Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. Thực trạng pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam.
2.1.1. Tình hình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xếp hạng tín nhiệm
Tính cho đến hiện nay thì các văn bản quy định về hoạt động xếp hạng tín nhiệm nói chung và công ty xếp hạng tín nhiệm nói riêng ở Việt Nam chỉ mới có một vài văn bản nhất định và cũng chưa được qui định trong một đạo luật cụ thể mà chỉ qua các nghị định của Chính Phủ hay Quyết định của Ngân hàng nhà nước, ví dụ như:
- Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002 về việc triển khai thí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp. (đã hết hiệu lực)
Nội dung văn bản cho phép Trung tâm Thông tin tín dụng triển khai thí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp. Việc phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp được thực hiện tại Trung tâm Thông tin tín dụng theo phương pháp xếp loại và phương pháp so sánh với các đối tượng thí điểm phân tích, xếp loại tín dụng là các doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Công ty cổ phần. Trong thời gian thí điểm, Trung tâm Thông tin tín dụng chỉ được cung cấp sự đánh giá thông tin, xếp loại tín dụng doanh nghiệp cho các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước; các tổ chức tín dụng. Các đơn vị sử dụng thông tin đúng mục đích; không cung cấp lại thông tin cho bên thứ ba.
- Quyết định số 1253/QĐ-NHNN ngày 21/06/2006 về việc thực hiện nghiệp vụ phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp:
Nội dung văn bản cho phép Trung tâm Thông tin tín dụng thực hiện chính thức nghiệp vụ phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng và đánh giá năng lực của các doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Đối tượng phân tích, xếp loại tín dụng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
- Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 06/02/2016 phê duyệt đề án nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia:
Nội dung văn bản đưa ra các giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu sau:
- Phấn đấu đến năm 2020 từng bước nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia đạt mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu bằng mức khởi điểm đầu tư (Baa3 đối với xếp hạng tín nhiệm của Moody’s hoặc BBB- đối với xếp hạng tín nhiệm của S&P hoặc Fitch).
- Đưa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các công ty xếp hạng tín nhiệm phát triển ngày càng thực chất, tin cậy và bền vững hơn.
- Thông qua việc tiếp xúc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm nhằm thúc đẩy, tuyên truyền và giới thiệu sâu rộng hơn về tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam cho các nhà đầu tư quốc tế.
Quyết định số 61/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 về việc cung cấp thông tin và phối hợp thực hiện công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia:
Quyết định này quy định các nội dung sau:
- Cung cấp thông tin, số liệu về tình hình kinh tế – xã hội phục vụ cho công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
- Quy trình phối hợp giữa các Bộ, ngành, cơ quan liên quan trong việc phối hợp thực hiện công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Quyết định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan tới công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
- Nghị định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/09/2014 quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm:
Để hoàn thiện hơn nữa cơ sở pháp lý về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm cũng như các điều kiện hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, điều kiện hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
- Quyết định số 507/QĐ-TTg ngày 17/04/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2030. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Quyết định đưa ra mục tiêu cụ thể cho giai đoạn cho đến năm 2030 như sau:
Đến năm 2030, xem xét cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho tối đa năm (05) doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
Trong quá trình triển khai thực hiện, Bộ Tài chính đánh giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh quy hoạch (nếu có).
Phấn đấu đến năm 2020, các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp đều phải được xếp hạng tín nhiệm.
- Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/08/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Nghiên cứu, đề xuất về việc cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam được đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp có kết quả xếp hạng tín nhiệm cao theo tỷ lệ nhất định, ngoài tỷ lệ gửi tiền, mua chứng chỉ, trái phiếu của các tổ chức tín dụng khi sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội.
Tiến tới yêu cầu bắt buộc doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chung phải được đánh giá xếp hạng tín nhiệm khi thị trường trong nước có ít nhất 02 doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm đủ điều kiện đi vào hoạt động.
Phân biệt chính sách đầu tư giữa trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm với trái phiếu doanh nghiệp không được xếp hạng tín nhiệm để vừa đảm bảo an toàn hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm vừa tạo nguồn vốn đầu tư dài hạn vào thị trường trái phiếu.
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
2.1.2. Các qui định pháp lý về thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ở việt Nam.
Nội dung vấn đề này đã được đề cập đến khá đầy đủ tại Nghị định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/09/2014 quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
2.1.2.1. Về loại hình doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 88/2014/NĐ-CP thì các loại hình doanh nghiệp được cho phép kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín nhiệm sau khi được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định tại Nghị định này gồm:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn;
- Công ty cổ phần;
- Công ty hợp danh.
Doanh nghiệp xếp hạng tín dụng của mỗi quốc gia sẽ có mô hình tổ chức riêng biệt nhằm phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia. Đó là lý do Nghị định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm chỉ lựa chọn ba loại hình được phép thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín dụng là loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Vì trong thời gian qua, mô hình công ty nhà nước hoạt động không thật sự hiệu quả trên tất cả các ngành nghề tại Việt Nam (trừ những ngành nghề mang tính chất độc quyền hay các thành phần kinh tế khác không đầu tư). Mô hình doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn không phù hợp trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm còn khá mới tại Việt Nam, chỉ phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nghề với quy mô quản lý mang tính chất gia đình và với chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức rủi ro của các thành viên là khá cao, cùng với việc loại hình này chưa phổ biến tại Việt Nam. Loại hình công ty liên doanh phải chịu sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung và giữa các bên hoàn toàn khác nhau về truyền thống, phong tục, phong cách kinh doanh do vậy có thể phát sinh những mâu thuẫn không dễ giải quyết. Mô hình công ty TNHH là mô hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Loại hình công ty cổ phần là phù hợp cho doanh nghiệp xếp hạng tín dụng, vì trong bước đầu phát triển luôn cần sự hỗ trợ của các cổ đông chiến lược nước ngoài nhằm phát huy hết lợi thế của quốc gia đi sau.
