Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Đánh giá thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhiều nhà phân tích tài chính đã ví vốn lưu động của doanh nghiệp như dòng máu tuần hoàn trong cơ thể con người. Vốn lưu động được ví như vậy có lẽ bởi sự tương đồng về tính tuần hoàn và sự cần thiết của vốn lưu động đối với “cơ thể” doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiêp muốn hoạt động thì không thể không có vốn. Vốn của doanh nghiệp nói chung và vốn lưu động nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh nghiệp từ: Dự trữ, sản xuất đến lưu thông. Vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp tồn tại và hoạt động được trơn tru.
Thay đổi vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, sẽ không thừa nếu các nhà đầu tư xem xét đến hiệu quả quản lý vốn lưu động. Một doanh nghiệp có thể đưa ra con số doanh thu rất tốt, giá trị tài sản lớn, qui mô vốn đồ sộ… Nhưng những con số này chưa đủ để đảm bảo tình hình tài chính tốt của doanh nghiệp. Tiền của doanh nghiệp có thể đọng trong khâu dự trữ hoặc lưu thông, và rất có thể doanh nghiệp mất khả năng thanh toán do không thu hồi được công nợ từ khách hàng…. Vì vậy xem xét một cách thận trọng chỉ số tài chính của doanh nghiệp trong đó có các chỉ số về quản lý vốn lưu động là rất quan trọng đối với bất cứ một nhà đầu tư nào.
Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức không nằm ngoài vòng xoáy đó. Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức, tôi nhận thấy đây là một vấn đề thực sự nổi cộm và rất cần thiết ở Công ty, nơi có tỷ trọng vốn lưu động lớn với nhiều hoạt động sản xuất quy mô lớn, phức tạp, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang là một chủ đề mà Công ty rất quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng của vốn lưu động trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cùng với những kiến thức được học, thời gian thực tập tại công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức nên tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức”.
2. Lịch sử nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Đánh giá thực trạng và nhận dạng nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng là đề tài không chỉ được các nhà lãnh đạo của mỗi doanh nghiệp quan tâm. Tại Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức đây cũng là đề tài được nhiều bạn sinh viên nghiên cứu.
Tác giả Ngô Kim Phượng, sinh viên khoa Quản tri kinh doanh trường Đại học Thương Mại đã nghiên cứu đề tài trong giai đoạn 2021 – 2023 và tác giả Nguyễn Thị Minh Thảo, sinh viên khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu đề tài trong giai đoạn 2022 – 2024. Qua quá trình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích và chỉ ra sự quan trọng của vốn lưu động đối với Công ty đồng thời nêu được thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty trong giai đoạn nghiên cứu, vốn lưu động luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn bên cạnh đó là nhận dạng một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Trong năm 2025, tình hình sử dụng vốn tại Công ty đã được cải thiện nhưng chưa đáng kể. Vì vậy, tôi muốn tiếp tục nghiên cứu để đánh giá thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty hiện tại và đến năm 2027.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức.
- Về thời gian: Từ năm 2023 cho đến hết năm
Bức tranh chung về kinh tế Việt Nam năm 2025 được đánh giá là vẫn còn những mảng sáng tối đan xen lẫn lộn, mặc dù kinh tế được xem là “chạm đáy” nhưng rõ ràng những dấu hiệu tích cực cũng đã bắt đầu xuất hiện, hẳn đó sẽ là những tiền đề để năm 2026, kinh tế Việt Nam sẽ có những bước chuyển mình, dù ít dù nhiều. Tại Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức, tình hình tài chính của Công ty năm 2025 cũng có những chuyển biến tích cực so với hai năm trước đó.
Về nội dung: Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức.
5. Mẫu khảo sát
- Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức.
6. Câu hỏi nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
- Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức năm 2023 – 2025 như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Tình trạng sử dụng vốn lưu động trong giai đoạn 2022 – 2025 của Công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức có lúc gặp khó khăn về tài chính, nguồn vốn lưu động phân bổ chưa hợp lý dẫn tới ngừng trệ trong hoạt động kinh doanh.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (internet, báo, giáo trình…)
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp nhân viên tại phòng Tài chính kế toán.
9. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, ở phần nội dung khóa luận tốt nghiệp gồm hai chương:
- Chương 1: Lý luận chung về vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần Que hàn điện Việt Đức.
