Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng dệt may xuất khẩu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính tất yếu của đề tài

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là hướng đi tất yếu của mỗi quốc gia trên thế giới trong tiến trình phát triển. Do vậy xuất khẩu đóng vai trò quan trọng nhằm tích lũy vốn cho các hoạt động công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đẩy mạnh xuất khẩu chính là chủ trương nhất quán lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây ( 2016 – 2025).

Để mở rộng được thị trường xuất khẩu, ngoài việc nâng cao chất lượng hàng hóa, các doanh nghiệp cần phải tìm được phương thức hiệu quả nhất để thâm nhập thị trường nước ngoài. Để thâm nhập thành công, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ lưỡng và dự báo tình hình thị trường, từ đó, xây dựng và triển khai các thành phần chủ yếu của Marketing xuất khẩu hỗn hợp để đạt được những mục tiêu đã định. Đó chính là nội dung cơ bản của Marketing xuất khẩu.

Gần 10 năm qua, tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam tuy tăng cao, nhưng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vẫn thấp do nhận thức và khả năng ứng dụng các thành phần chủ yếu của marketing xuất khẩu chưa được chú trọng. Điều này được bộc lộ khá rõ trong việc cạnh tranh mở rộng thị trường xuất khẩu: giá thành xuất khẩu sản phẩm còn cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh còn bị lấn lướt bởi các đối thủ mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ, việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu chưa năng động…Nếu nghiên cứu và ứng dụng tốt hoạt động Marketing xuất khẩu để sớm khắc phục những hạn chế trên, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả xuất khẩu hàng dệt may của mình.

Ý thức được tình hình thực tế đó, em đã quyết đinh chọn đề tài: “ Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng dệt may xuất khẩu” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận chung và đánh giá thực trạng về ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam, mục đích cuối cùng của đề tài là mở rộng thị trường và mặt hàng xuất khẩu, trọng tâm là dệt may xuất khẩu.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng xuất khẩu.

Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ của khóa luận cũng như thời gian thực hiện, người viết lựa chọn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam làm điểm nghiên cứu để giới hạn rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài. Các số liệu phân tích ở chương 2 cũng được giới hạn trong 5 năm gần đây, phần giải pháp ở chương 3 sẽ được đề cập đến năm 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài những phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê và kế toán, phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử, đề tài còn sử dụng các phương pháp của Marketing hiện đại như phương pháp nghiên cứu tại bàn ( Desk Research), phương pháp nghiên cứu tại hiện trường ( Field Research), phương pháp mô hình, phương pháp phỏng vấn…

5. Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, phần chính luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về Marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng ứng dụng Marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam những năm qua
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp ứng dụng Marketing xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Do những hạn chế về thời gian, về tài liệu cũng như khả năng của người viết, nội dung khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết. Người viết rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của các Thầy Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương cùng độc giả. Người viết xin chân thành cảm ơn.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MARKETING

1.1.1. Khái niệm về Marketing 

1.1.1.1. Marketing là gì?

 Với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và đời sống kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao. Do đó thị trường cung cầu hàng hóa ngày càng phát triển và phức tạp. Theo xu hướng chung, ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt giữa những nhà sản xuất, trong khi người tiêu dùng có thu nhập tăng nên khó tính hơn khi chọn lựa hàng hóa theo yêu cầu, thị hiếu của mình. Khách hàng được xem là “thượng đế”. Marketing ra đời giúp doanh nghiệp tổ chức sản xuất, tiêu thụ, cạnh tranh với đối thủ tốt hơn, đồng thời Marketing cũng giúp khách hàng nắm được thông tin về thị trường và sản phẩm để chọn lựa hàng hóa theo nhu cầu của mình.

Có nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau. Theo Hiệp Hội Marketing của Mỹ – American Marketing Association (AMA): Marketing được xem như là một tiến trình bao gồm: tạo lập (creating), thông tin (communication), chuyển giao (delivering) các giá trị đến khách hàng, và quản lý tốt quan hệ khách hàng (managing customer relationship), nhằm đạt được lợi nhuận dự kiến của doanh nghiệp[22]. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Theo quan điểm quản trị, Marketing được hiểu là  “Nghệ thuật bán hàng”. Tuy nhiên, chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết rằng, yếu tố quan trọng nhất của marketing không nằm ở chỗ bán hàng hay tiêu thụ! Bán ra được là cần thiết nhưng chỉ là phần ngọn của tảng băng. Peter Drucker, nhà lý thuyết quản lý hàng đầu cho rằng: “ Mục đích của Marketing là biết và hiểu rõ khách hàng thật tốt sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ thích hợp nhất với họ, và tự nó sẽ được tiêu thụ”.

Theo Philip Kotler thì  “Marketing là một đặc tính của hoạt động kinh doanh nhằm định hướng nguồn hàng hóa và dịch vụ mà nhà cung cấp đưa ra về phía khách hàng hoặc người sử dụng”. Cũng theo ông, Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, theo đó công ty có thể đạt được những mục tiêu đã định ( doanh số, thị phần, lợi nhuận…) thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm với những người khác. Bản chất này của Marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn, sản phẩm, giá trị, trao đổi, giao dịch và tiếp đó là thị trường, marketing và những người làm Marketing[12].

1.1.1.2. Những hoạt động chủ yếu của Marketing

Từ những định nghĩa trên, ta thấy Marketing bao gồm những hoạt động nghiệp vụ chủ yếu sau:

  • Phân tích tiềm năng tiêu thụ các loại sản phẩm của thị trường
  • Lập kế hoạch sản xuất những sản phẩm mà người tiêu dùng cần tiêu thụ, tức là xác định rõ mức sản lượng của mỗi loại sản phẩm.
  • Xác định phương thức phân phối sản phẩm qua các kênh phục vụ thuận tiện nhất cho người tiêu dùng
  • Tổ chức hỗ trợ, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm bao gồm quảng cáo, tuyên truyền và thông tin cho người tiêu dùng về sản phẩm của công ty mình nhằm thuyết phục họ tiêu dùng các loại sản phẩm mới đó bởi chúng thỏa mã tốt nhất nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng
  • Xác định đúng giá cả sao cho phù hợp giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm nhằm đảm bảo lợi nhuận tối ưu của công ty
  • Tổ chức việc cung cấp các dịch vụ kỹ thuật và phi kỹ thuật cho người tiêu dùng trước và sau bán hàng.

Nói một cách ngắn gọn, Marketing là một lĩnh vực hoạt động mang tính chất đại chúng và nó được áp dụng trong hầu hết các nước theo định hướng thị trường. Marketing là một tập hợp các khái niệm, công cụ, lý thuyết, thực tiễn, quy trình và kinh nghiệm hình thành nên một hệ thống kiến thức đa dạng và phong phú. Sự thành công của nhiều doanh nghiệp hoạt động trên thị trường thế giới chủ yếu và trước hết dựa vào việc hiểu biết và vận dụng đúng đắn các kiến thức Marketing. Marketing là một quá trình cho phép một tổ chức tập trung các nguồn lực và phương tiện vào khai thác những cơ hội và nhu cầu thị trường, xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa các nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp.

1.1.2. Khái niệm cơ bản về Marketing quốc tế Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.1.2.1. Phân biệt Marketing nội địa và marketing quốc tế

Marketing quốc tế là việc thực hiện những hoạt động kinh doanh mà những hoạt động này nhằm hướng các luồng hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng nước ngoài vì mục đích lợi nhuận. Để có thể hiểu rõ khái niệm marketing quốc tế, cần phải xem xét sự khác nhau và giống nhau của các định nghĩa về Marketing nội địa và Marketing quốc tế. Marketing nội địa được định nghĩa là công việc thực hành Marketing thuộc phạm vi thị trường trong nước. Từ những nội dung chính của Marketing nội địa, các phương pháp được áp dụng vượt khỏi phạm vi thị trường trong nước, đó là marketing ngoài nước. Như vậy, marketing ngoài nước bao gồm quá trình hoạt động marketing nội địa, nhưng được thực hiện trong phạm vi một nước thứ hai. Một công ty của Mỹ sẽ thực hiện phương pháp nội địa trên nước Mỹ và thực hiện Marketing ngoài nước tại Canada. Đối với một công ty của Canada thì ngược lại, họ thực hiện Marketing nội địa tại Canada và Marketing ngoài nước tại Mỹ.