Mỗi loại hình doanh nghiệp trên đều tồn tại những ưu điểm, nhược điểm trong quá trình thành lập và hoạt động. Điều này sẽ đặt ra vấn đề lớn cho doanh nghiệp xếp hạng tín dụng tại Việt Nam phải thật cân nhắc, lựa chọn loại hình doanh nghiệp thích hợp cho loại hình kinh doanh xếp hạng tín dụng theo từng giai đoạn phát triển kinh tế. Khi mà, trong thời gian qua đã có một vài doanh nghiệp xếp hạng tín dụng thành lập và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp trong nước, nhưng vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả cũng như chưa khẳng định được uy tín của xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam.
2.1.2.2. Về vốn.
Vốn pháp định:
Điều 11. Vốn pháp định Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Mức vốn pháp định của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm đối với hoạt động xếp hạng tín nhiệm là mười lăm (15) tỷ đồng.
- Mức vốn pháp định nêu tại Khoản 1 Điều này chưa bao gồm mức vốn pháp định của các lĩnh vực kinh doanh khác mà doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật.”
So với mức vốn pháp định khi đăng ký kinh doanh của một ngành nghề liên quan như dịch vụ kiểm toán (5 tỷ – Điều 5, Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13/03/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập) thì mức vốn pháp định của công ty kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín nhiệm ở mức cao hơn khá nhiều. Như đã nói trên thì xếp hạng tín nhiệm là một loại hình kinh doanh đặc biệt, kết quả xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến các tổ chức phát hành công cụ nợ và các công cụ nợ, tác động đến tâm lý của nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán. Doanh nghiệp xếp hạng tín dụng nắm vai trò quyết định như vậy, nên nếu quy xếp hạng vốn pháp định quá thấp thì rất dễ dàng để thành lập một doanh nghiệp xếp hạng tín dụng, vấn đề về số lượng sẽ đảm bảo nhưng vấn đề cốt lõi là chất lượng liệu sẽ được giải quyết như thế nào? Thị trường tài chính Việt Nam đang rất cần sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng hiệu quả và uy tín, nhưng cũng không đồng nghĩa với việc chấp nhận cho sự xuất hiện của quá nhiều doanh nghiệp xếp hạng tín dụng, khi mà quy định về thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín dụng với mức vốn pháp định được cho là quá dễ đối với cá nhân hay tổ chức.
2.1.2.3. Cổ đông hoặc thành viên góp vốn trong doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Điều 10. Cổ đông hoặc thành viên góp vốn của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm
Việc góp vốn thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- a) Tổ chức, cá nhân đã góp vốn sở hữu trên 5% vốn điều lệ thực góp của một (01) doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm thì không được góp vốn thành lập hoặc mua, nắm giữ cổ phiếu hoặc phần vốn góp của một (01) doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm khác; b) Các tổ chức, cá nhân không được sử dụng vốn ngân sách nhà nước để tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định tại Nghị định này không được góp vốn để thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm khác.”
2.1.2.4. Về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Cơ cấu tổ chức của công ty xếp hạng tín dụng được tùy theo hình thức công ty mà họ lựa chọn, tuy nhiên thì trong Luật có những quy đinh riêng về điều kiện của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp, thành viên Hội đồng xếp hạng tín nhiệm và chuyên viên phân tích: Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Điều 19. Tiêu chuẩn, điều kiện của Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp “1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định tại Bộ luật Dân sự.
- Không là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
- Có trình độ từ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, thống kê hoặc quản trị kinh doanh.
- Có ít nhất mười (10) năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực quy định tại Khoản 3 Điều này.
- Cư trú hợp pháp tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.”
Điều 20. Tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Hội đồng xếp hạng tín nhiệm
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định tại Bộ luật Dân sự.
- Không là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
- Có trình độ từ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, thống kê, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành thuộc lĩnh vực kinh doanh của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm.
- Có ít nhất bảy (07) năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực quy định tại Khoản 3 Điều này.”
Điều 21. Tiêu chuẩn, điều kiện của chuyên viên phân tích
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định tại Bộ luật Dân sự.
- Không là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
- Có trình độ từ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, thống kê, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành thuộc lĩnh vực kinh doanh của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm.
- Có ít nhất ba (03) năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực quy định tại Khoản 3 Điều này.”
2.1.2.5. Quy trình cấp thủ tục giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh:
Điều 16. Quy trình thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh “
- Doanh nghiệp nộp một (01) bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đến Bộ Tài chính để kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tài chính thông báo về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu (nếu có) và gửi năm (05) bộ hồ sơ chính thức để thẩm định.
- Trong thời hạn sáu mươi (60) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan thẩm định, xem xét hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trong trường hợp từ chối, Bộ Tài chính thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp và nêu rõ lý do.
- Nội dung thẩm định hồ sơ theo các điều kiện quy định tại Điều 14 Nghị định này.” Sau khi hoàn tất các thủ tục đúng quy định của pháp luật, doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín dụng
Nội dung quy định trong giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín dụng sẽ là căn cứ trước pháp luật về các hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Do tính chất quan trọng của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nên quy trình thủ tục để cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín dụng rất chặt chẽ, bên cạnh đó còn những quy định về cấp lại và điều chỉnh giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín dụng; những thay đổi phải thông báo đến bộ tài chính; thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín dụng.
2.1.3. Các qui định pháp lý về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam.
2.1.3.1. Phạm vi hoạt động:
Điều 12. Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm “1. Dịch vụ xếp hạng tín nhiệm theo quy định tại Nghị định này.
- Dịch vụ liên quan đến hoạt động xếp hạng tín nhiệm, bao gồm:
- Dịch vụ thông tin về xếp hạng tín nhiệm;
- Đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức liên quan đến hoạt động xếp hạng tín nhiệm.