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động trong doanh nghiệp
- Khái niệm vốn lưu động
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp sẽ dùng vốn này để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp. Có thể khái quát rằng: Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
- Đặc điểm vốn lưu động Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Với sơ đồ của K. Marx, T – H – SX – … -H’ – T’ (với T là tiền, H là hàng hóa và SX là sản xuất) thì vốn có mặt ở tất cả trong toàn bộ quá trình, từ nguyên liệu đầu vào đến các quá trình sản xuất, kinh doanh tiếp theo của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận. Vốn là công cụ để duy trì sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh…
Thực tế, vốn luôn vận động để sinh lời, vốn là biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì tiền đó phải đưa vào hoạt động kinh doanh để kiếm lời. Bên cạnh đó vốn có giá trị về mặt thời gian và phải được tích tụ tới một lượng nhất định thì mới có thể phát huy tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác hết tiềm năng vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như vay trong nước, vay nước ngoài, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác để tăng vốn cho doanh nghiệp. Vốn bao gồm vốn lưu động và vốn cố định.
Qua một chu kỳ sản xuất, kinh doanh vốn lưu động chuyển hoá thành nhiều hình thái khác nhau. Đầu tiên khi tham gia vào quá trình sản xuất vốn lưu động thể hiện dưới trạng thái sơ khai của mình là tiền tệ, qua các giai đoạn nó dần chuyển thành các sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm. Giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được chuyển hoá vào thành phẩm. Khi sản phẩm này được bán trên thị trường sẽ thu về tiền tệ hay hình thái ban đầu của vốn lưu động. Chúng ta có thể mô tả trong chu trình sau:
- Sơ đồ 1.1. Các hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ: Dự trữ, sản xuất và lưu thông. Vì vậy Vốn lưu động có hai đặc điểm cơ bản:
Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Giá trị của nó chuyển hết một lần để cấu thành nên giá trị sản phẩm. Khi kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được thu hồi.
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển. Vòng quay này càng nhanh thì doanh thu càng cao và giảm được chi phí sử dụng vốn, làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp.
Điều khác biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là: Vốn cố định chuyển dần giá trị của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao, còn vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.
1.1.2. Phân loại vốn lưu động Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể phân chia vốn lưu động thành các loại khác nhau. Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:
Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn
- Vốn vật tư hàng hoá
- Vốn bằng tiền: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,…
Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh.
Vốn lưu động nằm trong khâu dự trữ gồm:
- Vật liệu chính là giá trị các loại vật liệu dùng để dự trữ, sản xuất mà khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành lên thực thể của sản phẩm.
- Vật liệu phụ là các loại vật liệu không cấu thành lên thực thể sản phẩm mà chúng kết hợp với vật liệu chính để thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản phẩm hay giúp tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra bình thường.
- Phụ tùng thay thế là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa các tài sản cố định dùng cho hoạt động Sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
- Bao bì đóng gói là giá trị các vật tư khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
- Công cụ dụng cụ nhỏ là giá trị các công cụ, dụng cụ không phải là tài sản cố định nhưng vẫn dùng cho hoạt động Sản xuất kinh doanh.
Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục.
Vốn lưu động nằm trong khâu sản xuất gồm:
- Giá trị sản phẩm dở dang được thể hiện bằng tiền các chi phí Sản xuất kinh doanh đã bỏ ra cho các sản phẩm dở dang trong quá trình Sản xuất kinh doanh.
- Bán thành phẩm là sản phẩm vẫn chưa hoàn thành song vẫn có thể đem đi tiêu thụ.
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của các bộ phận được liên tục, hợp lý.
Vốn lưu động nằm trong khâu lưu thông gồm:
- Giá trị thành phẩm là giá trị các sản phẩm đã được sản suất xong và đủ tiêu chuẩn được nhập kho.
- Vốn bằng tiền gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
- Vốn trong khâu thanh toán như các khoản phải thu, các khoản ứng trước.
Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng.
Việc phân loại vốn lưu động theo hình thức này giúp cho việc xem xét đánh giá tình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển vốn lưu động. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
- Vay ngắn hạn: vay ngắn hạn ngân hàng; phát hành thương phiếu, cổ phiếu…
- Vốn chủ sở hữu
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh VCĐ thì doanh nghiệp cần phải có một lượng Vốn lưu động thường xuyên cần thiết. Vốn lưu động được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, sau đây là một số nguồn chủ yếu:
- Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
- Các nguồn Vốn lưu động doanh nghiệp được quyền sử dụng trong khoảng thời gian có độ dài ngắn khác nhau và chúng ta có thể chia chúng thành nguồn Vốn lưu động thường xuyên và nguồn Vốn lưu động tạm thời.