Cho dù những nguyên lý cơ bản của marketing chung được ứng dụng trên thị trường nội địa, đồng thời được sử dụng trong marketing quốc tế, song nếu hiểu một cách đơn thuần rằng, marketing quốc tế chỉ là sự kéo dài hoạt động của marketing về không gian, từ quốc gia đến quốc tế thì thật sai lầm. Khác với quản trị marketing nội địa, quản trị marketing quốc tế phải tính đến sự can thiệp của các chính quyền sở tại, tính đa dạng của các điều kiện thị trường bên ngoài và đòi hỏi những kiến thức riêng như kỹ thuật marketing, hiểu biết môi trường bên ngoài, khả năng mức độ sử dụng của kiến thức tích lũy. Những nhà kinh doanh trên trường quốc tế cần nhận thức rằng khi vận dụng những nguyên lý chung của marketing vào thị trường thế giới cần tính đến sự khác biệt rất nhiều giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Chúng dẫn đến bản chất của quản trị marketing, sự hình thành các chính sách marketing và việc thực hiện các chính sách marketing đó. Các hoạt động marketing quốc tế bị phụ thuộc vào vô số những vấn đề, những nhân tố môi trường mang tính vĩ mô, những hạn chế, những xung đột xảy ra thường xuyên do sự khác nhau về chính trị, văn hóa, pháp luật của mỗi nước. Do đó, tuy những nguyên tắc cơ bản của Marketing vẫn được áp dụng nhưng được duy trì ở các mức độ khác nhau và bằng các hình thức khác nhau.

1.1.2.2. Marketing xuất khẩu – bộ phận chính yếu của Marketing quốc tế

Một trong những hình thức của Marketing quốc tế được biểu hiện dưới hình thức marketing xuất khẩu. Đó là hoạt động marketing của các doanh nghiệp, ứng dụng vào việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của mình ra nước ngoài, với yêu cầu cơ bản là phải thích ứng các chiến lược Marketing với môi trường và nhu cầu của thị trường quốc tế.

Xét về mặt phạm vi không gian địa lý, thì marketing quốc tế bao gồm ba bộ phận, đó là:

Marketing xuất khẩu là hoạt động marketing của các doanh nghiệp xuất khẩu với yêu cầu cơ bản là làm thích ứng các chiến lược nhu cầu của thị trường xuất khẩu bên ngoài. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Marketing đa quốc gia là sự phối hợp và tương tác hoạt động Marketing trong nhiều môi trường khác nhau. Nhân viên marketing phải có kế hoạch và kiểm soát cẩn thận nhằm tối ưu hóa sự tổng hợp lớn nhất là tìm ra sự điều chỉnh hợp lý nhất cho các chiến lược Marketing được vận dụng ở từng quốc gia riêng lẻ.

Marketing toàn cầu là Marketing của một hãng lớn theo đuổi mục tiêu hướng ra thị trường thế giới và thỏa mãn nhu cầu của đoạn thị trường quốc tế hoặc toàn bộ thị trường thế giới.

Xét về mặt nghiệp vụ thương mại quốc tế, Marketing quốc tế bao gồm Marketing xuất khẩu, Marketing nhập khẩu và Marketing đầu tư quốc tế. Trong cuốn Marketing quốc tế và quản trị xuất khẩu, Gerald Albaum đã nhận định: “ Phạm vi chủ yếu của các hoạt động marketing quốc tế là hoạt động nhằm  bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài, hoạt động nhập khẩu nhằm mua các sản phẩm từ thị trường nước ngoài và quản trị các hoạt động kinh doanh quốc tế”[11]. Micheal R. Czinkota và Ilkka A. Rokainen cũng cho rằng: “ Marketing quốc tế bao gồm từ những hoạt động xuất nhập khẩu đến các hoạt động cấp giấy phép, liên doanh, chi nhánh độc lập, các hợp đồng chìa khóa trao tay và các hợp đồng quản lý”[15]. Hoạt động xuất khẩu cung cấp cho khách hàng những sản phẩm được sản xuất ở một quốc gia khác, hoạt động nhập khẩu cũng thực hiện chính chức năng trên. Tuy nhiên có một sự khác nhau quan trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Người nhập khẩu là người mua – khách hàng, ngược lại người xuất khẩu là người bán – người làm marketing. Nên có thể nói yếu tố phát triển nhất của marketing quốc tế chính là marketing xuất khẩu.

Trong kinh doanh quốc tế, ngoài các hoạt động như xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ, còn có đầu tư trực tiếp nước ngoài và sản xuất quốc tế. Đầu tư nước ngoài là dùng tiền và máy móc thiết bị để đầu tư vào nước khác, nên được xem như hình thức xuất khẩu vốn. Như vậy, kinh doanh quốc tế có nghĩa rộng là xuất khẩu quốc tế. Bởi vì marketing quốc tế có thể bao hàm cả việc một công ty thực hiện sản xuất hay lắp giáp một phần hàng hóa ở trong nước của công ty và một phần ở nước ngoài, hoặc nhập khẩu cho nước khác những hàng hóa từ một nước thứ hai để họ bán trong nước hoặc tái sản xuất hoặc việc thành lập những đại diện thường trực ở nước ngoài để lưu kho và phân phối các sản phẩm. Marketing quốc tế còn có thể thông qua việc cấp giấy phép sản xuất những sản phẩm của công ty cho các doanh nghiệp địa phương, hoặc tổ chức các hoạt động marketing khác ở nước ngoài. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Marketing ra nước ngoài hay Marketing xuất khẩu là kết quả của sự phát triển quốc tế của một doanh nghiệp nên cũng được gọi là marketing quốc tế.

Vậy marketing xuất khẩu là một hình thức quan trọng của marketing quốc tế. Và để hiểu rõ Marketing xuất khẩu, thì trước tiên cần hiểu thật rõ về Marketing quốc tế.

1.1.2.3. Một số định nghĩa cơ bản về Marketing quốc tế

Trên cơ sở khái quát chung về Marketing, chúng ta tìm hiểu khái niệm cơ bản về Marketing quốc tế. Khái niệm Marketing quốc tế chỉ khác với Marketing ở chỗ : Hàng hóa ( và dịch vụ) được tiếp thị ra khỏi phạm vi biên giới của một quốc gia. Dù sự khác biệt này không lớn lắm, nhưng nó lại có ý nghĩa thay đổi quan trọng trong cách quản trị Marketing, cách giải quyết các trở ngại của Marketing, việc thành lập các chính sách Marketing, kể cả việc thực hiện các chính sách này.

Ngay từ năm 1960, Hiệp hội Marketing quốc tế Hoa Kỳ đã định nghĩa về Marketing quốc tế như sau: “ Marketing quốc tế là một quá trình đa quốc gia để lập ra kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, xúc tiến, hỗ trợ kinh doanh và chính sách phân phối hàng hóa, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thỏa mãn mục đích các tổ chức và cá nhân kinh doanh”.

Có 5 định nghĩa tiêu biểu về Marketing quốc tế, đó là:

Thứ nhất, theo W.J.Keegan, Marketing quốc tế là quá trình hướng tới sự tối ưu các nguồn lực và mục tiêu của các công ty/tổ chức trên cơ sở khai thác tốt các cơ hội của thị trường toàn cầu[17].

Thứ hai, theo P.Cateora, Marketing quốc tế là tiến hành hoạt động kinh doanh hướng tới luồng hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng ở các nước ngoài nhằm thu được lợi nhuận dự kiến[13].

P.Cateora nhấn mạnh tính phức tạp của Marketing quốc tế chính là sự mở rộng của yếu tố môi trường ở các người ngoài rất khác nhau ( kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội…). Điều này dẫn đến các quyết định marketing mix sẽ không giống nhau với thị trường mục tiêu mỗi nước.

