Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Traenco dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 11/01/2019, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã mở ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập toàn cầu như hiện nay, các doanh nghiệp được thành lập với tư cách là tổ chức kinh tế độc lập, dù là hình thức doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp Nhà Nước, đều có hoạt động chủ yếu là thực hiện một, một số hay toàn bộ các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay cung cấp các dịch vụ trên thị trường. Để có thể tồn tại và phát triển cũng như mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp cần có một lượng vốn tiền tệ nhất định và thường xuyên phải bổ sung vốn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình. Như vậy vốn là tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển cũng như sự thành bại của doanh nghiệp.

Vốn kinh doanh càng đóng vai trò quan trọng hơn khi hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu đang diễn ra rất phức tạp, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong công tác huy động vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng cho hoạt động hàng ngày của mình. Bên cạnh đó, việc yếu kém trong công tác sử dụng vốn cũng như huy động vốn của một số doanh nghiệp dẫn tới hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, không bảo toàn và mở rộng được nguồn vốn. Vì vậy đây là vấn đề thời sự quan trọng cần được các nhà quản trị doanh nghiệp đặc biệt lưu tâm trong điều kiện hiện nay.

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nêu trên với nền kinh tế – xã hội, qua thời gian thực tập trực tiếp tại Công ty Cổ phần Traenco một công ty có đặc điểm là kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng và xuất khẩu lao động, người viết nhận thấy công ty cũng đang gặp những khó khăn nhất định trong vấn đề này., với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, cho nên người viết đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Traenco”.

II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Đối tượng nghiên cứu là công tác tài chính tại Công ty Cổ phần Traenco. Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ các vấn đề liên quan đến công tác tài chính tại Công ty Cổ phần Traenco trong 3 năm 2022, 2023 và 2024. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng đó là: Phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, mô tả, tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, đánh giá dựa trên các tài liệu sưu tập… kết hợp với suy luận để làm sáng tỏ luận điểm, luận cứ nhằm giải quyết vấn đề.

III. Kết cấu khóa luận

Kết cấu khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Traenco
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Traenco

Vì lí do thời gian thực tập không quá dài và khả năng tiếp cận thông tin hạn chế cũng như những kiến thức chuyên môn của bản thân có giới hạn nên bài viết luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự góp ý, nhắc nhở của các thầy cô trong Khoa Kinh tế Quản lý và cán bộ trong công ty để người viết có thể hoàn thiện bài viết hơn nữa.

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Những vấn đề cơ bản về vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh trong doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm và thành phần vốn kinh doanh

  • Khái niệm Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định. Doanh nghiệp dùng số vốn có được đó để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, bao gồm: sức lao động, đối tượng lao động và tài liệu lao động nhằm biến đổi thành các sản phẩm đầu ra là hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng hay sản xuất. Lượng vốn này được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng trở lại với hình thái ban đầu là tiền. Số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm phải bù đắp được toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như vậy vốn chính là toàn bộ giá trị ban đầu và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh và được biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hóa của doanh nghiệp, tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể.

Từ đó ta có định nghĩa về vốn kinh doanh: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.

Vốn kinh doanh là lượng tiền vốn nhất định cần thiết ban đầu nhằm đảm bảo cho các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh còn được coi là một quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là biểu hiện của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh bao gồm:

  • Tài sản hiện vật như: nhà kho, cửa hàng, hàng hoá dự trữ…
  • Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quí, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
  • Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác.

Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.

  • Thành phần của vốn kinh doanh:

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình sử dụng tiền (vốn) để tạo ra số tiền nhiều hơn số tiền đã bỏ ra ban đầu. Quá trình này lặp đi lặp lại theo một trật tự nhất định tạo thành chu kỳ kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, mỗi chu kỳ được chia làm các giai đoạn: chuẩn bị sản xuất – sản xuất – tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được luân chuyển và tuần hoàn không ngừng. Xét về vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể phân vốn kinh doanh thành hai loại:

  • Vốn cố định Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Trong nền kinh tế thị trường để có được các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc làm tăng vốn cố định có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Do giữ vị trí then chốt và có đặc điểm vận động tuân theo quy luật riêng nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp.

Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.

Quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp và quyết định tới năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm. Việc khai thác sử dụng vốn cố định hợp lý sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp, làm thế nào để vốn cố định được sử dụng có hiệu quả là một khâu trọng tâm trong công tác quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà quy mô vốn cố định quyết định đến tính đồng bộ và trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất của tài sản cố định, song chính đặc điểm kinh tế của tài sản cố định lại chi phối quyết định tới đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định.

Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản cố định của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài. Sự vận động vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể được khái quát qua một số nét đặc thù sau:

  • Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
  • Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển.
  • Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị, tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Những đặc điểm chu chuyển của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải kết hợp giữa quản lý theo giá trị và quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định của doanh nghiệp. Để quản lý, sử dụng vốn cố định một cách có hiệu quả thì phải sử dụng tài sản cố định sao cho hiệu quả. Thông thường một tư liệu lao động được coi là tài sản cố định phải đồng thời thỏa mãn hai tiêu chuẩn cơ bản:

  • Phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở lên

Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức qui định (hiện nay có quy định mới về tiêu chuẩn nhận biết Tài sản cố định, Thông tư 45 quy định nguyên giá Tài sản cố định phải có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên trong khi Thông tư 203 quy định là 10 triệu đồng. Đối với Tài sản cố định doanh nghiệp đang theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư 203 nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá là 30 triệu thì giá trị còn lại của các tài sản này được phân bổ vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Thông tư này)

Đối với mỗi doanh nghiệp, để tiến hành sản xuất, tạo ra sản phẩm cần có ba yếu tố là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Các tư liệu lao động (máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trong nhất trong các tư liệu lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh đó là tài sản cố định . Đối với những tư liệu lao động riêng biệt, có thể không đủ những điều kiện về giá trị và thời gian, nhưng chúng được tập hợp theo từng tổ hợp sử dụng đồng bộ thì tổ hợp này cũng được coi là tài sản cố định. Để quản lý tốt tài sản cố định trong doanh nghiệp, người ta chia tài sản cố định dựa theo các căn cứ sau đây:

Căn cứ vào hình thái biểu hiện tài sản cố định có

  • Tài sản cố định hữu hình
  • Tài sản cố định vô hình

Căn cứ vào công cụ kinh tế

  • Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh
  • Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào tình hình sử dụng

  • Tài sản cố định đang sử dụng
  • Tài sản cố định chưa sử dụng
  • Tài sản cố định không cần sử dụng, chờ thanh lý

Căn cứ vào quyền sở hữu

  • Tài sản cố định tự có
  • Tài sản cố định đi thuê

Vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh. Việc tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế. Do giữ vị trí quan trọng và then chốt, nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính. Nếu việc quản lý và sử dụng không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Công tác quản lý vốn cố định của doanh nghiệp cũng đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ trên cả 2 mặt: quản lý sử dụng tốt hình thái tài sản cố định – hình thái hiện vật của vốn cố định, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền khấu hao tài sản cố định.

  • Vốn lưu động Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do vậy, để hình thành nên tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.

Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến.

Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản xuất lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra thuờng xuyên liên tục. Phù hợp với những đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh.

Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đặc điểm này của tài sản lưu dộng đã quyết định đến sự vận động chu chuyển của vốn lưu động, đó là:

Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng, lập đi lặp lại có tính chất chu kỳ và được gọi là sự chu chuyển của vốn lưu động. Do sự chu chuyển diễn ra không ngừng, nên tại một thời điểm nhất định, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận cùng tồn tại dưới các hình thức khác nhau trong các giai đoạn khác nhau mà vốn đi qua. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động chuyển hết giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ khi doanh nghiệp hoàn thành xong việ tiêu thụ và xác định doanh thu. Do đó doanh nghiệp hoành thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Như vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ khi kết thúc quá trình tiêu thụ. Khi đó ta nói vốn lưu động đã hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên quá trình tuần hoàn của vốn lưu động được lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Chính vì vậy, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất như: vốn dự trữ, vốn sản xuất, vốn lưu thông

Để quản lí tốt vốn lưu động cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động. Phân loại vốn lưu động là việc chia vốn lưu động ra thành các nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định.

Phân loại theo hình thái biểu hiện:

  • Vốn bằng tiền
  • Vốn về hàng tồn kho

Việc phân loại vốn theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, dựa vào cách phân loại này còn có thể tìm ra biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý, hiệu quả.