Nguồn Vốn lưu động thường xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình nên Tài sản cố định thường xuyên cần thiết. Tài sản lưu động thường xuyên cần thiết này bao gồm các khoản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Nguồn Vốn lưu động thường xuyên càng lớn doanh nghiệp càng chủ động trong tổ chức, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp. Nguồn Vốn lưu động thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp là một nguồn vốn ổn đinh và vững chắc. Nguồn vốn này cho phép doanh nghiệp luôn chủ động cung cấp kịp thời đầy đủ Vốn lưu động cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong mỗi doanh nghiệp, tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ thích hợp đòi hỏi phải có một lượng Vốn lưu động thường xuyên, cần thiết ở mức nhất định. Như vậy, mỗi doanh nghiệp sau khi xác định nhu cầu Vốn lưu động thường xuyên cần thiết thì vấn đề quan trọng đặt ra là cần huy động và tạo lập nguồn vốn này để hoạt động Sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
Nguồn Vốn lưu động tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm), chủ yếu để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời về Vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn, vay ngắn hạn, các khoản phải trả cho người bán, các khoản phải trả, phải nộp cho NSNN, các khoản phải trả khác.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu Vốn lưu động cho từng tháng, từng quý có thể lớn hơn khả năng cung ứng của nguồn Vốn lưu động thường xuyên. Do đó doanh nghiệp cần phải huy động vốn và sử dụng nguồn vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu Vốn lưu động phát sinh có tính chất bất thường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn tạm thời phụ thuộc vào những nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau như: cần thêm vật tư dự trữ, cần vốn để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá bị ứ đọng chưa tiêu thụ được…
Từ những phân tích ở trên có thể thấy: Nguồn Vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.Vốn đó có thể được sử dụng cho nhu cầu Vốn lưu động dài ngày hoặc ngắn ngày. Doanh nghiệp dựa vào khả năng cung ứng, sản xuất khác nhau của các nguồn vốn để từ đó có kế hoạch huy động và sử dụng vốn hợp lý. Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
1.1.4. Vai trò của vốn lưu động
Vốn ưu động là điều kiện cần thiết của hoạt động sản xuất kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, văn phòng, xưởng sản xuất…doanh nghiệp còn cần nguyên vật liệu, lao động… Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động quyết định quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vốn lưu động là thước đo hiệu quả khả năng tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đánh giá một cách chính xác khả năng tài chính, hiệu quả sử dụng vốn để từ đó có giải pháp điều chỉnh hợp lý.
Vốn lưu động là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của nguyên, nhiên, vật liệu. Tức là phản ánh kịp thời và kiểm tra đảm bảo quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm. Do đó vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả sản phẩm, dịch vụ.
1.1.5. Kết cấu vốn lưu động Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Vốn bằng tiền: gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển. ở các nước phát triển thị trường chứng khoán thì chứng khoán ngắn hạn cũng được xếp vào khoản mục này. Vốn bằng tiền được sử dụng để trả lương cho công nhân, mua sắm nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ…
Tiền mặt trong các doanh nghiệp thường không có khả năng sinh lời cao. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt là cần thiết. Khi doanh nghiệp giữ đủ lượng tiền mặt cần thiết thì doanh nghiệp không bị lãng phí vốn tiền mặt, vừa có được lợi thế trong kinh doanh
Các khoản phải thu: Cạnh tranh là cơ chế của nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cơ chế cạnh tranh cần phải nỗ lực vận dụng các chiến lược cạnh tranh đa dạng, từ cạnh tranh giá đến cạnh tranh phi giá cả như hình thức quảng cáo, các dịch vụ trước, trong và sau khâu bán hàng. Mua bán chịu cũng là hình thức cạnh tranh khá phổ biến và có ý nghĩa quan trọng với các doanh nghiệp.
Hàng tồn kho: Trong quá trình sản xuất, việc tiêu hao đối tượng lao động diễn ra thường xuyên liên tục, nhưng việc cung ứng nguyên vật liệu thì đòi hỏi phải cách quãng, mỗi lần chỉ mua vào một lượng nhất định. Do đó, doanh nghiệp phải thường xuyên có một lượng lớn nguyên vật liệu, nhiên liệu… nằm trong quá trình dự trữ, hình thành nên khoản mục vốn dự trữ. Vốn dự trữ là biểu hiện bằng tiền của nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, bán thành phẩm, bao bì, vật liệu bao bì… Loại vốn này thường xuyên chiếm tỷ trọng tương đối trong vốn lưu động.
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
1.1.6. Xác định nhu cầu vốn lưu động
- Nhu cầu vốn lưu động Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp.
- Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
- Phương pháp trực tiếp:
Căn cứ vào các yêu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên. Nội dung cụ thể của phương pháp này là: Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng; Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp; Tổng hợp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Phương pháp này giúp xác định nhu cầu vốn lưu động khá chính xác và sát với thực tế nhưng nó hạn chế do việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán nhiều, mất thời gian nên ít được áp dụng.
- Phương pháp gián tiếp:
Trường hợp 1: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành, cụ thể là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo doanh thu được rút ra từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành. Trên cơ sở xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để rút ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết.
Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các thời kỳ tiếp theo. Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành vốn lưu động với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu, từ đó xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp mình.
1.2. Nội dung quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
1.2.1. Chính sách quản lý vốn lưu động
- Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.
Việc quản lý sử dụng tốt vốn lưu động sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý sử dụng vốn lưu động không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, trên cơ sở đó sẽ tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Chính sách mạo hiểm
Với sự kết hợp giữa chính sách quản lý Tài sản cố định mạo hiểm và Nguồn vốn ngắn hạn mạo hiểm, doanh nghiệp sử dụng một phần vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định. Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động vốn thấp hơn, tuy nhiên sự ổn định của nguồn vốn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo. Tóm lại, chính sách này đem lại thu nhập cao và rủi ro cao.
- Chính sách tài trợ thận trọng
Là sự kết hợp giữa chính sách quản lý Tài sản lưu động thận trọng và Nguồn vốn dài hạn thận trọng. DN đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động. Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, DN lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn. Tóm lại, chính sách này, DN có mức thu nhập thấp và rủi ro thấp.
- Chính sách tài trợ dung hòa
Với hai kiểu chính sách trên, DN chỉ có thể đạt được thu nhập cao với mức rủi ro cao (chính sách cấp tiến) hoặc mức rủi ro thấp nhưng thu nhập lại thấp (chính sách thận trọng). Để dung hòa giữa hai phương án, DN có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lí tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lí tài sản cấp tiến với nợ thận trọng. Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: Tài sản lưu động được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và Tài sản cố định được tài trợ bằng nguồn dài hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trang thái tương thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn đề như sự tương thích kì hạn, luồng tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này chỉ cố gắng tiến tới trạng thái tương thích, dung hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình.
Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lí vốn lưu động trong doanh nghiệp. Mỗi DN có thể lựa chọn một chính sách vốn lưu động riêng và việc quản lí vốn lưu động tại mỗi DN sẽ mang những đặc điểm rất khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lí vốn lưu động vẫn quản lí các bộ phận cấu thành nên vốn lưu động.
1.2.2. Quản lý vốn bằng tiền Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ tiền mặt ở quy mô nhất định. Vốn tiền mặt đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý một cách chặt chẽ hơn các loại tài sản khác vì nó rất dễ bị tham ô, lợi dụng, mất mát.
Đảm bảo dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để thực hiện nhiệm vụ thanh toán, dùng để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hóa, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết của doanh nghiệp. Mặt khác, còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực “đầu cơ” trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội kinh doanh tốt. Việc duy trì một mức dự trữ đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng hệ số khả năng thanh toán.
Nội dung cơ bản của quản lý vốn tiền mặt là: xác định mức tồn quỹ tối thiểu giúp doanh nghiệp tránh rủi ro khi không thanh toán ngay, mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp.
Người ta thường xác định mức tồn quỹ tối thiểu bằng cách lấy mức xuất quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ tồn quỹ.
