Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường khi tiến hành bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, mỗi doanh nghiệp đều phải tính toán đến lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể thu từ hoạt động đó. Bởi dưới tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố kinh tế – xã hội, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu hàng đầu. Chính vì vậy lợi nhuận được coi là tiêu chí quan trọng, là mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới.
Chỉ khi nào doanh nghiệp có lợi nhuận thì mới có điều kiện tích lũy để tái đầu tư mở sản xuất mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các vấn đề phúc lợi đối với công nhân viên và đối với xã hội. Từ đó nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường cũng như không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Biết được tầm quan trọng của lợi nhuận, song làm thế nào để mang lại lợi nhuận và lợi nhuận đạt mức cao lại là một bài toán khó. Do vậy, các biện pháp để nâng cao lợi nhuận là yêu cầu thiết yếu có tầm quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp cũng không nằm ngoài xu thế đó. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình Công ty đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ, không ngừng đổi mới và lớn mạnh đạt được vị thế vững chắc trên thị trường kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh đó Công ty còn tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục đòi hỏi cần có những biện pháp cần thiết để cải thiện trong thời gian tới nhằm nâng hiệu quả kinh doanh, cuối cùng là nâng cao được lợi nhuận của Công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự lớn mạnh của doanh nghiệp, trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Phân tích, đánh giá thực trạng lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp làm tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần Thép và Vật tư Công nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tình hình lợi nhuận tại công ty Cổ phần Thép và Vật tư Công nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Đưa ra tổng quan chung của lợi nhuận và các giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại doanh nghiệp.
- Thời gian nghiên cứu: số liệu trong 3 năm 2023, 2024,
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong luận văn chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá dựa trên cơ sở các số liệu được cung cấp và tình hình thực tế của Công ty.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba phần:
- PHẦN 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
- PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VÀ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP
- PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VÀ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP
PHẦN 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của lợi nhuận
1.1.1. Khái niệm lợi nhuận
Lịch sử đã ghi nhận rất nhiều những quan điểm của các nhà kinh tế học về lợi nhuận, các lý luận đó đã chỉ ra được những khái niệm cơ bản và tổng quát của lợi nhuận. Kế thừa những quan điểm, lý luận từ những nhà kinh tế học cổ điển kết hợp với việc nghiên cứu, tìm hiểu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác là người đầu tiên chỉ rõ được quan điểm và nguồn gốc của lợi nhuận một các khoa học, sâu sắc, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa cả về kinh tế và chính trị. Theo ông thì: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì gọi là lợi nhuận. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
C.Mác đã chỉ ra rằng lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự giống nhau về lượng và khác nhau về chất. Về lượng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lượng lợi nhuận bằng lượng giá trị thặng dư, nếu giá cả hàng hoá không đồng nhất với giá trị của nó thì mỗi tư bản cá biệt có thể thu được lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư, nhưng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng số giá trị thặng dư. Về chất, giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá trị tư bản khả biến và do sức lao động được mua từ tư bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư thông qua trao đổi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy được nguồn gốc quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa.
Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”.
Tóm lại: Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Lợi nhuận được xem là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được xem là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và là một chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động doanh nghiệp.
- Công thức tổng quát để xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Trong đó: Tổng doanh thu là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Tổng chi chí: là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch, … nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất và kinh doanh.
1.1.2. Kết cấu lợi nhuận Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Trong nền kinh tế thị trường thực tế cho thấy các doanh nghiệp rất năng động trong việc đầu tư sao cho đồng vốn của doanh nghiệp được sử dụng một các hiệu quả nhất. Hoạt động của doanh nghiệp trong một kì kinh doanh không chỉ đơn thuần là các hoạt động kinh doanh theo đúng như đăng ký ngành nghề kinh doanh với cơ quan pháp luật, mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác có tính chất thường xuyên hoặc không thường xuyên. Do đó lợi nhuận của doanh nghiệp thu được cũng phong phú và đa dạng theo phương thức đầu tư của mỗi danh nghiệp. Cụ thể, lợi nhuận của doanh nghiệp được chia thành ba bộ phận:
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và chi phí đã bỏ ra của khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng chính trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, nó thể hiện hoạt động đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là khoản chênh lệch giữa các khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Các hoạt động nghiệp vụ tài chính gồm các hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh của doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần và hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và lợi nhuận thu được từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác.
Lợi nhuận khác: là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không dự tính trước hoặc có dự tính đến nhưng ít có khả năng thực hiện hay là những khoản lợi nhuận này không mang tính chất thường xuyên.
Việc xem xét cấu của lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc cho ta thấy được các hoạt động tạo ra lợi nhuận. Từ đó, đánh giá kết quả của từng hoạt động, tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động, đề ra các giải pháp kinh doanh tập trung vốn một cách hợp lý và tối ưu nhằm khai thác triệt để tiềm năng của hoạt động kinh doanh. Từ những đánh giá, phân tích doanh nghiệp có quyết định đầu tư tối ưu cho các hoạt động nhằm mang lại tổng lợi nhuận cao nhất có thể đạt được.
