Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Phân tích thực trạng hoạt động ngoại thương Việt Nam 1 năm sau gia nhập WTO dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
2.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XNK VIỆT NAM 1 NĂM SAU GIA NHẬP WTO
2.1.1. Hoạt động xuất khẩu
Năm 2025 là năm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2024-2028 và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2019-2028. Đây là năm đối với hoạt động thương mại nước ta được hưởng qui chế thành viên của WTO, điều này tạo cơ hội cho hàng hoá Việt Nam tiếp cận với nhiều thị trường hơn với mức thuế suất thấp hơn với một số mặt hàng… Là cơ hội góp phần gia tăng kim ngạch XK. Sau một năm trở thành thành viên của WTO, XK hàng hoá của Việt Nam đạt được kết quả quan trọng, vượt kế hoạch đề ra, thị trường XK được mở rộng cả ở thị trường truyền thống và các thị trường mới có nhiều tiềm năng. Giá trị XK hàng hoá của Việt Nam năm 2025 ước đạt 48,34 tỷ USD tương đương 67,4% GDP, tăng 20.5% so với năm 2024. Bình quân một tháng XK đạt được hơn 4 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay [9; tr.11]. Tuy mức tăng XK thấp hơn năm 2024 nhưng tổng kim ngạch XK hàng hoá năm 2025 đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Tổng kim ngạch XK hàng hoá năm 2025 đã gấp 20 lần năm 2008, gấp 8,8 lần năm 2013, và 3.3 lần năm 2018. Tỷ lệ giữa kim ngạch XK so với GDP của Việt Nam đạt ở mức khá cao tăng nhiều so với các năm trước đây. Mức này của Việt Nam được coi là cao so với mức tỉ lệ chung 22% của thế giới, là một trong những mức cao nhất trong nhóm các nước ASEAN (Xem bảng 6)
- Bảng 6: Kim ngạch XK 2008-2025
Năm 2025, tuy XK chưa có sự đột phá nhưng phần lớn các mục tiêu XK các mặt hàng chủ lực đều hoàn thành kế hoạch đề ra, kim ngạch XK các mặt hàng đều tăng cả về giá trị lẫn sản lượng. Năm 2025, các mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch XK lớn hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước 8,5% gồm có: Gạo,cà phê, hạt điều, hạt tiêu, dệt may, hàng thuỷ sản, giày dép, hàng điện tử và linh kiện điện tử, đồ gỗ, dây điện và cáp điện. Sản phẩm nhựa và túi xách va li, ô dù. Số mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch XK gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ có 7 mặt hàng: Cà phê (29,4%), hạt tiêu (82.8%), dệt may (28.5%), đồ gỗ (29.4%), dây và cáp điện (41.9%), sản phẩm nhựa (45.8%), túi xách vali ôdù (29.2%) [9, tr.12].
Trong các mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam năm 2025 có 15 mặt hàng có kim ngạch XK lớn: dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, đồ gỗ, hàng điện tử và linh kiện điện tử, cơ khí, cà phê, gạo,cao su, dây điện và cáp điện, than đá, thủ công mĩ nghệ, sản phẩm nhựa, túi xách và vali, hạt điều. Giá trị kim ngạch XK 15 loại mặt hàng này đạt 37.39 tỷ USD chiếm trên 77.9% tổng kim ngạch XK cả nước. Năm 2025, Việt Nam có 10 mặt hàng XK đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng một mặt hàng so với năm 2024 [9, trg. 7]. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
- Bảng 7: Kim ngạch các mặt hàng XK chủ lực năm 2025
Năm 2025 là năm đầu tiên khu vực 100% vốn trong nước đạt tăng trưởng hiếm they, tiếp tục đạt kết quả cao (cả về qui mô và tốc độ tăng kim ngạch XK). Khu vực doanh nghiệp FDI năm 2025 đạt kim ngạch XK khoảng 27,75 tỷ USD (kể cả dầu thô) chiếm tỷ trọng 57.8% tổng kim ngạch XK cả nước, tăng 20.5% so với năm 2024. Doanh nghiệp vốn trong nước chỉ đạt 20,25 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42.2% tổng kim ngạch và tăng 20.6% so với năm 2024 [27]. Cũng theo Bộ Công Thương, nhóm các địa phương là các trung tâm kinh tế lớn vẫn tiếp tục ở tốp dẫn đầu. Bình Dương vượt 5 tỷ USD tăng 27.5% so với năm 2024, Hà Nội vượt 4 tỷ USD, Tp. Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục dẫn đầu với tổng kim ngạch (không kể dầu thô) là hơn 6 tỷ USD [9, tr. 12].
Về thị trường XK, trong năm qua ngành ngoại thương Việt Nam đã không ngừng tận dụng cơ hội để mở rộng hơn nữa thị trường các nước là thành viên WTO. Cụ thể như sau:
Khu vực thị trường Châu Á- Thái Bình Dương: Dự kiến kim ngạch XK cả năm đạt 24.5 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024, chủ yếu là do tăng XK các nhóm hàng nông sản và mặt hàng dây điện và cáp điện. Tuy tỷ trọng của khu vực này trong tổng kim ngạch XK vẫn lớn nhất nhưng có xu hướng giảm dần, từ 52.4% năm 2024 xuống 51.04% năm 2025 [9, tr.13]. Trong đó tỷ trọng thị trường TQ, Nhật Bản, ASEAN một thị trường rất gần về mặt địa lí với Việt Nam lại có xu hướng giữ nguyên hoặc giảm. Các sản phẩm chính sang thị trường này gồm có: Dầu thô, sản phẩm gỗ, giầy dép, hải sản và sản phẩm nhựa.
Khu vực thị trường Châu Âu: Dự kiến năm 2025, kim ngạch XK đạt 9.52 tỷ USD tăng 20% so với năm 2024, chủ yếu là các mặt hàng dệt may, thuỷ sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa và đồ thủ công mĩ nghệ [9, tr.13]. Các mặt hàng xe đạp và giầy mũ da tiếp tục gặp khó khăn do EU áp thuế chống bán phá giá.
Khu vực thị trường Châu Mĩ: Dự kiến năm 2025 đạt kim ngạch XK là 11.66 tỷ USD tăng 29% so với năm 2024 [9, tr.13]. XK hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng trong đó hàng dệt may, hàng thuỷ sản, giày dép, sản phẩm gỗ, cà phê vẫn là những mặt hàng có mức tăng trưởng khá cao. Khu vực thị trường Châu Phi- Tây Á và Nam Á: Năm 2025 dự kiến XK đạt 1.82 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2024, thị trường có mức tăng trưởng khá cao ở khu vực này gồm: Các tiểu Vương quốc ả rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kì và Israel [9, tr.13]. Riêng các thị trường Co-oet, Iracq, Pakistan tình hình chính trị không ổn định nên khả năng XK của Việt Nam còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
- Nhìn vào XK trong năm vừa qua có thể rút ra một số đánh giá như sau:
Mặc dù trong năm 2025, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, XK chưa có đột phá song đã tăng trưởng vượt mức kế hoạch đề ra (17.4%).
Kim ngạch XK các mặt hàng XK chủ lực đạt tốc độ tăng trưởng cao. Mặc dù trong năm XK gặp nhiều áp lực cạnh tranh và các rào cản thương mại nhưng nhiều mặt hàng XK chủ lực đã sớm thích ứng và đạt kim ngạch XK cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra.
Cơ cấu hàng XK tiếp tục chuyển biến tích cực. Bên cạnh các mặt hàng có khối lượng và kim ngạch tăng thì xuất hiện thêm nhiều mặt hàng mới, so với năm 2024 có thêm 1 mặt hàng XK trên 1 tỷ USD đưa số mặt hàng có kim ngạch XK lớn hơn 1 tỷ lên con số 10. Trong số các mặt hàng XK chủ lực có những mặt hàng có kim ngạch XK xếp thứ hạng cao so với các nước XK trên thế giới, có khả năng ảnh hưởng tới thị trường thế giới như: gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều, chè.
Với việc mở cửa thị trường theo lộ trình cam kết trong WTO, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài biết tận dụng thời cơ và thể hiện sự vượt trội khả năng cạnh tranh của mình so với các doanh nghịêp trong nước. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục tăng cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước. Đây là động lực quan trọng đối với tăng trưởng XK của cả nước.
So với năm 2024 thị trường XK hàng hoá dịch vụ tiếp tục được mở rộng cả ở thị trường truyền thống và thị trường mới có tiềm năng. Riêng thị trường TQ và ASEAN có xu hướng giảm là điều rất đáng được quan tâm, do chúng ta chưa tận dụng được các cơ hội từ khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và khu mậu dịch tư do ASEAN- TQ (ACFTA).
2.1.2. Hoạt động nhập Khẩu Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Kim ngạch NK năm 2025 của Việt Nam ước đạt 57 tỷ USD, tăng 27% so với năm 2024. Trong đó kim ngạch NK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài NK 21 tỷ USD, chiếm 36.8% tổng kim ngạch NK và tăng 27.3% so với năm 2024. Kim ngạch NK của các doanh nghịêp 100% vốn trong nước ước đạt 36 tỷ USD chiếm 63.2% tổng kim ngạch NK cả nước, tăng 27.2% so với năm 2024. Các mặt hàng NK chủ yếu là máy móc thiết bị và nguyên, nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng trên 90% tổng kim ngạch NK, riêng NK hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng cá nhân chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ ( Tỷ lệ tương ứng năm 2024: 93.6%; 6.4%, cả giai đoạn 2019-2023 là 93.2%; 6,8%) [9, tr.13].