- Khi cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động xếp hạng tín nhiệm quy định tại Khoản 2 Điều này doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải đảm bảo không xảy ra các trường hợp xung đột lợi ích quy định tại Điều 38 Nghị định này.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm không được hoạt động trong các lĩnh vực sau: a) Kế toán, kiểm toán;
- b) Chứng khoán bao gồm: Môi giới; tư vấn; bảo lãnh phát hành; đại lý phân phối chứng khoán; quản lý quỹ đầu tư; quản lý danh mục đầu tư; đầu tư chứng khoán; c) Ngân hàng.”
Như vậy có thể thấy rằng doanh nghiệp xếp hạng tín dụng được phép kinh doanh:
- Dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
- Dịch vụ liên quan đến xếp hạng tín nhiệm, bao gồm:
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức liên quan đến xếp hạng tín nhiệm;
- Cung cấp cơ sở dữ liệu liên quan đến xếp hạng tín nhiệm.
- Các dịch vụ kinh doanh khác theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ngoại trừ lĩnh vực kế toán và kiểm toán.
Có thể nói quy định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng cũng tiếp thu nhiều các quy định trên thế giới và quy định về phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Xếp hạng tín dụng cũng không là ngoại lệ.
Dịch vụ kế toán, kiểm toán thực chất là một tổ chức hoặc cá nhân có nguồn nhân lực không thuộc sự quản lý của công ty, của doanh nghiệp thuê dịch vụ kế toán đứng ra nhận làm các công việc của một phòng kế toán thuộc công ty đi thuê dịch vụ, họ không chịu sự quản lý, cũng như quân số của công ty đi thuê dịch vụ kế toán, nhưng lại làm các công việc về kế toán cho các công ty thuê dịch vụ đó theo một thỏa thuận về nguyên tắc, hợp đồng làm việc. Dịch vụ kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Dịch vụ kiểm toán là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành. Trong khi đó dịch vụ xếp hạng tín dụng là hoạt động thu thập thông tin, phân tích, đưa ra nhận định, xếp hạng và công bố về khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn của tổ chức phát hành công cụ nợ và của công cụ nợ; thông tin thu thập chủ yếu sẽ dựa trên các báo cáo tài chính, kế toán, kiểm toán của doanh nghiệp. Nên trong một số trường hợp, tính khách quan trong các báo cáo của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng sẽ không được đảm bảo nếu doanh nghiệp xếp hạng tín dụng vừa là cơ quan thực hiện dịch vụ kế toán kiểm toán doanh nghiệp, vừa là cơ quan xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp về khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn. Xét về mặt bản chất thì doanh nghiệp thực hiện dịch vụ kế toán, kiểm toán luôn có sự phụ thuộc nhất định vào doanh nghiệp đi thuê dịch vụ kế toán, kiểm toán nên tình trạng xung đột về mặt lợi ích với kết quả xếp hạng tín nhiệm là điều không thể tránh khỏi.
Bên cạnh phạm vi hoạt động, doanh nghiệp xếp hạng tín dụng có trách nhiệm xây dựng hệ thống chính sách hoạt động để đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo tính độc lập, trung thực, khách quan, minh bạch và bảo mật thông tin.
2.1.2.1. Hợp đồng xếp hạng tín nhiệm:
Điều 27. Hợp đồng xếp hạng tín nhiệm Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Hợp đồng xếp hạng tín nhiệm phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại Điều 5 Nghị định.
- Hợp đồng xếp hạng tín nhiệm được lập thành văn bản và bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Tên, địa chỉ, người đại diện của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm và tổ chức được xếp hạng tín nhiệm;
- Mục đích, phạm vi và nội dung hoạt động xếp hạng tín nhiệm;
- Thời hạn thực hiện hợp đồng xếp hạng tín nhiệm;
- Điều kiện, điều khoản về việc công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm;
- Chi phí dịch vụ xếp hạng tín nhiệm;
- Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng xếp hạng tín nhiệm;
- Nghĩa vụ bảo mật thông tin của các bên theo quy định tại Điều 39 Nghị định này;
- Quy định về việc theo dõi, đánh giá định kỳ, cập nhật báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm cho đến khi hợp đồng xếp hạng tín nhiệm kết thúc;
- Quy định về các trường hợp kết thúc hợp đồng xếp hạng tín nhiệm trước thời hạn và trách nhiệm của các bên;
- k) Quy định về xử lý các tranh chấp.”
Hợp đồng xếp hạng tín dụng là văn bản chứng minh sự xác lập giữa một bên là đối tượng xếp hạng tín dụng và một bên là doanh nghiệp xếp hạng tín dụng về hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Khi có yêu cầu về việc xếp hạng tín nhiệm, thì việc đầu tiên mà doanh nghiệp xếp hạng tín dụng cần làm là xem xét yêu cầu để tiến hành đàm phán, sau khi đàm phán sẽ cho quyết định đồng ý hay không đồng ý xếp hạng tín nhiệm. Khi doanh nghiệp xếp hạng tín dụng đồng ý xếp hạng tín nhiệm thì sẽ ký kết hợp đồng với đối tượng xếp hạng tín dụng, và hợp đồng phải đảm bảo đủ các nguyên tắc trong hoạt động xếp hạng tín nhiệm là : độc lập và khách quan, trung thực,minh bạch, tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
2.1.2.2. Đối tượng được xếp hạng tín nhiệm:
Điều 3. Các dịch vụ xếp hạng tín nhiệm
- Xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp, tổ chức;
- Xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ.”
Như vậy, đối tượng được xếp hạng tín dụng chính là:
- Các tổ chức phát hành công cụ nợ;
- Các công cụ nợ.