1.1.3. Ý nghĩa của lợi nhuận
- Đối với bản thân doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Lợi nhuận của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, vì lợi nhuận có tác động đến mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi nhìn nhận đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chỉ tiêu đầu tiên cần phải quan tâm đó là lợi nhuận, lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp đó hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tốt và ngược lại. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện qua các yếu tố chính là mức nộp ngân sách nhà nước, đời sống cán bộ nhân viên và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Mục đích sau cùng của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận và giảm chi phí, mục đích của người lao động là có thu nhập cao. Mà thu nhập của người lao động, công nhân viên lại là chi phí của doanh nghiệp. Điều này không hoàn toàn là mâu thuẫn bởi khi doanh nghiệp bỏ tiền ra thuê sức lao động là thực hiện đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Chi phí thuê lao động sẽ được bù đắp ở kết quả lao động, năng suất lao động được cải thiện là điều kiện để doanh nghiệp tăng lợi nhuận. Khi doanh nghiệp có lợi nhuận, nó sẽ là nguồn tích lũy quan trọng để doanh nghiệp bổ xung vốn cố định và vốn lưu động, tạo điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh và bù đắp những thiệt hại trong kinh doanh. Sử dụng các nguồn vốn do lợi nhuận để lại giúp doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ và cũng chính từ nguồn vốn này mà doanh nghiệp không ngừng nâng cao đời sống cán bộ nhân viên về mọi mặt, là đòn bẩy kích thích người lao động đóng góp cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Không những thế, lợi nhuận khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thương trường. Doanh nghiệp có lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, trình độ quản lý tốt, kỹ năng, tay nghề của nhân viên có trình độ cao, đưa ra thị trường ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý. Nhờ vậy mà uy tín, thế lực của doanh nghiệp ngày càng tăng cao và được khách hàng, đối tác tín nhiệm, từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi, hàng hóa tiêu thụ nhanh hơn và doanh nghiệp sẽ dễ dàng huy động vốn bằng cách sử dụng các công cụ tài chính nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
- Đối với xã hội
Lợi nhuận của doanh nghiệp của doanh nghiệp không chỉ là một bộ phận của thu nhập thuần túy của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sách cho Nhà nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp nhờ vậy mà nhà nước có nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo dựng môi trường kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp và góp phần hoàn thành những chỉ tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất nền kinh tế xã hội. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, thực hiện tái sản xuất mở rộng nhờ vốn tích lũy được từ lợi nhuận, với lợi nhuận cao lượng tích lũy sẽ lớn và tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, từ đó làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Phần lợi nhuận mà doanh nghiệp đóng cho nhà nước sẽ được dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh.
Thông qua việc thu thuế từ lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra, việc sử dụng những khoản thu đó là một trong những thước đo phản ánh tính hiệu quả của các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các chính sách vĩ mô đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, do đó sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận từ các hoạt động của mình. Ngược lại, nếu chính sách vĩ mô không phù hợp, tác động tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, gây thua lỗ hay ảnh hưởng không tốt tới lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được.
1.2. Phương pháp xác định lợi nhuận và các chỉ tiêu lợi nhuận trong doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
1.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Công thức xác định lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Trong đó doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định: Đối với doanh nghiệp tính thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng cũng như trị giá nguyên vật liệu mua vào để sản xuất ra thành phẩm đem bán đều được hạch toán không bao gồm thuế Giá trị gia tăng. Phần thuế Giá trị gia tăng này dùng để khấu trừ với số thuế Giá trị gia tăng đầu ra của trị giá nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua vào dùng để sản xuất. Nếu thuế suất thuế Giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn mua vào cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế Giá trị gia tăng thì khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế Giá trị gia tăng.
Với doanh nghiệp hạch toán thuế Giá trị gia tăng trực tiếp, thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp không phải thuế gián thu, số thuế phải nộp sẽ trừ vào doanh thu thuần cuối kỳ để xác định kết quả kinh doanh. Thuế phải nộp theo phương pháp khấu trừ được theo dõi riêng nên không ảnh hưởng đến doanh thu thuần cuối kỳ vì thế tính thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ có hiện tượng đánh trùng thuế. Tính thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thường được áp dụng đối với những cơ sở kinh doanh không có tư cách pháp nhân, những cơ sở kinh doanh hộ gia đình,….và sử dụng hóa đơn bán hàng thông thường (không tính thuế) để hạch toán.
Cách xác định cụ thể các khoản mục:
- Doanh thu thuần: là chênh lệch giữa tổng doanh thu với các khoản giảm trừ doanh thu và thuế phải nộp (nếu có).