Trong năm 2025, các mặt hàng NK có kim ngạch lớn là máy móc, thiết bị, phụ tùng: 8.5 tỷ USD, tăng 28.2% ; xăng dầu: 6.9 tỷ USD, tăng 15.4%; thép thành phẩm: 3.2 tỷ USD, tăng 46.4%; linh kiện điện tử, máy tính: 2.5 tỷ USD, tăng 22.1%; nguyên phụ liệu dệt may là 2.3 tỷ USD, tăng 17.9%; chất dẻo nguyên liệu:2.4 tỷ USD tăng 28.6%; hoá chất nguyên liệu: 1.3 tỷ USD, tăng 24.8%; vải:3.9 tỷ USD, tăng 30.7% và sau đó là nguyên, nhiên, vật liệu quan trọng phục vụ cho các hoạt động sản xuất trong nước và gia công xuất khẩu như: bông, xơ các loại, linh kiện ô tô, linh kiện xe máy, giấy các loại và phân bón các loại [9; tr.13].
Thị trường nhập khẩu năm 2025 tập trung chủ yếu vào Châu Á, trong đó kim ngạch nhập khẩu từ TQ và ASEAN vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các thị trường NK của cả nước, kim ngạch NK từ ASEAN chiếm khoảng 25%, từ TQ chiếm khoảng 20%.
Tuy nhập khẩu được đánh giá là cơ bản phục vụ tốt cho sản xuất hàng XK, phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ và tiêu dùng trong nước, nhưng với kim ngạch NK năm 2025 ước đạt 57.0 tỷ USD thì mức nhập siêu đạt mức kỉ lục hơn 10 tỷ USD, cao hơn nhiều so với năm 2024. [9, tr.14].
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu đạt ở mức cao trong năm 2025, trước hết là do các giải pháp nhằm hạn chế nhập siêu chưa được triển khai quyết liệt và có hiệu quả ở các ngành và doanh nghiệp, chưa đẩy mạnh sản xuất trong nước nhóm hàng vật tư – thiết bị phục vụ xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất và phục vụ XK hiện có nhu cầu lớn; chưa tập trung năng lực các ngành sản xuất những mặt hàng có rào cản thuế quan nhập khẩu, đã và sẽ giảm mạnh trong thời gian tới do cam kết hội nhập…Thứ hai, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công chế biến và nguyên liệu thô. Điều này cũng cho thấy, một mặt, nền sản xuất trong nước còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu, vật liệu, thiết bị nhập khẩu, mặt khác, tính gia công của XK còn lớn, tuy Việt Nam đã trải qua một chặng đường hơn 20 năm đổi mới. Bên cạnh đó nhiều dự án phục vụ cho sản xuất hàng tư liệu sản xuất như xăng dầu, máy móc thiết bị, bao gồm cả công nghiệp phụ trợ trong nước lại triển khai quá chậm chạp, càng làm cho nền kinh tế vốn đã phụ thuộc nguyên liệu bên ngoài nay lại càng phụ thuộc thêm. Thứ ba, năm 2025 giá thế giới nhiều loại hàng hoá tăng nhanh làm cho giá trị nhập của Việt Nam sẽ tăng lên. Thêm vào đó do nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất và đầu tư chiều sâu tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng đã dẫn đến lượng hàng hoá nhập khẩu tăng mạnh. Do vậy trong thời gian tới cán cân thương mại của Việt Nam sẽ vẫn trong tình trạng nhập siêu. Điều quan trọng là phải kiềm chế mức độ nhập siêu bằng cách đẩy mạnh XK làm cho tốc độ tăng XK cao hơn tốc độ tăng NK. Hơn nữa, là thành viên của WTO Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường XK hàng hoá chọn lựa các thị trường NK phù hợp thúc đẩy sản xuất.
2.2. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC SO VỚI TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.2.1. Về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Gia nhập WTO đòi hỏi các cơ chế chính sách của chúng ta phải phù hợp với những qui định trong WTO, không có bất cứ một ưu đãi bảo hộ nào nữa. Chính do động lực như vậy, môi trường pháp lí của chúng ta trong kinh doanh trong và ngoài nước ngày càng được hoàn thiện, đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Với tư cách là cơ quan quản lí nhà nước về lĩnh vực thương mại, bộ công thương đang tiếp tục thực hiện một loạt các giải pháp hỗ trợ cho các hoạt động XNK của doanh nghịêp trên một số hướng như sau. Trước hết, tập trung tăng cường các cơ hội tiếp cận thị trường cho hàng XK Việt Nam. Theo hướng này, Bộ Công Thương đang chủ trì tiến trình đàm phán về các khu mậu dịch tự do với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… nhằm dỡ bỏ các rào cản thuế và phi thuế cho hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam sang các thị trường này. Các hoạt động xúc tiến cũng được tăng cường và đa dạng hoá thông qua hệ thống tham tán thương mại và các xúc tiến thương mại quốc gia.Thứ hai, tạo dựng môi trường thương mại minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, phối hợp bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong các vụ kịên bán phá giá, bản quyền…xử lí các hình thức cạnh tranh không lành mạnh; tăng cường công tác vận động các nước khác công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; triển khai luật cạnh tranh…Thứ ba, Bộ Công thương đang từng bước triển khai Chính phủ điện tử, tăng cường cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin với doanh nghiệp qua các cổng thương mại điện tử, hỏi đáp về chính sách thương mại…Đổi mới và khẳng định quyết tâm của Đảng và Chính Phủ Việt Nam tiếp tục sự nghiệp cải cách vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh”. Đó là kết quả của sự chỉ đạo sát sao về đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, nỗ lực thực thi của các Bộ Ngành và sự phấn đấu vươn lên của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó còn có sự đóng góp tích cực của các cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán. Sự trưởng thành về chuyên môn, tinh thần lao động tận tuỵ, sáng tạo của đội ngũ đàm phán Việt Nam đã được chính các đối tác đàm phán và WTO ghi nhận.
Năm vừa qua cũng đa chứng kiến những nỗ lực của Việt Nam trong việc tích cực và chủ động thực hiện tư cách thành viên WTO của mình. Trước hết các bộ ngành đã dành sự quan tâm thích đáng cho việc ban hành các văn bản thực hịên cam kết WTO. Điều này củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế vào quyết tâm của chính phủ Việt Nam thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ thành viên của mình.Thứ hai, để tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức của WTO, trên cơ sở Nghị quyết TW 4 của Đảng, Chính phủ và các bộ ngành, địa phương đã ban hàng các chương trình hành động để cụ thể hoá các nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lí của mình.Thứ ba, trong khuôn khổ WTO, chúng ta đã tiến hành đàm phán với một số đối tác đang xin gia nhập để giải quyết quyền lợi thương mại của Việt Nam. Chúng ta đã kí thoả thuận kết thúc đàm phán gia nhập với Nga, Ucraina với điều khoản công nhận kinh tế thị trường lẫn nhau, bên cạnh các cam kết về mở của thị trường cho các mặt hàng của Việt Nam quan tâm. Ngoài ra, chúng ta cũng tích cực tham gia vào các Uỷ ban đàm phán và cùng các thành viên đóng góp vào nội dung các văn kiện của Vòng Doha. Trong thời gian tới, khi cơ quan đại diện tại Geneve tiếp tục kiện toàn, chúng ta sẽ có điều kiện triển khai nhiều hoạt động hiệu quả, ý nghĩa hơn, nhằm hiện thực hoá tư cách thành viên của mình.
Lợi ích lớn nhất mà WTO mang lại cho ngoại thương Việt Nam chính là môi trường kinh doanh được cải thiện theo hướng minh bạch, thông thoáng giúp huy động có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển. Kinh tế năm vừa qua đạt mức tăng trưởng ngoạn mục 8.5%. Đầu tư nước ngoài có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ năm 2024 và ước đạt mức kỉ lục 20 tỷ USD trong năm 2025. Kim ngạch XK tăng hơn 20.5% đạt 48.34 tỷ USD [2]. Đây là kết quả từ những quyết tâm của Chính Phủ trong đổi mới cơ chế quản lí, nỗ lực của các ngành trong công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự năng động sáng tạo của các doanh nghịêp.
2.2.2. Về thị trường XK Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ nguồn , lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá sản xuất trong nước để xuất khẩu, giá cả XK, công tác quảng cáo tiếp thị … đến thị trường XK. Trong các yếu tố trên, thị trường XK là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi nó tác động đến hầu hết các yếu tố khác và sự tăng trưởng của tổng kim ngạch XK. Trong năm đầu tiên gia nhập WTO, thị trường XK đã có sự chuyển biến tích cực, tỷ trọng các châu lục khác ngoài Châu Á tăng cao.
Châu Á hiện vẫn là thị trường NK hàng của Việt Nam nhiều nhất, chiếm trên 45% tổng kim ngạch XK của Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng XK của Việt Nam vào thị trường Châu Á đang giảm dần do XK đạt vào thị trường này tăng thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng chung của các châu lục. Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau Mĩ và lớn thứ nhất trong khu vực Châu Á. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này. TQ là thị trường nhập khẩu hàng hoá lớn thứ tư thế giới và lớn thứ hai Châu Á của Việt Nam. Thị trường này là một trong những thị trường gần, tiềm năng của nước ta đang được dần dần khai thác.
