cho điểm về các chỉ tiêu thông số kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đạt được so với thang điểm thị trường yêu cầu, doanh nghiệp đã đạt được như sau:

  • Bảng 2.12. Điểm các chỉ tiêu thông số kỹ thuật

Như vậy điểm số doanh nghiệp mới chỉ đạt được 82 điểm. Rõ ràng ta thấy để có thể đứng vững và phát triển được thì doanh nghiệp phải có những biện pháp để cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng, đặc biệt là phải thay đổi về kiểu dáng, thẩm mỹ của sản phẩm.

  • b) Chính sách giá:

Công ty đề ra chiến lược hạ giá thành sản phẩm bằng cách sử dụng vật tư hợp lý, giảm tỷ lệ phế phẩm (từ 4% xuống còn 2%), tăng năng suất lao động từ 10-15%, tìm mọi cách tiết kiệm, giảm chi phí, quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất; tinh giảm bộ máy gián tiếp tinh gọn, phát huy hiệu quả, giảm chi phí hành chính, các khâu bán hàng.

Công ty xác định thống nhất một bảng giá chung trên toàn quốc, cho dù khách hàng mua sản phẩm của công ty tại Hải Phòng hay ở thành phố Hồ Chí Minh. Đối với những đại lý ở tỉnh xa, công ty vẫn vận chuyển hàng đến tận nơi mà không hề tính thêm chi phí vận chuyển để đảm bảo tính thống nhất về giá cả. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Tuy nhiên chính sách giá của công ty thực hiện như vậy chưa được tốt, mới chỉ đạt được 70% so với số điểm mà thị trường yêu cầu. Nguyên nhân là do công ty áp dụng hệ thống giá chung trên toàn quốc. Trong khi đó, qua phân tích ở trên ta thấy sản phẩm “Quạt Phong Lan” chủ yếu tiêu thụ ở thị trường Hải Phòng, đối với các tỉnh khác phải mất thêm chi phí vận chuyển cao nên khi xác định bảng giá chung thì những sản phẩm tiêu thụ ở thị trường Hải Phòng lại phải chịu thêm một phần chi phí vận chuyển, làm giá thành sản phẩm tăng lên. Giá bán một số mặt hàng giống nhau của “Quạt Phong Lan” và “Quạt Hoa Phượng” tại Hải Phòng như sau:

  • Bảng 2.13. Bảng giá bán buôn một số loại quạt

Qua bảng số liệu tên ta thấy các sản phẩm quạt Phong Lan được định giá lẻ nhằm cho khách hàng thấy công ty đã tính rất sát sao các chi phí. Tuy nhiên khi so sánh với quạt Hoa phượng thì hầu hết các mặt hàng của quạt Phong Lan đều có giá cao hơn quạt Hoa Phượng. Nguyên nhân là do quạt Hoa Phượng có bảng giá riêng cho các đại lý tại Hải Phòng và bảng giá khác cho các đại lý ở các tỉnh khác. Đối với sản phẩm bán tại thị trường chính Hải Phòng công ty sẽ tốn ít chi phí vận chuyển do chỉ phải chuyển hàng cho các nhà phân phối, cho nên giá thành sản phẩm thấp hơn những sản phẩm phải vận chuyển đến các tỉnh thành khác. Còn quạt Phong Lan thì chia đều chi phí vận chuyển cho tất cả các sản phẩm được bán trong cả nước, nên giá thành sản phẩm cao hơn. Tại thị trường ngoại tỉnh, giá bán của quạt Phong Lan thấp hơn quạt Hoa Phượng nhưng chính sách giá của công ty như vậy là không hiệu quả vì thị trường tiêu thụ chính của công ty là Hải Phòng ( chiếm 40.2 % tổng thị trường tiêu thụ của công ty), công ty cần phải quan tâm và chú trọng đến thị trường tiềm năng này.

  • c) Chính sách phân phối:

Quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm quạt điện ở công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng được tiến hành đồng thời trên hai kênh phân phối: Kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp.

  • Kênh phân phối trực tiếp:

Hàng hoá được bán thông qua hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty như: Số 38 Quang Trung, Số 20 Đinh Tiên Hoàng, 110 Trần Nguyên Hãn và showroom trưng bày sản phẩm tại Số 734 Nguyễn Văn Linh- Lê Chân. +) Kênh phân phối gián tiếp: Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Hàng hoá của công ty được chuyển đến các nhà phân phối, sau đó sẽ đưa đến các đại lý để bán cho người tiêu dùng. Hiện nay công ty đã mở được rất nhiều các đại lý ở Hải Phòng và một số tỉnh thành trong cả nước.

Chính sách phân phối được công ty tổ chức rất tốt ở Hải Phòng. Hiện nay mạng lưới phân phối của công ty tại thị trường Hải Phòng là đủ đảm bảo cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên hệ thống các đại lý phân phối ở các tỉnh thành khác còn ít, công tác cung ứng không đáp ứng được đặc tính thời vụ của sản phẩm: Lúc thời tiết nóng nực các nơi cần hàng thì không đáp ứng kịp. Khi có hàng đến thì thời tiết đã thay đổi nên nhu cầu giảm. Hơn nữa việc bảo hành cho hàng hoá ở các tỉnh khác rất khó khăn vì ở xa nên để mang về công ty bảo hành rồi lại chuyển cho khách phải mất nhiều thời gian nên khách hàng thường không muốn mua sản phẩm.

  • Bảng 2.14. So sánh tỷ trọng sản lượng tiêu thụ của hai kênh phân phối:
  • Bảng 2.15. So sánh tỷ trọng doanh thu tiêu thụ của hai kênh phân phối:

Qua hai bảng so sánh tỷ trọng sản lượng và doanh thu tiêu thụ của hai kênh phân phối trong ba năm ta thấy kênh gián tiếp có tỷ trọng tiêu thụ lớn (trên 76%) còn kênh phân phối trực tiếp chiếm tỷ trọng rất nhỏ (gần 4%). Nguyên nhân là do ở kênh phân phối trực tiếp, sản phẩm được bán từ các cửa hàng bán hàng trực tiếp của công ty đến người tiêu dùng nên chỉ có thể bán được cho một số lượng ít khách hàng ở địa điểm quanh cửa hàng, còn đối với kênh phân phối gián tiếp, công ty chuyển hàng hoá đến các nhà phân phối và đại lý ở các địa điểm khác nhau, phạm vi hoạt động của kênh rất rộng nên sản lượng bán ra nhiều hơn. Như vậy kênh phân phối trực tiếp hoạt động hiệu quả hơn kênh gián tiếp, công ty cần chú trọng đầu tư vào kênh phân phối trực tiếp.

  • d) Chính sách xúc tiến hỗn hợp:

Công ty rất chú trọng đến công tác xúc tiến bán hàng. Quạt điện là mặt hàng tiêu thụ chủ yếu trong mùa hè. Vào thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm là thời điểm mà các đầu mối bán buôn, bán lẻ bắt đầu thăm dò các nhà sản xuất và bỏ tiền ra mua hàng về kho của họ, vì vậy công ty thường chọn thời điểm này để quảng cáo. Vì quạt Phong Lan tiêu thụ phần lớn tại thị trường Hải phòng nên công ty đã tiến hành quảng cáo trên đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng, báo An ninh Hải Phòng.Tuy nhiên đây là một nhược điểm của công ty vì quảng cáo như vậy thì chỉ có người dân Hải Phòng và một số ít ở các tỉnh lân cận biết đến sản phẩm của công ty, như vậy thì rất khó có thể đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm ở các thành phố khác.

Bên cạnh việc quảng cáo trên báo, đài, công ty cũng không quên quảng cáo sản phẩm ngay trên chính bao bì của chúng. Quạt điện Phong Lan có rất nhiều chủng loại, mỗi loại đều có một kiểu bao bì khác nhau cho phù hợp, trên bao bì có ghi rõ địa chỉ công ty,tính năng, cách sử dụng sản phẩm, và tiêu chuẩn ISO 9001:2016 để khách hàng yên tâm khi sử dụng sản phẩm của công ty. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Ngoài ra công ty còn có nhiều chính sách để động viên các đại lý của mình như tặng quà nhân dịp trung thu, tết nguyên đán. Bên cạnh đó để thúc đẩy các đại lý bán nhiều sản phẩm của mình, công ty còn đưa ra chính sách chiết khấu theo doanh thu như sau:

Tỷ lệ chiết khấu được hưởng ở các mức:

  • Từ 100 triệu đến 500 triệu: 2%
  • Từ 500 triệu đến 2 tỷ: 2,5%
  • Từ 2 tỷ đến 5 tỷ: 3%
  • Từ 5 tỷ trở lên: 4%

Nhận xét:

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động xúc tiến hỗn hợp đối với quá trình tiêu thụ sản phẩm nên công ty đã đầu tư cho hoạt động xúc tiến. Tuy nhiên việc quảng cáo của công ty như vậy là chưa hiệu quả vì mới chỉ bó hẹp tại thị trường chính Hải Phòng. Công ty cần phải có kế hoạch thực hiện quảng cáo sản phẩm ở các tỉnh thành khác, đặc biệt là ở những thị trường mà công ty có ý định muốn xâm nhập.

2.5. Đánh giá về hoạt động marketing của công ty.

Trong ba năm 2023- 2025, nhận thức được tầm quan trọng của marketing đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nên ban lãnh đạo công ty đã có nhiều chính sách marketing nhằm thúc đẩy tiêu thụ. Hoạt động marketing được công ty triển khai khá tốt:

Sản phẩm được cải tiến thường xuyên, có nhiều kiểu dáng, mẫu mã mới, ngày càng có thêm nhiều chủng loại mới để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

Chính sách giá được xây dựng tốt nhờ các biện pháp cắt giảm chi phí để hạ giá thành, đảm bảo được mức giá phù hợp với thu nhập trung bình của người dân Hải phòng. Việc áp dụng hệ thống giá chung trên toàn quốc hạn chế được phần nào việc bán phá giá của các đại lý.

Kênh phân phối thực hiện rất hiệu quả ở thị trường chính Hải Phòng: Sản phẩm được cung cấp đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu, không bao giờ xảy ra tình trạng thiếu hàng kể cả khi thời tiết nắng nóng.

Hoạt động truyền thông cũng được chú ý: Năm nào vào đầu mùa hè công ty cũng tiến hàng quảng cáo trên báo đài để giới thiệu sản phẩm của mình. Ngoài ra công ty còn tận dụng quảng cáo ngay trên bao bì của sản phẩm.

Bên cạnh những ưu điểm đó thì hoạt động marketing của công ty còn một số nhược điểm sau:

Tốc độ cải tiến sản phẩm còn chậm so với các hãng khác, chưa theo kịp được với tốc độ thay đổi của nhu cầu người tiêu dùng. Màu sắc, kiểu dáng của sản phẩm không đa dạng mặc dù có rất nhiều chủng loại nhưng mỗi loại chỉ có một kiểu dáng.

Giá bán của quạt Phong Lan hầu hết vẫn cao hơn của đối thủ cạnh tranh.

Kênh phân phối mới triển khai tốt ở thị trường Hải Phòng, còn các tỉnh thành khác làm chưa tốt dẫn đến việc tiêu thụ ở thị trường ngoài chưa tốt, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.

Công ty không tiến hàng quảng cáo thường xuyên nên rất ít người biết đến những sản phẩm mới của công ty, việc quảng cáo chỉ tiến hành ở Hải phòng như quảng cáo trên đài truyền hình Hải Phòng, báo An ninh Hải Phòng, nên khách hàng ở tỉnh ngoài ít biết đến sản phẩm của công ty. Quạt Phong Lan đã rất nổi tiếng ở thị trường Hải Phòng nên mặc dù không cần quảng cáo thì khách hàng vẫn tìm đến mua, trong khi đó các tỉnh thành khác còn ít người biết đến công ty, cần phải thường xuyên tiến hành quảng cáo thì công ty lại chưa thực hiện được. Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Cty điện cơ […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993