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định dựa theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu được bằng tiền hoặc sẽ thu được tiền từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh như như bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
- Chiết khấu thương mại: Là các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng mua hàng với số lượng lớn.
- Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém chất lượng, không đúng quy cách… Ngoài ra sản phẩm, dịch vụ được giảm giá do ưu tiên cho khách hàng có quan hệ lâu năm với doanh nghiệp mua số lượng lớn hoặc đang trong dịp khuyến mại.
- Hàng bán bị trả lại: là giá trị của số sản phẩm, hàng hoá bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách mẫu mã.
- Các khoản thuế phải nộp (nếu có): thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán,.
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định:
- Cụ thể:
Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm bán trong kỳ. Ngoài ra, trong giá vốn hàng bán còn bao gồm tất cả các khoản chênh lệch giữa dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn so với năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi đã trừ phần bồi thường do các tác nhân gây ra và chi phí sản xuất chung phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.
Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối niên dộ kế toán năm nay nhỏ hơn năm trước thì chênh lệch lớn hơn phải được ghi vào khoản giảm giá vốn hàng bán.
Giá vốn hàng bán đối với doanh nghiệp sản xuất: là giá thành sản xuất sản phẩm, lao vụ, tiêu thụ trong kỳ bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí tiêu hao hoạt lực, máy móc.
- Chi phí sản xuất
Giá vốn hàng bán với doanh nghiệp thương mại: là chi phí mua hàng hóa từ nhà sản xuất để tiêu thụ trong kỳ bao gồm:
- Giá mua hàng hóa từ nhà cung cấp tiêu thụ trong kì. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
- Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, đóng gói bao bì… phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ trong kì.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí có liên quan đến việc tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý hành chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện bình thường, những khoản chi phí này tương đối ổn định qua các kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí này cũng được phân bổ tương xứng với lượng hàng hóa tiêu thụ trong kỳ. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí nhân viên quản lý: gồm các khoản tiền lương, tiền công phải trả trực tiếp cho nhân viên quản lý và các khoản trích theo lương theo quy định.
- Chi phí vật liệu quản lý: chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp như văn phòng phẩm,… vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa cho bộ phận quản lý.
- Chí phí đồ dùng văn phòng: chi phí dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý.
- Chi phí khấu hao Tài sản cố định: Phản ánh chi phí khấu hao Tài sản cố định dùng chung cho doanh nghiệp như nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng, …
- Thuế phí và lệ phí: chi phí về thuế, phí và lệ phí như: thuế môn bài, tiền thuê đất,… và các khoản phí, lệ phí khác.
- Chi phí dự phòng: Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp; các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế,… (Không đủ tiêu chuẩn ghi nhận Tài sản cố định) được tính theo phương pháp phân bổ dần vào chi phí quản lý doanh nghiệp; tiền thuê Tài sản cố định, chi phí trả cho nhà thầu phụ.
- Chi phí bằng tiền khác: các chi phí khác thuộc quản lý chung của doanh nghiệp, ngoài các chi phí đã kể trên, như: Chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ.
Chi phí bán hàng: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các chi phí cần thiết khác trong kỳ của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng bao gồm:
- Chi phí nhân viên: là các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,… bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,… Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
- Chi phí vật liệu, bao bì: các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản Tài sản cố định,… dùng cho bộ phận bán hàng.
- Chí phí dụng cụ, đồ dùng: chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc.
- Chi phí khấu hao Tài sản cố định: chi phí khấu hao Tài sản cố định ở bộ phận bảo quản, bán hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng.
- Chi phí bảo hành: các khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá đã cam kết trong hợp đồng như cho phí sửa chữa, thay thế linh kiện hư hỏng.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa Tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, vận chuyển sản phẩm, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu.
- Chi phí bằng tiền khác: các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng.
Về bản chất, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng không làm tăng thêm giá trị sử dụng của hàng hóa. Nó là những chi phí phục vụ gián tiếp cho sản xuất kinh doanh không được tiến hành một cách liên tục. Hai loại chi phí này được xem là chi phí thời kỳ, chi phí làm giảm trực tiếp lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp.
1.2.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn tham gia vào hoạt động tài chính nhằm mục đích sử dụng hiệu quả đồng vốn, tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận hoạt động tài chính được xác định theo công thức sau:
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản sau:
- Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi Ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, cổ tức lợi nhuận được chia.
- Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
- Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư vào công ty con, đầu tư vốn khác.
- Thu cho thuê tài chính tài sản cố định.
- Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác.
- Lãi tỷ giá hối đoái.
- Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ.
- Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn.
- Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác. Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản sau:
- Chi phí lãi tiền vay, lãi mua hàng trả chậm, lãi thuê tài sản thuê tài chính.
- Chi phí góp vốn liên doanh, liên kết.
- Lỗ bán ngoại tệ.
- Chiết khấu thanh toán cho người
- Các khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư.