Đối với thị trường Châu Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong năm đầu tiên gia nhập WTO chúng ta đã đạt những bước tiến quan trọng. Trong năm vừa qua chúng ta đã tận dụng tốt những cơ hội để thâm nhập sâu vào thị trường này. Các mặt hàng chủ yếu xuất sang Hoa Kỳ đó là: hàng dệt may, hàng thuỷ sản, giày dép, sản phẩm gỗ, cà phê.
Thị trường EU, với đặc điểm là một thị trường tương đối khó tính, yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng như xuất xứ, đóng gói vệ sinh an toàn thực phẩm khá chặt chẽ vì thế hàng Việt Nam khi xuất sang các nước EU cần đặc biệt lưu ý vấn đề này. Trong năm 2025, hệ thống kiểm tra an toàn vệ sinh và phong trào khuyến khích áp dụng các qui trình chuẩn đã giúp hàng XK của Việt Nam sang thị trường này ngày càng đa dạng và được ưa chuộng. Các mặt hàng XK chủ lực sang thị trường này là các mặt hàng dệt may, thuỷ sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa và đồ thủ công mĩ nghệ. Trong thời gian tới chúng ta sẽ nâng cao năng lực sản xuất hàng XK đủ khả năng vượt qua những hàng rào phi thuế của EU.
2.2.3. Về cơ cấu các mặt hàng XNK
- Sau khi gia nhập WTO, cơ cấu hàng hoá XNK của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực.
Về XK, cơ cấu các măt hàng XK của Việt Nam đang có xu hướng tăng dẫn tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng chất xám và kĩ thuật, giảm XK các sản phẩm thô. Xu hường này được thể hiện rõ nhất thông qua chỉ tiêu XK dầu thô của nước ta ngày càng giảm (Năm 2025 đạt 8.4 tỷ USD, và sẽ tiếp tục giảm trong năm tiếp theo). Năm vừa qua chúng ta đã XK mặt hàng điện tử và linh kịên điện tử đạt kim ngạch lên tới 2.2 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng kỉ lục. Trong thời gian tới, các mặt hàng XK như dầu thô, nguyên vật liệu dự tính sẽ có kim ngạch giảm dần.
Về cơ cấu hàng NK: năm vừa qua, cơ cấu NK cũng được các doanh nghịêp tập trung cho mục tiêu sản xuất và đầu tư mở rộng năng lực sản xuất. Nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Bên cạnh đó chúng ta cũng cố gắng sản xuất những mặt hàng có thể thay thế hàng nhập khẩu. Tìm các nguồn nguyên liệu đầu vào trong nước để không phải nhập từ bên ngoài nữa, đồng thời cũng giảm thiểu chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp.
2.3. MỘT SỐ HẠN CHẾ Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.3.1. Hạn chế xét trên phương diện kinh tế vĩ mô
2.3.1.1. Tình hình nhập siêu vẫn còn đáng lo ngại
So sánh 7 năm trở lại đây, có thể thấy rằng nhập siêu của nước ta gia tăng khá nhanh: năm 2018 nhập siêu 1,154 tỷ USD; năm 2019 là 1,189 tỷ USD; năm 2020 con số này là 3,040 tỷ USD; năm 2021 tăng vọt lên 5,107 tỷ USD; năm 2022 là 5,484 tỷ USD; năm 2023 là 4,314 tỷ; năm 2024 4,805 tỷ; năm 2025 đạt 12,443 tỷ USD, bằng 25.6% tổng kim ngạch XK (gấp đôi so với mức 12.13% năm 2024), vượt xa tỉ lệ bình quân từ năm 2016-2024 (14,9%) [17, tr.23]. Như vậy sau 7 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thời kì 2019-2028, 2 năm thực hiện kế hoạch năm năm 2024-2028, mục tiêu “kiềm chế đựơc nhập siêu phấn đấu tới cân bằng hợp lí cán cân XNK” không những chưa thực hiện được mà mức nhập siêu sau khi gia nhập WTO của nước ta còn đạt cao hơn. Lí do khiến năm 2025, năm đầu tiên gia nhập WTO nhập siêu lại tăng đột biến là do:
Thứ nhất, ở đầu vào nhập khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu 8 loại nguyên liệu chủ yếu đạt 17,860 tỷ USD, nhưng nếu qui giá năm 2024 thì chỉ đạt 15,234 tỷ USD tức là chỉ tăng 2,583 tỷ USD và 20.41% so với năm 2024 [7; trang 23]. Như vậy, 2,626 tỷ USD chênh lệch là do sốt nóng giá nguyên liệu thế giới và đây chính là “thủ phạm chính” dẫn đến mức nhập siêu tăng đột biến.
Thứ hai, cho dù kim ngạch XK của nước ta trong năm qua đã đạt hơn 48 tỷ USD, với tốc độ tăng hơn 21%, nhưng khoản chúng ta được hưởng do giá cả thế giới sốt nóng lại nhỏ hơn nhiều so với khoản thua thiệt trong đầu vào nhập khẩu. Đặc biệt đáng lo ngại là các mặt hàng XK chủ lực của chúng ta đang giậm chân tại chỗ, thậm chí giảm mạnh trong đầu năm 2026 càng làm cho tình trạng nhập siêu càng trở nên nghiêm trọng hơn. Cụ thể, tổng kim ngạch XK 8 mặt hàng chủ lực năm 2025 tuy đạt 15,625 tỷ USD nhưng nếu qui về giá năm 2024 thì chỉ đạt 13,501 tỷ USD [18, tr.23]. Điều này cho thấy hiện tượng sốt nóng giá cả trên thị trường thế giới đã khuếch đại kim ngạch XK lên 1,764 tỷ USD. Các tính toán nói trên cho thấy hai điều. Trước hết, tuy giá hàng XK tăng, nhưng tăng quá thấp so với giá hàng nhập khẩu. Vậy nên khoản lợi được hưởng còn quá nhỏ so với khoản thiệt phải chịu. Tiếp theo, trong khi nhu cầu nhập khẩu hầu như tất cả các loại hàng hoá chủ yếu nói trên của chúng ta đều tăng phi mã, thì tổng nguồn của 8 mặt hàng này lại giảm nhẹ trong thời gian vừa qua. Điều này cũng khiến cho nhập siêu tăng cao.
Thứ ba, việc nhập siêu đạt kỉ lục chưa từng có về qui mô và tăng đại nhảy vọt về tốc độ trong năm 2025 còn do tốc độ đầu tư của nền kinh tế nước ta. Bởi để thúc đẩy kinh tế không có cách nào khác là phải nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại đầu tư cho phát triển.. Tình trạng nhập siêu đáng lo ngại đang là một hạn chế to lớn đối với nền kinh tế nước ta, đặc biệt khi chúng ta đã gia nhập WTO. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.3.1.2. Hạn chế trong công tác XTTM
Việt Nam đã gia nhập vào WTO, điều này đồng nghĩa với việc môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp đã mở rộng trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên một thực tế nhận thấy khi tham gia thương mại thế giới là dù sản phẩm nước ta có chất lượng giá cả lại phải chăng, nhưng người tiêu dùng nước ngoài cũng như các doanh nghiệp quốc tế còn chưa biết đến. Điều này cũng một phần là do công tác xúc tiến thương mại của chúng ta chưa được hiệu quả, chưa hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp. Có thể khẳng định rằng hoạt động hoạt động XTTM vĩ mô trong thời gian vừa qua đã có những tác động quan trọng đến việc duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định của nền kinh tế, góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh XK tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Tuy nhiên hoạt động XTTM còn nhiều hạn chế về cả mặt nội dung và phương thức chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế và phát triển doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế này là do nhận thức về XTTM chưa đầy đủ, nguồn lực XTTM còn hạn chế, phân tán, năng lực của các tổ chức XTTM còn yếu kém thiếu tính liên kết. Điều này được thể hiện qua một số điểm như sau:
Thứ nhất, khung pháp lí về XTTM còn nhiều điều đáng bàn. Luật TM (sửa đổi) năm 2023 đã bước đầu tiếp cận khái niệm thương mại và XTTM ở phạm vi rộng hơn. Đây là một tiến bộ rất quan trọng làm tiền đề cho việc đẩy mạnh hoạt động XTTM cả về chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, Nghị định số 37/2024/NĐ-CP ngày 4/4/2024 của chính phủ qui định chi tiết Luật Thương Mại về hoạt động XTTM cũng chỉ đề cập tới hoạt động XTTM ở lĩnh vực cụ thể như: khuyến mãi quảng cáo thương mại, hội trợ triển lãm thương mại. Pháp luật hiện hành về XTTM cũng mới chỉ điều tiết hoạt động XTTM của doanh nghiệp, chưa có qui định chung đối với hoạt động XTTM của các tổ chức XTTM không phải là doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thì thương mại nói chung và XTTM nói riêng, cần được xem xét dưới giác độ là thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Theo đó hệ thống các văn bản luật và dưới luật về thương mại và liên quan đến thương mại cần được hoàn thiện và bổ sung một cách đồng bộ. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Thứ hai, về nội dung và phương thức các hoạt động XTTM . Hiện nay các hoạt động XTTM vĩ mô chủ yếu tập trung vào một số chương trình, đề án như phát triển thương hiệu quốc gia, thông tin thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp trong khuôn khổ chương trình XTTM quốc gia. Kết quả thực hiện các chương trình trên trong vài năm quan đã cho thấy, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng các chương trình đề án XTTM mới chỉ tập trung hỗ trợ các hoạt động XTTM truyền thống, ngắn hạn, qui mô nhỏ như khảo sát thị trường, hội chợ triển lãm, cung cấp thông tin cơ bản…thiếu các chương trình có qui mô lớn, dài hạn có vai trò là “đầu tàu” để tạo sức đột phá trong hoạt động XTTM. Các hoạt động XTTM hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ xúc tiến XK đối với sản phẩm XK cơ bản, chưa mở rộng trong các lĩnh vực hết sức đa dạng và quan trọng khác của hoạt động XTTM theo nghĩa rộng như: xúc tiến đầu tư, nhập khẩu, xúc tiến với dịch vụ, chuyển giao công nghệ… Bên cạnh đó trong thời gian vừa qua còn duy ý trí, không xuất phát từ yêu cầu thực tế của doanh nghiệp nên không thu hút được doanh nghiệp tham gia gây lãng phí về nguồn lực.