Thứ ba, theo Joel E. Rvans, Marketing quốc tế là Marketing về hàng hóa và dịch vụ ở bên ngoài biên giới quốc gia của doanh nghiệp. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Thứ tư, theo M. R Czinkota, Marketing quốc tế là kế hoạch hóa và điều hành các giao dịch qua biên giới quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp[15].

Thứ năm, theo V. Terpstra, Marketing quốc tế là tìm kiếm nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng toàn cầu một cách tốt nhất so với các đối thủ thông qua việc thực hiện các hoạt động kinh doanh trên phạm vi môi trường toàn cầu[16].

Qua các định nghĩa trên, có thể thấy rằng các định nghĩa này ở những góc độ và thời điểm lịch sử khác nhau đã chỉ ra được thế nào là Marketing quốc tế. Tuy nhiên, các định nghĩa mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, mà chưa tổng hóa cụ thể những nội hàm của Marketing quốc tế. Có thể rút ra một định nghĩa chung nhất về Marketing quốc tế như sau: Marketing quốc tế là việc đánh giá đúng thực trạng khả nằng của doanh nghiệp, cùng với việc nghiên cứu nhu cầu và các yếu tố của môi trường quốc tếm từ đó, đề ra chiến lược xuất khẩu thích ứng với từng thị trường, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất và luôn tăng trưởng bền vững.

1.2. NỘI DUNG CHÍNH CỦA MARKETING QUỐC TẾ Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.2.1. Điều cốt lõi của Marketing xuất khẩu

Thứ nhất, Marketing xuất khẩu là đi tìm nhu cầu và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng nước ngoài. Theo P. Cateora, trên thị trường toàn cầu ngày nay, chưa bao giờ người ta lại quá quan tâm đến câu hỏi “ Chúng ta có thể bán được cái gì?” thay cho câu hỏi trước đây là “ Chúng ta có thể sản xuất cái gì?”[13]. Câu trả lời đúng hiện nay là “ Chúng ta chỉ có thể bán cái thị trường nước ngoài cần”. Công ty Honda là một ví dụ. Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích nghi với nhu cầu và mức sống của người dân Việt Nam. Họ đưa vào Việt Nam những dòng xe máy giá hợp lý, nhưng tiết kiệm xăng và chất lượng tốt. Đối với một bộ phận lớn người dân Việt Nam mà nói thì xe máy hiện giờ là một phương tiện đi lại không thể thiếu. Bên cạnh đó, công ty cũng tìm hiểu sâu sắc nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu ấy. Các sản phẩm của Honda, từ những loại xe có mức giá vừa phải dành cho người có thu nhập trung bình, đến các loại xe có mức giá cao, người mua đều có thể dễ dàng tìm mua và bảo hành. Với nỗ lực ngày càng thỏa mãn một cách tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng về dịch vụ sau bán hàng, phụ tùng chính hiệu Honda có mặt ở khắp 64 tỉnh thành được phân phối qua hệ thống hơn 300 cửa hàng HEAD trên toàn quốc đồng thời còn mở rộng cung cấp qua các cửa hàng sửa chữa cho khách hàng ở xa. Không những thế, thông qua các chương trình quảng cáo mang tính xã hội, Honda cũng gửi đến người tiêu dùng Việt Nam thông điệp về sự an toàn và thân thiện với môi trường. Có lẽ câu hát “ Từ trái tim xin một lời, tôi yêu Việt Nam” đã không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam nữa. Ngoài ra, một số phụ tùng chính hiệu khi sản xuất bằng vật liệu thân thiết với môi trường như má phanh không Amiăng tránh cho người sử dụng và những người khác khỏi ô nhiễm, hạn chế bệnh ung thư phổi. Có thể nói, Honda chiếm lĩnh thị trường xe máy màu mỡ tại Việt Nam là do công ty đã xác định được chính xác người tiêu dùng Việt Nam cần gì, và mong muốn gì.

Thứ hai, Marketing xuất khẩu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng con đường xuất khẩu ( theo nghĩa đầy đủ của từ này) như xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp hàng hóa và dịch vụ, xuất khẩu vốn và xuất khẩu công nghệ dưới nhiều hình thức như: 100% vốn, liên doanh, cấp giấy phép… Ngày nay, nhượng quyền thương mại trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh số rất lớn, tập trung nhiều trong lĩnh vực kinh doanh đồ uống, đồ ăn nhanh, giáo dục đào tạo, thời trang, bất động sản, … với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như KFC, Mc Donald’s, Qualitea, Starbuck Cafe, Lotteria, Jollibee, Aptech, … Đơn giản vì đây là những lĩnh vực có tiềm năng thu được lợi nhuận cao. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Thứ ba, môi trường hoạt động mở rộng và phức tạp trên những cấp độ khác nhau và dẫn đến sự khác biệt riêng của Marketing quốc tế. Đối với mỗi thị trường khác nhau lại có những chiến lược Marketing riêng phù hợp với từng thị trường đấy.

Thứ tư, doanh nghiệp đóng vai trò là nhà xuất khẩu, nhà kinh doanh quốc tế, nhà đầu tư quốc tế, hay công ty quốc tế, công ty toàn cầu…

Thứ năm, cạnh tranh quốc tế và giành giật lợi thế cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn nhiều ( về quy mô, hình thức, chiến lược, công cụ). Ví dụ, khi bạn nghĩ đến thức ăn nhanh, bạn sẽ có nhiều hơn một cái tên để chọn lựa: KFC, Lotteria, BBQ hay McDonalds…Và khi bạn muốn mua một chiếc điện thoại, bạn có rất nhiều gợi ý ngoài Nokia. Các thương hiệu mang lại lựa chọn cho khách hàng và chúng phải cạnh tranh trong một môi trường hết sức đông đúc và sôi động. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải không ngừng tìm kiếm cái có thể thu hút được nhiều người tiêu dùng và thỏa mãn đúng nhu cầu của những người này.

1.2.2. Đặc trưng của Marketing xuất khẩu

1.2.2.1. Sự khác biệt giữa Marketing xuất khẩu và Marketing trong nước

Marketing xuất khẩu có những đặc điểm khác với marketing trong nước, cụ thể là

  • Về chủ thể ( Subject), các bên tham gia vào thương mại quốc tế ( xuất – nhập khẩu ) hay kinh doanh quốc tế ( cấp giấy phép, liên doanh…) thường là các chủ thể có quốc tịch khác nhau, ở những nước khác nhau.
  • Về khách thể ( Object), đó là cái ( hay đối tượng) mà chủ thể nhằm vào, gồm hàng hóa và dịch vụ trong Marketing xuất khẩu. Đặc trưng nổi bật cụ thể ở đây là sự di chuyển của hàng hóa, dịch vụ qua biên giới quốc gia.
  • Về tiền tệ, ( tiền hàng xuất khẩu) thường là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên chủ thể trong marketing quốc tế. Ví dụ, khi một nhà xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam xuất cho một nhà nhập khẩu dệt may Đức, nếu cùng thỏa thuận dùng Euro làm đồng tiền thanh toán thì đồng Euro chỉ là ngoại tệ với nhà xuất khẩu dệt may Việt Nam, nhưng nếu thỏa thuận dùng đô la Mỹ trong thanh toán thì USD là ngoại tệ đối với cả hai bên.
  • Hành trình phân phối sản phẩm thưởng kéo dài về thời gian và không gian, dẫn đến chi phí chuyên chở quốc tế và nguy cơ rủi ro cũng tăng theo.
  • Nội dung kế hoạch hóa chiến lược không giống nhau đối với từng thị trường nước ngoài vì nhu cầu và lượng cầu mỗi nước rất khác nhau. Đây cũng là một trong những lý do dẫn đến Marketing quốc tế phức tạp hơn nhiều so với marketing quốc gia. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.2.2.2.Những nét đặc trưng chủ yếu của Marketing xuất khẩu

Marketing xuất khẩu mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của Marketing song việc chỉ thành thạo những nguyên tắc chung là chưa đủ để đạt được thành công trong marketing xuất khẩu. Các doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu cần nắm vững các đặc điểm nổi bật sau của marketing xuất khẩu:

  • Một là, về mục đích chung, marketing xuất khẩu có sự di chuyển chiến lược thương mại từ nội địa ra nước ngoài. Vậy chiến lược sản phẩm không còn hướng vào thị trường nội địa nữa mà là thị trường mục tiêu nước ngoài. Đó cũng là nét đặc thù cơ bản nhất của Marketing quốc tế.
  • Hai là, về phân đoạn thị trường, nét đặc thù của marketing xuất khẩu là các doanh nghiệp cần phải hướng vào phân đoạn thị trường nào có thể thực thi tốt nhất và mang lại hiệu quả nhất. Hãng ô tô Ferrari chuyên cung cấp các siêu xe tuyệt hảo làm vừa lòng những quý khách hàng thượng lưu và sành điệu.
  • Ba là, về chiến lược sản phẩm, đặc thù của marketing xuất khẩu là phải thích ứng sản phẩm với nhu cầu của thị trường nước ngoài. Vậy doanh nghiệp phải xây dựng được cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu phù hợp về số lượng, đặc biệt là chất lượng mà thị trường nước ngoài mong đợi theo từng nền văn hóa đặc thù.
  • Về chiến lược phân phối và giá cả, nét đặc thù cơ bản của marketing xuất khẩu là việc tính toán kênh phân phối và ấn định mức giá bán hàng ra nước ngoài. Đây cũng là một trong những nội dung phức tạp điển hình của marketing xuất khẩu.

Về chiến lược yểm trợ, nét đặc thù nổi bật của Marketing xuất khẩu là việc tôn tạo hình ảnh thương hiệu ra thị trường nước ngoài. Muốn tạo dựng được hình ảnh thương hiệu mạnh, doanh nghiệp phải đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao, kết hợp với quảng cáo quốc tế, hội chợ triển lãm thương mại quốc tế, các chương trình khuyến mãi hiệu quả.

1.2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu thị trường trong Marketing xuất khẩu Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.2.3.1. Nghiên cứu môi trường nước ngoài – hoạt động khởi đầu của marketing xuất khẩu

Trên thị trường, không phải chỉ có một mình doanh nghiệp kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng không chỉ ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại của doanh nghiệp mà còn bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Các yếu tố này tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường marketing nước ngoài là tập hợp các yếu tố bên trong, bên ngoài doanh nghiệp, có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực việc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.

Thị trường nước ngoài ( Foreign Market), hay thị trường xuất khẩu ( Exporting Market) chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau, thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa. Các nhân tố này có thể mang tính vĩ mô và vi mô. Có trường hợp được thể hiện một cách rõ ràng song cũng có trường hợp rất tiềm ẩn khó nắm bắt đối với nhà kinh doanh nước ngoài. Việc định dạng nhân tố này cho phép doanh nghiệp xác định rõ những nội dung cần tiến hành nghiên cứu trên thị trường nước ngoài. Nó cũng là căn cứ để lựa chọn thị trường, cách thức thâm nhập và các chính sách Marketing khác. Một cách khái quát nhất, việc nghiên cứu thị trường nước ngoài được tiến hành theo các nhân tố ảnh hưởng sau:

Nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu: Đó là nhân tố thuộc về hệ thống thương mại toàn cầu. Mặc dù xu hướng chung trên thế giới là tự do hóa mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt hàng rào ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh nước ngoài phải đối mặt với các hạn chế thương mại khác nhau. Phổ biến nhất là thuế quan, một loại thuế do chính phủ nước ngoài đánh vào những sản phẩm nhập khẩu. Nhà xuất khẩu cũng có thể phải đối mặt với hạn ngạch.

Thương mại thế giới cũng bị ảnh hưởng bởi hạn chế do việc kiểm soát ngoại hối và đối diện với một loạt các hàng rào phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, những sự quản lý, điều tiết định hình như phân biệt đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính phân biệt đối xử với hàng nước ngoài.

Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường kinh tế: Để có một quyết định marketing thức rõ tình hình kinh tế của nước sở tại. Tình hình kinh tế được thể hiện qua các thông tin như: Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Một là dân số và thu nhập. Dân số của một nước tạo nên thị trường tiêu thụ. Thu nhập phản ánh khả năng tiêu thụ của thị trường. Khả năng tiêu thụ bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào tổng dân số và thu nhập/đầu người.

Hai là mô hình tiêu dùng. Cơ cấu tiêu dùng giữa các nước khác nhau rất nhiều. Xã hội càng nghèo thì phần trăm thu nhập dành cho lương thực, thực phẩm càng lớn. Những nước giàu số phần trăm thu nhập dành cho mua sắm đồ đạc hay thuê nhà, thuê nhà nhiều hơn.

Ba là tổng sản phẩm quốc nội và mức GDP bình quân đầu người theo đầu người qua các năm

Ngoài ra còn những thông tin khác như: tình hình sản xuất và sản lượng của một quốc gia nào đó về từng mặt hàng cụ thể, tỷ giá hối đoái và sự biến động giá cả, hệ thống ngân hàng, bán buôn, bán lẻ… cũng rất cần thiết song các nhà làm công tác marketing quốc tế chỉ cần quan tâm và tìm kiếm những thông tin kinh tế và tài chính có liên quan đến các quyết định marketing của mình.

Môi trường chính trị, pháp luật: Do sự khác nhau về hệ thống chính trị, hình thái chính phủ, các quốc gia đều có những thể chế khác biệt. Sự am hiểu về các loại hình chính phủ rất có lợi cho việc thẩm định không khí chính trị trước khi đi đến các quyết định marketing. Từ sự khác nhau về hệ thống chính trị dẫn đến sự khác nhau về các chính sách kinh tế. Ở một số nước mục đích chính trị bao trùm lên lợi ích kinh tế. Để đánh giá được môi trường marketing tiềm năng, công ty cần nhận biết và đánh giá được những dấu hiệu khó khăn về chính trị có liên quan đến các hoạt động kinh doanh như sự rối loạn và bất ổn của xã hội, sự bất hòa nội bộ, những khác biệt về văn hóa, màu da, tôn giáo…

Đối với hệ thống pháp luật của một nước, thì không một nhà kinh doanh giỏi nào lại không quan tâm đến các chính sách và luật lệ. Cho dù công ty đóng ở đâu, thâm nhập vào thị trường nào cũng đều bị ảnh hưởng bởi hệ thống pháp luật và chính sách của nước ấy. Và để kinh doanh thành công, các nhà marketing cần đi sâu và hiểu rõ môi trường pháp lý và tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến hoạt động marketing quốc tế của mình. Do đó khi xem xét khả năng mở rộng hoạt động sang một thị trường nước ngoài cần chú ý đến các nhân tố sau:

  • Thái độ của chính phủ đối với ngoại thương: bảo hộ mậu dịch hay mậu dịch tự do.
  • Thỏa ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.
  • Qui chế của chính phủ đối với các luật lệ, văn phòng đại diện và chi nhánh của Công ty ở nước ngoài.
  • Các thủ tục hải quan, thuế hải quan những qui định và các yếu tố ảnh hưởng đến buôn bán.
  • Giấy phép xuất nhập khẩu, hồi chuyển lợi tức, qui định về lương thực, thực phẩm, y tế, an toàn kiểm dịch cần phải đảm bảo.
  • Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản có liên quan.
  • Thuế ngoài thuế xuất nhập khẩu: thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp…
  • Hạn ngạch xuất nhập khẩu. (quota)
  • Luật pháp trong quảng cáo của từng nước, luật chống phá giá.
  • Chính trị có ổn định không?
  • Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hóa: Mỗi quốc gia đều có những tập tục, quy tắc, bản sắc riêng. Chúng được hình thành theo truyền thống văn hóa mỗi nước và có ảnh hưởng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó.

Văn hóa tồn tại lâu đời, truyền từ đời này qua đời khác nên khó bị phá vỡ, rất bền vững và có ảnh hưởng mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng. Nhưng văn hóa cũng rất năng động, luôn luôn thay đổi và có thể học được. Do quan niệm về giá trị thay đổi theo thời gian nên các nhà hoạt động marketing xuất khẩu cần nắm bắt để theo kịp những biến đổi về thị hiếu để lợi dụng trào lưu vắn hóa mới.

 Ðặc điểm văn hóa – xã hội khác nhau ở các nước thường được thể hiện ở các mặt như quan niệm về thời gian, không gian, ngôn ngữ, tôn giáo. Hiểu rõ những nét đặc trưng của từng nền văn hóa là cơ sở để tạo nên sản phẩm phù hợp với nhu cầu và chủ động trong đàm phán kinh doanh, cố áp đặt lên đối tác của mình những cách cư xử cũng như của mình, là một cách trực tiếp gây khó chịu cho khách hàng và có thể rất dễ thất bại trong kinh doanh.

Môi trường cạnh tranh: Sự hấp dẫn của thị trường nước ngoài còn chịu ảnh hưởng quan trọng của mức độ cạnh tranh trên thị trường đó. Trước hết, các nhà kinh doanh nước ngoài phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh nội địa và các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên thị trường đó. Khi phân tích lợi thế cạnh tranh của công ty mình cần lưu ý đến lợi thế hiện có và lợi thế tiềm năng và cần lưu ý những điểm sau:

  • Ai là đối thủ cạnh tranh hiện tai và ai là đối thủ cạnh tranh trong tương lai?
  • Mục tiêu, chiến lược của đối thủ cạnh tranh là gì?
  • Sức mạnh nổi bật của từng loại đối thủ.
  • Dự toán về lợi suất và thời gian hoàn vốn đầu tư
  • Kiểm tra và phân tích kỹ các chính sách tín dụng, các điều khoản tín dụng để lường trước những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.2.3.2. Vài nét về hoạt động nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Thị trường là tổng số nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó, là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm ( hay dịch vụ) nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của hai bên: người tiêu dùng và người bán theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả sản phẩm. Đối với doanh nghiệp, tốt nhất nên hiểu thị trường là nơi có nhu cầu được đáp ứng. Nghiên cứu thị trường trong marketing quốc tế bao gồm tất cả các phương pháp nhằm đánh giá xem những thị trường nước ngoài nào sẽ tiềm năng nhất cho các sản phẩm của doanh nghiệp. Trong cuốn “Marketing quốc tế”, PGS.TS Nguyễn Trung Vãn đã rút ra kết luận: “ Nghiên cứu thị trường là việc  tập hợp, thu thập và phân tích dữ liệu về thị trường, con người, kênh phân phối để cung cấp những thông tin hữu ích trước khi đưa ra các quyết định Marketing cần thiết”[7].

Nghiên cứu thị trường thế giới là một quá trình thu thập tài liệu và các thông tin về thị trường, so sánh và phân tích các thông tin đó, rút ra kết luận về xu hướng biến động của thị trường thế giới trong từng ngành hàng, nhóm hàng tạo cơ sở để xây dựng các chiến lược marketing của các doanh nghiệp. Cụ thể quá trình này phải giải quyết các vấn đề sau:

  • Xác định nước nào là thị trường có triển vọng nhất cho việc xuất khẩu hàng của ta hoặc họ đáp ứng việc nhập khẩu với điều kiện thuận lợi, khả năng mua bán là bao nhiêu.
  • Xác định mức cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, đặc điểm mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh .
  • Áp dụng những phương thức mua bán cho phù hợp sản phẩm của chúng ta muốn thâm nhập thị trường đó cần đạt yêu cầu về chất lượng (ISO.9000; HACCP), số lượng, bao bì đóng gói…
  • Thu thập thông tin chính xác, đầy đủ kịp thời về tình hình thị trường.
  • Tiến hành rút ra sự vận động của thị trường, dự báo được dung lượng của thị trường, mức biến động của giá cả, trên cơ sở đó xử lý các nguồn thông tin, đề ra các chiến lược Marketing.

Xuất khẩu bao giờ cũng phức tạp hơn nhiều trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong nước vì có những ràng buộc quốc tế, sự khác biệt về đồng tiền thanh toán, chính sách luật lệ và đặc biệt là sự thiếu hiểu biết lẫn nhau…là những trở ngại lớn cho xuất nhập khẩu. Chính vì thế để tiến hành một chiến dịch marketing xuất khẩu hiệu quả thì công tác chuẩn bị cần hết sức thận trọng và chu đáo. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.2.3.3. Sự cần thiết phải nghiên cứu thị trường nước ngoài trong marketing xuất khẩu

Trong kinh doanh xuất khẩu, việc nghiên cứu các yếu tố của thị trường kinh doanh quốc tế có một tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp. Đây là một hoạt động vô cùng quan trọng, vì những lí do sau:

  • Môi trường Marketing khác nhau: Đây là yếu tố mà các chuyên gia nghiên cứu thị trường nước ngoài không thể bỏ qua. Môi trường kinh doanh khác nhau, nên sự vận dụng các phương pháp giống nhau trên mọi thị trường là điều bất hợp lý. Chính vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu thị trường nước ngoài trước khi tiến hành hoạt động marketing xuất khẩu.
  • Cung cấp thông tin để áp dụng Marketing mix tại thị trường nước ngoài: Nghiên cứu thị trường là khâu cơ bản để thu thập thông tin nhằm tiến hành các chiến lược marketing mix ở thị trường nước ngoài. Nếu không có hoạt động này, các doanh nghiệp sẽ không có cơ sở để vận dụng các chiến lược marketing mix phù hợp môi trường và thị trường nước ngoài.
  • Hạn chế rủi ro khi đầu tư hoặc thâm nhập thị trường nước ngoài
  • Giúp các chính phủ hoạch định chính sách về thứ tự ưu tiên các chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư.
  • Hoạt động này sẽ giúp các doanh nghiệp tìm ra được thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu của mình.

1.2.3.4. Lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu

Để đưa ra được một chiến lược marketing xuất khẩu hữu hiệu, trong khâu lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu các nhà quản trị marketing xuất khẩu cần lưu ý ba vấn đề sau:

  • Không nên tập trung vào từng sản phẩm riêng biệt hay từng thị trường riêng biệt
  • Ngoài những biện pháp tập trung vào việc phân đoạn thị trường, quá trình lựa chọn thị trường còn cần phải tập trung vào những biện pháp chiến lược rộng lớn hơn được sử dụng trong khi lập kế hoạch mang tính chiến lược. Những biện pháp này phải phán ánh được mức độ hấp dẫn chung của thị trường và vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường đó.
  • Hơn ai hết các nhà quản trị marketing xuất khẩu cần đóng một vai trò chủ đạo trong quá trình đề ra chiến lược xuất khẩu, bởi vì trong quá trình xây dựng chiến lược marketing xuất khẩu phải vận dụng nhiều đến những khái niệm marketing như thị phần, vòng đời sản phẩm, xác định thị trường, phân đoạn thị trường, thị trường mục tiêu…

Trong quá trình lựa chọn thị trường cần phải thẩm định xem khả năng của công ty có đáp ứng được nhu cầu của thị trường hay không. Việc lựa chọn thị trường không thể dựa hoàn toàn vào cơ sở lý thuyết marketing mà còn phải phụ thuộc vào khả năng và mục tiêu của công ty đặt ra trong chiến lược tổng thể của công ty.

Một quyết định nữa trong chiến lược marketing xuất khẩu có liên quan đến việc lựa chọn thị trường là quyết định hướng phát triển của thị trường xuất khẩu. Liệu công ty có nên tiếp tục phát triển, giữ vững, hay từ bỏ vị trí của mình ở thị trường cũ hay mở rộng, thâm nhập thị trường mới. Quyết định hướng phát triển của thị trường không thể tách rời những quyết định lựa chọn thị trường. Những quyết địn này là những vấn đề tổng thể trong marketing xuất khẩu.

1.3. CÁC CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX TRONG XUẤT KHẨU Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

1.3.1. Chiến lược sản phẩm xuất khẩu

Trên thị trường nước ngoài, các quyết định về sản phẩm rất phức tạp do nhu cầu và môi trường khác nhau. Khi xác lập chiến lược sản phẩm quốc tế, nhất thiết phải phân tích và tôn trọng các yêu cầu kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn, sức khỏe, và bảo vệ môi trường, kiểm tra các đặc tính thương mại của sản phẩm nhằm thích nghi với nhu cầu của thị trường. Các quyết định và chính sách về sản phẩm mà công ty cần quan tâm đến đó là:

  • Chiến lược về thương hiệu của sản phẩm xuất khẩu.

Thương hiệu sản phẩm cho phép khách hàng xác định người sản xuất hay phân phối và phân biệt sản phẩm đó với sản phẩm cạnh tranh. Khi bán hàng thông qua hệ thống các nhà phân phối nước ngoài, các công ty cần phải đảm bảo rằng sản phẩm được bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng với đúng nhãn hiệu của nó. Để một nhãn hiệu được xác định ở thị trường nước ngoài thì người sản xuất cần phải thực hiện truyền tin và xúc tiến, cũng như tạo lập và cũng cố lòng tin người tiêu dùng đối với hình ảnh nhãn hiệu. Công ty cần cụ thể hóa những đặc tính độc đáo của sản phẩm sao cho chúng có liên hệ với hình ảnh một nhãn hiệu được nhận biết và hấp dẫn. Tên thương hiệu hiệu phải ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc và dễ đánh vần, không dễ dàng nhầm lẫn với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu quốc tế cũng có thể sử dụng trên nhiều thị trường khác nhau, và được củng cố thông quá các chương trình quảng cáo bằng hình ảnh và minh họa.

Thương hiệu là một khái niệm trừu tượng. Thương hiệu tạo nên hình ảnh, uy tín, sản phẩm của công ty và đọng lại trong tâm trí khách hàng theo thời gian. Trong kinh doanh quốc tế, vai trò của thương hiệu rất lớn, đặc biệt đối với những thương hiệu mạnh, nổi tiếng, tạo được ấn tượng, hình ảnh đẹp trong tâm trí khách hàng do chất lượng rất đáng tin cậy. Thương hiệu sản phẩm luôn luôn là nội dung lớn của chiến lược sản phẩm quốc tế, đồng thời là tài sản hàng đầu của mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn coi trọng vấn đề thương hiệu khi thâm nhập vào thị trường thế giới.

  • Quyết định về bao bì của sản phẩm Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

 Bao bì trong marketing quốc tế phải đảm bảo thực hiện chức năng vốn có của nó. Đó là các chức năng như thông tin về sản phẩm và nguồn gốc của nó, phân biệt sản phẩm của công ty so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, thuận tiện trong việc chuyên chở và vận chuyển ra nước ngoài, bảo vệ sản phẩm và dễ dàng cho việc sử dụng. Mức độ yêu cầu bảo vệ sản phẩm về phương diện vật chất trên thị trường quốc tế thường quan trọng hơn so với thị trường nội địa. Bao gói là một trong những yếu tố chủ chốt của việc phát triển nhãn hiệu trên các thị trường quốc gia khác nhau. Nó giúp người tiêu dùng quốc tế nhận ngay ra nhãn hiệu và những đặc tính cơ bản của sản phẩm liên quan đến khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của họ. Nhìn chung, quyết định về bao gói sản phẩm phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chi phí nguyên vật liệu phục vụ trực tiếp cho việc đóng gói, chi phí cho trung gian, giá trị và đặc tính riêng biệt của sản phẩm, loại hình vận chuyển…

Chiến lược bao bì cũng cần phải chú ý đến sự khác biệt giữa các quốc gia và yêu cầu đóng gói. Một điều quan trọng là phải xác định ngay từ đầu những yêu cầu và quy định trong việc đóng gói bao bì cho sản phẩm phân phối tới các quốc gia khác nhau. Bởi vì nó liên quan đến một số luật lệ đặc biệt về nguyên vật liệu sử dụng để đóng gói, kiểu ký hiệu, yêu cầu về việc thu lại hoặc tái sử dụng nguyên liệu.

  • Chiến lược tiêu chuẩn hóa sản phẩm

Nếu một công ty chỉ sản xuất ra một hệ sản phẩm theo một tiêu chuẩn giống nhau, một kiểu dáng giống nhau, một chất lượng giống nhau, cùng một lúc chào hàng cho thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài, cách làm này gọi là chiến lược sản phẩm toàn cầu hay còn gọi là tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Trên tất cả các thị trường quốc tế, công ty bán cùng một loại sản phẩm với những chiến dịch quảng cáo giống nhau và theo cùng cách thức khuyến mại mà công ty đã sử dụng trên thị trường nội địa. Đó thường là sản phẩm đáp ứng những nhu cầu cơ bản giống nhau. Chiến lược này tỏ ra hấp dẫn trong những điều kiện không kéo theo những khoản chi phí bổ sung và nghiên cứu, sản xuất và xúc tiến bán.

  • Chiến lược thích nghi hóa sản phẩm

Một thái cực khác đó là sản phẩm được sản xuất thích nghi với nhu cầu đặc thù của người mua hay một nhóm người mua hoặc thị trường nước ngoài thì được gọi là sản phẩm được sản xuất thích nghi với thị trường. Quyết định thay đổi sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sở thích khách hàng nước ngoài, khả năng chi phí cải biến sản phẩm, quy định thể chế của nước nhập khẩu, hàng rào phi thuế quan, khả năng thích nghi sản phẩm mới với môi trường…

Phần lớn các công ty tìm cách phát triển chiến lược sản phẩm sao cho có thể tối ưu hóa lợi nhuận dài hạn hoặc tối đa hóa giá trị hiện tại các dòng tài chính gắn liền với các hoạt động trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, lựa chọn chiến lược nào cho phép đạt được các mục tiêu trên không phải là đơn giản và không có câu trả lời chung. Thử thách đối với các công ty hoạt động trên thị trường quốc tế là phải phát triển những chiến lược và chính sách sản phẩm hiệu quả, có thể nhạy bén trước những biến đổi của nhu cầu thị trường, của cạnh tranh và của các nguồn lực của công ty trên phạm vi quốc tế. Chính sách sản phẩm phải cân đối giữa nhu cầu với những lợi thế cạnh tranh có được từ việc tập trung nguồn lực của công ty vào một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn.

1.3.2. Chiến lược giá cả xuất khẩu Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Quản lý giá và các chiến lược giá trong marketing xuất khẩu phức tạp hơn so với marketing nội địa. Công ty phải đưa ra các quyết định về giá ban đầu cho các đối tượng khách hàng khác nhau, về thay đổi giá hiện tại, về giá cho chủng loại sản phẩm, về hình thức và mức độ kiểm soát về giá trên các thị trường khác nhau, về giá chu chuyển nội bộ trong công ty và về mức khác biệt giữa giá nội địa và giá quốc tế. Quyết địn giá bán sản phẩm trên thị trường quốc tế là một quá trình phức tạp do cùng một lúc phải giải quyết nhiều mối quan hệ. Hơn nữa, việc hình thành mức giá còn khó khăn thêm bởi vấn đề thiếu thông tin, phản ứng khác nhau của người tiêu dùng, sự giao động thường xuyên và mức chênh lệc lớn về tỷ giá hối đoái.

Khi doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường mới, việc định giá cho sản phẩm là hết sức quan trọng. Trong giáo trình Marketing quốc tế của trường Đại học Ngoại Thương, các tác giả có liệt kê các chiến lược định giá cơ bản là:

  • Chiến lược giá hớt váng ( Skimming pricing)

Đây là chính sách định giá cao, giúp nhà xuất khẩu đạt mức lời cao ngay từ khi tung sản phẩm vào thị trường, sau đó hạ giá để thu hút thị phần mới. Chiến lược này chỉ được áp dụng với những điều kiện sau:

  • Sản phẩm là hoàn toàn mới, có kết cấu phức tạp, công nghệ cao, đối thủ cạnh tranh khó bắt chước
  • Không có nguy cơ giá cao sẽ kích thích những đối thủ cạnh tranh sẽ nhảy vào thị trường
  • Sản phẩm mới lạ, độc đáo
  • Sản phẩm có năng lực cạnh tranh áp đảo trên thị trường
  • Doanh nghiệp độc quyền được công nghệ

Với những điều kiện trên sẽ giúp doanh nghiệp không có hoặc chỉ có rất ít đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong hiện tại và tương lai.

  • Chiến lược giá thâm nhập Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Đây là cách định giá hàng thấp hơn giá phổ biến trên thị trường thế giới nhằm mở rộng thị phần. Công ty sẽ thu được lợi nhuận qua việc chiếm ưu thế trên thị trường và trong những trường hợp nhất định, người ta có thể xác định giá thấp hơn chi phí. Việc định giá thấp sẽ kích thích nhu cầu thị trường mở rộng nhiều hơn, chi phí sản xuất giảm dần theo quy mô và kinh nghiệm tích lũy được đồng thời có khả năng giảm bớt cạnh tranh hiện tại và tiềm năng. Tuy nhiên, khi xác định mức giá thâm nhập cần xác định mức giá đủ thấp để không gây phản ứng cạnh tranh trực tiếp từ các đối thủ cạnh tranh sẵn có trên thị trường.

Chiến lược giá thâm nhập đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích trong ngắn hạn và dài hạn bao gồm: lợi thế về giá sản phẩm, phát triển thị phần, giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm và gia tăng hiệu quả kinh doanh.

Tuy nhiên phải chú ý đến điều kiện áp dụng phương pháp định giá thấp là:

  • Chi phí sản xuất và phân phối cho mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống khi số lượng sản phẩm tăng
  • Thị trường phải nhạy bén với giá cả
  • Việc hạ giá phải làm nản lòng đối thủ cạnh tranh, công ty phải có nguồn tài chính đủ mạnh
  • Sau này rất khó tăng giá trở lại vì người tiêu dùng đã quen với giá thấp
  • Chiến lược định giá theo giá hiện hành

Định giá theo giá hiện hành là cách định giá làm cho giá sản phẩm sát mức giá phổ biến trên thị trường để xác định mức giá đưa ra cao hơn, bằng hoặc thấp hơn. Cách định giá này đơn giản, vì doanh nghiệp chỉ cần xác định mức giá phổ biến trên thị trường để điều chỉnh giá xuất khẩu sản phẩm. Nhược điểm của nó là khi đưa ra thị trường thế giới một sản phẩm hoàn toàn mới thì chưa có giá của sản phẩm tương đương để so sánh. Bên cạnh đó, định giá theo giá hiện hành không tính đến sự thay đổi chi phí, cung và cầu hàng hóa trên thị trường.

1.3.3. Chiến lược phân phối sản phẩm

Các chuyên gia Marketing quốc tế thường quan tâm đến những mô hình kênh phân phối mà họ gặp trên thị trường thế giới. Để đưa hàng hóa thâm nhập được thị trường thế giới, nhiệm vụ thiết lập kênh phân phối quốc tế vô cùng phức tạp. Tổ chức xuất khẩu phải sắp xếp sao cho phân phối được sản phẩm ở quốc gia sẽ tiêu thụ. Quyết định cơ bản mà mọi tổ chức xuất khẩu đều giáp mặt là: Trong phạm vi nào thì chúng ta dựa vào đại diện thị trường trực tiếp chứ không phải là sự đại diện của các trung gian độc lập? Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Kênh phân phối trực tiếp: Phân phối trực tiếp là hình thức nhà sản xuất tạo lập kênh phân phối hàng hóa ở thị trường nước ngoài mà không qua bất kỳ trung gian trong nước nào. Đối với một sản phẩm chưa được thiết lập trên một thị trường, lợi ích của giới thiệu trực tiếp là những nỗ lực quan trọng luôn được đảm bảo bằng sự đầu tư của nhà kinh doanh. Một lợi thế lớn khác là khả năng phản hồi thông tin từ thị trường. Thông tin này có thể cải thiện rất nhiều các quyết định marketing xuất khẩu liên quan đến sản phẩm, giá cả, truyền thông và phân phối. Trong trường hợp này, nhà sản xuất rất chủ động trong việc thâm nhập thị trường và quản lý hoạt động phân phối hàng hóa tốt hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng kênh phân phối trực tiếp sẽ tốn kém cả thời gian và tiền của của nhà sản xuất. Nếu quy mô phân phối của nhà sản xuất nhỏ, thì đây sẽ là một chiến lược phân phối khá tốn kém.

Kênh phân phối gián tiếp: ở những thị trường nhỏ hơn, việc thiết lập đại diện trực tiếp thường không khả thi bởi vì số lượng bán không đủ bù đắp chi phí. Nếu doanh nghiệp thâm nhập thị trường bằng hình thức xuất khẩu gián tiếp thì cần phải lựa chọn hệ thống phân phối thích nghi cho mỗi thị trường, các hệ thống này bao gồm các đại diện thương mại, các đại lý, các nhà phân phối, các nhà bán lẻ trực tiếp cho người tiêu thụ cuối cùng…

Đại diện thương mại: Một nhà đại diện thương mại thường phụ trách đại diện cho nhiều hệ thống thương mại hoặc sản xuất có thể bổ sung cho nhau nhưng không cạnh tranh với nhau. Đại diện thương mại thường hoạt động trên cơ sở hưởng hoa hồng, không gánh chịu rủi ro hoặc trách nhiệm. Đại diện thương mại có thể làm việc trên cơ sở độc quyền hoặc không độc quyền.

Đại lý: Đại lý hoạt động trên cơ sở hoa hồng và lượng hàng hóa tiêu thụ ở thị trường nước ngoài nhưng không có quyền sở hữu hàng hóa. Nhà sản xuất có quyền đặt ra những chính sách nhằm hướng dẫn hay xác định mức giá cho hàng hóa, hoặc có thể yêu cầu đại lý cung cấp thông tin về tình hình tiêu thụ và tình hình khách hàng.

Nhà bán buôn: Nhà buôn thực sự nắm quyền sở hữu đối với hàng hóa của nhà sản xuất, họ phải hoàn toàn gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa đó, vì vậy loại hình trung gian này phát triển hơn đại lý. Nhà buôn là người mua hàng của nhà xuất khẩu với một giá có chiết khấu và bán lại hàng hóa đó để kiếm lời. Nhà buôn chuyên nghiệp thường phân phối một loạt nhiều sản phẩm có thể bổ sung cho nhau nhưng không cạnh tranh với nhau. Việc sử dụng nhà buôn có những lợi thế như: dễ dàng giao dịch, giảm thiểu rủi ro tín dụng, loại trừ được khả năng toàn bộ hàng hóa được mua bán bên ngoài nước.

Trong trường hợp này, nhà sản xuất bán hàng hóa của mình cho một công ty trong nước, công ty này có trách nhiệm xuất khẩu sản phẩm đó ra thị trường thế giới. Công ty đó sẽ là đại lý trong nước nếu nó không có quyền sở hữu hàng hóa, và sẽ là nhà buôn trong nước nếu như có quyền sở hữu hàng hóa. Đây là một cách thức đơn giản và ít tốn kém. Tuy nhiên, hạn chế của hoạt động này là việc giao nhiệm vụ phân phối hàng hóa cho trung gian khác có thể ảnh hưởng tới sự thành công cũng như lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trong tương lai. Hơn nữa, với mục tiêu phân phối hàng hóa vì lợi nhuận, công ty trung gian có thể sẽ ngừng việc phân phối nếu không có lợi nhuận hoặc nếu sản phẩm của đối thủ hứa hẹn mang lại mức lợi nhuận cao.

  • Marketing qua kênh của người khác Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

( Piggyback Marketing – PM): Đây là một sự đổi mới trong phân phối trên phạm vi quốc tế. Nó là một sự dàn xếp qua đó một nhà sản xuất phân phối sản phẩm của mình ở nước ngoài thông qua các kênh phân phối của người khác. Nhà sản xuất sử dụng phương pháp này sẽ phải bỏ ra chi phí thấp hơn nhiều so với chi phí đòi hỏi bởi sự phân phối trực tiếp. Biện pháp Marketing này muốn thành công thì chủng loại sản phẩm phải có tính bổ sung lẫn nhau. Chúng phải cùng thu hút một đối tượng khách hàng và không được cạnh tranh lẫn nhau. Nếu những đòi hỏi này được đáp ứng, phương thức này sẽ là một cách có hiệu quả trong việc sử dụng một hệ thống kênh phân phối quốc tế khai thác lợi thế của cả hai bên.

1.3.4. Chiến lược yểm trợ (xúc tiến) xuất khẩu

Xúc tiến thương mại là lĩnh vực hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại. Các công cụ xúc tiến hỗn hợp như quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền và bán hàng cá nhân đều có thể được sử dụng trong marketing quốc tế. Tuy nhiên, do thị trường và môi trường kinh doanh thay đổi từ quốc gia này sang quốc gia khác nên các công cụ này cũng phải thích ứng với các quốc gia cụ thể.

1.3.4.1. Các chiến lược cụ thể thường gặp trong hoạt động yểm trợ xuất khẩu

Chiến lược kéo: Chiến lược kéo là chiến lược yểm trợ kinh doanh hướng vào người tiêu dùng cuối cùng nhằm thu hút lôi kéo họ mua hàng xuất khẩu của doanh nghiệp. Điều kiện áp dụng chiến lược kéo là chất lượng sản phẩm tốt, mức giá hấp dẫn và có thể kết hợp quảng cáo. Ví dụ, khi ra mắt sản phẩm máy tính xách tay tại thị trường Việt Nam, Sam sung cũng công bố chương trình khuyến mại hấp dẫn. Theo đó, khách hàng là người tiêu dùng cuối (không phải là khách hàng dự án) khi mua sản phẩm máy tính xách tay của Samsung sẽ được nhận ngay những quà tặng có giá trị như Máy in Samsung ML-1640 khi mua MTXT Samsung R480 hoặc R430; Wireless Router Linksys WRT54GH khi mua MTXT Samsung R428; Ổ quang gắn ngoài Samsung S084C khi mua MTXT Samsung N150. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Chiến lược đẩy: Chiến lược đẩy là chiến lược nhằm tác động mạnh vào các trung gian để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Điều kiện áp dụng chiến lược đẩy là kết hợp quảng cáo với kênh phân phối tiện lợi. Hàng hóa được đưa ra các kênh phân phối, đến tận các điểm bán lẻ trong khi khách hàng chưa hiểu biết nhiều về sản phẩm, khách hàng phải dựa vào sự hướng dẫn, giới thiệu của nhân viên bán hàng trước khi đưa ra quyết định mua. Ví dụ, P&G thúc đẩy doanh số bán hàng sản phẩm dầu gội đầu Pantene bằng việc đưa ra phương thức thưởng theo doanh thu đối với các đại lý của mình để tạo động lực cho các đại lý đẩy mạnh nỗ lực hơn nữa trong việc bán sản phẩm đến người tiêu dùng.

Chiến lược kết hợp kéo và đẩy: Chiến lược kết hợp kéo và đẩy có thể cân đối hài hòa giữa việc sử dụng công cụ quảng cáo và bán hàng cá nhân. Các doanh nghiệp cần phải phân tích thị trường và xác định được nhu cầu sử dụng hai công cụ yểm trợ chủ yếu này ở từng thị trường mục tiêu nước ngoài cụ thể. Tuy nhiên, khả năng có thể tiếp cận với cả hai công cụ này đều có thể bị hạn chế theo cách khác nhau ở mỗi nước.

1.3.4.2. Các kỹ thuật yểm trợ cơ bản

Quảng cáo quốc tế: Muốn thực hiện quảng cáo quốc tế thành công phải quan tâm đặc biệt đến ba công việc chính: Tạo ra những chiến lược quảng cáo phù hợp với thị trường quốc tế, xác định và lựa chọn những phương tiện truyền thông tốt nhất để truyền tải thông điệp, lựa chọn hoặc điều hành một hãng quảng cáo có đủ khả năng để đảm trách công việc quảng cáo quốc tế.

Quan hệ công chúng: Những mối quan hệ công chúng có ảnh hưởng đến việc tạo ra và duy trì danh tiếng. Hoạt động này tạo ra một hình ảnh tốt đẹp của toàn bộ hoạt động và sản phẩm của công ty thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông khác. Tuy nhiên cần chú ý những điểm sau:

Xác định rõ những nhóm công chúng khác nhau mà công ty cần tác động đến và những thông điệp sẽ được những nhóm công chúng này nhiệt tình đáp lại Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

Xác định cách tiếp cận những nhóm khách hàng mục tiêu như thế nào là tốt nhất. Điều này đòi hỏi nghiên cứu xem các phương tiện truyền thông đại chúng, phương tiện nào được nhóm khách hàng lớn của công ty tiếp cận nhiều nhất.

Marketing quốc tế trực tiếp: Bao gồm thư trực tiếp, bán hàng qua điện thoại, các bản giới thiệu hàng hóa…Marketing trực tiếp là một phương thức bán hàng ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở Tây Âu và Mỹ. Thư trực tiếp là một phương tiện linh hoạt, có khả năng đạt hiệu quả cao trong việc xúc tiến với khách hàng nước ngoài. Các thư này có thể gửi đến các thị trường mục tiêu, mang tính cá nhân, chọn lọc và hữu ích để thông tin cho khách hàng, đặc biệt là những khách hàng tổ chức.

Marketing quan hệ( Relationship Marketing – RM): Là một cách tiếp cận marketing nhằm tìm kiếm và thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng dựa trên lòng tin và thiết lập mối quan hệ hợp tác tương trợ lẫn nhau. RM bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ và tiếp xúc mang tính cá nhân giữa khách hàng và đại diện của doanh nghiệp làm xuất hiện mối quan hệ giữa các bên về trách nhiệm tương trợ, sự thống nhất của hãng gắn với sự quan tâm của khách hàng. Với những doanh nghiệp xuất khẩu thì các khách hàng được xem như là thành viên của quá trình Marketing chứ không phải là các cá nhân bị ảnh hưởng bởi một lần bán. Cần thấy rằng các đơn hàng lặp lại từ các khách hàng cũ tạo ra nhiều lợi nhuận nhiều hơn so với khách hàng mới vì không cần tiêu tiền vào quảng cáo hay chi phí công tác cho nhân viên bán hàng. Các kỹ thuật marketing quan hệ bao gồm việc cung cấp rộng rãi thông tin về hãng và sản phẩm của nó, cá nhân hóa việc truyền thông với khách hàng, quà và hàng mẫu gửi tặng, việc quản lý cẩn thận các quan hệ với khách hàng cụ thể. Các nhà cung cấp cố gắng tạo ra và củng cố mối quan hệ lâu dài, tối đa hóa lợi nhuận trong các quan hệ lâu bền, tương trợ lẫn nhau, liên tục, không ngừng với các khách hàng của hãng. Trong thực tế việc áp dụng Marketing quan hệ đã trở nên thuận tiện hơn nhiều bởi sự phát triển của công nghệ thông tin, cho phép công ty có được những thông tin chi tiết về cá nhân tổ chức khách hàng của công ty.

Khuyến mại quốc tế: Đây là hoạt động xúc tiến nếu được sử dụng một cách cẩn thận sẽ có thể trở thành một công cụ đặc biệt có hiệu quả đối với marketing ở nước ngoài. Chúng có thể được dùng để kích thích mua sắm, khuyến khích khách hàng trung thành, điều hòa nhu cầu theo mùa vụ, tăng tần suất mua lại và nói chung tạo được sự chú ý tới doanh nghiệp và các sản phẩm của nó. Các khoản chi phí của doanh nghiệp cho xúc tiến bán hàng đã tăng lên nhanh chóng trên toàn thế giới.

Hội chợ: Hội chợ thương mại là hình thức kích thích tiêu thụ hay xúc tiến bán hàng lâu đời nhất trên thế giới. Hội chợ có thể giúp một công ty trong một vài ngày tiếp cận được nhóm khách hàng tập trung có lợi ích tiềm năng mà có thể sẽ mất vài tháng để tiếp xúc nếu không có hội chợ. Hội chợ đặc biệt hữu ích trong việc giới thiệu các sản phẩm mới ra thị trường vì doanh nghiệp có thể thu nhận được phản ứng ban đầu đối với sản phẩm mới của khách hàng, các nhà phân phối, các đối thủ cạnh tranh, các đại lý tiềm tàng, các nhóm lợi ích khác. Khóa luận: Ứng dụng Marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng Marketing xuất khẩu doanh nghiệp dệt may

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993