- Lỗ tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh
- Lỗ tỷ giá hối đoái do đánh giá lại cuối năm tài chính các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ của hoạt động kinh doanh.
- Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Trong các doanh nghiệp thì hầu như lợi nhuận từ hoạt động tài chính không chiếm tỉ lệ cao trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng nó cũng đóng vai trò khá quan trọng góp phần nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp trong mỗi kì kinh doanh. Doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng rất nhiều hình thức đầu tư. Do đó hoạt động đầu tư tài chính được các nhà quản trị rất quan tâm, nếu thực sự quản lý tốt và đầu tư tài chính có hiệu quả thì lợi nhuận mang lại từ hoạt động tài chính sẽ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.3. Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác thường là những khoản lãi phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trước nhưng ít có khả năng thực hiện được. Những khoản lợi nhuận khác có thể do chủ quan hoặc khách quan mang đến. Lợi nhuận khác được xác định theo công thức:
Thu nhập khác của doanh nghiệp bao gồm:
- Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý Tài sản cố định.
- Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, tài sản cố định đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác.
- Thu nhập từ nghiệp vụ bán và thuê lại tài sản.
- Thu tiền được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng.
- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ.
- Các khoản thuế được ngân sách nhà nước hoàn lại.
- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.
- Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu.
- Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặng cho doanh nghiệp.
- Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản nêu trên.
Chi phí khác của doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí thanh lý, nhượng bán Tài sản cố định và giá trị còn lại của Tài sản cố định thanh lý và nhượng bán Tài sản cố định.
- Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vậu tư, hàng hoá, Tài sản cố định đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác.
- Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.
- Bị phạt thuế, truy nộp thuế.
- Chi cho việc thu hồi các khoản nợ thu khó đòi đã xóa sổ kế toán.
- Các khoản chi phí do kế toán ghi nhầm hay bỏ sót khi vào sổ.
- Các khoản chi phí khác.
Lợi nhuận khác thường chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận hoạt động này thường rất khó dự báo trước do vậy việc nâng cao lợi nhuận này không phải mục tiêu hàng đầu trong doanh nghiệp. Để nâng cao lợi nhuận khác các doanh nghiệp thường có xu hướng tìm cách giảm các khoản chi phí khác hơn là làm tăng thu nhập khác.
1.2.4. Các chỉ tiêu về lợi nhuận Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Lợi nhuận là mục tiêu của doanh nghiệp và đồng thời cũng là hệ quả của các quyết định quản trị, thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các tỷ suất lợi nhuận đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng đói với doanh thu thuần, tổng tài sản có và vốn riêng của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần xác định tỷ lệ sinh lợi hay tỷ suất lợi nhuận. Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận cao cho thấy cho ta thấy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ngược lại. Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận cho thấy rõ hai mặt của doanh nghiệp, một mặt là tổng số lợi nhuận tạo được do các hoạt động mang lại cao hay thấp. Hai là số lợi nhuận tạo ra do các tác động của chi phí cao hay thấp.
Do yêu cầu nghiên cứu phân tích và đánh giá khác nhau của từng loại doanh nghiệp mà có phương pháp tính tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Tuy nhiên, nhóm chỉ tiêu này của doanh nghiệp bao gồm 3 chỉ số cơ bản chung là: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS).
- Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao đồng lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong đó. Có thể sử dụng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay so sánh với các doanh nghiệp khác. Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu thuần của doanh nghiệp đạt được trong kỳ. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được xác định bằng cách:
Sự biến động của tỷ số này phản ảnh sự thay đổi về hiệu quả hay ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tỷ suất này cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao. Nếu một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao hơn năm trước thì lợi nhuận của doanh nghiệp tăng với tốc độ lớn hơn doanh thu, điều đó chứng tỏ các chiến lược kinh doanh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp này đạt kết quả tốt hơn và ngược lại.
Khi so sánh tỷ suất này của doanh nghiệp với chung toàn ngành, mà tỷ suất lợi nhuận lại thấp hơn chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hơn hoặc chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành khiến cho lợi nhuận bị giảm xuống, đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích và tìm biện pháp giảm các khoản chi phí để nâng cao tỷ lệ lợi nhuận. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
- Tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất này cho biết cứ một đồng tài sản mà doanh nghiệp dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức xác định tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản như sau:
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp. Nó thể hiện việc quản lý tài sản, phân phối và sản xuất có hiệu quả hay không. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố giúp nhà quản trị đầu tư theo chiều rộng như xây dựng nhà xưởng, mua thêm máy móc thiết bị. Hệ số ROA thường có chênh lệch giữa các ngành. Những ngành sản xuất, chế tạo, xây dựng, vận tải,… thường có ROA nhỏ hơn so với cách ngành không phải đầu tư vào tài sản như ngành dịch vụ, thương mại, quảng cáo…
- Ngoài ra ROA cũng được xác định bằng công thức sau:
Chỉ tiêu ROA theo công thức trên được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) cho tổng tài sản. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản dựa theo công thức trên phản ánh cứ một đồng tài sản dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Tùy vào tính hình cụ thể của doanh nghiệp mà chọn lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản để phân tích.