Thứ ba, về hệ thống các tổ chức thương mại. Hiện nay hệ thống XTTM của chúng ta gồm có:
- Các tổ chức XTTM của chính phủ: Cục XTTM, các trung tâm .
- Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp vừa thực hịên chức năng đại diện cho các doanh nghiệp, vừa thực hiện XTTM hỗ trợ.
- Các tổ chức quốc tế như, các tổ chức phi chính phủ, triển khai các hoạt động XTTM dưới hình thức các dự án các chương trình…
- Các công ty cung ứng dịch vụ tư nhân
- Các tổ chức XTTM của các doanh nghiệp lớn hình thức các trung tâm, bộ phận XTTM, marketing…
Hệ thống này còn có sự lẫn lộn giữa chức năng quản lí nhà nước về XTTM với việc tổ chức các hoạt động XTTM hỗ trợ cho doanh nghiệp. Về tổng thể, hệ thống còn bộc lộ tình trạng chồng chéo, lãng phí, kém hiệu quả.
2.3.1.3. Còn nhiều cơ chế chính sách chưa hợp lí Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Môi trường kinh doanh tại Việt Nam ngày càng thông thoáng đặc biệt là sau khi gia nhập, thực hiện các cam kết của WTO, tuy nhiên vẫn tồn tại một số rào cản gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập tham gia buôn bán kinh doanh ngoại thương.
Thứ nhất, cách tính chi phí hiện tại không phù hợp với cách tính chi phí của WTO. Ví dụ như một số chi phí WTO không cho là trợ cấp như chi phí cho cán bộ đi học, làm nhà cho công nhân… được tính vào giá thành. Nhưng chính sách thuế của Việt Nam lại coi đây là những chi phí không hợp lí và không được tính vào giá thành sản phẩm. Vì thế cần điều chỉnh cách tính chi phí sao cho hợp lí, đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, chống lại các vụ kiện bán phá giá.
Thứ hai, theo tổng cục Hải quan, qua 2 năm thực hiện Nghị định 12/2024/NĐ- CP ngày 23/1/2024 của chính phủ thi hành luật Thương mại và các qui định của các cấp có thẩm quyền đã phát sinh một số khó khăn vướng mắc trong quá trình làm thủ tục Hải quan cho hàng hoá XNK. Các hạn chế được thể hiện như sau: Đầu tiên, là việc ban hành danh mục hàng hóa có mã số HS của các bộ ngành quá chậm. Đến tháng 10/2025 mới có 20/63 danh mục có mã số HS còn 43/63 danh mục chưa ban hành. Việc chậm ban hành hay ban hành mà không có mã số HS đã gây khó khăn cho các cơ quan Hải quan và doanh nghịêp trong thực hiện, nhất là việc chuẩn hoá Danh mục theo yêu cầu áp dụng quản lý Hải quan hiện đại và thủ tục hải quan điện tử. Ngoài ra, trong việc XK khoáng sản, đây là mặt hàng phải đảm bảo điều kiện và tiêu chuẩn được qui định Thông tư 02/2024/TT-BCN của Bộ Công Thương, nhưng việc xác định mỏ nằm trong hay nằm ngoài qui hoạch cân đối phục vụ cho nhu cầu chế biến trong nước, gây nhiều khó khăn cho Hải quan khi làm thủ tục XK. Thêm nữa, đối với việc kiểm tra an toàn thực phẩm của một số mặt hàng thuộc danh mục kèm theo quyết định số 818/QĐ-BYT, khi doanh nghịêp NK khai báo không sử dụng vào mục đích thực phẩm thì vẫn chưa có cơ chế kiểm soát rõ ràng là có cho miễn kiểm tra hay không, thủ tục miễn kiểm tra như thế nào.Nếu cơ quan thẩm quyền cho miễn kiểm tra thì việc quản lí trong nội địa như thế nào để tránh sử dụng lại, gây hậu quả cho xã hội. Chính vì thế, Bộ y tế cần sớm ban hành những văn bản có tính pháp lí đầy đủ để kiểm soát với hàng hoá thực phẩm nhập khẩu không sử dụng vào mục đích thực phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp XNK đồng thời vẫn quản lí chặt mặt hàng này. Liên quan đến vấn đề kiểm dịch, qui định về việc cấp giấy phép chứng nhận kiểm dịch tại Quyết định 48/2025/QĐ- BNN ngày 29/5/2025 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đối với các vật thể phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu vào Việt Nam là một qui định có tính chất quản lí chính sách XNK mặt hàng. Tổng cục Hải quan đã đề nghị Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cầ đưa sang diện quản lí chính sách XNK theo Nghị định 12.
Cũng theo Tổng cục Hải quan về kiểm tra chất lượng hàng hoá NK, vẫn còn thiếu văn bản hướng dẫn chung đối với quyết định 50/2024/QĐ-TTg. Các bộ quản lí chuyên ngành ban hành nhiều văn bản riêng nên cơ quan Hải quan khó theo dõi thực hiện.
2.3.2. Hạn chế xét trên góc độ kinh tế vi mô Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.3.2.1. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ngoại thương còn hạn chế
Gia nhập vào sân chơi chung WTO, đứng trước sức ép cạnh tranh trên toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Ngoại thương nói riêng đã bộc lộ một số hạn chế về năng lực cạnh tranh.
Thứ nhất, là về qui mô doanh nghiệp, nhìn chung các doanh nghiệp của chúng ta còn khá nhỏ lẻ, không có tiềm năng lớn về tài chính cũng như công nghệ. Chính vì thế khi cạnh tranh chúng ta sẽ gặp phải một số bất lợi. Đặc biệt trong một số vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá của Việt Nam, tuy đã là thành viên của WTO, được áp dụng những phương thức giải quyết tranh chấp của WTO, nhưng các doanh nghiệp của chúng ta vẫn không tận dụng được tối đa lợi thế này do không có đủ kinh phí để theo kiện. Ngoài ra, tiềm lực về công nghệ cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp XNK Việt Nam. Công nghệ còn lạc hậu đã làm giảm chất lượng sản phẩm XK, giảm tỷ lệ giá trị gia tăng trong giá thành, gây mất lòng tin với khách hàng quốc tế. Hiện nay, một số mặt hàng XK vẫn áp dụng phương thức sản xuất thủ công, chưa đạt chuẩn quốc tế. Điều này có thể bị các đối tác cho là vi phạm một số rào cản kĩ thuật và trả về nước, gây thiệt hại không nhỏ.
Thứ hai, về công tác quảng cáo giới thiệu sản phẩm ra thị trường quốc tế chưa được quan tâm đúng mức trong các doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam. Các doanh nghiệp trong thời gian vừa qua không chú trọng vào việc nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm tới thị trường quốc tế vì vậy hàng hoá của chúng ta dù chất lượng tốt, giá cả phải chăng nhưng vẫn không chiếm lĩnh được thị trường. Bên cạnh đó, công tác tìm hiểu thị trường, phối hợp với tham tán thương mại để nắm chắc thông tin thị trường vẫn chưa đước áp dụng đúng mức.
Tóm lại trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam nên sớm mở rộng đầu tư, năng lực cạnh tranh và tạo động lực để đẩy nhanh hơn nữa quá trình cải cách của Việt Nam phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt, các doanh nghiệp trong nước cũng phải đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá để tăng sức cạnh tranh mới.
2.3.2.2. Chất lượng sản phẩm còn nhiều điều đáng quan tâm Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng trong hoạt động XNK, đặc biệt là đối với các thị trường tương đối khó tính như EU, Nhật Bản. Đảm bảo chất lượng hàng hoá đồng nghĩa với việc chúng ta nâng cao uy tín Việt Nam trên thị trường quốc tế, giành được niềm tin của khách hàng đối với các sản phẩm của Việt Nam. Tuy nhiên sau 1 năm gia nhập WTO, vấn đề chất lượng vẫn còn nhiều điều đáng nói và đáng phải quan tâm.