Các tổ chức phát hành công cụ nợ: Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Chỉ chung tất cả các tổ chức có phát hành công cụ nợ trên thị trường và có nhu cầu Xếp hạng tín dụng để tạo lòng tin củng cố tâm lý thu hút các nhà đầu tư. Tổ chức phát hành công cụ nợ có thể là doanh nghiệp bất kỳ, công ty cổ phần hoặc công ty TNHH, hay là các ngân hàng, trong một số trường hợp còn bao gồm cả quốc gia đối với xếp hạng tín nhiệm quốc gia. … Ở các một số nước trên thế giới, việc xếp hạng tín dụng không chỉ giới hạn ở các chủ thể có phát hành công cụ nợ, mà đối tượng được xếp hạng tín dụng thường là tất cả các tổ chức, doanh nghiệp có yêu cầu xếp hạng tín nhiệm hoặc được một chủ thể khác yêu cầu xếp hạng tín nhiệm mặc dù các đối tượng này không hề phát hành công cụ nợ nào. Nhưng kết quả xếp hạng tín dụng sẽ phục vụ cho việc bổ sung hồ sơ vay vốn, hay đối với những ngành nghề như xuất nhập khẩu cần kết quả xếp hạng tín dụng để thu hút đầu tư từ các đối tác nước ngoài.
Các công cụ nợ:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 4 Nghị định 88/2014/NĐ-CP thì:
“Công cụ nợ”: Là các sản phẩm tài chính xác lập nghĩa vụ nợ bao gồm: trái phiếu, khoản vay ngân hàng và các sản phẩm tài chính có phát sinh nghĩa vụ nợ khác. Các công cụ nợ được quy định là tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ [12, Điều 3.16].
Trái phiếu theo định nghĩa tại Luật chứng khoán là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành [13, Điều 6.3]. Mỗi trái phiếu ghi nhận quyền được hưởng lợi tức cố định và quyền đòi nợ của nhà đầu tư đối với tổ chức phát hành khi trái phiếu đến hạn thanh toán. Người sở hữu trái phiếu được hưởng khoản lãi cố định, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành.
Tín phiếu là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn không vượt quá 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam [7, Điều 3.1]. Tín phiếu hay còn gọi là tín phiếu kho bạc là một loại “trái phiếu ngắn hạn” do ngân hàng Trung ương thay mặt chính phủ đứng ra phát hành, cách gọi này là do thói quen, vì các tài sản nợ của chính phủ thường do kho bạc chịu trách nhiệm chi trả. Ngân hàng Trung ương chỉ đóng vai trò là cơ quan đứng ra tổ chức phân phối bằng hoạt động đấu thầu tới hệ thống tài chính, mà số đông khách hàng mua thường là các ngân hàng thương mại.
Hối phiếu bao gồm “hối phiếu đòi nợ” và “hối phiếu nhận nợ”. “Hối phiếu đòi nợ” là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. “Hối phiếu nhận nợ” là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng [14, Điều 4].
Công trái là cách gọi khác của trái phiếu chính phủ. Căn cứ vào chủ thể phát hành thì trái phiếu bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp. Các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ như thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi, …
2.1.2.3. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm:
Điều 32. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải xây dựng phương pháp xếp hạng tín nhiệm để phân tích, đánh giá được khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm phải bao gồm cả phương pháp đánh giá định lượng và phương pháp đánh giá định tính.
- Phương pháp xếp hạng tín nhiệm phải đánh giá được các yếu tố rủi ro cơ bản và mức độ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm, bao gồm các nội dung cơ bản sau: a) Rủi ro vĩ mô;
- Rủi ro thị trường và môi trường kinh doanh;
- Rủi ro chiến lược;
- Rủi ro quản trị;
- Rủi ro nhân sự;
- Rủi ro tài chính;
- g) Rủi ro khác theo đánh giá của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải sử dụng phương pháp xếp hạng tín nhiệm có hệ thống và thống nhất cho từng loại nghĩa vụ nợ và từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
- Định kỳ doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm có trách nhiệm rà soát phương pháp xếp hạng tín nhiệm và các giả thuyết sử dụng để điều chỉnh nếu cần thiết.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp những nội dung cơ bản của phương pháp xếp hạng tín nhiệm.”
Xếp hạng tín nhiệm là một công việc phức tạp. Các loại hình công ty khác nhau, thuộc các ngành nghề khác nhau đòi hỏi phải có hệ thống chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Các yếu tố đánh giá bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng. Thông tin đầu vào được cung cấp bởi doanh nghiệp muốn được đánh giá sẽ chia thành nhiều nhóm chỉ tiêu, mỗi nhóm chỉ tiêu được cho điểm tương ứng trong quá trình xếp hạng. Việc xếp hạng không giới hạn ở việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính mà bao gồm cả việc đánh giá các chỉ tiêu phi tài chính như việc xem xét môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả của ban giám đốc, chiến lược của doanh nghiệp và các tác động bên ngoài.
Doanh nghiệp xếp hạng tín dụng phải xây dựng phương pháp xếp hạng tín nhiệm để phân tích được khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn của tổ chức phát hành công cụ nợ và của công cụ nợ. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng.
2.1.2.4.Báo cáo xếp hạng tín nhiệm:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 4 Nghị định 88/2014/NĐ-CP: “Báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm”: Là báo cáo công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm về tổ chức được xếp hạng tín nhiệm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Báo cáo xếp hạng xếp hạng tín nhiệm là bản thu hoạch tổng hợp các kết quả phân tích của cả một quy trình xếp hạng tín dụng với nhiều giai đoạn khác nhau. Báo cáo xếp hạng xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường khi cung cấp thông tin tin cậy cho các nhà đầu tư; có sức mạnh ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn, uy tín, địa vị của đối tượng được xếp hạng tín dụng trên thị trường.