Phân loại theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh:

  • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất
  • Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất
  • Vốn lưu động trong khâu lưu thông

Phương pháp phân loại này cho phép biết được kết cấu vốn lưu động theo vai trò. Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh.Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lí thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển vốn lưu động.

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất. Muốn cho quá trình này được tiếp tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khá nhau của vốn lưu động, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, góp phần tăng tốc độ lưu chuyển vốn lưu động, tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu động và ngược lại.

Từ những đặc điểm trên ta thấy quản lý và sử dụng vốn lưu động là bộ phận quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp. Trong đó cần phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp đảm bảo vốn lưu động để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng ứ đọng vốn. Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có những biện pháp khai thác và huy động các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trước cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì thế, để có thể phát huy tối đa hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, ta cần phải nhận thức đúng đắn về những đặc trưng của vốn kinh doanh

  • Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định.

Vốn là biểu hiện giá trị bằng tiền của các tài sản trong doanh nghiệp, điều đó có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng gía trị của những tài sản hữu hình. Những tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, nguyên liệu,… được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm mới. Những tài sản hiện vật sử dụng cá nhân không đưa vào sản xuất không được gọi là vốn, chính từ đặc điểm này mà ta có thể huy động được một nguồn vốn khá lớn từ những tài sản xã hội còn đang cất trữ chưa được sử dụng. Do đó, doanh nghiệp không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại.

  • Hai là, vốn phải được vận động để sinh lời.

Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của một vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền tệ, với giá trị tại thời điểm kết thúc lớn hơn giá trị tại điểm khởi đầu, tức là kinh doanh có lãi. Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không được để vốn bị ứ đọng.

  • Ba là, vốn có giá trị về mặt thời

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau lại khác nhau. Vì vậy, huy động vốn và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng.

  • Bốn là, vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng trong hoạt động kinh doanh.

Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như thu hút nhiều nguồn vốn từ các nhà đầu tư để tiến hành sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

  • Năm là, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác

Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn là biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình. Tài sản ở đây bao gồm cả tài sản vô hình (giấy chứng nhận, quyền sử dụng…) và tài sản hữu hình (máy móc, nhà xưởng…). Đặc trưng này giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp phát huy hiệu quả tổng hợp vốn kinh doanh.

  • Sáu là, vốn phải gắn với chủ sở hữu.

Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức nên không thể có đồng vốn vô chủ. Vốn phải được gắn với chủ sở hữu thì mới được chi tiêu hợp lý và có hiệu quả. Tuỳ từng hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời người sử dụng vốn.

  • Bảy là, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt.

Giống như các loại hàng hoá khác, “hàng hoá vốn” cũng được mua bán trên thị trường. Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sử dụng vốn mà không mua được quyền sở hữu. Người mua (người vay vốn) phải trả cho người bán (người cho vay) một tỷ lệ lãi suất nhất định – đó chính là giá của quyền sử dụng vốn. Đặc trưng này giúp cho doanh nghiệp có được quyết định đúng đắn trong việc huy động vốn để có được hiệu quả cao nhất với chi phí huy động vốn thấp nhất.

1.1.3 Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để đảm bảo nguồn vốn kinh doanh để sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất, các doanh nghiệp phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Các doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vốn để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp. Ngoài ra, việc phân loại nguồn hình thành vốn kinh doanh sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách thích hợp và hiệu quả. Tuỳ theo từng tiêu thức phân loại mà người ta có thể phân loại nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiều tiêu thức khác nhau. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.1.3.1 Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn

Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

Mô hình 1.1. Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh

  • Nợ phải trả

Nợ phải trả là số vốn thuộc về quyền sở hữu của các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp được quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một khoảng thời gian nhất định.

Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách như trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ , thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu.

Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành:

  • Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả trong một thời gian ngắn như vay ngắn hạn, phải trả nhà cung cấp, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước,…
  • Nợ dài hạn là các khoản nợ mà trên một năm doanh nghiệp mới phải hoàn trả như vay dài hạn, phát hành cổ phiếu,…

Nguồn vốn nợ phải trả được thực hiện dưới các phương thức sau:

  • Tín dụng ngân hang là các khoản mà doanh nghiệp vay của các ngân hàng thương mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác. Tín dụng ngân hàng có nhiều dạng như tín dụng ứng trước, chiết khấu thương phiếu, tín dụng thuê mua…
  • Tín dụng thương mại là các khoản doanh nghiệp chiếm dụng tạm thời từ các nhà cung cấp vật tư hàng hoá cho doanh nghiệp thông qua phương thức thanh toán trả chậm; người mua trả tiền trước…
  • Phát hành trái phiếu là hình thức huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu. Khi phát hành trái phiếu, công ty không những chịu lãi phải trả mỗi kỳ mà doanh nghiệp còn phải trả thêm chi phí phát hành trái phiếu.
  • Các khoản nợ tạm thời khác như phải trả người lao động, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, chi phí phải trả, các khoản chiếm dụng tạm thời của các đơn vị nội bộ… Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Nguồn vốn chủ sở hữu:

Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc sở hữu của các chủ doanh nghiệp gồm: vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn do doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn tài trợ của Nhà nước nếu có.

Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu là vốn nhà nước, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp. Đặc điểm của nguồn vốn chủ sở hữu là không có thời gian đáo hạn, có độ an toàn cao, lợi nhuận chi trả không ổn định, phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.

Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn sau:

Từ khoản đóng góp của chủ sở hữu:

  • Nếu là doanh nghiệp Nhà nước vốn do ngân sách cấp.
  • Nếu là doanh nghiệp tư nhân vốn do chủ doanh nghiệp bỏ
  • Nếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn vốn tự có do các cổ đông hay thành viên trong công ty góp vốn.
  • Doanh nghiệp liên doanh do các thành viên trong nước và nước ngoài thỏa thuận góp vốn.
  • Hợp tác xã do các xã viên đóng góp

Vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh gồm:

  • Lợi nhuận chưa phân phối.
  • Chênh lệch do đánh giá lại tài sản.
  • Quỹ doanh nghiệp…

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, một doanh nghiệp thường phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự kết hợp hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động và quyết định của người quản lí. Nhận thức được từng lọai vốn sẽ giúp doanh nghiệp tìm được biện pháp tổ chức quản lí, sử dụng vốn hợp lí. Đồng thời có thể tính toán để tìm ra kết cấu vốn hợp lí với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.

1.1.3.2 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn này thường dùng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

  • Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác.

Mô hình vốn và nguồn vốn theo tiêu thức trên có thể khái quát như sau:

  • Mô hình 1.2. Vốn và nguồn vốn

Phương pháp phân loại này giúp cho các nhà quản lí xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn kin doanh và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.1.3.3 Phân loại theo phạm vi huy động vốn

Căn cứ theo phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.

Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp.Nguồn vốn này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, khoản khấu hao tài sản cố định tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý tài sản cố định.

Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm:

  • Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
  • Khoản khấu hao tài sản cố định
  • Tiền nhượng bán tài sản,vật tư không cần dùng hoặc khấu hao tài sản cố định

Nguồn vốn bên ngoài là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Bao gồm vay của người thân, vay Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, gọi góp vốn liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản, huy động vốn bằng phát hành chứng khoán… Việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ làm khuếch đại lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và lợi nhuận trên Vốn kinh doanh lớn hơn chi phí sử dụng vốn.

Nguồn vốn bên ngoài bao hàm một số nguồn vốn chủ yếu sau

  • Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân)
  • Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính
  • Gọi góp vốn liên doanh liên kết
  • Tín dụng thương mại của nhà cung cấp

1.1.4 Các mô hình tài trợ vốn kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.1.4.1 Mô hình tài trợ thứ nhất

Toàn bộ tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ tài sản lưu động tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.

Lợi ích của áp dụng mô hình này:

  • Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn.
  • Giảm bớt được chi phí trong việc sử dụng vốn.
  • Hạn chế của việc sử dụng mô hình này: Chưa tạo được sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt hơn.

Trong thực tế, có khi doanh thu biến động, khi gặp khó khăn về tiêu thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh, nhưng vẫn phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn.

  • Mô hình 1.3. Mô hình tài trợ thứ nhất

1.1.4.2 Mô hình tài trợ thứ hai

Toàn bộ tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên và một phần của tài sản lưu động tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên và một phần Tài sản lưu động tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.

  • Mô hình 1.4. Mô hình tài trợ thứ hai Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Sử dụng mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao, tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn.

Nếu so sánh giữa tài trợ ngắn hạn và tài trợ dài hạn về mức độ rủi ro, thông thường tài trợ ngắn hạn có mức độ rủi ro ít hơn tài trợ dài hạn, lãi suất tiền vay ngắn hạn thường biến động nhiều hơn; về mặt chi phí sử dụng vốn, tài trợ dài hạn thường có chi phí cao hơn, lãi suất thường cao hơn, đôi khi được sử dụng cả trong những lúc không có nhu cầu thực sự.

Về mặt thực tế, có những doanh nghiệp khi gặp thời vụ, dự trữ vật tư và hàng tồn kho để bán tăng lên, lúc này đã sử dụng phần nguồn vay dài hạn để tài trợ cho phần tăng độ biến đó. Trong tình huống này, cũng phải được chấp nhận đưa đến việc sử dụng vốn có tính linh hoạt hơn, mặc dù chi phí có cao hơn.

1.1.4.3 Mô hình tài trợ thứ ba

Toàn bộ tài sản cố định và một phần tài sản lưu động thường xuyên thường xuyên được bảo đảm bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần tài sản lưu động thường xuyên và toàn bộ tài sản lưu động tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời.

  • Mô hình 1.5. Mô hình tài trợ thứ ba

Về lợi thế, mô hình này chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp hơn vì sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ được linh hoạt hơn. Trong thực tế, mô hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn, vì một phần tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các doanh nghiệp mới hình thành lại càng cần thiết. Việc sử dụng mô hình này, doanh nghiệp cũng cần sự năng động trong việc tổ chức nguồn vốn, vì áp dụng mô hình này, khả năng gặp rủi ro sẽ cao hơn. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.1.5 Vai trò của vốn kinh doanh đối với các doanh nghiệp

Vốn kinh doanh là yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp để từ đó nắm bắt được tầm quan trọng trong việc ra quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh

Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp muốn thành lập thi điều kiện đầu tiên doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định. Vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp. Để có thể đi vào sản xuất kinh doanh, trước tiên doanh nghiệp phải đăng kí vốn điều lệ cùng hồ sơ xin cấp giấy phép kinh doanh. Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển hay không, từ đó đưa ra quyết định có nên cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp hay không. Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh… Thêm vào đó, vốn điều lệ mà công ty đăng ký phải lớn hơn vốn pháp định, là lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định doanh nghiệp phải có để tồn tại và phát triển

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản giả thể, sát nhập. Sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật cần phải thỏa mãn nhiều yếu tố trong đó vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất

Về mặt kinh tế: Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh Một quá trình sản xuất kinh doanh cần rất nhiều điều kiện để diễn ra: yếu tố vốn, yếu tố lao động, yếu tố công nghệ. Trong đó, yếu tố vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng. Vốn được sử dụng để mua sắm máy móc, dây truyền, công nghệ sản xuất, bằng sáng chế, phát minh phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.Vốn không chỉ là tất cả các yếu tố ban đầu được đầu tư cho một quá trình sản phục vụ cho quá trình sản xuất. Vốn còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục thường xuyên. Khi các yêu cầu về lao động và công nghệ đã được đảm bảo thì vốn cũng phải được đảm bảo để quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên liên tục. Mỗi loại hình doanh nghiệp có nhu cầu về vốn rất khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn dùng để mua nguyên vật liệu, với doanh nghiệp kinh doanh thưong mại thì vốn dùng để mua hàng để bán… ngoài ra, vốn còn được dùng để trả lương nhân viên, để thanh toán, giao dịch…

Tuy nhiên, không phải lúc nào vốn trong doanh nghiệp cũng vừa đủ, có khi ít, có khi nhiều. Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu vốn như hàng tồn kho đọng lại nhiều, khách hàng chưa thanh toán. Trong các trường hợp đó, cần phải kịp thời huy động vốn để quá trình hoạt động của doanh nghiệp được trôi chảy, liên tục.

Nền kinh tế thị trường ngày càng gay gắt khốc liệt, các doanh nghiệp phải tự đổi mới bản thần, không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ cũng như bộ máy sản xuất. Để đầu tư vào cơ sở vật chất một cách hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn cần thiết. Vốn tác động rất lớn đến năng lực sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là kết quả của tổng thể hàng loạt các biện pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Việc tổ chức đảm bảo kịp thời, đầy đủ vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là mục tiêu và là yêu cầu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng các nguồn lực vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện qua năng lực tạo ra giá trị sản xuất, doanh thu và khả năng sinh lợi của vốn. Xét trên mức độ sử dụng vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo vốn và sử dụng vốn cố định, vốn lưu động của doanh nghiệp

  • Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường người ta đứng trên hai góc độ:

Hiệu quả kinh tế: là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp. Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được về mặt kinh tế với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sau một quá trình kinh doanh.

Hiệu quả xã hội: của một quá trình kinh doanh được thể hiện ở mức độ tham gia của doanh nghiệp vào các chương trình kinh tế xã hội. Thông qua các hoạt động kinh doanh của mình thực hiện các chính sách, phân loại, tạo việc làm cho người lao động, môi trường công bằng xã hội. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất. Do vậy các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên bắt buộc đối với doanh nghiệp. Việc kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội chỉ là một, sẽ cho ta đánh giá hiệu quả một cách đúng đắn bởi một hoạt động sản xuất kinh doanh mạng lại nhiều lợi nhuận (hiệu quả kinh tế cao) mà không gây tác hại đến cộng đồng, môi trường thiên nhiên thì nó được đánh giá là có hiệu quả và không bị ngăn chặn, và ngược lại.

Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điệu kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Để việc sử dụng vốn có hiệu quả, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm của doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đang trở nên rất cấp thiết đối với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Sự cần thiết này xuất phát từ những lý do sau:

  • Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:

Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực. Vốn quyết định quy mô đầu tư, mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và quyết định cả thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh, không ít những doanh nghiệp có khả năng về nhân lực, có cơ hội đầu tư nhưng thiếu khả năng tài chính mà đành bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.

Với vai trò đó, việc sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trở thành đòi hỏi rất cấp thiết đối với mọi doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

  • Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp:

Mỗi doanh nghiệp khi tham gia và hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao lợi nhuận. Muốn vậy, doanh nghiệp phải phối hợp tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Trong đó, vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có tính chất quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa lâu dài với sự phát triển của doanh nghiệp. Khi đồng vốn được sử dụng hiệu quả cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn. Đó chính là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành tái sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu.

  • Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp:

Trong thời kì bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được huy động từ hai nguồn cơ bản, cấp phát của ngân sách nhà nước và vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi của ngân hàng. Vốn hầu như được tài trợ toàn bộ, vai trò của tài chính doanh nghiệp trở nên mờ nhạt. Do đó triệt tiêu tính linh hoạt của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mặc dù nhiều doanh nghiệp thích ứng được, làm ăn có lãi nhưng vẫn còn không ít doanh nghiệp còn sử dụng vốn kém hiệu quả, không bảo toàn được vốn.

  • Xuất phát từ ý nghĩa đối với xã hội:

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tự trang trải chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi, phải tổ chức và sử dụng đồn vốn có hiệu quả. Doanh nghiệp là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế. Tại đó, doanh nghiệp là một bộ phận chủ yếu tạo ra GDP, có tính quyết định trong việc giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao và tác động tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như biến đổi các vấn đề đời sống xã hội. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế.

1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh

  • Vòng quay toàn bộ vốn

Chỉ tiêu này phản ánh vốn kinh doanh trong kỳ chu chuyển được bao nhiêu vòng hay mấy lần. Vòng quay toàn bộ vốn càng cao, hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng cao. Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của nghành kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng tài sản vốn của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (hay tỷ suất sinh lời của tài sản – ROAE): phản ánh khả năng sinh lời của vốn kinh doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nqguồn gốc của vốn kinh doanh.

Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROS): phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia.

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau

  • ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.
  • ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.

Thu nhập 1 cổ phần (EPS): là chỉ số nói lên phần lợi nhuận thu được trên mỗicổ phần. Đây cũng có thể coi như phần lợi nhuận thu được trên mỗi khoản đầu tư ban đầu, nên nó được coi như là chỉ số xác định khả năng lợi nhuận của một công ty (hay một dự án đầu tư).

Hệ số EPS phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế. EPS là một chỉ số tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư cá nhân và thể chế cũng như các nhà phân tích dễ dàng hiểu và so sánh giữa các loại cổ phiếu.

1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, tổ chức thúc đẩy sản xuất phát triển. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực tạo ra giá trị sản xuất, doanh thu và khả năng sinh lời của vốn

Để đánh giá trình độ tổ chức và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp được biểu hiện qua các chỉ tiêu sau:

  • Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp.

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: Số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn lưu động .

Số lần luân chuyển vốn lưu động (hay số vòng quay vốn lưu động ): phản ánh số vòng quay vốn lưu động thực hiện trong một kỳ (thường là một năm) Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Hiện nay, tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp ở trong kỳ.

Kỳ luân chuyển vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động trong kỳ.

Vòng quay vốn càng nhiều thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng cao

  • Mức tiết kiệm vốn lưu động do tốc độ luân chuyển.

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (ký báo cáo).

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo).

  • Hàm lượng vốn lưu động ( hay còn gọi là mức đảm nhận vốn lưu động)

Chỉ tiêu này phản ánh để có một đồng doanh thu thuần về bán hàng cần bao nhiêu vốn lưu động.

  • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra được mấy đồng lợi nhuận trước (sau) thuế.

Ngoài các chỉ tiêu chủ yếu trên, khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp, ta còn sử dụng một số chỉ tiêu sau:

  • Vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng hoá vật tư tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.

Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hoá trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Vòng quay các khoản phải thu: là một trong những tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó.

Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp.

Kỳ thu tiền trung bình: là số ngày bình quân để thu hồi được các khoản nợ phải thu. Kỳ thu tiền bình quân giảm cho thấy tốc độ thu hồi các khoản phải thu tăng lên.

  • Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hiên thời):

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ số thanh khoản hiện thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn.

Do vốn lưu động biểu hiện dưới nhiều tài sản lưu động khác nhau như tiền mặt, nguyên vật liệu, các khoản phải thu… nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta còn đi đánh giá các mặt cụ thể trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động. Sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lượng của công tác quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu.

Nếu một công ty đang gặp khó khăn về tài chính, họ buộc phải trả nợ chậm hơn, phải vay thêm từ ngân hàng… Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản lưu động, thông số khả năng thanh toán hiện thời sẽ giảm và điều này sẽ đưa công ty đến tình trạng khó khăn. Thông số này cung cấp một dấu hiệu đơn giản và tốt nhất về mức độ đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản dự kiến có thể được chuyển hóa nhanh thành tiền.

Thông thường, khả năng thanh toán hiện thời càng cao cho một cảm giác là khả năng trả nợ càng cao nhưng thông số này chỉ được xem là một công cụ đo lường thô vì nó không tính đến khả năng chuyển nhượng của từng tài sản trong nhóm tài sản lưu động. Một công ty có tài sản lưu động chủ yếu gồm tiền mặt, các khoản phải thu không quá hạn thì công ty đó sẽ khả nhượng hơn so với công ty duy trì chủ yếu tồn kho. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

  • Khả năng thanh toán nhanh:

Thông số này là một công cụ bổ sung cho thông số khả năng thanh toán hiện thời khi phân tích khả năng thanh toán. Thông số này chủ yếu tập trung vào các tài sản có tính chuyển hóa thành tiền cao hơn như tiền mặt, chứng khoản khả nhượng và khoản phải thu. Với nội dung như vậy, khả năng thanh toán nhanh là một công cụ đo lường khả năng thanh toán chặt chẽ hơn so với khả năng thanh toán hiện thời.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn trong kỳ mà không phải dựa vào việc bán các loại vật tư, hàng hoá. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan

  • Khả năng thanh toán tức thời:

Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện khả năng thanh toán ngay bằng tiền của doanh nghiệp khi chủ nợ có yêu cầu. Thực tế cho thấy, hệ số ngày lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán công nợ. Nếu hệ suất này quá cao lại phản ánh tình trạng vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

1.2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

Để đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn cố định cần xác định đúng đắn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sản cố định của doanh nghiệp.

  • Các chỉ tiêu tổng hợp

Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định được đầu tư, tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao.

Hàm lượng vốn cố định: là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định, phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

Hệ số huy động vốn cố định: phản ánh mức độ huy động vốn cố định hiện có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

  • Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra được mấy đồng lợi nhuận trước (sau) thuế.

  • Hệ số hao mòn tài sản cố định

Chỉ tiêu này, một mặt phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định trong doanh nghiệp, mặt khác nó phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn lại của tài sản cố định cũng như vốn cố định ở thời điểm đánh giá.

1.2.4 Mô hình SWOT ứng dụng trong doanh nghiệp

Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như quản lý và sử dụng vốn nói riêng, doanh nghiệp luôn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Vì thế ngoài các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp, khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn thì các doanh nghiệp cần phải nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động đến hiệu quả sử dụng vốn và kết quả kinh doanh.

Mô hình SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và đưa ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào. Viết tắt của 4 chữ Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ

Vì mô hình phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự logic dễ hiểu, dễ trình bày, dễ soạn thảo và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình đưa quyết định, hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào. Quá trình phân tích SWOT sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho việc kết nối các nguồn lực và khả năng của công ty với môi trường cạnh tranh mà công ty đó đang hoạt động. Trong đó thì Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn Opportunities và Threats là các nhân tố tác động bên ngoài SWOT cho phép phân tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.2.4.1 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp

Strengths là ưu thế của doanh nghiệp, công việc doanh nghiệp làm tốt nhất. Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh. Hay nói cách khác đó là tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động, sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao thì một quy trình sản xuất với chất lượng như vậy không phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường.

Weaknesses là các điểm yếu của doanh nghiệp, là tất cả những thuộc tính làm suy giảm tiềm lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và dành được thế mạnh, sự thắng lợi trên thị trường cạnh tranh, đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra.

Các yếu tố bên trong của doanh nghiệp được dùng để đánh giá

  • Văn hóa công
  • Hình ảnh công
  • Cơ cấu tổ chức.
  • Nhân lực chủ chốt.
  • Khả năng sử dụng các nguồn lực.
  • Kinh nghiệm đã có.
  • Hiệu quả hoạt động.
  • Năng lực hoạt động.
  • Danh tiếng thương hiệu.
  • Thị phần.
  • Nguồn tài chính.
  • Hợp đồng chính yếu.
  • Bản quyền và bí mật thương mại.

Strengths và Weaknesses của một doanh nghiệp dược coi là yếu tố bên trong của doanh nghiệp. Mỗi yếu tố bên trong của doanh nghiệp vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu trong quá trình kinh doanh trên thị trường. Vấn đề là doanh nghiệp đó phải cố gắng phát huy, phát hiện, khai thác, phân tích cặn kẽ các yếu tố nội bộ để tìm ra những ưu điểm, hạn chế, yếu kém của mình so với đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhàm bớt nhược điểm, phát huy thế mạnh của doanh nghiệp để đạt được lợi thế tối đa trong cạnh tranh. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

1.2.4.2 Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp

Opportunities là thời cơ của doanh nghiệp, là những thành đổi, những yếu tố mới xuất hiện trên thị trường tạo ra cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp, hay nói cách khác nó là việc xuất hiện khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng nhằm tăng doanh thu, mở rộng quy mô và khẳng định ưu thế trên thị trường. Tuy nhiên thời cơ xuất hiện chưa hẳn đã đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp bởi có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Tùy thuộc vào sức cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh hay yếu mới có thể khai thác những cơ hội thuận lợi trên thị trường

Threats là nguy cơ của doanh nghiệp, là những mối đe dọa nguy hiểm, bất ngờ xảy ra sẽ gây thiệt hại, tổn thất hoặc mang lại tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thiệt hại về hàng hóa, tài sản, thu hẹp thị trường và tổn hại đến uy tín thương hiệu

Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là:

  • Khách hàng.
  • Đối thủ cạnh
  • Xu hướng thị trường.
  • Nhà cung cấp.
  • Đối tác.
  • Thay đổi xã hội.
  • Công nghệ mới.
  • Môi truờng kinh tế.
  • Môi trường chính trị và pháp luật.

Opportunities và Threats là những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp. Quá trình tự do thương mại là thời cơ đem lại cho các doanh nghiệp được tự do kinh doanh, ít gặp rào cản thương mại, tự do mở rộng thị trường mua bán, sản phẩm của mình nhưng cũng đặt doanh nghiệp trước những thách thức như cạnh tranh trên thị trường sẽ gay gắt hơn cả về mức độ và phạm vi, chỉ doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt thì tồn tại, doanh nghiệp cạnh tranh kém thì dẫn đến thua lỗ, phá sản.

Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được. Thông tin cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin từ mọi phía: ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, tư vấn… SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin với xu hướng giản lược. Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề. Nhiều đề mục có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa hai thái cực S-W và O-T do quan điểm của nhà phân tích. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Traenco

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Traenco […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x