Nông nghiệp được coi là lĩnh vực chịu nhiều tác động nhất trong quá trình gia nhập tổ chức WTO. Tuy nông sản cũng là một trong các mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam, nhưng chất lượng hàng nông sản của chúng ta còn nhiều vấn đề đáng phải bàn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do trình độ sản xuất của nông dân còn ở mức độ thấp, bộc lộ nhất là giống cây trồng vật nuôi chưa được kiểm dịch đầy đủ và cũng chưa kiểm soát nguồn gốc. Thứ hai là chưa kiểm soát tốt phân bón hoá học, phân bón. Thứ ba là công tác bảo quản sau khi thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập. Thứ tư là qui mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân diện tích đất còn rất thấp, khoảng 0.7-1 ha/ hộ, vì vậy muốn sản xuất với qui mô lớn, chất lượng đồng đều là rất khó. Thứ năm là giá thành sản phẩm vẫn còn cao, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.
Về các sản phẩm thuỷ sản, đây là mặt hàng mà chúng ta xuất khẩu khá nhiều sang các thị trường EU, Hoa Kỳ. Với việc các nước tăng cường yêu cầu thắt chặt vấn đề VSATTP nên các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối đầu với những khó khăn to lớn. Nếu như chúng ta vẫn duy trì qui mô và phương thức nuôi trồng như hiện nay ( nhỏ lẻ, tự phát, không theo qui chuẩn) sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu của các thị trường trên thề giới, đặc biệt là thị trường Nhật Bản và EU.
Trong năm tiếp theo gia nhập WTO, các doanh nghiệp ngoại thương Việt Nam phải chú trọng hơn nữa vấn đề chất lượng sản phẩm. Cần nghiên cứu kĩ yêu cầu của thị trường nhằm tìm ra phương thức đáp ứng một cách hiệu quả nhất.
2.3.2.3. Chưa khai thác hết thị trường tiềm năng
WTO với 150 quốc gia thành viên, là một thị trường hứa hẹn đầy tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Tuy nhiên trong năm vừa qua, mặc dù thị trường đã không ngừng được mở rộng nhưng xét một cách tổng thể, chúng ta vẫn chưa thực sự khai thác hết tiềm năng thị trường của các thành viên WTO khác.
Nhật Bản được đánh giá là thị trường tiềm năng cho hàng XK Việt Nam. Nếu cố gắng hơn nữa, trong thời gian tới nước ta có thể đạt mục tiêu XK tăng trên 17% và có thể đạt tới 19-20%, vượt mục tiêu mà Bộ Công Thương đề ra. Trong những năm gần đây, XK của Việt Nam chỉ chiếm khoảng trên dưới 0.9% trong tổng số hàng mà Nhật Bản phải nhập từ nước ngoài. Như vậy cho thấy tiềm năng ở thị trường Nhật Bản còn rất lớn.Thời gian vừa qua, các doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp xúc tiến thương mại thúc đẩy quảng bá vào thị trường này rồi nâng cao chất lượng sản phẩm, thế nhưng kết quả thực tế mang lại vẫn chưa cao do chất lượng sản phẩm XK liên tục vi phạm qui định của Nhật bản nên kim ngạch giảm sút. Hơn nữa thị trường Nhật Bản hội tụ rất nhiều đối thủ cạnh tranh nên để thắng được phải áp dụng cạnh tranh trên bình diện hàng hoá, doanh nghiệp và quốc gia.
2.3.2.4. Chưa chú trọng vào xây dựng thương hiệu Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam không có thương hiệu lớn và không tập trung đúng mức vào vấn đề xây dựng thương hiệu. Tại các trung tâm thương mại lớn của Việt Nam nhưng lại có rất ít thương hiệu Việt Nam, thậm chí chỉ tính chưa hết đầu ngón tay. Trong khí đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng không chú trọng vào việc hoạch định chiến lược xây dựng thương hiệu. Mặc dù Cục xúc tiến thương mại đã phát động rất nhiều hoạt động nhằm xây dựng thương hiệu nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn không quan tâm đúng mức. Tại Việt Nam có khoảng 250.000 doanh nghiệp tư nhân và 2018 doanh nghiệp nước ngoài [28] , thế nhưng có rất ít doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu. Việt Nam chưa thực sự có một doanh nghịêp nào có thương hiệu lớn mạnh trên qui mô toàn thế giới. Không những vậy, xét trên bình diện khu vực doanh nghiệp nước ta cũng chưa có thương hiệu uy tín, được người tiêu dùng tin tưởng.
2.4. NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG NĂM 2026
2.4.1. Mục tiêu đề ra trong năm 2026
Năm 2026, kinh tế thế giới dự báo sẽ tăng trưởng ở mức cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế, các hạt động thương mại đầu tư du lịch … sẽ tiếp tục sôi động. Là năm thứ 2 Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động XNK nước ta trong năm 2026 sẽ tiếp tục phát triển hơn, tuy chưa có những đột phá lớn nhưng kim ngạch lẫn qui mô thị trường vẫn tiếp tục mở rộng.Trong báo cáo của Chính Phủ tại kì họp thứ hai. Quốc Hội khoá XII đã xác định mục tiêu cụ thể về XNK trong năm 2026 là:
- Kim ngạch XK đạt 57.6 -58.6 tỷ USD, tăng 20-22% so với năm 2025. Trong đó kim ngạch XK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( không bao gồm dầu thô) đạt 24.8 tỷ USD, chiếm trên 42% tổng kim ngạch XK, tăng 27.2% so với năm 2025.
- Cơ cấu XK: Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 14.9%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng 30%; nhóm hàng lâm sản tăng 17.9% so với năm 2025.
- Thị trường XK lớn nhất của Việt Nam năm 2026 sẽ tiếp tục là thị trường Mỹ, chiếm tỷ trọng 21% và thị trường EU với tỷ trọng 20%, tiếp đến là thị trường ASEAN (16%), và Nhật Bản ( 14%).
- Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2026 dự kiến đạt gần 7 tỷ USD, tăng 16.8% so với năm 2025.
- Nhập khẩu đạt 68.4- 69.5 tỷ USD, tăng 20-22% so với năm 2025; trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 5 tỷ USD, chiềm gần 40% tổng kim ngạch NK và tăng 31% so với năm 2025.
- Cơ cấu các mặt hàng NK nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng chiếm tỷ trọng 26.3% tổng kim ngạch NK, nhóm nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất 66.2% và nhóm hàng tiêu dùng 7.5%.
- Thị trường NK của Việt Nam năm 2026: Các mặt hàng nguyên nhiên liệu cơ bản vẫn nhập từ thị trường Châu Á (Chiếm tỉ trọng khoảng 75-85%) tiếp theo là EU và Châu Mĩ. Ưu tiên nhập khẩu những công nghệ nguồn từ những nước tiên tiến.
- Kim ngạch NK dịch vụ năm 2026 dự kiến đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 18.9% so với năm 2025.
- Nhập siêu năm 2026 dự kiến khoảng 8- 10.9 tỷ USD, bằng 18.6 – 18.7% tổng kim ngạch XK. Trong chỉ đạo điều hành phấn đấu theo hướng giảm tỷ lệ nhập siêu xuống thấp hơn.
2.4.2. Cơ hội Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.4.2.1. Xu hướng giá tăng cao của các mặt hàng XK
Tình hình thị trường quốc tế trong thời gian vừa qua biến đổi không ngừng. Giá cả các mặt hàng đặc biệt là các mặt hàng nông thuỷ sản như : gạo, cà phê, cao su, thuỷ sản, tiêu, điều… đều tăng đã đóng góp một phần không nhỏ làm kim ngạch XK của Việt Nam tăng mạnh trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó hàng hoá của Việt Nam cũng không ngừng nâng cao chất lượng, vì thế ngày càng chiếm được lòng tin từ người tiêu dùng trên toàn thế giới. Các mặt hàng có giá đang tăng mạnh cụ thể đó là:
Gạo: Trong hai vụ thu hoạch lúa vừa qua bà con nông dân trên cả nước đã trúng mùa lớn, năng suất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long lên tới 6.5 tấn/ ha. Cá biệt, tại một số địa phương như huyện Gò Công Đông (Tiền Giang) có năng suất lúa bình quan cao kỉ lục.: gần 7 tấn/ha. Không chỉ trúng mùa, các doanh nghịêp XK xuất khẩu cũng vui mừng khi giá gạo tăng cao. Đầu năm 2026, giá gạo 5% tấm xuất khẩu được chào bán theo giá FOB là 355 USD/ tấn; đến khoảng giữa tháng 1 năm 2026 giá tiếp tục tăng lên 40USD/ tấn. Không dừng lại ở đó, giữa tháng 2, giá gạo XK của Việt Nam lên tới 460 USD/tấn, là mức cao nhất trong vòng 34 năm qua. Không chỉ tăng mạnh, mà lần thứ hai kể từ quí 3 năm 2026, giá gạo Việt Nam đã vượt qua Thái Lan, cùng kì năm ngoái giá gạo Thái Lan tăng 71- 73% thì năm nay giá gạo Việt Nam cũng đã tăng lên 78 – 82%. Trong thời gian tới theo dự kiến một số quốc gia như Thái Lan, Pakistan sẽ cắt giảm cung do lo ngại tình hình thiếu lương thực. Vì thế giá gạo sẽ còn tiếp tục tăng [29].
Cà phê: Giá cà phê trên thị trường thế giới đã tăng trở lại ở hầu hết các thị trường giao dịch chủ chốt. Tại Newyork, nhu cầu mua vào của giới kinh doanh tăng lên, các nhà kinh doanh địa phương và các quỹ cũng đẩy mạnh hoạt động mua bù thiếu là nguyên nhân chính đẩy giá cà phê arabica giao kì hạn tăng mạnh và chạm mức cao trong vòng 10 tháng trở lại đây. Giá cà phê arabica giao tháng 12/2024 đã tăng lên mức 1.2340 USD/pound, giá vào tháng 3/2025 là 1,2725 USD/pound. Tại London giá cà phê robusta cũng được hỗ trợ từ sự tăng giá của thị trường Newyork và nhu cầu tăng cao. Giá cà phê robusta tháng 1/2025 đã đạt mức 1458 USD/tấn [29]. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.4.2.2. Cơ cấu hàng của Việt Nam phù hợp với thị trường
Cơ cấu hàng XK của Việt Nam tương đồng với cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước khác trong ASEAN như Thái Lan, Philippin…với thế mạnh là hàng nông sản do vậy việc gia nhập WTO sẽ ít ảnh hưởng đến việc gia tăng XK những mặt hàng này. Gia nhập vào WTO, chúng ta sẽ được hưởng mức thuế suất ưu đãi từ các nước ngoài khu vực AFTA. Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, Việt Nam đã không ngừng đưa ra những chính sách phát triển cơ cấu hàng XK, cố gắng tăng hàm lượng giá trị gia tăng của hàng XK, chỉ nhập khẩu những mặt hàng phục vụ đắc lực cho sản xuất và xuất khẩu trong nước, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, mặt hàng trong nước có thể tự sản xuất được. Nhìn vào thực trạng hoạt động XNK trong năm vừa qua, có thể nhận thấy cơ cấu hàng hoá XNK của Việt Nam đang chuyển biến tích cực, góp phần không nhỏ giúp tăng kim ngạch XNK của cả nước.
2.4.2.3. Nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ
Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng cao và giá thành hợp lí ( do cắt giảm thuế quan nhập khẩu chẳng hạn như sợi 5%, vải 12%, mức cắt giảm chung từ 17.4% xuống còn 13.4%) [4] để sản xuất hàng XK, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam với hàng hoá của các nước ASEAN khác. Việc mua nguyên liệu đầu vào với mức giá rẻ sẽ giúp hàng hoá của chúng ta có thể hạ giá thành sản xuất, thu hút người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nhóm các mặt hàng tận dụng công nghệ, đầu tư của các nước phát triển có khả năng cạnh tranh và xuất khẩu sang các nước ASEAN như: điện tử và linh kiện điện tử, máy vi tính và linh kiện, dây điện và cáp điện, dệt may và hải sản chế biến. Hiện nay khi nước ta vẫn đang trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá thì việc nhập khẩu máy móc kĩ thuật nâng cao năng lực sản xuất trong nước là vô cùng cần thiết. WTO sẽ mở ra cho nước ta một cơ hội lớn được tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, giá cả phải chăng.
2.4.2.4. Thị trường không ngừng được mở rộng
Năm thứ hai gia nhập WTO, thị trường XNK của Việt Nam sẽ tiếp tục được mở rộng trên toàn thế giới. Đặc biệt các thị trường Mĩ, EU, Nhật Bản sẽ tiếp tục được khai thác mạnh mẽ trong thời gian tới, tạo điều kiện cho kim ngạch XK của Việt Nam tăng cao. Khi chưa gia nhập WTO, với nền kinh tế mở cửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã từng bước mở rộng quan hệ thương mại với các nước khu vực ASEAN và trên thế giới. Trong mối quan hệ thương mại này, nước ta với lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ tay nghề cao, chiếm ưu thế trong gia công sản phẩm XK. Nhưng trong những mối quan hệ thương mại quốc tế thì vẫn là nước chịu nhiều thiệt thòi do chưa thiết lập được hiệp định thương mại song phương và đa phương với những đối tác của mình, đặc biệt là những thị trường lớn như thị trường mậu dịch tự do Bắc Mĩ, thị trường mậu dịch tự do EU. Một minh chứng điển hình là việc XK cá da trơn (cá tra, cá basa), tôm vào thị trường Mĩ, giầy dép vào thị trường EU. Với giá XK rẻ, các doanh nghiệp Việt Nam bị các nước này áp đặt là bán phá giá. Các quốc gia này đã “ bảo vệ sản xuất trong nước”, bằng cách áp dụng chính sách bảo hộ thông qua đánh thuế nhập khẩu rất cao gây rất nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Khi tham gia WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với 149 thành viên và vị thế thị trường ngang nhau với tất cả các quốc gia đó. Hàng hoá có thể thâm nhập thị trường khổng lồ này mà không gặp bất cứ trở ngại nào, miễn là không vi phạm những qui chế và cam kết đã kí, đủ sức cạnh tranh với hàng hoá cùng loại và hàng hoá thay thế.
2.4.3. Thách thức Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.4.3.1. Cạnh tranh ngày càng gay gắt, nguy cơ bị kiện bán phá giá tăng lên
Tham gia vào WTO là gia nhập vào một sân chơi rộng lớn, bao gồm cả những nước phát triển, đang phát triển, kém phát triển. Do phải áp dụng những qui định của WTO, các doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức cạnh tranh khốc liệt của các nước thành viên khác. Xét trên bình diện chung, khi mà doanh nghiệp nước ta vẫn còn chưa đủ tiềm lực về tài chính và công nghệ thì việc cạnh tranh với các tập đoàn lớn mạnh sẽ là một thách thức to lớn. Tuy nhiên bù lại, doanh nghiệp của chúng ta có một nguồn hàng dồi dào, giá rẻ do chi phí nhân công nguyên vật liệu thấp nên vẫn được các thị trường trên toàn thề giới ưa chuộng.
Ngoài sức cạnh tranh gay gắt thì nguy cơ bị kiện bán phá giá cũng là một thách thức không nhỏ. Chắc chắn sau khi gia nhập WTO, nguy cơ này sẽ gia tăng. Cho đến nay Việt Nam đã là đối tượng bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong hàng chục vụ việc khác nhau. Đặc biệt, những mặt hàng nhạy cảm dễ bị kiện bán phá giá như dệt may, kim khí, hoá chất, thiết bị và dụng cụ điện…lại là những mặt hàng XK chủ lực của các nước đang phát triển nói chung và của Việt Nam nói riêng hiện tại và trong tương lai. Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam gồm những điều khoản đặc biệt về chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ mà các nước đối tác thương mại có thể sử dụng chống lại hàng XK của Việt Nam. Đáng chú ý nhất là việc các đối tác lợi dụng tư cách “nền kinh tế thị trường” của Việt Nam trong vòng 12 năm quá độ sau khi gia nhập WTO để tiến hành về điều tra bán phá gía, chưa kể họ cũng sử dụng biện pháp “tự vệ với từng sản phẩm” trong thời kì quá độ. Tất nhiên với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam có thể sử dụng cơ chế giải quyết các tranh chấp của WTO để chống lại sự lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá của các nước đối tác thương mại. Nhưng cơ chế này chỉ có tác dụng hạn chế trong ngắn hạn, vì nhiều lí do, trong đó có năng lực pháp lí và tài chính để theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá của các chủ thể có liên quan ở Việt Nam là còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.4.3.2. Các rào cản thương mại phi thuế ngày càng tinh vi hơn
Gia nhập WTO chúng ta được hưởng rất nhiều ưu đãi về thuế quan của các nước thành viên, đặc biệt là ưu đãi của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên không phải ưu đãi hoàn toàn, các nước không ngừng đưa ra những rào cản phi thuế như rào cản về kĩ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ sản xuất trong nước. Hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn này, nếu muốn gia tăng kim ngạch XK sang các thị trường như Hoa Kỳ, EU, Nhật… Theo công bố của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC), hàng dệt may của Việt Nam vào thị trưòng này sẽ bị giám sát kể từ đầu năm 2025. Tuy nhiên DOC cũng không có dấu hiệu gì chứng minh hàng xuất khẩu của Việt Nam bán phá giá trên thị trường Hoa Kỳ.Đối với thị trường EU, một thị trường tương đối khó tính trong việc tiêu thụ các sản phẩm thì vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường là hai yếu tố quan trọng hàng đầu . Hiện nay có 2 tiêu chuẩn quan trọng về môi trường mà hàng XK của Việt Nam phải vượt qua khi xuất sang thị trường Châu âu đó là: ISO: 14001 và EMAS. Cả hai tiêu chuẩn này đều dựa trên các tiêu chuẩn quản lí chất lượng ISO: 9000. EMAS chủ yếu được áp dụng cho các công ty sản xuất tại EU và chỉ được áp dụng rộng rãi ở Đức. Hệ thống EMAS tương đối khó với doanh nghịêp Việt Nam và tốn nhiều chi phí. Do vậy, các công ty nên sử dụng ISO:14001.