Bậc xếp hạng tín nhiệm là tiêu chí đánh giá khả năng hoàn trả nợ đúng hạn của các tổ chức phát hành công cụ nợ và của công cụ nợ. Bậc xếp hạng phổ biến trên thế giới hiện nay được phân theo 10 bậc có tương ứng với bậc cao nhất là AAA và bậc thấp nhất thể hiện sự mất khả năng chi trả của đối tượng xếp hạng tín dụng là bậc D. Và trong Nghị định 88/2014/NĐ-CP thì bậc xếp hạng tín nhiệm được quy định như sau:
Điều 33. Bậc xếp hạng tín nhiệm
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải xây dựng và sử dụng thống nhất hệ thống bậc xếp hạng tín nhiệm theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Bậc xếp hạng phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo khả năng so sánh giữa các bậc xếp hạng tín nhiệm;
- Thứ bậc xếp hạng tín nhiệm được xếp theo thứ tự từ cao nhất đến thấp nhất về khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm.
- Doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm phải công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp về ký hiệu và ý nghĩa của từng bậc xếp hạng tín nhiệm
Như vậy pháp luật đã cho các doanh nghiệp sự tự do trong việc lựa chọn bậc xếp hạng tín nhiệm.
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động của công ty xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
2.2.1. Những thuận lợi trong hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam.
Dù mới phát triển trong thời gian gần đây, nhưng có thể nói doanh nghiệp xếp hạng tín dụng đang dần khẳng định vị trí quan trọng trên thị trường tài chính tại Việt Nam. Nhất là khi xu hướng và nhu cầu phát triển nền kinh tế minh bạch ổn định đang trở thành vấn đề cấp thiết. Vì thế mà hoạt động của xếp hạng tín dụng ở Việt Nam hiện nay đang rất được nhà nước và các doanh nghiệp quan tâm, bên cạnh đó là sự ủng hộ từ các tập đoàn đầu tư tài chính nước ngoài hỗ trợ giúp đỡ trong việc đề xuất và đóng góp ý kiến về việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng tại Việt Nam.
- Môi trường pháp lý:
Sự ra đời của Nghị định 88/2014/NĐ-CP đã tạo lập nên cơ chế về thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp xếp hạng tín dụng ở Việt Nam. Cùng với Nghị định 88/2014 về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, Quy hoạch phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mới đây tại Quyết định 507/2015/QĐ-TTg, cơ chế cho sự hình thành và hoạt động của công ty xếp hạng tín dụng tại Việt Nam đã cơ bản hoàn chỉnh.
- Nhu cầu của thị trường:
Trong xu hướng nền kinh tế hội nhập quốc tế, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp với tham vọng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mở rộng hình thức kinh doanh, thì vấn đề cần huy động vốn đầu tư phát triển kinh doanh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trên thị trường tài chính. Cơ chế huy động vốn gián tiếp thông qua các ngân hàng có thể trong thời gian sắp tới sẽ không đủ nguồn vốn đáp ứng cho tất cả các chủ thể vay vốn hoặc nếu có thì cũng chỉ có thể cho vay trong thời hạn ngắn, như vậy sẽ còn gây khó khăn hơn trong việc khi chưa kịp đầu tư phát triển thu lời đã phải lo nguồn tiền để thanh toán nợ đến hạn cho các ngân hàng.
Theo Báo cáo thường niên năm 2015 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì tính đến hết tháng 12/2015, tổng số cho vay, gửi tiền của thị trường liên ngân hàng bằng VND đạt 5.776 nghìn tỷ đồng, giảm 187 nghìn tỷ đồng (tương đương giảm 3%) so với năm 2014. Trong khi đó, quy mô giao dịch liên ngân hàng bằng USD giảm mạnh, với tổng doanh số cho vay, gửi bằng USD quy đổi VND đạt 2.131 nghìn tỷ đồng, giảm 1.543 nghìn tỷ đồng (tương đương giảm 42%) so với năm 2014. Xét theo kỳ hạn, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng 2015 phát sinh chủ yếu ở các ký hạn dưới 1 tháng, trong đó tập trung nhiều vào kỳ hạn qua đêm, 1 tuần [17, tr. 14].
Do nhu cầu thiết yếu nên hình thức huy động vốn đang dần được chuyển từ cơ chế huy động vốn gián tiếp thông qua ngân hàng sang hình thức huy động vốn trực tiếp thông qua các công cụ nợ. Tuy vậy, nhiều người vẫn nhà đầu tư vẫn nghi ngờ vào tính rủi ro của các công cụ nợ, liệu có an toàn bằng gửi tiền tại các tổ chức tín dụng hay không? Nên để giải quyết vấn đề về thông tin minh bạch thông suốt giữa chủ thể có vốn và chủ thể cần vốn là vấn đề không hề đơn giản. Để giải quyết vấn đề này bà Phan Thị Thu Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân hàng (Bộ Tài chính) từng nhận định, việc ra đời và công nhận dịch vụ xếp hạng tín nhiệm là một trong những bước đi để thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn để phát triển sản xuất kinh doanh [28].
Theo thống kê của Bộ Tài chính, trong năm 2015, có 42.769 tỷ đồng trái phiếu DN được phát hành, giảm 11% so với năm 2014 [40]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Và trong Báo cáo tại buổi họp báo chuyên đề “Thị trường trái phiếu năm 2016 và định hướng phát triển trong các năm tiếp theo”, bà Phan Thị Thu Hiền – Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và Tổ chức tài chính (TCNH) cho biết trong năm 2016, khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 129.636 tỷ đồng, tăng 203,1% so với năm 2015.
Đánh giá về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đại diện Vụ Tài chính Ngân hàng nhận định trái phiếu đang từng bước trở thành kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh.