Mô hình EOQ trong quản lý tiền mặt: EOQ là một mô hình quản lý dự trữ rất hiệu quả. EOQ trong quản lý tiền mặt giúp doanh nghiệp xác định được lượng tiền mặt dự trữ tối ưu để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Từ đó có thể giảm được tối đa các chi phí liên quan tới việc dự trữ tiền trong doanh nghiệp. Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
- Giả định của mô hình:
Nhu cầu về tiền mặt của Doanh nghiệp là ổn định Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn
Doanh nghiệp chỉ có hai phương thức dự trữ tiền: Tiền mặt, chứng khoán khả thi Không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Một số các chỉ tiêu của mô hình:
Trong đó:
- C/2 là mức dự trữ tiền mặt trung bình K là lãi suất chứng khoán theo năm T là tổng nhu cầu tiền trong một năm
- C là quy mô một lần bán chứng khoán
- F chi phí cố định cho một lần bán chứng khoán
Hình 1.1. Mô hình mức dự trữ tiền mặt tối ưu
1.2.3. Quản lý các khoản phải thu khách hàng
Để cạnh tranh và tồn tại được trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng và các dịch vụ sau khi mua bán như vận chuyển, lắp đặt… Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, không thể thiếu hoạt động mua bán chịu. Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả chưa đến kỳ hạn thanh toán như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn và đương nhiên doanh nghiệp cũng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn. Việc bán chịu sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm đồng thời góp phần xây dựng mối quan hệ làm ăn tốt đẹp với khách hàng. Tuy nhiên, nếu tỷ trọng các khoản phải thu là quá lớn trong tổng số vốn lưu động thì nó sẽ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Quản lý các khoản phải thu tốt nghĩa là hạn chế tối thiểu lượng vốn lưu động bị chiếm dụng sẽ làm giảm số ngày của chu kỳ thu tiền bình quân, thúc đẩy vòng tuần hoàn của vốn lưu động. Đồng thời sẽ làm giảm các chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…
Để giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi nợ, hạn chế được rủi ro và những chi phí không cần thiết phát sinh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động, doanh nghiệp cần quan tâm tới một số biện pháp như:
- Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp và thường xuyên đôn đốc để thu hồi nợ đúng hạn.
- Có biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán (lựa chọn khách hàng, giới hạn giá trị tín dụng, yêu cầu đặt cọc…)
- Tiến hành xác định và trích lập dự phòng phải thu khó đòi vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- Có sự rằng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng, nếu vượt quá thời hạn thanh toán theo hợp đồng sẽ bị phạt hoặc được thu lãi suất như lãi suất quá hạn của ngân hàng.
1.2.4. Quản lý hàng lưu kho Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không. Việc quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý doanh nghiệp sẽ không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu hụt sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trên thị trường, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.
Mức tồn kho dự trữ từng loại tài sản thường khác nhau, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh mà mức tồn kho dự trữ cao thấp khác nhau, nhưng đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: quy mô sản xuất, khả năng cung ứng của thị trường, giá cả của các loại nguyên vật liệu, đặc điểm công nghệ sản xuất, trình độ quản lý…
Phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ, phương pháp tổng chi phí tối thiểu, phương pháp tồn kho bằng không… Tài sản tồn kho dự trữ biểu hiện bằng tiền là vốn tồn kho dự trữ, để tiết kiệm vốn và sử dụng có hiệu quả, doanh nghiệp phải sử dụng phương pháp quản trị sao cho phù hợp.
- Mô hình EOQ trong quản lý hàng lưu kho:
Theo như mô hình này có hai loại chi phí thay đổi theo lượng đặt hàng là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng. Mục tiêu của mô hình là tối thiểu hóa tổng chi phí đặt hàng và tổng chi phí lưu kho. Hai chi phí này phản ứng ngược chiều nhau. Khi quy mô đơn hàng tăng lên, ít đơn hàng sẽ làm cho chi phí đặt hàng giảm trong khi đó mức dự trữ bình quân cao lên dẫn đến chi phí lưu kho tăng. Do đó, trên thực tế lượng đặt hàng tối ưu là kết quả của sự dung hòa giữa hai chi phí có mối quan hệ tỷ lệ nghịch này.
- Một số chỉ tiêu đánh giá của mô hình EOQ
Trong đó
- S: số lượng cần đặt
- S: số lần đặt hàng
- O: chi phí cho một lần đặt hàng
- Q : là mức dự trữ kho trung bình
- C: chi phí dự trữ kho cho một đơn vị hàng
Hình 1.2. Mô hình EOQ trong quản lý hàng lưu kho
1.3. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thi trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là tổng hợp của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận. Trong đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp.
Có nhiều khái niệm về vốn lưu động được đưa ra dựa trên quan điểm, hướng nghiên cứu khác nhau của từng cá nhân nhà khoa học, kinh tế học. Ví dụ:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được thể hiện bằng mối quan hê so sánh giữa kết quả kinh doanh với số vốn lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.3
Nhưng hiểu theo bất kỳ khái niệm nào thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một doanh nghiệp được xét trong một kỳ kế toán nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.
Với mục đích chính mà bất kỳ doanh nghiệp nào đi vào sản xuất kinh doanh cũng đặt ra đó là “tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận”.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách tổng quát nhất người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát dưới đây:
- Chi tiêu lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
ROS là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu. Nó phản ánh một đồng doanh thu thuần có thể tao ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý một cách hiệu quả các chi phí hoạt động.
- Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ đầu tư tài sản, phản ánh một đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA càng cao thì chứng tỏ công ty càng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn.
- Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE là thước đo hiệu quả nhất để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn.
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thanh toán trong kì với tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu dưới đây:
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi trong ngắn hạn các tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm của doanh nghiệp là tốt. Tuy nhiên không phải chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt vì có thể gây ứ đọng vốn và tạo ra chi phí cơ hội không cần thiết khi dự trữ tài sản lưu động quá nhiều thay vì đầu tư sinh lời.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Hệ số này đo lường khả năng nhanh chóng đáp ứng của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn, vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ. Độ lớn hay nhỏ của khả năng thanh toán nhanh còn tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể để kết luận là tích cực hay không. Tuy nhiên nếu hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán nợ.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp:
- Vòng quay vốn lưu động
Hệ số này phản ánh tốc độ luân chuyển của Vốn lưu động trong kỳ. Số vòng quay của Vốn lưu động càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại. Tốc độ luân chuyển Vốn lưu động tăng thì tăng tốc độ luân chuyển của vốn kinh doanh, tăng hiệu quả Sản xuất kinh doanh trong một đơn vị thời gian.
- Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối.
- Mức tiết kiệm vốn lưu động tương đối
Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc bỏ ra số vốn lưu động ít hơn so với trước. Công thức xác định số vốn lưu động tiết kiệm tương đối:
- Mức tiết kiệm vốn lưu động tuyệt đối
Vốn lưu động kỳ trước Nếu quy mô kinh doanh không đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng vốn lưu động có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Hệ số này phản ánh số Vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu. Trong khi tính toán nếu hàm lượng Vốn lưu động càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng Vốn lưu động càng cao và ngược lại.
- Mức sinh lợi Vốn lưu động
Hệ số này phản ánh một đồng Vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số sinh lời Vốn lưu động càng cao thì hiệu quả sử dụng Vốn lưu động càng tốt.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành Vốn lưu động
- Hàng tồn kho
Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng hoạt động của các bộ phận Vốn lưu động
- Hệ số lưu kho
Đây là một chỉ tiêu khá quan trong để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, nó được tính bằng tỷ lệ giữa giá vốn hàng bán và giá trị hàng tồn kho (nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm,…). Chỉ số này càng cao số vòng quay của hàng lưu kho lớn thì hiệu quả hoạt động và sử dụng Vốn lưu động của DN là tốt.
Hệ số lưu kho phản ánh số lần hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong ký. Hệ số này cao nghĩa là hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả. Hệ số này thấp có nghĩa doanh nghiệp bị ứ đọng vật tư hàng hóa vì dự trữ quá mức hoặc tiêu thụ chậm. tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao cũng không tốt vì điều đó có nghĩa lượng hàng hóa dự trữ trong kho không nhiều có thể làm gián đoạn sản xuất, không đáp ứng kịp thời khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột.
- Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết trong một chu kì kinh doanh, hàng tồn kho quay hết một vòng cần bao nhiêu thời gian. Chỉ tiêu này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và tính chất của sản phẩm. Để xác định khả năng quản lý vốn của DN thì chỉ tiêu này thường nhỏ hơn so với chỉ tiêu trung bình ngành, nó phản ánh Vốn lưu động của DN rất linh hoạt, không bị ứ đọng ở quá trình dự trữ. Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
Các khoản phải thu:
- Hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Chỉ số này càng cao thì tốc độ thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp càng tốt, doanh nghiệp càng ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách hàng và nếu phải cấp thì chất lượng tín dụng cao).
- Thời gian thu nợ trung bình
Thời gian thu nợ trung bình cho biết một đồng doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng thì bao lâu sẽ thu hồi được. Phản ánh hiệu quả và chất lượng quản lý các khoản phải thu.
Các khoản phải trả:
- Thời gian trả chậm trung bình
Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày để trả nợ.
- Thời gian quay vòng của tiền
Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Thời gian quay vòng tiền ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên, cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động, đối với doanh nghiệp hoạt động xây lắp thì thời gian quay vòng tiền sẽ khá dài so với các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại
Tóm lại, toàn bộ hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn trên đây là cơ sở quan trọng để nhìn nhận, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu về tình hình tổ chức sử dụng vốn nói riêng và tình hình tài chính nói chung của DN, để đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN. Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng vốn lưu động tại công ty Que hàn điện

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Đánh giá vốn lưu động tại công ty Que hàn điện […]