Gia nhập WTO, đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đảm bảo tuân theo hiệp định “ về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật” ( Hiệp định SPS). Việc áp dụng SPS là một thách thức lớn đối với các doanh nghịêp có qui mô nhỏ, gắn với thị trường bằng chuỗi thị trường có qui mô nhỏ lẻ. Tuy nhiên nếu đáp ứng được những qui định trong hiệp định này sẽ chứng tỏ năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
2.4.3.3. Nhập siêu vẫn tiếp tục gia tăng
Trong thực tế 3 tháng đầu năm 2026, nhập siêu đã là 1 tỷ USD, tăng 75,4% so với cùng kì năm ngoái. Tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch XK cũng đang ở mức 22.2%, cao gấp rỡi tỉ lệ nhập siêu 15.2% của tháng 1 năm 2025. Tháng 2, mức nhập siêu tăng phi mã lên mức 3,3 tỷ USD cộng dồn 2 tháng đầu năm, nhập siêu đạt 4,3 tỷ USD bằng 49.2% tổng giá trị XK hàng hoá và cao hơn nhiều so với tỷ lệ 15.9% của 2 tháng đầu năm 2025. Và hết quí 1 năm nay, nhập siêu lại thiết lập một kỉ lục mới với 7,4 tỷ USD, bằng 56.6% giá trị XK hàng hoá và tăng gấp 3,5 lần so với quí 1 năm 2025. Theo đà này, nhập siêu cả năm 2026 có thể lên đến 28 tỷ USD (cao hơn mức dự báo 20 tỷ USD cách đây 1 tháng và vượt xa con số nhập siêu như kế hoạch năm 2026 của Bộ Công Thương ước tính đạt 17 tỷ USD [17, tr.23]. Đây là tín hiệu không mấy khả quan, cảnh báo mức nhập siêu trong cả năm 2026 có thể sẽ đạt đến kỉ lục mới. Lần đầu tiên trong vòng 20 năm qua, TP. HCM một trung tâm xuất khẩu và dịch vụ XK lớn nhất của cả nước, đã nhập siêu. Theo báo cáo của sở Thương mại Tp. HCM tại hội nghị thường kì kinh tế xã hội quí 1, các doanh nghiệp trên địa bàn Tp. HCM đã xuất khẩu kể cả dầu thô là 5,2 tỷ USD, tăng 32,4% so với cùng kì năm ngoái. Tuy xuất khẩu tăng mạnh như vậy nhưng vẫn không thể cứu vãn nổi nhập siêu. Theo thống kê tại hội nghị này, toàn thành phố nhập khẩu đạt khoảng 5.78 tỷ USD, tăng tới 53,3% so với cùng kì năm 2025 và nhập siêu khoảng 580 triệu đôla. Trong khi đó Thành phố Hà Nội cũng công bố con số nhập siêu rất lớn trong quí 1 là 3,142 tỷ USD (trong khi tổng nhập siêu cả nước là 7,4 USD) [17, tr.24]. Điều nghịch lí trong năm đầu tiên gia nhặp WTO chính là thị trường xuất nhập khẩu. Đó là, trong khi chúng ta xuất siêu vào các nước tiên tiến thì lại nhập siêu mạnh từ các nước Châu á, đặc biệt là các nước trong khu vực. Chỉ tính riêng quí I/2026 nhập siêu từ CHND Trung Hoa đã lên đến 1134.6 triệu USD, từ Singapore là 826.3 triệu USD, từ Đài Loan là 749.7 triệu đola, từ Hàn Quốc là 653.8 triệu đôla, từ Thái Lan là 400.2 triệu đôla [17, tr.24]. Điều này càng khẳng định một nghịch lí buồn, đáng lẽ đối với thị trường các nước phát triển tiên tiến, nước ta phải nhập siêu để tiếp tục thu những sản phẩm hiện đại nhất là nguồn tri thức và công nghệ thì ta lại xuất siêu. Ngược lại đối với các nước Châu Á, Việt Nam lại luôn trong tình trạng nhập siêu. Việc nhập siêu này quả thực không hề có lợi, bởi những sản phẩm từ thị trường này không mang tính chiến lược lâu dài. Do có sự tương đồng về trình độ nên không tiếp thu được khoa học hiện đại của họ. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Không chỉ vậy, thực tế đang bộc lộ rõ sự phân chia đẳng cấp và thực lực giữa 2 khu vực kinh tế trong nước và nước ngoài.
Tính hết quí I/2026, khu vực kinh tế trong nước đã nhập siêu tới 8910 triệu USD (khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ nhập khẩu 6111 triệu USD, còn khu vực trong nước con số này là 14281 triệu đôla). Cũng trong 3 tháng đầu năm nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1544 triệu USD (trong khi khu vực kinh tế trong nước mới XK được 5371 triệu USD còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu được 7655 triệu đôla Mĩ) [20, tr.8]. Vậy là, thị trường đã xuất hiện sự trái chiều về XNK trong cùng một sân chơi chung : Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì liên tục xuất siêu, trong khi khu vực kinh tế trong nước thì ngược lại. Từ năm 2018 trở lại đây, nếu không có sự hỗ trợ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì có lẽ tình trạng nhập siêu của Việt Nam còn vượt xa hiện tại. Trong thời gian tới làm sao để ổn định cán cân thương mại là một trong những thách thức lớn đối với nước ta. Cân đối cán cân XNK nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững, đạt mục tiêu kế hoạch đã đề ra.
2.4.3.4. Nguy cơ dẫm chân tại chỗ
Theo kế hoạch của Bộ Công Thương mục tiêu kim ngạch XK năm 2026 phải đạt là 58.6 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2025 [30]. Tuy nhiên để thực hiện mục tiêu này, nước ta sẽ phải vượt qua rất nhiều khó khăn, mà một trong những thách thức to lớn nhất sẽ là “nguy cơ dẫm chân tại chỗ” Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trong năm 2026, có rất nhiều mặt hàng nông sản, thuỷ sản. Vì vậy, các mặt hàng này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu. Do hạn chế về diện tích, thời tiết nguồn nước và năng suất và cả về thị trường, nên kim ngạch của một số mặt hàng nông lâm thuỷ sản không có khă năng tăng trưởng cao trong năm 2026. Thậm chí một số mặt hàng đã đến ngưỡng, khó có thể gia tăng khối lượng và giá trị XK. Một số mặt hàng có khă năng tăng trưởng thấp hoặc hoặc giảm như chè, cà phê, nhân điều và cao su. Còn về thị trường mặc dù thừa nhận kim ngạch XK hàng Việt Nam tăng mạnh trong những năm vừa qua, song các mặt hàng còn quá hạn hẹp, chủng loại chưa phong phú. Nếu chỉ bó hẹp trong những mặt hàng nông sản, thuỷ hải sản, đồ gỗ, may mặc và giày dép như lâu nay thì khó có thể tăng được kim ngạch XK trong thời gian tới. Trong khi đó các doanh nghiệp làm ăn với các thị trường EU, Hoa Kỳ, vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ bị kiện phá giá. Cơ chế giám sát hàng dệt may tại Hoa Kỳ vẫn chưa được dỡ bỏ. Đây là hai rào cản lớn đối với XK của Việt Nam. Với hai vụ kiện chống bán phá giá cá tra và tôm trước đây của Hoa Kỳ, do bị xử thua và phải chịu mức thuế chống bán phá giá cao nên hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam XK sang thị trường này phải nộp hàng triệu USD tiền thuế mỗi năm.
Trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế hiện nay, việc hoàn thành kế hoạch XK đề ra trong năm 2026 là một nhiệm vụ khó khăn. Kinh tế thế giới đang tăng trưởng chậm lại, đồng USD suy yếu, giá cả hàng hoá đầu vào tăng cao. Trong nước lại vừa trải qua một đợt lạnh kéo dài và sắp tới có thể là hạn hán, nên ảnh hưởng tới kết quả sản xuất nông lâm thuỷ sản. Bên cạnh đó thì nguy cơ suy thoái của nền kinh tế Hoa Kỳ tiềm ẩn nhiều khó khăn đối với XK Việt Nam. Nừu kinh tế Hoa Kỳ rơi vào tình trạng suy thoái, kéo theo, sức mua thị trường giảm, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá cũng sẽ giảm theo, ảnh hưởng rất lớn đến XK của Việt Nam vào thị trường này.
2.5. NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC MỘT NĂM SAU GIA NHẬP WTO Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
2.5.1 Tình hình Trung Quốc 1 năm sau gia nhập WTO
Sau hơn 15 năm đàm phán, ngày 10/11/2019 tại Doha (Quata) hội nghị lần thứ 4 cấp Bộ trưởng các nứơc thành viên WTO đã nhất trí thông qua “ Quyết định về việc Trung Quốc gia nhập tổ chức TMTG”. Với quyết định này, TQ đã trở thành thành viên thứ 144 của WTO.
Sau năm đầu tiên gia nhập WTO, nền kinh tế TQ đã xuất hiện những dấu hiệu tốt đẹp, đa số các chỉ tiêu đều cao hơn so với dự tính ban đầu. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, GDP năm 2020 tăng 8% so với năm 2019. Nhằm thực hiện các cam kết của WTO, nhiều qui định cụ thể về thuế quan và quản lí hạn ngạch XNK đã được triển khai. TQ đã sửa đổi và bãi bỏ một loạt các qui định không phù hợp với nguyên tắc của WTO và ban hành một loạt các qui định mới về thương mại, dịch vụ , quyền tác giả và đầu tư. Để đảm bảo tính minh bạch, chính phủ TQ đã thành lập cục tư vấn thông tin thuộc bộ kinh tế và mậu dịch đối ngoại.Cục này có nhiệm vụ cung cấp thông tin về thương mại dịch vụ, các qui định pháp qui và các giải pháp cơ bản về bản quyền, cơ chế quản lí ngoại hối trong buôn bán quốc tế. Cùng với đà tăng trưởng ấy, ngành ngoại thương TQ tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu hàng hoá XK được cải thiện. Với mức tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới (38% năm 2021), theo dự đoán, TQ có thể sẽ vượt Mĩ vào năm 2028. Năm 2020, tổng giá trị XNK của TQ đạt 620,79 tỉ USD tăng 21.8% so với năm 2019, trong đó XK đạt 325.27 tỉ USD tăng 22.3%, NK đạt 295.22 tỉ USD tăng 21.2%. Xuất siêu 30.35 tỉ USD tăng 34,6%. Năm 2021, tổng kim ngạch XNK đạt tới 851.21 tỉ USD tăng 27,1% so với năm 2020, trong đó XK là 438,37 tỉ USD tăng 34.6%, đứng thứ 4 thế giới sau Mĩ, Đức, Nhật Bản [11, tr.32]. Hàng hoá XK của TQ đã bắt đầu trở thành mối đe doạ cạnh tranh với nhiều nền kinh tế, trong đó có Mĩ. TQ là một trong ba nước XK lớn nhất vào Mĩ. Thặng dư thương mại với Mĩ năm 2021 ước đạt 120 tỉ USD so với 102 tỉ USD vào năm 2020. Chính vì vậy, ở Mĩ đã xuất hiện nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng hàng hoá NK từ TQ đã làm hơn 2 triệu người Mĩ thất nghiệp. Khoảng 1/5 số vụ kiện chống bán phá giá mà các công ty Mĩ tiến hành là nhằm vào hàng hoá của TQ. Trong hàng hoá XK của TQ đã xuất hiện những mặt hàng công nghệ cao về điện tử viễn thông. Trong 9 tháng đầu năm 2021, kim ngạch XK hàng điện cơ đạt 156.44 tỉ USD tăng 41% và XK sản phẩm kĩ thuật cao đạt 73,33 tỉ USD tăng 58.2% [11, tr.32]. Với kim ngạch XNK tăng mạnh năm 2021, TQ đã chiếm vị trí thứ 4 thế giới về XK, thứ 6 về NK. Các chuyên gia kinh tế cho rằng WTO đã và đang làm thay đổi sâu sắc mô hình tăng trưởng ngoại thương của TQ. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
Bên cạnh đó thì đầu tư và tiêu dùng của TQ cũng tăng mạnh. TQ trở thành một trong những điểm đầu tư có sức hút mạnh nhất. Sau khi TQ gia nhập WTO, các công ty xuyên quốc gia nổi tiếng thế giới đã tính tới yếu tố TQ trong việc hoạch định chiến lược toàn cầu, điều chỉnh chiến lược và sách lược kinh doanh ở TQ, đưa TQ vào mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Năm 2020, TQ đã thu hút được 34171 dự án với tổng số vốn cam kết là 82770 triệu USD, tăng 19.62% so với năm 2019 [11, tr.33]. Đầu tư nước ngoài đổ vào TQ với khối lượng lớn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và thúc đẩy quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế của TQ.
Tuy đạt được thành công lớn trong những năm đầu gia nhập WTO nhưng nền kinh tế TQ vẫn còn vấp phải một số vấn đề. Thứ nhất, nền kinh tế phát triển quá nóng ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Kinh tế TQ là một nền kinh tế mở, năng động và đi lên chủ yếu nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài, dùng thị trường và vốn bên ngoài để phát triển tạo nên XK và động lực ngoại thương. Động lực ấy không chỉ tạo điều kiện cho TQ mà còn cho các nước khác trên thế giới như Mĩ, Châu Á và các nước thuộc khu vực Châu á phát triển. Theo Ngân hàng thế giới (World bank), XK của các nước Đông Nam á sang TQ dư khoảng 5.9 tỉ USD năm 1985 đã tăng lên 90 tỉ USD năm 2020 [11, tr.36]. Có người cho rằng TQ là một trong những chỗ dựa của các thị trường Nhật, Đài Loan. Hong Kong…Khi các nền kinh tế đang bấp bênh và đồng đô la chao đảo thì đồng nhân dân tệ lại chốt với đồng USD tạo nên sự an tâm với các nước XK sang Mĩ. Với nền kinh tế mở cửa hội nhập như TQ, hiện tượng kinh tế nóng lên sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại và có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng và từ đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều nền kinh tế ở Châu Á Thái Bình Dương. Thứ 2, hoạt động mậu dịch nổi lên nhiều vấn đề đáng lo ngại. Sản lượng tăng lên trong khi giá cả lại giảm xuống là một trong những xu hướng phát triển của nhiều mặt hàng XK. Năm 2020, giá các mặt hàng XK của TQ giảm phổ biến. Tình hình này đã vấp phải chính sách bảo hộ mậu dịch của một số nước và đã làm gia tăng các vụ kiện chống bán phá giá đối với nhiều mặt hàng XK của TQ. Không ít doanh nghiệp ngoại thương của TQ phát triển với qui mô lớn nhưng kém hiệu quả và áp dụng biện pháp giảm giá để tạo sức cạnh tranh, lợi nhuận thu về chủ yếu dựa vào các khoản hoàn thuế. Các doanh nghiệp vùng duyên hải Đông Nam TQ dành nhiều thắng lợi trong XK, còn ở miền Tây tình hình không mấy tốt đẹp. Trong 10 tháng đầu năm 2021, hàng XK của 10 tỉnh thành miền Đông chiếm tới 91% tổng khối lượng XK của cả nước.Chính khả năng đổi mới kém, chất lượng lao động thấp, trình độ kĩ thuật giản đơn đã gây trở ngại trong việc nâng cao vị trí của TQ trong phân công lao động quốc tế. Thứ 3, sau thời kì mở của gia nhập WTO, trong ngành tài chính đã diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt. Các ngân hàng TQ đang đứng trước tình trạng bức xúc vì các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài chiếm ưu thế hơn hẳn về sản phẩm dịch vụ và khả năng thâm nhập thị trường. Điều này đã trở thành nguy cơ thực sự đối với các ngân hàng thương mại của TQ.
2.5.2 Bài học rút ra cho ngoại thương Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
TQ và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế và văn hoá. Việc nghiên cứu thực tế đàm phán gia nhập WTO và những năm đầu gia nhập WTO của TQ có thể đem lại những bài học kinh nghiệm hữu ích cho kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngoại thương nói riêng. Những bài học chủ yếu đó là:
Thứ nhất, phải làm tốt việc phổ biến kiến thức về WTO, đặc biệt là các qui định của WTO. Việc nắm vững các nguyên tắc và yêu cầu của WTO cần được xem là điều kiện tiên quyết. TQ đã xuất bản hàng chục cuốn sách, hàng trăm công trình nghiên cứu và hội thảo giới thiệu về WTO về các nguyên tắc, thể chế, tính minh bạch, sự không phân biệt đối xử, nguyên tắc tối huệ quốc, đối xử quốc gia, chống bán phá giá…
Thứ hai, chúng ta có thể nhận thấy nguyên nhân khiến tình hình TQ năm 2020 phát triển tốt là do chính phủ hoàn thiện một bước và thực hiện chế độ hoàn thuế XK, cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp và quan trọng hơn là yếu tố linh hoạt của thị trường cùng sức bật mới cua TQ sau khi gia nhập WTO. Cùng với việc mở cửa đối ngoại, việc làm sống lại các ngành nghề trong nước cũng hết sức quan trọng giúp TQ thực sự trở thành “công xưởng của thế giới”. TQ đã nhận thức được rằng chỉ có tăng cường hoàn thiện hơn nữa môi trường thị trường trong nước, hình thành cơ chế cạnh tranh có lợi thì các doanh nghiệp TQ mới có thể thực sự mạnh lên, ứng phó được với những thách thức khi gia nhập WTO.
Thứ ba, một trong những kinh nghiệm lớn nhất của TQ là việc xây dựng chiến lược từng ngành hàng để đối phó với sức ép cạnh tranh quốc tế khi mở cửa thị trường. Theo đại sứ Việt Nam tại TQ Trần Văn Luật, TQ rất thành công trong việc xây dựng và thực hiện mô hình hoá từng mặt hàng để giúp doanh nghiệp đứng vững sau khi TQ gia nhập WTO. Từ rất lâu trước khi vào WTO, TQ đã xác định 8 vấn đề sống còn với doanh nghiệp, trong đó vấn đề mô hình hoá từng ngành hàng, thay đổi công nghệ, đào tạo cán bộ quản lý được đặt lên hàng đầu.
Thứ tư, TQ đã thích ứng với luật chơi quốc tế nhằm bảo vệ chính mình trong các vụ tranh chấp chống bán phá giá hàng XK, biện pháp bảo hộ nhập khẩu. Chống bán phá giá là một công cụ bảo hộ mậu dịch đã trở thành một trong những vũ khí pháp luật được các thành viên WTO sử dụng nhiều nhất. Để tránh hoặc giảm bớt vào các vụ kiện như TQ, cần phải nắm bắt được năng lực sản xuất hàng hoá của đối phương, nắm bắt đựơc tình hình thị trường, giá cả để từ đó quyết định mức độ, qui mô giá cả XNK. Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp ngoại thương một năm sau gia nhập WTO

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng ngoại thương một năm sau gia nhập WTO […]