- Phân tích chỉ tiêu ROA theo phương pháp phân tích Dupont
Tỷ suất lợi nhuận của tài sản biểu hiện mối quan hệ mật thiết giữa tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROS) và vòng quay của tổng tài sản. Thực vậy, từ công thức tính tỷ suất lợi nhuận của tổng tài sản có thể suy ra mối quan hệ đó bằng công thức khai triển dưới đây: ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROS) x Số vòng quay tài sản
Từ công thức khai triển trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của tài sản. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu càng cao thì lợi nhuận trên tài sản càng tăng. Để có thể tăng được ROS thì doanh nghiệp cần nghiên cứu những biện pháp nhằm tăng doanh thu và quan trọng hơn là giảm chi phí để tăng lợi nhuận đạt được. Số vòng quay tài sản cũng là nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời trên tài sản. Cụ thể, nếu doanh thu thuần lớn và tổng tài sản nhỏ thì số vòng quay lớn. Trong thực tế, hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản tăng thì doanh thu thuần cũng tăng, ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng thương mại giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng từ đó tăng doanh thu thuần. Muốn tăng số vòng quay tài sản doanh nghiệp cần phân tích các nhân tố liên quan để đưa ra được những mặt lợi và hại nhằm nâng cao số vòng quay của tài sản thích hợp.
- Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu (ROE) Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Tỷ suất này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này cũng cho biết mức độ hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho những cổ đông của họ. Công thức xác định tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu như sau:
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu đạt hiệu quả, có nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông, lợi nhuận để lại và phần vốn vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình huy động vốn để mở rộng doanh nghiệp. Phân tích chỉ tiêu ROE góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị có quyết định đúng đắn để tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Trên hết, đây là hệ số quan trọng nhất đối với các cổ đông nắm giữ các cổ phần thường, nó cho thấy khả năng sinh lợi trên vốn đầu tư của họ trong công ty. Nếu ROE của doanh nghiệp cao sẽ giúp thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia góp vốn, giá mỗi cổ phiếu sẽ lên cao. Ngược lại, ROE của doanh nghiệp thấp và giảm qua các năm thì sẽ khó có thể thu hút vốn đầu tư, doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc mở rộng kinh doanh.
- Phân tích chỉ tiêu ROE theo phương pháp phân tích Dupont
Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa tỷ suất sinh lợi của trên doanh thu thuần với vòng quay tài sản và hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu. Ta có thể thấy rõ mối quan hệ này thông qua công thức sau đây:
- ROE = ROS x Số vòng quay tài sản x Hệ số Tài sản/ Vốn chủ sở hữu
Muốn thay đổi giá trị của ROE ta phải tìm cách thay đổi giá trị của các tỷ số thành phần. Hay nói một cách rõ ràng hơn để tăng ROE, doanh nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản để tăng chỉ tiêu ROE. Một là, doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí, nhằm gia tăng lợi nhuận. Hai là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình, nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Ba là doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách vay nợ thêm vốn để đầu tư và giảm bớt vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động hay nói cách khác là sự dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Như vậy, trên cơ sở nhận diện các nhân tố sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định và tìm biện pháp khai thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp do vậy nó chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố, ngoài các nhân tố bên trong có thể thấy rõ là doanh thu và chi phí tác động đến lợi nhuận mà còn có những nhân tố bên ngoài không thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Tất cả những nhân tố đó có thể tác động có lợi hoặc bất lợi đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc nhận thức được tính chất, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh là bản chất của vấn đề phân tích kinh tế và chỉ trên cơ sở đó ta mới có căn cứ khoa học để đánh giá chính xác, cụ thể công tác của doanh nghiệp. Từ đó các nhà quản lý sẽ đưa ra được những quyết định thích hợp để tăng cường, khai thác các nhân tố làm tăng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao và làm giảm, loại bỏ tác động nhân tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông thường người ta thường chia các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận thành hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan.