Nhưng báo cáo cũng chỉ rõ thị trường trái phiếu về cơ bản quy mô còn nhỏ, chỉ chiếm 36,9% GDP; thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển (đến hết năm 2016 chỉ chiếm 5,27% GDP), các doanh nghiệp vẫn chủ yếu huy động vốn qua kênh tín dụng ngân hàng [43]. Từ đó có thể nhận thấy nhu cầu huy động vốn trên thị trường ngày càng tăng với số tiền lớn thì nguy cơ rủi ro sẽ là rất cao, nên việc sớm cho ra đời doanh nghiệp xếp hạng tín dụng hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, làm tăng tính minh bạch thông tin trên thị trường, tạo được niềm tin của các nhà đầu tư, góp phần phát triển hình thức huy động vốn thông qua các công cụ nợ để giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng.
Đại diện Viện nghiên cứu Nomura – Tập đoàn chứng khoán Nomura – cũng cho rằng: “Khi các tổ chức xếp hạng tín dụng có tên tuổi ra đời, đánh giá tổ chức phát hành theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ tạo lập được lòng tin cho các nhà đầu tư. Đó là yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển thị trường vốn” [26].
Một trong những lý do khiến các nhà đầu tư chưa dám đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam như chúng ta mong đợi, cũng là vì thiếu một công ty xếp hạng tín dụng hoạt động hiệu quả trên thị trường vốn Việt Nam. Dựa trên các kết quả doanh nghiệp xếp hạng tín dụng mang lại, các nhà đầu tư mới có công cụ để thẩm định, lựa chọn danh mục đầu tư, dự báo tình hình phát triển tổ chức phát hành và đưa ra quyết định đầu tư.
Thông qua bảng xếp hạng tín dụng, nhà đầu tư sẽ hiểu rõ hơn về sức mạnh tài chính của các công ty, dễ dàng đánh giá các tổ chức tài chính có quan hệ kinh doanh hoặc quan tâm tới việc mua các công cụ nợ của các công ty này.
Sự phục hồi và phát triển của thị trường chứng khoán Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Theo số liệu từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến ngày 19/12/2017, chỉ số VN-Index đạt 951,42 điểm, tăng 43% so với cuối năm 2016 – mức cao nhất gần 10 năm trở lại đây. Chỉ số HNX-Index đóng cửa ở mức 111,61 điểm, tăng 41,5% so với cuối năm 2016. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đạt gần 3.360 nghìn tỷ đồng, tăng 73% so với cuối năm 2016, tương đương 74,6% GDP, vượt chỉ tiêu đặt ra cho năm 2020. Tổng giá trị giao dịch bình quân cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đạt gần 4.981 tỷ đồng/phiên, tăng 63% so với bình quân năm 2016. Hiện có 731 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 sàn và 679 cổ phiếu đăng ký giao dịch (ĐKGD) trên UPCoM với tổng giá trị niêm yết, ĐKGD đạt gần 959 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cuối năm 2016. trong năm 2017, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tham gia mạnh mẽ vào TTCK, với việc mua ròng gần 26 nghìn tỷ đồng cổ phiếu (năm 2016, khối ngoại bán ròng 6.821 tỷ đồng). Giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài tăng mạnh, tính đến cuối tháng 11/2017 đạt hơn 31,4 tỷ USD, tăng 81,3% so với cuối năm 2016. Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tiếp tục gia tăng đạt 1,9 triệu tài khoản, tăng 11% so với cuối năm 2016.
Trên thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP), hiện có 612 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.015 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với cuối năm 2016 (tương đương 23% GDP). Tổng giá trị giao dịch bình quân trái phiếu đạt hơn 8.890 tỷ đồng/phiên, tăng 38% so với bình quân năm 2016. Thị trường TPCP tiếp tục có bước phát triển mạnh về chiều sâu, giá trị giao dịch repo tăng 72% so với năm 2016 và chiếm 48% tổng giao dịch toàn thị trường trái phiếu.
Những dấu hiện tích cực trên thể hiện sự tiềm năng của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường các công cụ nợ nói chung. Từ đó cũng có thể thấy được tiềm năng phát triển của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng
2.2.3. Những khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
2.2.3.1. Lý do khách quan
- Khó khăn về thị trường:
Cấu trúc thị trường trái phiếu đã từng bước được hoàn thiện theo hướng hình thành thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt. Tuy nhiên, đối với trái phiếu doanh nghiệp, tính thanh khoản còn hạn chế, nhà đầu tư thường nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn; đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng, do điều kiện phát hành, niêm yết, giao dịch tương tự như cổ phiếu nên chưa thu hút được doanh nghiệp tham gia huy động vốn.
Quy mô thị trường đã có sự tăng trưởng nhưng so với các nước trong khu vực quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam còn nhỏ. Tính đến hết quý 4 năm 2017, quy mô của thị trường trái phiếu Việt Nam chỉ chiếm 21,6% GDP (quy mô thị trường trái phiếu của các nước trong khu vực chiếm từ 40-70% GDP); thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp chưa đáp ứng đủ yêu cầu huy động vốn ngày càng gia tăng của ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh.
Bảng 3: Quy mô của thị trường trái phiếu của một số nước Châu Á tính đến hết tháng 12 năm 2017 [53, pg. 19]
- Khó khăn về mặt pháp lý:
Cho đến thời điểm hiện tại, các quy định về thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng tại Việt Nam vẫn là chỉ ở mức độ sơ khai ban đầu.
Quy chế pháp lý xếp hạng tín dụng tại Việt Nam vẫn chưa quy định bắt buộc phải xếp hạng tín dụng, mới quy định dừng lại ở mức độ mở “nếu có” tức là không bắt buộc, pháp luật vẫn khuyến khích tinh thần tự nguyện trong xếp hạng tín dụng.
- Khó khăn xuất phát từ phía các doanh nghiệp:
Đa số các doanh nghiệp, các tổ chức phát hành công cụ nợ, các nhà đầu tư vẫn chưa có nhận thức rõ ràng về doanh nghiệp xếp hạng tín dụng và tầm quan trọng của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng. Thách thức đối với một thị trường mới mẻ như Việt Nam là làm sao thông tin để cho cả nhà phát hành và nhà đầu tư hiểu được tầm quan trọng của công việc xếp hạng tín dụng, làm sao để các chủ thể này thấy được cần phải nắm rõ mức độ rủi ro và so sánh với mức lợi nhuận mà họ thu được khi chấp nhận rủi ro đó. Nếu các nhà đầu tư tin rằng cần thiết phải có xếp hạng tín dụng thì chủ thể sẽ tự tìm đến các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng để yêu cầu dịch vụ. Trong thời gian qua, chỉ một số doanh nghiệp lớn và bị áp lực về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, phải bắt buộc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình với các chủ thể nước ngoài mới nhận thức được vai trò của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng và bắt đầu sử dụng dịch vụ xếp hạng tín dụng.
Hơn nữa một thực tế là tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hiện nay ở Việt Nam rất lớn, tính đến 1/1/2017 cả nước có 518.000 doanh nghiệp thực tế đang tồn tại, tăng 176.000 doanh nghiệp và gấp 1,5 lần so với năm 2012; trong đó có 505.000 doanh nghiệp thực tế hoạt động. Số liệu tổng điều tra kinh tế năm 2017 cũng cho thấy, số lượng doanh nghiệp (DN) lớn chiếm 1,9% tổng số DN, giảm 2,3% so với năm 2012, trong khi đó, DN vừa tăng 23,6%, DN nhỏ tăng 21,2% và DN siêu nhỏ tăng 65,5%, chiếm 74% tổng số DN. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Xét theo quy mô lao động, tại thời điểm 1/1/2017 cả nước có hơn 10 nghìn DN lớn (tăng 29% so với năm 2012), nhưng quy mô chỉ chiếm 1,9% tổng số doanh nghiệp, giảm so với 2,3% của năm 2012. Doanh nghiệp vừa tăng 23,6%, doanh nghiệp nhỏ tăng 21,2% và doanh nghiệp siêu nhỏ tăng tới 65,5% và chiếm 74% tổng số doanh nghiệp [42].
Đây cũng là một lý do khiến cho doanh nghiệp Việt Nam không mặn mà với việc đánh giá xếp hạng tín nhiệm vì điều kiện doanh nghiệp cũng tốt và phương pháp đánh giá xếp hạng tín dụng cũng chưa thật sự có sự điều chỉnh phù hợp với phân khúc đối tượng này.
Ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu Chính sách Hội nhập kinh tế Quốc tế (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương), cho rằng, khi nói đến vấn đề minh bạch hoá thông tin cung cấp để xếp hạng tín nhiệm tức là đã liên quan đến quyền của doanh nghiệp. “Vì lý do kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa muốn tiết lộ một thông tin nào đó. Không phải họ làm ăn không chính đáng mà họ dự định sẽ công bố vào một thời điểm nào đó thích hợp hơn”. Niềm tin vào sự phát triển của ngành xếp hạng tín dụng tại Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở nhưng cần phải có một quá trình phát triển, vì đây là dịch vụ còn khá mới đối với Việt Nam.
Khó khăn từ các nhà đầu tư và chủ thể được xếp hạng tín dụng:
Có một câu hỏi luôn được đặt ra khi nhắc đến xếp hạng tín dụng trong thời gian gần đây là: “Làm thế nào để tạo dựng niềm tin của các nhà đầu tư và tổ chức phát hành đối với doanh nghiệp xếp hạng tín dụng?”
Đây là một câu hỏi khó mà các cơ quan chức năng liên quan và chính doanh nghiệp xếp hạng tín dụng đang phải tìm hước giải quyết. Đó là vấn đề mấu chốt cho sự tồn tại của các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng. Để tạo được niềm tin vào các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng trong nước ở thì trường tài chính Việt Nam hiện nay cũng đang gặp phải một số khó khăn nhất định. Khi vẫn còn nhiều nghi vấn về chất lượng dịch vụ xếp hạng tín dụng của các doanh nghiệp tại Việt Nam. xếp hạng tín dụng như “con dao hai lưỡi”, một mặt có thể giúp đối tượng được xếp hạng tín dụng nâng cao uy tín, tạo lập thương hiệu trên thương trường, nhưng mặt khác nếu thông tin thu thập không đầy đủ, đánh giá không khách quan thì có thể ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đối tượng xếp hạng tín nhiệm cũng như sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh.
Việc xếp hạng xếp hạng tín dụng đòi hỏi sự hợp tác tích cực từ phía các đối tượng được xếp hạng tín dụng trong việc phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác những tài liệu, thông tin về tình hình tài chính và phi tài chính trong phạm vi của mình theo yêu cầu của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng. Nhưng có một sự thật là các đối tượng được xếp hạng tín dụng tại Việt Nam phần lớn đều có xu hướng che dấu thông tin tài chính thực và những hạn chế của mình. Khi bị hạ bậc tín nhiệm đều không chấp nhận nhìn thẳng vào hiện trạng thực sự mà ngược lại luôn tìm cách giải thích bác bỏ thông tin xếp hạng tín nhiệm không tốt từ các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng. Đây không chỉ dừng ở việc phản bác lại các kết quả xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp xếp hạng tín dụng trong nước mà ngày cả các tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín trên thế giới như Standard & Poor sau khi hạ bậc tín nhiệm của ngân hàng Techcombank trong báo cáo ngày 09/01/2012 cũng ngày lập tức bị ngân hàng này lên tiếng phản đối, Fitch Ratings bị ngân hàng ACB phản bác ngay sau bản báo cáo xếp hạng tín nhiệm ngày 02/7/2012, khi nhận được kết quả xếp hạng tín nhiệm ngày 23/9/2012 của Moody’s thì ngân hàng BIDV ngay sau đó cũng đưa ra quan điểm trong bài phỏng vấn về lý do bị hạ bậc tín nhiệm một phần là do thông tin từ Moody’s tổng hợp không chính xác [27]. Đây thực sự là một khó khăn lớn với doanh nghiệp xếp hạng tín dụng, làm thế nào để có thể thẩm định các thông tin trong hoàn cảnh không nhận được sự ủng hộ từ các đối tượng xếp hạng tín dụng và làm thế nào để các nhà đầu tư tin tưởng vào kết quả xếp hạng là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xếp hạng tín dụng.
2.2.3.2. Lý do chủ quan
- Khó khăn về cơ sở dữ liệu thông tin: Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Đây là khó khăn không thể tránh khỏi và hầu như ở bất kỳ thị trường nào thì doanh nghiệp xếp hạng tín dụng cũng gặp phải khó khăn này trong giai đoạn đầu. Để các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng có thể hoạt động tốt và tạo được sự tin tưởng cho các nhà đầu tư, đòi hỏi những doanh nghiệp xếp hạng tín dụng phải có một kho dữ liệu khổng lồ, tập hợp toàn bộ lịch sử của đối tượng được xếp hạng tín dụng mà doanh nghiệp nghiên cứu, dựa trên cơ sở nghiên cứu phân tích đó để đưa ra các thông tin đáng tin cậy cho các nhà đầu tư. Phải nhìn thẳng vào thực tế là do bước đầu thành lập nên Việt Nam còn thiếu cả đội ngũ nhân lực có đủ trình độ, có chuyên môn nghiệp vụ để có thể hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này.
Không có dữ liệu lớn, thời gian hoạt động ngắn lại mới làm quen với phương pháp xếp hạng tín dụng nên các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng tại Việt Nam trong thời gian qua chưa thể đưa ra các xếp hạng tín nhiệm chính xác về khả năng hoàn trả các khoản nợ đến hạn của các tổ chức phát hành cũng như các báo cáo nghiên cứu về các trường hợp rủi ro mất khả năng thanh toán. Do đó, các doanh nghiệp xếp hạng tín dụng tại Việt Nam vẫn chưa tạo được dấu ấn niềm tin ở các nhà đầu tư, song song với việc mất niềm tin từ các nhà đầu tư cũng tạo nên rào cản lớn cho doanh nghiệp xếp hạng tín dụng trong việc tích lũy số liệu. Các thao tác và kết quả là chuỗi hệ quả luân chuyển đòi hỏi phải có sự cố gắng rất nhiều từ phía các bộ ngành, doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
Minh chứng cho điều này chúng ta có thể thấy rằng trước khi Nghị định 88/2014/NĐ-CP ra đời và có hiệu lực thì Việt Nam mới chỉ có 02 doanh nghiệp xếp hạng tín dụng được thành lập và hoạt động một cách độc lập trong lĩnh vực thông tin tín nhiệm đó là:
Công ty Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng DN Việt Nam Vietnam Credit (C&R)
Công ty CP Xếp hạng tín nhiệm DN Việt Nam (Vietnamnet Ratings CRV). Các doanh nghiệp này cũng xây dựng bộ nguyên tắc chuẩn dựa theo qui trình đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới như Standard & Poor’s, Moody’s. Công ty CP Xếp hạng tín nhiệm DN Việt Nam (Vietnamnet Ratings CRV) cho đến năm 2012 thì mới công bố 5 cuốn báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam qua các năm 2010,2011,2012,2013,2014 trong đó 2 cuốn báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm VN từ năm 2010, năm 2011 dường như không gây được ấn tượng nhiều với giới nghiên cứu và dư luận còn cuốn báo cáo năm 2012 lại gây ra một cuộc tranh cãi lớn về tính đáng tin cậy [47] . Cùng với 01 công ty còn lại tuy vẫn duy trì hoạt động nhưng chưa có sản phẩm, dịch vụ tạo được ấn tượng, có giá trị đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường. Nên hiện nay, hầu như các doanh nghiệp và nhà đầu tư không biết rằng đang có các công ty xếp hạng tín dụng trong nước đang hoạt động.
Sau khi Nghị định 88/2014/NĐ-CP ra đời thì cho đến hiện tại chỉ mới có duy nhất một công ty đáp ứng đủ điều kiện thành lập trong Nghị định. Ngày 21/7/2017, công ty Cổ phần Phát Thịnh Rating (Phatthinh Rating), một thành viên của Phát Thịnh Group, đã được Bộ Tài chính cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, trở thành tổ chức xếp hạng tín nhiệm đầu tiên ở Việt Nam. Nhưng cũng đã gần 1 năm kể từ ngày chính thức được cấp giấy phép hoạt động mà trên trang thông tin điện tử của mình tại:
Phát Thinh Rating vẫn chưa có đủ các thông tin theo yêu cầu là phải công bố như: phương pháp xếp hạng tín nhiệm, quy trình xếp hạng tín nhiệm, bộ quy tắc chuẩn mực đạo đức, bậc xếp hạng tín nhiệm và các thông báo xếp hạng tín nhiệm.
Kết luận chương 2
Qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ở nước ta hiện nay mà cụ thể là Nghị định 88/2014/NĐ-CP ngày 26/09/2014 của Chính phủ về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm có thể thấy rằng chúng ta đã bước đầu xây dựng được khung pháp lý cơ bản để tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên trước khi Nghị định 88/2014/NĐ-CP ra đời và có hiệu lực cũng như sau khi đi vào hiệu lực thì hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa thực sự phát triển vì quy mô thị trường tài chính nói chung và thị trường các công cụ nợ nói riêng ở Việt Nam còn hạn chế; cơ sở dữ liệu và phương pháp phục vụ cho việc xếp hạng tín nhiệm chưa được hoàn thiện; thái độ của thị trường, của các nhà đầu tư, của các nhà phát hành,… vẫn còn chưa mặn mà với ý nghĩa mà hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm mang lại. Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com