1.3.1. Nhân tố khách quan
- Chính sách kinh tế của Nhà nước
Vai trò chủ đạo của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết các chính sách hoạt động kinh tế vĩ mô. Nhà nước định hướng, khuyến khích hay hạn chế hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng bằng các chính sách luật lệ và các công cụ tài chính. Trong đó thuế là công cụ giúp cho Nhà nước thực hiện tốt công việc điều tiết vĩ mô của mình. Thuế và các chính sách kinh tế khác như lãi suất, quy chế quản lý và bảo hộ của Nhà nước đều ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề đầu tư, tiêu dùng xã hội, giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Vì vậy nó tác động rất lớn đến mọi hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu lạm phát gia tăng sẽ làm tăng giá cả và yếu tố đầu vào, kết quả dẫn tới sẽ làm tăng giá thành và tăng giá bán. Nhưng tăng giá bán lại khó cạnh tranh với cái doanh nghiệp khác trên thị trường. Mặt khác, khi có yếu tố lạm phát tăng cao, thì thu nhập thực tế của người dân lại giảm đáng kể và điều này lại dẫn tới làm giảm sức mua và nhu cầu thực tế của người tiêu dùng. Nói cách khác khi có yếu tố lạm phát tăng cao thì thường khó bán được hàng hóa dẫn tới thiếu hụt tài chính cho sản xuất kinh doanh, việc tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh khó thực thi được. Vì vậy việc dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay. Nhà nước cần có phải có những chính sách để điều hành, kiềm chế lạm phát tới mức tối thiểu để yếu tố này không làm ảnh hưởng tới nền kinh tế xã hội. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Khi Nhà nước ban hành các chính sách thuế, tín dụng, bình ổn lạm phát đơn giản thủ tục hành chính…giúp khuyến khích đầu tư tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi hơn. Một chính sách hợp lý của chính phủ vừa thúc đẩy đầu tư trong nền kinh tế vừa giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Ngược lại nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bất hợp lý, không hiệu quả không những kìm hãm các doanh nghiệp phát triển mà còn làm toàn bộ nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn.
- Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Nhờ có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, với việc áp dụng mau lẹ những thành tựu về khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh cho phép các doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận và thành công trong kinh doanh. Nhất là trong điều kiện hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển hết sức mạnh mẽ, các máy móc thiết bị được dùng vào sản xuất hết sức hiện đại thay thế nhiều lao động nặng nhọc của con người. Ngày nay, thế giới đang đi vào cuộc cách mạng công nghệ mới (như vi tính điện tử, tin học, sinh học, vật liệu mới) đã làm thay đổi nhiều điều kiện cơ bản của sản xuất như việc tiêu tốn nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm ngày càng ít, nhiều loại vật liệu mới ra đời, lượng lao động dùng vào sản xuất cũng giảm bớt do áp dụng tự động hoá và công nghệ mới. Khi doanh nghiệp chú trọng vào việc đầu tư thiết bị máy móc công nghệ cao, hiện đại vào sản xuất và quản lý sẽ làm tăng hiệu quả của quá trình sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, tăng sản lượng… làm cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng theo.
- Quan hệ cung cầu và sự cạnh tranh
Quan hệ cung cầu ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng hàng hóa bán ra của doanh nghiệp. Nếu cung lớn hơn cầu chứng tỏ nhu cầu về mặt hàng kinh doanh đã được đáp ứng tương đối đầy đủ, người tiêu dùng không còn mặn mà tiêu dùng mặt hàng đó nữa cho dù doanh nghiệp có biện pháp khuyến khích mua hàng. Lúc này việc tăng khối lượng hàng hóa bán ra rất khó khăn và dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu chứng tỏ mặt hàng của doanh nghiệp đang được thị trường quan tâm và yêu thích hay doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu của khác hàng trên thị trường. Lúc này, doanh nghiệp nên tăng lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra sẽ thu được lợi nhuận một cách dễ dàng hơn.
Kinh doanh trên thị trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với nhau nhất là các đối thủ trong cùng ngành. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc này chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, yêu cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả hơn để tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủ loại, mẫu mã… Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp. Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị giảm một cách tương đối.
- Sự biến động của thị trường tiền tệ và lãi suất Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Sự biến động giá trị tiền tệ cũng là nhân tố khách quan ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi giá trị tiền trong nước thay đổi thì tỷ giá hối đoái giữa ngoại tệ với đồng nội tệ sẽ biến động tăng hoặc giảm, và điểu đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng thì lợi nhuận của nhà xuất khẩu tăng nhưng lợi nhuận của nhà nhập khẩu lại giảm và ngược lại. Đa số các doanh nghiệp có mối quan hệ trên thương trường quốc tế, nếu không là đầu tư với nước ngoài thì cũng phải mua nguyên vật liệu, hàng hóa hoặc máy móc từ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái chiếm vị trí trung tâm trong những tác động lên các hoạt động này và nhất là nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và giá bán sản phẩm của doanh nghiệp. Vì thế, việc dự báo tỷ giá hối đoái là rất quan trọng trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện các hoạt động quản trị kinh doanh nói chung và các chiến lược cùng sách lược quản trị kinh doanh nói riêng.
Lãi suất cũng là một tác nhân trực tiếp làm tăng chi phí tài chính tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh, sản xuất tăng làm cho doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ, lượng tiêu thụ sẽ giảm từ đó lợi nhuận cũng sẽ giảm. Lãi suất cũng là một yếu tố thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp, bù đắp chi phí và đem lại cho lợi nhuận cho người cho vay. Doanh nghiệp vay vốn của cá nhân hay ngân hàng phải hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi. Vì vậy, muốn đảm bảo có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt, tạo doanh thu và lợi nhuận đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn.
- Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là người cung cấp cho doanh nghiệp các nguyên vật liệu, sản phẩm tới doanh nghiệp sản xuất và nhà phân phối. Từ đó, doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ tới khách hàng. Vì thế nó tác động đến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu thị trường các yếu tố đầu vào có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, doanh nghiệp có thể chủ động được nguyên liệu đầu vào, không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp nào. Đồng thời tại một thị trường có sự cạnh tranh thì mức giá bán mà các nhà cung cấp đưa ra sẽ là mức giá thị trường. Nếu chỉ có một nhà cung cấp trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ không chủ động được nguồn hàng và phải phụ thuộc vào nhà cung cấp, do đó nhà cung cấp có thể sẽ tự ý đẩy giá lên cao làm tăng chi phí của doanh nghiệp, đồng thời do độc quyền về sản phẩm, nhà cung cấp hàng không đúng thời gian làm gián đoạn quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó phát sinh thêm nhiều chi phí khác dẫn tới lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
1.3.2. Nhân tố chủ quan Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
- Quy mô của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cùng loại, nếu quy mô vốn, sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn hơn nếu công tác quản lý kém nhưng lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và công tác quản lý tốt hơn. Bởi doanh nghiệp lớn có rất nhiều ưu thế. Trước hết, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có ưu thế về mặt tài chính, do đó phần dự trữ của doanh nghiệp cho những rủi ro không cần phải tăng tỷ lệ với doanh thu, vì với một số dự án đầu tư sản xuất tăng, có nhiều khả năng giảm bớt thiệt hại. Một khía cạnh khác của việc giảm bớt rủi ro kèm theo tăng quy mô sản xuất là các doanh nghiệp lớn có đủ sức đương đầu với những rủi ro lớn hơn, do đó khả năng đạt được lợi nhuận cao hơn. Hơn nữa nếu doanh nghiệp muốn có nguồn tài chính lớn thì quy mô của nó cho phép việc thâm nhập trực tiếp vào thị trường vốn và với quy mô lớn nhà đầu tư sẽ tin tưởng khi họ quyết định đầu tư vào công ty.
Quy mô của doanh nghiệp còn biểu hiện về tình hình trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp. Ở hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp đều có quyền tự chủ trong việc mua sắm, đổi mới tài sản cố định bằng các nguồn vốn như nguồn vốn pháp định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh, liên kết và các nguồn vốn tín dụng khác. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn thì có thể dễ dàng trong việc huy động nguồn vốn lớn để mua sắm, hiện đại hoá trang thiết bị, công nghệ sản xuất… nhằm góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trên hết là thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp.
- Trình độ nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau một cách gay gắt thì yếu tố con người đóng vai trò chủ đạo và càng khẳng định được là yếu tố quyết định tạo ra lợi nhuận. Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy và nguyên vật liệu có tác dụng lớn thúc đẩy việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Nhà quản lý doanh nghiệp phải biết sử dụng yếu tố “con người”, biết khơi dậy tiềm năng trong mỗi con người, bồi dưỡng trình độ cho cán bộ công nhân viên, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, điều kiện làm việc của mỗi người trong doanh nghiệp. Với đội ngũ cán bộ nhân công nhân viên có trình độ cao thích ứng với yêu cầu thị trường, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
- Tính chất sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Sau khi dịch vụ, hàng hóa được doanh nghiệp sản xuất ra thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là tổ chức tiêu thụ sản phẩm nhằm thu lợi nhuận để tiếp tục quá trình tái sản xuất và mở rộng. Các vấn đề về tính chất sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng rõ nhất đến doanh thu, tác động trực tiếp đến lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp. Doanh thu của một doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố rõ nét như khối lượng hàng hóa tiêu thụ, giá bán hàng hóa, quy mô mặt hàng kinh doanh và chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Nhân tố khối lượng hàng hóa tiêu thụ: trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, khi sản lượng tiêu thụ tăng lên hoặc giảm đi bao nhiêu lần thì lợi nhuận cũng tăng lên giảm đi bấy nhiêu lần. Việc tăng giảm khối lượng sản phẩm tiêu thụ phản ánh kết quả của sản xuất kinh doanh cả về khối lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm, và thời hạn cũng như phản ánh kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Để tiêu thụ hàng hóa tốt, doanh nghiệp phải lập phương án kinh doanh, đánh giá nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất thích hợp từ đó đưa ra những chính sách tín dụng thích hợp để bán hàng. Doanh nghiệp cũng phải chuẩn bị đủ khả năng tài chính, nhân lực, kỹ thuật để kinh doanh mặt hàng mà doanh nghiệp định nhắm tới.
Giá bán hàng hóa: Giá bán vừa tác động đến khối lượng hàng bán ra, vừa tác động trực tiếp đến doanh thu. Theo quy tắc cung cầu khi giá giảm thì mức tiêu thụ hàng hóa tăng và ngược lại. Vì vậy, giá bán tăng vừa có thể làm cho doanh thu tăng hoặc giảm. Khi xác định giá bán doanh nghiệp cần phải đảm bảo hai yếu tố, một là giá bán phải được thị trường chấp nhận mua hàng với giá đó. Đây là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp, vì doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc vào việc tiêu thụ hàng hóa. Hai là, giá bán phải bù đắp được giá thành kết cấu của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chi phí giá thành có nghĩa quan trọng đối với việc xác định giá bán hàng hóa. Do đó, doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch chính sách giá cả hợp lý, đúng đắn là một điều kiện quan trọng cho việc tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp.
Kết cấu mặt hàng kinh doanh: kết cấu tiêu thụ thay đổi có thể làm tăng hoặc giảm tổng số lợi nhuận. Trong thực tế nếu tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận cao và giảm tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận thấp hơn thì mặc dù lợi nhuận cá biệt của từng mặt hàng hoá không thay đổi nhưng tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu giảm tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận cao và tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận thấp thì tổng số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được sẽ bị giảm. Việc thay đổi kết cấu tiêu thụ trước hết là do tác động của nhu cầu thị trường, tức là tác động của nhân tố khách quan. Mặt khác, để đáp ứng cho nhu cầu thị trường thường xuyên biến động, các doanh nghiệp bán ra cái thị trường cần, chứ không phải bán cái doanh nghiệp có. Bản thân mỗi doanh nghiệp phải tìm cách tự điều chỉnh từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu thị trường, vừa mang lại được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội. Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng chiến thắng của một doanh nghiệp. Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình. Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng, duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài các yếu tố khác doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp, từ đó tạo mức lợi nhuận tăng trưởng và ổn định hơn.
- Giá thành toàn bộ
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí quản lý doanh nghiệp + Chi phí bán hàng
Giá thành sản xuất cao hay thấp, tăng hay giảm là tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật tư trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Nếu tổ chức quản lý tốt sản xuất và tài chính thì đây sẽ là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc hạ giá thành sản phẩn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trước hết, tổ chức quản lý sản xuất đạt trình độ cao có thể giúp doanh nghiệp xác định được mức sản xuất tối ưu, phương án sản xuất tối ưu làm cho giá thành sản phẩm hạ xuống. Nhờ vào việc bố trí các khâu sản xuất hợp lý có thể hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm thấp tỷ lệ phế phẩm, những chi phí về ngừng sản xuất… Bên cạnh đó thì công tác tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu cho việc mua sắm vật tư tránh được những tổn thất cho sản xuất khi máy móc phải ngừng làm việc do thiếu vật tư. Đồng thời thông qua việc tổ chức sản xuất, kiểm tra được tình hình dự trữ vật tư, tồn kho sản phẩm, từ đó phát hiện ngăn ngừa kịp thời tình trạng ứ đọng, mất mát hao hụt vật tư, sản phẩm. Nếu tổ chức tốt công tác này sẽ làm giảm bớt chi phí sản xuất góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
Hai nhân tố chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng cũng ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong quá trình vận hành và quản lý doanh nghiệp, việc tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng làm ảnh hưởng đến lợi nhuận sau này. Sau khi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là phải tổ chức bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nhằm tạo lợi nhuận để tiếp tục quá trình tái sản xuất và mở rộng. Việc tổ chức tốt công tác quản lý bán hàng như quảng cáo, tiếp thị sản phẩm hay vận tải làm cho thu nhập tăng lên, chi phí lưu thông giảm, do đó góp phần tăng lợi nhuận. Do đó các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp làm giảm hai loại chi phí này bằng việc giám sát, quản lý chặt chẽ, căn cứ vào tình hình nhu cầu thực tế và mục tiêu, xây dựng các định mức cho từng khoản mục cụ thể như vậy sẽ đảm bảo thu được lợi nhuận tốt hơn.
- Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Đây chính là tiềm lực vô hình của doanh nghiệp tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, nó tác động rất lớn tới sự thành bại của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp nâng cao lợi nhuận. Sự tác động này là sự tác động phi lượng hoá bởi vì chúng ta không thể tính toán, định lượng được. Một hình ảnh, uy tín tốt về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ chất lượng sản phẩm, giá cả… là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp, mặt khác tạo cho doanh nghiệp một ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn, hay mối quan hệ với nhà cung cấp và cả khách hàng. Với mối quan hệ rộng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội, nhiều đầu mối và từ đó doanh nghiệp lựa chọn những cơ hội, phương án kinh doanh tốt nhất cho mình. Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng lợi nhuận của công ty cổ phần thép

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép […]