Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN

2.1.1. Khái quát về Tổng công ty

Tổng công ty (TCT) Rau quả, nông sản là Tổng công ty Nhà nước trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và có tài khoản mở tại kho bạc và ngân hàng theo quy định của pháp luật.

  • Tên giao dịch quốc tế: Vietnam National Vegetable, Fruit And Agricultural Product Corporation.
  • Viết tắt là: VEGETEXCO VIETNAM

Tổng công ty Rau quả, nông sản ( VEGETEXCO) là một Tổng công ty lớn hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – công ty con, có 33 đơn vị gồm 06 công ty con, 20 công ty liên kết, 05 công ty liên doanh với nước ngoài (Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan) và 02 chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài. Tổng công ty hoạt động trong phạm vi toàn quốc và toàn cầu, có quan hệ thương mại với 58 thị trường và khu vực. Tổng công ty không chỉ kinh doanh, sản xuất, chế biến, xuất nhập khẩu thực phẩm, rau, quả, nông, lâm, hải sản, mà còn kinh doanh dịch vụ xây dựng, vận tải, giao nhận, kho, cảng, khách sạn, văn phòng cho thuê. Trong lĩnh vực sản xuất, chế biến rau quả, Tổng công ty luôn đề cao phương châm “sức khoẻ và sự an toàn của người tiêu dùng là mệnh lệnh tối cao”.

  • SƠ ĐỒ 2.1 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

Tổng công ty Rau quả, nông sản được thành lập ngày 11/02/2007 theo quyết định số 63 NN-TCCB/QĐ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và được thành lập lại từ năm 2022 trên cơ sở sáp nhập hai Tổng công ty là Tổng công ty Rau quả Việt Nam và Tổng công ty Xuất nhập khẩu nông sản và thực phẩm chế biến. Tổng công ty là một tổ chức kinh doanh chuyên ngành kinh tế -kỹ thuật trong lĩnh vực rau quả từ sản xuất công- nông nghiệp sang chế biến công nghiệp xuất khẩu rau quả và nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Tiền thân là Tổng công ty Rau quả Việt Nam trải qua nhiều năm hoạt động, Tổng công ty đã không ngừng sắp xếp, đổi mới hoạt động cũng như tổ chức lại bộ máy. Quá trình phát triển của Tổng công ty thể hiện qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn 2007 – 2009: Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Đây là thời kỳ hoạt động theo cơ chế bao cấp sản xuất, kinh doanh rau quả. Thời kỳ này Tổng công ty đang nằm trong chương trình hợp tác rau quả Việt – Xô (1986-2009) mà Tổng công ty được Chính phủ giao cho làm đầu mối. Thực hiện chương trình này cả hai bên đều có lợi. Phía Liên Xô đáp ứng được nhu cầu rau quả cho cả vùng Viễn Đông Liên Xô, còn Việt Nam được cung cấp các vật tư chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; sản phẩm rau quả tươi và rau quả chế biến của Tổng công ty đựơc xuất sang Liên Xô là chính.

  • Giai đoạn 2010-2014:

Thời kỳ này nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, hàng loạt chính sách khuyến khích nông công nghiệp, khuyến khích xuất khẩu ra đời tạo điều kiện có thêm môi trường thuận lợi để sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, Tổng công ty gặp phải không ít khó khăn. Nếu như trước năm 2009, Tổng công ty được nhà nước giao nhiệm vụ làm đầu mối tổ chức nghiên cứu sản xuất, chế biến và xuất khẩu rau quả thì thời kỳ này, ưu thế đó không còn nữa. Nhà nước cho phép hàng loạt doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu mặt hàng rau quả, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo thế cạnh tranh mạnh mẽ với Tổng công ty. Mặt khác, thời kỳ này không còn chương trình hợp tác rau quả Việt – Xô, việc chuyển đổi cơ chế sản xuất kinh doanh từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường bước đầu khiến cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty còn lúng túng, bỡ ngỡ. Do đó, Tổng công ty vừa làm vừa phải tìm cho mình hướng đi thích ứng, trước hết là để ổn định, sau đó là để phát triển.

  • Giai đoạn 2015 – 2021:

Đây là thời kỳ hoạt động theo mô hình mới của Tổng công ty. Thời kỳ này, Tổng công ty đã tạo đựơc uy tín cao trong quan hệ đối nội, đối ngoại. Hàng hoá được xuất khẩu đi hơn 50 thị trường trên thế giới với số lượng ngày càng tăng, chất lượng, mẫu mã sản phẩm ngày càng được chú ý cải tiến, nâng cao hơn. Tổng công ty đã có những bài học kinh nghiệm của nền kinh tế thị trường trong những năm qua. Từ đó, Tổng công ty đã tìm cho mình những bước đi thích hợp và dần đi vào thế ổn định và phát triển.

  • Giai đoạn 2022 – nay: Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Năm 2022 trên cơ sở sáp nhập hai Tổng công ty là Tổng công ty Rau quả Việt Nam và Tổng công ty Xuất nhập khẩu nông sản và thực phẩm chế biến thành lập lại Tổng công ty Rau quả, nông sản. Là một Tổng công ty kinh doanh đa ngành trong phạm vi toàn quốc và thế giới, ngay từ khi thành lập Tổng công ty đã đặc biệt quan tâm xây dựng chất lượng sản phẩm, nên đã đầu tư nhiều dây chuyền thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến được nhập khẩu từ Châu Âu. Hiện nay, Tổng công ty có 22 nhà máy chế biến rau, quả, nông sản với công suất trên 100 nghìn tấn sản phẩm/năm. Các sản phẩm rau quả, nông sản chế biến mang thương hiệu VEGETEXCO VIETNAM đã và đang giành được uy tín với khách hàng ở trong nước và quốc tế. Đến nay, các mặt hàng của Tổng công ty đã có mặt tại 58 quốc gia trong đó những sản phẩm như dứa (cô đặc, đồ hộp, đông lạnh), điều, tiêu, rau, quả, gia vị… được khách hàng ưa chuộng tại nhiều thị trường như EU, Mỹ, Nga, Trung Quốc. Với mục tiêu phát triển bền vững, Tổng công ty có chiến lược liên tục đổi mới, giới thiệu ra thị trường thế giới nhiều mặt hàng mới, đảm bảo chất lượng sản phẩm cao và giá cả hợp lý.

Năm 2024, theo Quyết định số 201/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, Tổng công ty Rau quả, nông sản đã chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.

Về công tác cổ phần hoá, trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh sắp xếp đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty Rau quả, nông sản coi cổ phần hoá là giải pháp chủ yếu đối với các doanh nghiệp thành viên. Tính đến thời điểm năm 2024, Tổng công ty đã hoàn thành thủ tục cổ phần hoá cho 17 đơn vị thành viên, trong đó 10 thành viên đã đi vào hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần. Năm 2027 sẽ thực hiện cổ phần hoá nốt các đơn vị còn lại của Tổng công ty.

2.1.3. Các lĩnh vực hoạt động chính của Tổng công ty Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Sản xuất nông nghiệp, chế biến, kinh doanh xuất, nhập khẩu và tiêu thụ nội địa rau, quả, nông, lâm, thuỷ, hải sản, thực phẩm đồ uống, các loại tinh dầu, các loại giống rau, hoa, quả nhiệt đới; kinh doanh phân bón, hoá chất, vật tư, bao bì chuyên ngành rau quả, nông, lâm sản và chế biến thực phẩm; kinh doanh các sản phẩm cơ khí: máy móc, thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận tải, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng…

  • Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và đào tạo công nhân kỹ thuật chuyên ngành về sản xuất, chế biến rau quả, nông, lâm sản.
  • Cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư phát triển sản xuất, chế biến rau quả, nông, lâm sản.
  • Kinh doanh tài chính, tham gia thị trường chứng khoán.
  • Sản xuất kinh doanh các lĩnh vực khác: giao nhận, kho cảng, vận tải và đại lý vận tải; kinh doanh bất động sản, xây lắp công nghiệp và dân dụng; khách sạn, văn phòng cho thuê.
  • Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, tiếp nhận và thực hiện các dự án hỗ trợ đầu tư phát triển để phát triển kinh doanh của Tổng công ty.

2.1.4. Chính sách chất lượng của Tổng công ty

Đáp ứng nhu cầu của khách hàng và luôn làm khách hàng hài lòng là mục tiêu hàng đầu của Tổng công ty Rau quả, nông sản. Vì vậy, Tổng công ty liên tục cố gắng thực hiện mục tiêu này bằng việc cung cấp các sản phẩm có chất lượng tốt nhất, giá cả hấp dẫn và duy trì dịch vụ hỗ trợ khách hàng ở mức cao nhất.

Tổng công ty cam kết:

  • Luôn luôn lắng nghe ý kiến của khách hàng về sản phẩm, giá cả, các dịch vụ bán hàng, thanh toán, khiếu nại…
  • Luôn luôn cố gắng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng thông qua việc xây dựng, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng ISO9001:2019 và hệ thống đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP.
  • Không ngừng nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên trong toàn Tổng công ty về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Luôn luôn hành động theo khẩu hiệu: “VEGETEXCO VIETNAM luôn luôn lắng nghe và thoả mãn yêu cầu của khách hàng”

2.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu

Tổng công ty Rau quả, nông sản là doanh nghiệp nhà nước hàng đầu chuyên về sản xuất, chế biến và kinh doanh xuất nhập khẩu rau, quả, nông sản với kim ngạch xuất khẩu rau quả hàng năm chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam [28].

Trước những năm 90, VEGETEXCO với tư cách là doanh nghiệp Nhà nước thực hiện vai trò độc quyền ngoại thương trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả của nước ta. Do đây là thời kỳ hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản xuất kinh doanh thời kỳ này nằm trong chương trình hợp tác Rau quả Việt – Xô (năm 1986-2009), và Tổng công ty được Chính Phủ giao cho làm đầu mối. Từ những năm 90 trở đi, vị trí độc quyền của VEGETEXCO không còn nữa, thay vào đó là sự đa dạng hoá các doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu rau quả.

Từ năm 2010, khi Liên Xô và một loạt các nước XHCN Đông Âu tan vỡ đã gây cho Tổng công ty sự hụt hẫng về thị trường. Trong bối cảnh đó, Tổng công ty đã buộc phải chuyển hướng sang các thị trường khác, từng bước cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để có thể thâm nhập vào thị trường các nước Tư bản chủ nghĩa. Sau nhiều cố gắng và nỗ lực kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty bắt đầu tăng trưởng từ năm 2012 với 17,6 triệu Rúp, và đến năm 2014 đạt 21,2 triệu R-USD, tăng 20,5% so với năm 2012. Thời kỳ này, Tổng công ty đã chủ trương tiếp tục mở rộng và ổn định thị trường, song song với đẩy mạnh đầu tư để tăng nhanh khối lượng sản phẩm rau quả xuất khẩu với chất lượng và giá thành có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế và khu vực.

  • Bảng 5. Kim ngạch xuất khẩu rau quả của VEGETEXCO, 2012-2018

Từ năm 2016-2017, do khủng hoảng tài chính khu vực đã làm cho giá xuất khẩu rau quả của ta bị giảm, do vậy kim ngạch xuất khẩu cũng bị giảm sút. Trong xu thế đó, VEGETEXCO đã giữ được xu thế tăng trưởng, cho dù tốc độ còn rất khiêm tốn. Có thể nhận thấy, vai trò của VEGETEXCO trong tổng thể xuất khẩu rau quả Việt Nam ngày càng giảm. Từ chỗ VEGETEXCO chiếm gần 100% xuất khẩu rau quả của cả nước ở những năm trước thập niên 90, đến chỗ nó chỉ còn chiếm 74,6% kim ngạch xuất khẩu rau quả vào năm 2012 và liên tiếp giảm xuống 18,9% vào năm 2018.

  • Bảng 6. Kim ngạch xuất khẩu rau quả của VEGETEXCO, 2019-2025

Số liệu bảng 6 cho thấy hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản giai đoạn 2019-2025 vẫn giữ được xu thế tăng trưởng, tuy nhiên tốc độ những năm đầu vẫn còn chậm. Xét về kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty so với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu của VEGETEXCO chiếm một tỷ trọng chưa cao. Năm 2019, Tổng công ty đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả là 22,4 triệu USD và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu so với kim ngạch xuất khẩu cả nước là 10,5%. Sang đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng 2,7 triệu USD. Trong những tiếp theo mức độ tăng vẫn được giữ vững mặc dù đây chỉ là sự tăng nhẹ. Nhưng đến năm 2024, trong khi kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước đạt 235,5 triệu thì riêng Tổng công ty rau quả, nông sản xuất khẩu đạt 76,1 triệu, chiếm tỷ trọng khá cao so với kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước (32,3%). Năm 2025, Tổng công ty xuất khẩu đạt 75,3 triệu USD về kim ngạch, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu so với kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam là 29,1%.

Như vậy trong thời kỳ này, Tổng công ty Rau quả Nông sản đã đạt được một số thành tựu trong xuất khẩu rau quả, tỷ trọng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty cũng có xu hướng tăng lên. Theo kế hoạch đến năm 2027 tỷ trọng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty chiếm 35-40%.

2.2.2. Nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Tổng công ty có 4 nhóm hàng rau quả xuất khẩu chính, gồm: rau quả tươi, rau quả đóng hộp, rau quả đông lạnh, rau quả sấy muối. Ngoài ra, Tổng công ty còn kinh doanh một số mặt hàng như hạt giống rau quả, gia vị…

TCT xuất khẩu chủ yếu 2 nhóm hàng đó là rau quả hộp và rau quả sấy muối. Đối với nhóm hàng rau quả tươi chỉ chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng giá trị xuất khẩu. Đây là nhóm hàng có nhu cầu lớn trong thị trường nội địa cũng như thị trường thế giới nhưng Tổng công ty vẫn chưa đáp ứng được lượng cầu này.

Bước sang những năm 2019, trong điều kiện chung của cả nước là xuất khẩu rau quả gặp phải những trở ngại về giá cả cũng như chủng loại, mẫu mã sản phẩm trên thị trường thế giới, vì có nhiều nước cùng tham gia vào hoạt động xuất khẩu mặt hàng này; nhưng với nỗ lực của ngành thì sản phẩm rau quả xuất khẩu của Tổng công ty hiện nay tương đối phong phú về thể loại.

  • Bảng 7. Các sản phẩm rau quả xuất khẩu của Tổng công ty

Thông qua bảng 8 về khối lượng sản phẩm rau quả xuất khẩu chủ lực của Tổng công ty và bảng 9 về kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chính, cho thấy rõ tình hình xuất khẩu các mặt hàng rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản trong thời gian gần đây.

Về cơ cấu tỷ lệ các nhóm hàng rau quả xuất khẩu, nhóm hàng rau quả đóng hộp chiếm tỷ lệ lớn nhất và luôn là mặt hàng chủ đạo của Tổng công ty, tiếp đó là nhóm hàng rau quả sấy muối. Các nhóm hàng rau quả tươi và rau quả đông lạnh chiếm tỷ trọng thấp, trong đó nhóm hàng rau quả tươi có sự biến động đáng kể qua các năm.

Về nhóm hàng rau quả tươi, năm 2023 xuất khẩu mặt hàng này đạt kim ngạch lớn nhất (931.810 USD), tăng 400.117 USD so với năm 2022 tương đương 75,3%. Năm 2024 và năm 2025 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này có xu hướng giảm xuống, đặc biệt giảm mạnh vào năm 2024 (giảm 49,1% so với năm 2023), năm 2025 giảm nhưng không đáng kể so với năm 2024 (giảm 7,7%). Xét về mặt kim ngạch xuất khẩu thì rau quả tươi vẫn chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ bé trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Đó là do chất lượng rau quả tươi xuất khẩu của Tổng công ty vẫn chưa cao, các tiêu chuẩn như độ tươi, độ chín, mức độ khuyết tật, hình dạng, kích cỡ… đều chưa đáp ứng được thị trường. Những khuyết điểm trên là do chúng ta chưa có được giống tốt, chưa thâm canh được trên diện rộng, khâu bảo quản sau thu hoạch còn kém, kỹ thuật chăm sóc chưa đáp ứng được yêu cầu.

Bên cạnh đó, nhóm hàng rau quả đóng hộp của Tổng công ty đạt kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm một tỷ trọng tương đối cao so với các nhóm hàng xuất khẩu chính. Năm 2023 rau quả đóng hộp đạt 13 triệu USD, tăng 24% về lượng, tăng 61,1% về trị giá so với năm 2022. Xuất khẩu nhóm hàng này tiếp tục tăng vào năm tiếp theo và đạt kim ngạch cao nhất là 13,6 triệu USD (năm 2024), tuy nhiên năm 2025 đã giảm 6,3% so với năm 2024, đạt 12,8 triệu USD. Trong nhóm hàng rau quả đóng hộp, sản phẩm dưa chuột chế biến đã phát triển nhanh thành sản phẩm chủ lực với khối lượng xuất khẩu năm 2025 đạt gần 11.000 tấn tăng 53%, kim ngạch xuất khẩu 5,8 triệu USD tăng 45% so với năm 2024 và bằng kim ngạch sản phẩm dứa chế biến, tuy nhiên giá bán chỉ bằng 92% so với cùng kỳ; sản phẩm nấm hộp tăng 50% về lượng, tăng 71% về giá trị [14]. Như vậy, nhóm hàng rau quả đóng hộp là mặt hàng chủ lực của Tổng công ty. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Ngược lại, sản phẩm rau quả đông lạnh tuy có tăng lên về kim ngạch xuất khẩu nhưng Tổng công ty mới xuất được một khối lượng nhỏ (năm 2022 xuất 1.561,4 tấn; năm 2023 xuất 2.100,1 tấn; năm 2024 khối lượng xuất khẩu đạt cao nhất là 2.194,4 tấn, năm 2025 giảm xuống còn 2.072,8 tấn. Năm 2024, rau quả đông lạnh đạt 2,25 triệu USD, tăng 5,3% so với năm 2023. Năm 2025, rau quả đông lạnh giảm cả về lượng (giảm 5,5%) và trị giá (giảm 12,2%). Trong thời gian tới, để đẩy mạnh xuất khẩu rau quả đông lạnh, Tổng công ty cần có các chiến lược phù hợp để nâng cao chất lượng của sản phẩm rau quả nói chung và sản phẩm đông lạnh nói riêng để dần tìm được chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên thị trường thế giới.

Về nhóm hàng rau quả sấy muối, do được đầu tư về công nghệ, kỹ thuật nên xuất khẩu nhóm này tăng tương đối ổn định vào các năm 2022, 2023 và tăng mạnh vào năm 2024 với khối lượng xuất khẩu khoảng 5,6 nghìn tấn (tăng 20,4% so với năm 2023) và kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6 triệu USD (tăng 121,5% so với năm 2023), tuy nhiên đến năm 2025 lại giảm 34,2% về lượng, giảm 29,9% về trị giá.

Có thể nói năm 2024 là năm thành đạt của Tổng công ty trên phương diện xuất khẩu mặt hàng rau quả, và cũng đã đạt được một số thành tựu khả quan, nhưng để trở thành một trong những đơn vị xuất sắc trong lĩnh vực này, Tổng công ty cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa.

2.2.3. Thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả, nông sản trong các năm có tăng nhưng chưa ổn định. Những năm gần đây, xuất khẩu rau quả của Tổng công ty vẫn đang khôi phục thị trường truyền thống là Cộng hoà Liên bang Nga và các nước Đông Âu, đồng thời có xu hướng chuyển sang các nước Đông Bắc Á như: Nhật Bản, Đài Loan, Singapore; thị trường Trung Cận Đông và thị trường Châu Mỹ, nhất là thị trường nước Mỹ; đây là các thị trường rộng lớn và giàu có mà Tổng công ty có thể khai thác.

  • Bảng 10. Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường chính của VEGETEXCO giai đoạn 2020-2025

Bảng 10 cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty vào các thị trường có sự tăng trưởng, trong đó một số thị trường tăng mạnh như: Hoa Kỳ, Nhật Bản và gần đây là Liên bang Nga. Năm 2025, thị trường xuất khẩu có nhiều biến động, số thị trường xuất khẩu lên tới 58 nước trên thế giới, trong đó có 2 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD là Mỹ (15,1 triệu USD) và Nga (11,1 triệu USD). Thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với năm 2024 là Nga (65,4%).

  • Thị trường Trung Quốc: Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Trung Quốc là nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ rau quả lớn nhất Châu Á. Đây là một thị trường tương đối dễ xâm nhập, các yêu cầu về quy cách, hình thức, chất lượng hàng hoá không cao như một số thị trường khác như Mỹ, EU… và đối tượng tiêu dùng khá đa dạng.

Trong những năm qua việc xuất khẩu của Tổng công ty sang thị trường Trung Quốc tăng từ 689,62 nghìn USD (năm 2020) lên 11.118 nghìn USD (năm 2023), và là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Tổng công ty (năm 2023 chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu). Tuy nhiên, năm 2024, 2025 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này có xu hướng giảm mạnh, năm 2024 đạt 3.441,4 nghìn USD, giảm 69% so với năm 2023, năm 2025 đạt 3.463,7 nghìn USD. Nguyên nhân là do mặt hàng rau quả của Việt Nam nói chung và của Tổng công ty Rau quả, nông sản nói riêng đang bị hàng của Thái Lan cạnh tranh gay gắt. Ngày 18/6/2022 Thái Lan và Trung Quốc đã ký hiệp định thương mại tự do song phương về rau quả. Theo hiệp định này, bắt đầu từ ngày 1/10/2022 hai nước sẽ xoá bỏ thuế quan nhập khẩu cho nhau đối với 188 loại sản phẩm rau quả.

Hiện nay, Tổng công ty đang đa dạng hoá các hình thức buôn bán, ví dụ chuyên chở bằng nhiều phương tiện khác nhau: đường bộ, đường biển, đường sắt… nhằm thâm nhập sâu vào thị trường nội địa, nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của sản phẩm với các đối thủ cũng xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc.

  • Thị trường Mỹ:

Mỹ là một thị trường lớn, nhu cầu đa dạng và đòi hỏi cao, để vào được thị trường này, hàng hoá phải qua khâu kiểm dịch rất khắt khe. Bên cạnh đó, một vấn đề lớn mà các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mặt hàng rau quả nước ta nói chung và Tổng công ty Rau quả, nông sản nói riêng phải đối mặt đó là sự cạnh tranh gay gắt của các công ty khác, các quốc gia khác cũng kinh doanh xuất khẩu rau quả vào Mỹ như: Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia… Hiện nay nhiều sản phẩm rau quả các loại của các quốc gia này chào giá thấp hơn so với Tổng công ty do giá thành sản xuất của họ thấp hơn nhờ có lợi thế hơn về lao động, công nghệ máy móc hiện đại, chất lượng cao hơn. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Ngày 13/7/2019, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã được ký kết và chính thức có hiệu lực từ ngày 10/12/2020. Đây là một mốc đánh dấu cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ tiến thêm một bước mới. Quan hệ thương mại hai chiều có tiến triển vượt bậc trong thời gian này, hoạt động đầu tư sản xuất và giao lưu buôn bán phát triển mạnh hơn, hàng hóa của Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng được hưởng mức thuế suất tối huệ quốc (MFN); đây là những động lực để Tổng công ty phát triển hơn nữa hoạt động xuất khẩu hàng hoá của mình sang thị trường Mỹ.

Giai đoạn 2020-2025, thị trường Mỹ luôn nằm trong tốp dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty. Trong suốt 6 năm qua, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ cũng liên tục tăng, từ 915,28 nghìn USD năm 2020 lên 1.327,4 nghìn USD vào năm 2021, tức là tăng 1,45 lần. Các năm 2022, 2023, 2024 lần lượt tăng lên 2.127,2 và 7.155, 14.030,5 nghìn USD, và kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty sang Mỹ đạt cao nhất vào năm 2025 (15.114,8 triệu USD). Xu hướng tăng kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty vào thị trường Mỹ ngày càng mạnh, đây vừa là tín hiệu đáng mừng nhưng cũng là một thách thức đặt ra cho Tổng công ty để có thể duy trì và phát triển thị trường đầy tiềm năng và hứa hẹn này.

  • Thị trường Nga:

Đối với Tổng công ty Rau quả, nông sản, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường Nga từ chỗ chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu của cả Tổng công ty vào năm 2009 đã giảm dần qua các năm. Đến năm 2020 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này chỉ còn 322,59 nghìn USD, giảm hơn 6 lần so với năm 2019 (2.029 nghìn USD năm 2019).

Trong thời gian gần đây, hoạt động xuất khẩu rau quả sang Nga có những nét đổi mới và có xu hướng tăng lên. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty sang Nga đạt 11,12 triệu USD, là thị trường lớn thứ hai sau Mỹ. Đạt được điều này là do Tổng công ty đã đang dạng hoá các mặt hàng rau quả xuất khẩu như: dưa, dứa khoanh, dứa hộp, nước dứa đông lạnh, hỗn hợp thanh long và dứa, chuối sấy tương ớt, măng hộp, dưa chuột dầm dấm… Trong những năm qua Tổng công ty đã xây dựng cơ sở hợp tác liên doanh sản xuất tương ớt và chuối sấy với Nga để xuất khẩu sang Nga, hợp tác xây dựng cơ sở liên doanh sản xuất hàng sấy (trên cơ sở đó có thể phát triển thị trường với những mặt hàng khác). Đồng thời Tổng công ty cũng đã đẩy mạnh xúc tiến bán hàng tại thị trường Nga thông qua đại diện của mình tại Tổng công ty rau quả Matxcova để giới thiệu sản phẩm của Tổng công ty. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

  • Thị trường Nhật Bản:

Nhật Bản là một thị trường có tiềm năng tiêu thụ lớn về rau quả nhưng lại rất “khó tính”, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng mẫu mã. Đây cũng là một trong những bạn hàng tiêu thụ rau quả lớn của Tổng công ty. Một điều thuận lợi cho rau quả Việt Nam nói chung và rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản nói riêng khi vào thị trường này là thời vụ rau quả của Nhật Bản trái với thời vụ rau quả của Việt Nam.

Trong giai đoạn 2020-2023, kim ngạch xuất khẩu rau quả vào thị trường Nhật Bản tăng từ 439,46 nghìn USD lên 10.754 nghìn USD, tức là tăng 24,5 lần, đưa Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn thứ hai của Tổng công ty sau Trung Quốc trong năm 2023. Tuy nhiên, đến năm 2024 xuất khẩu của Tổng công ty sang Nhật Bản giảm mạnh, đạt 1.893,5 nghìn USD (giảm 82% so với năm 2023), và tiếp tục giảm vào năm 2025 (giảm 79%).

Vai trò của thị trường Nhật Bản sẽ được tăng cường bởi mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, Tổng công ty cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến bán hàng để duy trì và phát triển thị trường này, đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vấn đề chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Nhìn chung, những thị trường nhập khẩu rau quả của Tổng công ty đều là những thị trường tương đối lớn và khá ổn định. Song kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty còn rất hạn chế, chưa tương xứng với mức nhu cầu của thị trường đó. Trở ngại lớn nhất cho sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty là chất lượng, công nghệ chế biến và bảo quản còn non kém, chúng ta chưa thực sự tạo ra được những sản phẩm được coi là thế mũi nhọn và thế mạnh trên thị trường thế giới. Nhưng cũng không thể phủ nhận tài nguyên, khí hậu và đất đai của Việt Nam đã sản xuất được nhiều sản phẩm đa dạng và phong phú, chúng ta cần phát huy hơn nữa những lợi thế đó.

2.3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN TRONG XUẤT KHẨU RAU QUẢ Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng công ty

2.3.1.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

  • Điều kiện tự nhiên – xã hội

Như đã phân tích ở Chương 1, Việt Nam nói chung và Tổng công ty nói riêng có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, nguồn lao động… Chính những lợi thế này đã tạo nên năng lực cạnh tranh cho rau quả xuất khẩu Việt Nam.

  • Cơ chế chính sách của Nhà nước

Trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất khẩu nông sản trong đó có rau quả, từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, Chính phủ đã không ngừng ban hành sửa đổi, bổ sung những chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Một hệ thống chính sách hợp lý sẽ tác động tích cực thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu, nâng cao lợi thế cạnh tranh của sản phẩm rau quả xuất khẩu trên thị trường thế giới. Trong lĩnh vực xuất khẩu những công cụ chủ yếu thường được sử dụng để điều chỉnh hoạt động này là: thuế quan, các công cụ phi thuế quan, tỷ giá và các chính sách đòn bẩy, các chính sách đối với cán cân thanh toán thương mại. Đối với xuất khẩu rau quả, Nhà nước đã đưa ra các chính sách thương mại như: hoàn thuế giá trị gia tăng cho rau quả xuất khẩu, thưởng xuất khẩu đối với nhiều mặt hàng rau quả mới xuất khẩu, trợ giá xuất khẩu, xúc tiến thương mại…

Cụ thể: theo công văn số 83/2017/TT/BTC ngày 26/8/2017 trong đó quy định các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả được phép hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng rau quả xuất khẩu. Quy định này là một những ưu đãi lớn của Chính phủ đối với xuất khẩu rau quả. Các doanh nghiệp doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu sản phẩm rau quả cũng được hưởng chế độ ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu [18].

Ngoài ra, Chính phủ ban hành Quyết định số 178 về hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu. Thực hiện chủ trương của Chính phủ về khuyến khích xuất khẩu, góp phần hỗ trợ về vốn cho những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng xuất khẩu, Chính phủ cho vay với lãi suất thấp hơn 0,2%/tháng so với mức lãi suất cho vay xuất khẩu mà ngân hàng thương mại áp dụng [18]. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Quy chế thưởng xuất khẩu đối với phần kim ngạch xuất khẩu năm 2022 vượt so với năm 2021 áp dụng cho 13 mặt hàng và nhóm mặt hàng, trong đó rau quả các loại được quy định tại quy định tại quyết định số 1116/QĐ-BTM ngày 9/9/2022. Trong số 13 nhóm hàng được thưởng thì rau quả là một trong 3 nhóm hàng có mức thưởng cao nhất – đến 1000 đồng/USD tăng thêm [18].

  • Môi trường kinh doanh toàn cầu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế , Việt Nam đã tham gia một loại những định chế kinh tế khu vực và thế giới (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA, Khu vực tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc, Tổ chức thương mại thế giới – WTO…)

Việc tham gia AFTA đang và sẽ tác động trực tiếp đến xuất khẩu rau quả, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau quả của các doanh nghiệp. Đối với việc thực hiện CEPT, cá nước ASEAN đã đưa mặt hàng rau quả tươi vào danh mục cắt giảm để thực hiện cắt giảm thuế. Chỉ ngoại trừ một số các mặt hàng sau được các nước đưa vào Danh mục hàng nông sản nhạy cảm: dừa, khoai tây, nhãn, hành, tỏi (Thái Lan); chuối, chanh (Malaysia); xoài, dứa, đu đủ (Philipin). Hiện nay, các mặt hàng rau quả của Việt Nam đã chuyển từ Danh mục loại trừ tạm thời sang Danh mục cắt giảm với mức thuế suất 5% vào năm 2025.

Bên cạnh đó, mức độ ảnh hưởng của các cam kết mở cửa thị trường trong WTO, và đặc biệt là trong FTA ASEAN- Trung Quốc, đối với ngành rau quả của Việt Nam trong quá trình hội nhập là khá gay gắt và chủ yếu tập trung vào những  loại quả ôn đới, quả có múi. Nhìn chung, các sản phẩm rau quả sẽ có mức thuế khá lớn trong cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO. Thuế suất đối với mặt hang táo, lê, nho tươi sẽ giảm ngay lập tức từ 40% xuống 20% và xuống 10% sau 5 năm. Mức thuế tối huệ quốc (MFN) đối với sản phẩm nho khô hiện tại là 40% cũng sẽ được giảm xuống còn 25% và sau 5 năm giảm xuống còn 13% [29].

  • Khách hàng

TCT đã chọn cho mình phương châm làm việc: “Tất cả vì khách hàng, tiện lợi cho khách hàng”. Khách hàng của Tổng công ty trong những năm qua đã không ngừng tăng lên, một số khách hàng quen thuộc như Nga, Nhật, Trung Quốc, Mỹ, các nước ASEAN… Có thể coi họ là những khách hàng quan trọng của Tổng công ty. Do vậy, để đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách hàng quen thuộc cũng như khách hàng tiềm năng, Tổng công ty cần phải cải tiến mẫu mã sản phẩm, chất lượng đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng. Trong điều kiện hiện nay, Tổng công ty gặp rất nhiều sự cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, vì vậy để giữ vững khách hàng quen thuộc, thu hút khách hàng mới, Tổng công ty phải tìm hiểu thêm, nghiên cứu thị trường và tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, hạ giá thành để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

  • Đối thủ cạnh tranh Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Đối thủ cạnh tranh của Tổng công ty trong xuất khẩu rau quả chủ yếu là các nước sản xuất và xuất khẩu rau lớn trên thế giới và trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan…còn đối thủ cạnh tranh trong nước thì hầu như không có.

Các nước Trung Quốc, Thái Lan … là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gay gắt nhất. Họ có ưu thế hơn hẳn về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm gieo trồng…Do vậy, để khẳng định mình, Tổng công ty cần phải thu hẹp khoảng cách so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp bằng những sản phẩm có chất lượng tốt, đa dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, có chính sách Marketing linh hoạt và đáp ứng được mọi khắt khe đòi hỏi của khách hàng khó tính nhất.

2.3.1.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

  • Nhân sự

Lao động là một trong bốn yếu tố quan trọng của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là “lao động, vốn, kỹ thuật và nguyên vật liệu”; số lượng và chất lượng lao động đóng một vai trò quan trọng quyết định đến khả năng cạnh tranh vì lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến năng suất lao động. Chính vì lý do trên mà Tổng công ty Rau quả, nông sản rất quan tâm và luôn coi trọng nhân tố con người – một nhân tố trung tâm quyết định đến mọi nhân tố khác, coi đó là chiến lược lâu dài cho sự tồn tại và phát triển của Tổng công ty.

Số lượng lao động của Tổng công ty tính trong năm 2025 là 3650 người, trong đó lao động trực tiếp là 3.378 người, chiếm 92,54% tổng số lao động; còn lao động gián tiếp chỉ có 272 người, chỉ chiếm 7,46% tổng số lao động. Như vậy, lao động gián tiếp chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu lao động của Tổng công ty, điều này cho thấy bộ máy quản lý nhẹ nhàng và hoạt động khá hiệu quả. Phần lớn đội ngũ cán bộ của Tổng công ty đều có trình độ đại học trở lên. Đặc biệt, các cán bộ quản lý, kỹ thuật nắm giữ trọng trách hiện đều có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Tại Tổng công ty các cán bộ luôn được đào tạo và nâng cao nghiệp vụ, tay nghề; các cán bộ kỹ thuật thường xuyên được cử đi tham gia các khoá bồi dưỡng và phổ biến những kỹ thuật mới để áp dụng trong sản xuất; Tổng công ty cũng thường xuyên cử người xuống các đơn vị thành viên, các đơn vị sản xuất để giám sát, chỉ đạo, hướng dẫn để đảm bảo quy trình kỹ thuật cũng như chất lượng sản phẩm.

  • Năng lực tài chính Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Bất cứ một hoạt động đầu tư mua sắm hay phân phối nào cũng phải xem xét, tính toán đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, năng lực tài chính đặc biệt là vốn, là một trong những yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tổng công ty luôn cân đối điều hoà các nguồn lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, bảo lãnh vay vốn kịp thời cho các đơn vị có vốn để đầu tư cho các dự án và sản xuất kinh doanh, ứng vốn trước cho các đơn vị để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu lớn. Năm 2024, tổng vốn đầu tư của Tổng công ty là 9.014 triệu đồng, trong đó 5.000 triệu đồng cho đầu tư xây dựng cơ bản, 2.777 triệu đồng cho đầu tư thương hiệu và thị trường, 1.237 triệu đồng cho khoa học kỹ thuật [14].

  • Công nghệ

Thiết bị, công nghệ là yếu tố trực tiếp nâng cao chất lượng và cải tiến mẫu mã sản phẩm; là yếu tố cần thiết góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty. Trong những năm gần đây, chất lượng và quy mô sản xuất của Tổng công ty được nâng lên rất nhiều vì đã có sự đầu tư và đổi mới một số dây chuyền hiện đại, mở rộng quy mô, năng lực sản xuất. Tổng công ty đã tiến hành lắp đặt một số dây chuyền đông lạnh IQF tại Đồng Giao, Tân Bình; dây chuyền sản xuất đồ hộp tại Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Bắc Giang; dây chuyền dứa cô đặc tại Kiên Giang, Quảng Nam; dây chuyền cà chua đặc tại Hải Phòng và đầu tư nâng cấp cho một số dây chuyền cũ đi vào hoạt động…

Cho đến nay, Tổng công ty đã có một hệ thống dây chuyền tiên tiến hiện đại với công suất trên trăm nghìn tấn sản phẩm/năm, đủ sức chế biến các sản phẩm đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, tình hình chung về trang thiết bị được đầu tư chưa đồng bộ nên sản xuất mới đạt 30-40% công suất thiết kế, dẫn đến hiệu quả chưa cao, sản phẩm chưa ổn định. Tổng công ty cần có các giải pháp để khắc phục điểm này.

2.3.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng công ty trong xuất khẩu rau quả Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

2.3.2.1. Năng lực sản xuất

  • Sản xuất nông nghiệp

Trong các năm qua, Tổng công ty đã tăng cường đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt chú trọng đến các chương trình giống và công tác khuyến nông trong sản xuất, trồng trọt rau quả.

Năm 2024, giá trị tổng sản lượng là 73 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2023 với tổng diện tích gieo trồng là 11.160 ha và tổng khối lượng nguyên liệu chế biến là 106.000 tấn. Trong đó, dứa là cây trồng chủ lực của Tổng công ty với diện tích đạt 5.118 ha, sản lượng đạt 33.185 tấn, khối lượng nguyên liệu dứa thu mua đạt 44.364 tấn [14]. Tuy nhiên giá thu mua nguyên liệu chưa tăng tương xứng với chi phí tăng trong sản xuất, nên chưa hấp dẫn người trồng dứa, cây dứa bị một số cây trồng khác cạnh tranh do hiệu quả thấp hơn. Ngoài ra, Tổng công ty cùng lãnh đạo các đơn vị phối hợp với các địa phương phát triển vùng nguyên liệu rau vụ xuân, vụ động như dưa chuột, ớt, cà chua, ngô rau, ngô ngọt… đưa vụ xuân, vụ đông thành vụ sản xuất chính với diện tích 2.078 ha, khối lượng nguyên liệu trên 20.000 tấn. Trong đó, dưa chuột 954 ha đạt 11,760 tấn nguyên liệu, cà chua bi 185 ha, ngô ngọt 264 ha… chất lượng tương đối tốt [14]. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của Tổng công ty còn hạn chế do thiếu vốn đầu tư vùng nguyên liệu, thời tiết khí hậu bất thường, đặc biệt công tác quản lý phát triển vùng nguyên liệu còn thiếu kinh nghiệm, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh cây trồng còn chưa đảm bảo, nhiều diện tích không được đầu tư chăm sóc tốt.

  • Sản xuất công nghiệp

Tổng công ty đã đầu tư nhiều dây chuyền chế biến với thiết bị và công nghệ hiện đại. Hiện nay Tổng công ty có 22 nhà máy chế biến rau, quả, nông sản với công suất trên 100 nghìn tấn sản phẩm/năm. Năm 2025, sản phẩm rau quả chế biến của Tổng công ty đạt 41.800 tấn. Trong đó, dưa chuột dầm giấm đã trở thành một trong các sản phẩm chủ lực với khối lượng sản phẩm đạt 8.000 tấn, khối lượng dứa chế biến đạt 6.576 tấn, khối lượng vải chế biến đạt 1.250 tấn ( gồm 1.000 tấn vải hộp và 250 tấn vải đông lạnh [14]. Tổng công ty đã định hướng đa dạng hoá sản phẩm và đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm rau chế biến. Các sản phẩm dưa chuột, cà chua, ngô rau, ngô ngọt… đã có tốc độ tăng trưởng cao. Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm rau quả chế biến khác như puree gấc đông lạnh, puree lạc tiên… Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp của Tổng công ty còn một số tồn tại như khối lượng sản xuất của nhiều dây chuyền chế biến đạt thấp so với công suất thiết kế; công tác quản lý thực hiện quy trình sản xuất chưa tốt, chất lượng sản phẩm chưa ổn định.

2.3.2.2. Chất lượng sản phẩm Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Chất lượng các loại rau quả xuất khẩu là vấn đề đặt lên hàng đầu đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu rau quả cũng như Tổng công ty Rau quả, nông sản. Chất lượng rau quả phụ thuộc chặt chẽ vào giống, phương pháp canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến và vận chuyển. Hiện nay, việc sản xuất kinh doanh đã bước đầu hướng ra thị trường, phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và vùng lãnh thổ. Vì vậy, Tổng công ty đã chú trọng lựa chọn cây trồng phù hợp đạt hiệu quả kinh tế cao và hình thành một số vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu.

Giống, kỹ thuật trồng trọt và kỹ thuật chế biến là những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng suất và chất lượng rau quả. Do đó, Tổng công ty đã chỉ đạo, phối hợp, giúp đỡ các đơn vị thực hiện kỹ thuật gieo trồng, khảo giống mới, khắc các bệnh cây dưa chuột, cà chua, tổ chức sản xuất hạt giống rau xà lách, củ cải, cải bẹ, cũng như kỹ thuật chế biến các sản phẩm từ dưa chuột bao tử, ngô ngọt, cà chua quả to, cà chua bi, paste cà chua…

Tuy những năm qua Tổng công ty đã đầu tư vào khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng cây giống cũng như chất lượng sản phẩm , song đầu tư vào trang thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại chưa nhiều, thiếu vốn và thiếu kinh nghiệm quản lý. Công nghệ chế biến, bảo quản rau quả phần lớn còn lạc hậu, thiếu công nghệ bảo quản thích ứng với đặc điểm thu hoạch và chế biến của loại mặt hàng này (bảo quản lạnh, bảo quản trong môi trường điều tiết, sơ chế, bao gói…). Mặt khác, do tập quán sản xuất quy mô nhỏ, thiếu nguồn nguyên liệu chế biến nên chất lượng hàng hoá thấp và không đồng đều, đặc biệt việc quản lý dư lượng thuốc bảo vệ thực vật kém. Chất lượng của việc đóng gói và nhãn mác cũng là vấn đề khó khăn, sản phẩm bao bì còn đơn điệu, nghèo nàn. Cơ sở hạ tầng cho công tác thu mua, tiêu thụ còn hạn hẹp, thiếu các phương tiện vận chuyển, kho bãi chuyên dụng cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng rau quả xuất khẩu.

Như vậy, vấn đề chất lượng là một trong những khó khăn mà Tổng công ty cần phải khắc phục, có như vậy Tổng công ty mới vươn ra được thị trường thế giới một cách ổn định, vững chắc.

2.3.2.3. Giá sản phẩm Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Các sản phẩm rau quả của nước ta đều cao hơn các nước trong khu vực. Ví dụ giá sầu riêng của Thái Lan 1 USD/kg, trong khi đó của nước ta 2 USD/kg. Các hoa quả khác như xoài, thanh long… chi phí sản xuất của ta rất cao, gấp 2-3 lần so với Thái Lan [17]. Tương tự, bưởi năm roi Việt Nam xuất sang Trung Quốc giá lên đến 2-2,5 USD/kg, trong khi đó bưởi năm roi từ Trung Quốc xuất sang Hà Lan chỉ 50 cent/kg [25]. Có hai đối thủ lớn mà Việt Nam khó cạnh tranh là Thái Lan và Trung Quốc, bởi họ có nhiều rau quả, chất lượng tốt, giá thành hạ. Giá trái cây Việt Nam cao do chất lượng trái cây còn thấp, sản lượng chưa nhiều, khâu vận chuyển, bảo quản lại thiếu chuyên nghiệp. Hiện nay, tỷ lệ hư hỏng sau bảo quản của trái cây Việt Nam ở mức 20-30% [25]. Các chi phí dịch vụ cho xuất khẩu, nhất là chi phí vận tải của Việt nam cũng cao hơn các nước trong khu vực. Đơn cử, giá cước vận chuyển tàu thuỷ của Việt Nam cao hơn Thái Lan vì hàng của Việt Nam phải qua cảng trung chuyển thêm phí.

Trong những năm qua, Tổng công ty đã cố gắng tìm mọi biện pháp để hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Đối với nguyên vật liệu, Tổng công ty đã tìm những nguồn hàng ổn định với giá cả hợp lý nhất. Tổng công ty thường ký những hợp đồng mua hàng nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất với một số công ty nước ngoài có uy tín cao, lựa chọn được nhà cung ứng hợp lý và ổn định. Bên cạnh đó, Tổng công ty luôn có những khoá học nhằm đào tạo, nâng cao tay nghề cho cán bộ công nhân viên, từ đó nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cố định, từ đó hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt để có nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất chế biến, Tổng công ty đã đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung để tự cung cấp nguồn nguyên liệu cho chính mình, vì vậy tiết kiệm được khá nhiều trong khâu chi phí thu mua. Với những nỗ lực của mình, Tổng công ty đã và đang tìm mọi biện pháp để hạ giá thành sản phẩm, đây là việc có ý nghĩa hết sức thiết thực trong giai đoạn hiện nay.

2.3.2.4. Sức mạnh thương hiệu

Xây dựng thương hiệu cho rau quả Việt Nam hiện đang là vấn đề cấp bách nhằm nâng cao vị thế của rau quả Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cũng như các loại hàng hoá nông sản khác, mặt hàng rau quả của Việt Nam tuy xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới nhưng phần lớn không có nhãn hiệu nên ít người biết đến. Chính vì vậy, các vùng trồng các loại rau quả đặc sản cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm đầu tư xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm của mình.

Thương hiệu sẽ mang lại cho các doanh nghiệp sở hữu thêm nhiều lợi nhuận trên sản phẩm bán ra và hơn thế nữa tạo ra một thị trường tương đối ổn định. Với các thương hiệu khác nhau, các doanh nghiệp kinh doanh rau quả có thể phân biệt sản phẩm của mình qua hình ảnh và hương vị, tránh cạnh tranh đơn thuần về giá. Sức mạnh thương hiệu cho phép doanh nghiệp chế biến- kinh doanh có thêm đòn bẩy thương lượng với khách hàng trong nước cũng như quốc tế.

Hiện nay, Tổng công ty Rau quả, nông sản sử dụng cả nhãn hiệu của Tổng công ty là VEGETEXCO và cả nhãn hiệu của nhà phân phối – nhà nhập khẩu. Tổng công ty đang tiến hành xây dựng quy chế thống nhất thương hiệu sản phẩm, trước hết là thống nhất về giá sàn thu mua nguyên liệu và bán sản phẩm vào thị trường Nga, Mỹ đối với một số sản phẩm chính; đăng ký bảo hộ thương hiệu VEGETEXCO ở các thị trường trọng điểm. Năm 2025, Tổng công ty đã tổ chức các đoàn cán bộ lãnh đạo, công nhân viên đi tham gia hội chợ quốc tế: hội chợ thực phẩm quốc tế Sial Pháp, hội chợ thực phẩm, công nghệ đồ uống Moscow Nga, hội chợ thực phẩm Bắc Kinh. Đồng thời Tổng công ty xây dựng kế hoạch phát triển thương hiệu VEGETEXCO với các bước đi thích hợp, hoàn thành trang WEB và Catalo mới của Tổng công ty. Kết quả Tổng công ty đã có nhiều đơn đặt hàng rau quả các loại. Điều đó càng chứng tỏ, uy tín nhãn hiệu của Tổng công ty trên thế giới.

2.4 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

2.4.1. Kết quả đạt được

Cùng với sự đi lên của ngành rau quả Việt Nam, Tổng công ty Rau quả, nông sản đã dần dần từng bước đi lên và ngày càng lớn mạnh. Tổng công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau quả.

Kim ngạch xuất khẩu qua các năm đều tăng cả về số lượng và giá trị, đặc biệt là trong 5 năm gần đây 2021-2025, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 24,5 triệu USD lên 75,3 triệu USD. Đáng chú ý là năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty đạt 76,1 triệu USD, chiếm tới 32,3% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Để có được sự tăng trưởng trên về kim ngạch xuất khẩu, sản xuất rau quả đã phát triển cả về diện tích và năng suất. Nhiều giống cây trồng có năng suất chất lượng cao đã được trồng đại trà. Công nghệ chế biến đã có bước tiến toàn diện cả về thiết bị quy trình công nghệ, quản lý kỹ thuật, vệ sinh công nghiệp đáp ứng nhu cầu thị hiếu khách hàng trong nước và quốc tế.

Về thị trường xuất khẩu, Tổng công ty không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu. Cho đến nay, Tổng công ty đã có quan hệ thương mại với 58 thị trường trên thế giới, bước đầu thâm nhập được vào những thị trường khó tình như Mỹ, Nhật, EU. Bên cạnh đó, Tổng công ty đã có những chiến lược đúng đắn phù hợp với yêu cầu của thị trường để giữ vững những thị trường truyền thống như Nga, Trung Quốc…

Về nguồn hàng cho xuất khẩu và mặt hàng xuất khẩu: Là một Tổng công ty đầu ngành của cả nước về xuất khẩu rau quả với quy mô lớn, Tổng công ty Rau quả, nông sản có các đơn vị trực thuộc trải đều trên cả nước. Tổng công ty đã quan tâm đúng mức tới việc xây dựng nguồn hàng, chủ động kết hợp với các địa phương để có được nguồn hàng ổn định. Do đó, nguồn hàng của Tổng công ty rất phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu về chủng loại, số lượng hàng hoá cho xuất khẩu. Tổng công ty đã duy trì và phát triển mạnh ngành hàng truyền thống là rau quả, đa dạng hoá mặt hàng, mẫu mã, bao bì sản phẩm. Một số mặt hàng đã tạo uy tín và khả năng duy trì để trở thành mặt hàng chủ lực như: Vải hộp, măng hộp xuất khẩu sang Nhật; Hồi xuất khẩu sang Singapore; Dứa hộp các loại xuất khẩu sang Mỹ, EU. Mặt khác, chất lượng mặt hàng rau quả xuất khẩu cũng từng bước được nâng cao do Tổng công ty đã chú trọng công tác quản lý chất lượng sản phẩm, thực hiện theo tiêu chuẩn ISO, HACCP. Năm 2025, Tổng công ty đã nâng số đơn vị thực hiện theo đúng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 và hệ thống HACCP lên 15 đơn vị. Tổng công ty đã hỗ trợ việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp đỡ kỹ thuật tại các đơn vị. Nhờ vậy, chất lượng rau quả xuất khẩu đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Với kết quả đạt được, Tổng công ty chứng tỏ vai trò chủ đạo trong ngành rau quả Việt Nam, không những thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển mà còn tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Có được những thành tựu như trên là nhờ Tổng công ty không ngừng nỗ lực, cố gắng trong sản xuất, kinh doanh mà quan trọng nhất là sự đoàn kết, nhất trí cao của đội ngũ cán bộ, công nhân viên giàu kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao từ cấp lãnh đạo đến từng nhân viên. Điều đó đã khích lệ tinh thần, lòng nhiệt tình và nỗ lực phấn đấu trong công việc vì sự phát triển của Tổng công ty. Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự đóng góp quan trọng của Nhà nước trong việc định hướng và đầu tư vốn cho Tổng công ty.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

2.4.2.1. Sức cạnh tranh của rau quả xuất khẩu còn yếu

Về sản phẩm xuất khẩu, sức cạnh tranh của rau quả xuất khẩu của Tổng công ty còn yếu. Hiện tại đây là hạn chế lớn nhất của rau quả xuất khẩu của nước ta.

Sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường xuất khẩu về chất lượng, số lượng, giá cả. Trên thực tế rau quả của ta kém khả năng cạnh tranh về các mặt trên thị trường quốc tế. Về chất lượng, một số sản phẩm rau quả xuất khẩu không đạt yêu cầu về độ đồng đều của sản phẩm, về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối với rau xuất khẩu chất độc hại tồn đọng trong rau vượt quá tỷ lệ cho phép, mẫu mã bao bì sản phẩm không đáp ứng kịp thị hiếu khách hàng. Các lô hàng xuất thường nhỏ lẻ. Giá rau quả xuất khẩu của ta đôi khi lại cao. So sánh giá dứa xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan cho thấy, giá dứa của Thái Lan thấp hơn nên cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm của nước ta.

Nguyên nhân hạn chế khả năng cạnh tranh về chất lượng, số lượng, giá cả rau quả xuất khẩu của Tổng công ty là do những tồn tại ngay từ trong khâu sản xuất:

Trước hết về sản xuất nông nghiệp phục vụ xuất khẩu, vùng nguyên liệu chưa thực sự ổn định như kế hoạch xây dựng nguồn hàng của Tổng công ty, chưa đáp ứng được nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Tốc độ phát triển vùng nguyên liệu chưa tương xứng với yêu cầu của các dây chuyền chế biến, thậm chí còn nhiều chồng chéo trong khâu xây dựng và tạo vùng nguyên liệu. Trong khi Tổng công ty Rau quả Nông sản đã phải tốn rất nhiều công sức để nghiên cứu và tạo vùng nguyên liệu, đến khi vùng nguyên liệu đã tạm đi vào ổn định thì ngay lập tức chính địa phương đó lại xây dựng thêm nhà máy chế biến rau quả. Tình trạng này dẫn đến nhiều nhà máy chế biến luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu, do đó công suất chế biến thấp, chỉ đạt 30-40%, cá biệt như nhà máy cà chua Hải Phòng chỉ đạt 10-12% công suất. Mặt khác, tốc độ đổi mới cơ cấu giống còn chậm, giống cũ thoái hoá nhiều, công tác nghiên cứu khoa học còn chưa được chú ý, chưa có hệ thống sản xuất giống rau quả chất lượng tốt để cung cấp cho các cơ sở sản xuất. Hơn nữa, các vùng sản xuất rau quả chưa đi vào chuyên canh và sản xuất một cách quy mô, đó cũng là một nguyên nhân khiến chất lượng sản phẩm không đồng đều, sản lượng chưa ổn định, gây khó khăn cho quá trình chế biến tiếp theo. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

Về sản xuất công nghiệp phục vụ xuất khẩu hiệu quả còn rất thấp. Các trang thiết bị tuy đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, vẫn còn rất nhiều máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu; một số nhà máy sản xuất chế biến chưa kịp đổi mới; đồng thời sự đầu tư trong công tác bảo quản hàng rau quả xuất khẩu còn yếu kém nên chất lượng sản phẩm sản xuất ra chưa cao, mẫu mã chưa phù hợp, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản. Đồng thời, do giá cả nguyên liệu quá cao nên giá bán của sản phẩm trên thị trường kém sức cạnh tranh. Hơn nữa, do đặc điểm của ngành hàng nông nghiệp nói chung và ngành kinh doanh rau quả nói riêng là rất phức tạp, thời gian tạo ra sản phẩm lâu, lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, mùa vụ, vì thế chi phí chế biến tăng lên và đẩy mạnh giá thành sản phẩm lên cao.

2.4.2.2. Hạn chế trong công tác tổ chức và phát triển thị trường xuất khẩu

Tuy công tác nghiên cứu, dự báo tìm kiếm thị trường được Tổng công ty quan tâm, song vẫn còn hạn chế. Hoạt động thăm dò, tìm kiếm, nghiên cứu thị trường còn nhiều kẽ hở, yếu kém, chưa được chú ý khắc phục nên đã gây một số khó khăn khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu. Cụ thể là Tổng công ty đã quan tâm tới công tác xúc tiến bán hàng nhưng lại chưa chú ý nhiều đến hiệu quả của các phương thức mà mình sử dụng. Chính bởi còn yếu kém trong công tác nghiên cứu, dự báo, xúc tiến thương mại nên Tổng công ty đã thiếu thông tin về thị trường, các quyết định đưa ra liên quan đến sản xuất, xuất khẩu còn nhiều lúng túng.

Các hoạt động giao tiếp khuyếch trương chưa được đầu tư một cách thích đáng, hoạt động marketing còn diễn ra rời rạc, chưa đúng mức; sự vận dụng các công cụ quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, xúc tiến bán hàng còn diễn ra đơn điệu, do đó hiệu quả của việc tuyên truyền chưa cao, dẫn tới ảnh hưởng gần đến kết quả kinh doanh, kế hoạch marketing của Tổng công ty.

Việc mở rộng thị trường còn nhiều hạn chế cũng do thiếu người, thiếu vốn, mặt khác Tổng công ty còn rất ít kinh nghiệm trên thị trường quốc tế và còn phải cạnh tranh gay gắt với hàng của nhiều quốc gia khác. Nhìn chung thị trường xuất khẩu rau quả của Tổng công ty thường tập trung phần lớn ở Châu Á và rất bấp bênh, do tình hình kinh tế khu vực và thế giới không ổn định đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xuất khẩu của nước ta nói chung và của Tổng công ty nói riêng; giá cả mặt hàng rau quả trên thế giới giảm, sức mua của các thị trường đối với mặt hàng này cũng giảm. Thêm vào đó, thị trường rau quả lớn nhất của Tổng công ty là Liên Xô cũ đã tan rã, thị trường Nga nay chưa thể khôi phục ngay được. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều thị trường mới mẻ đối với Tổng công ty, thậm chí có những thị trường còn trong giai đoạn khám phá, vừa nghiên cứu, vừa xuất khẩu.

2.4.2.3. Hạn chế về năng lực tài chính và trình độ đội ngũ cán bộ

Sự hạn chế về tài chính, nghiệp vụ, tổ chức của đội ngũ cán bộ trong các đơn vị thành viên cũng là một vấn đề đáng lo ngại. Các doanh nghiệp thành viên đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực tài chính nhỏ bé, thiếu vốn để thay đổi giống cây trồng, thiếu vốn để đầu tư mua mới trang thiết bị. Thông thường vốn lưu động của Tổng công ty chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu kinh doanh, phải vay ngân hàng với lãi suất cao, do đó đẩy chi phí tăng lên, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Việc cấp vốn và cho vay vốn của Nhà nước còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu về thời gian của chu kỳ sản xuất, kinh doanh.

Năng lực lao động trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu rau quả còn hạn chế cả về trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường quốc tế và kiến thức hội nhập.

Bên cạnh đó, năng lực tổ chức sản xuất và kinh doanh xuất khẩu rau quả còn yếu kém. Các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty phân tán khắp nơi trong cả nước song vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên để phát huy sức mạnh chung. Hơn nữa, việc liên doanh liên kết với nước ngoài cũng không thể giải quyết được hết các vấn đề vì đó không phải là nội lực của công ty. Điều này làm ảnh hưởng đến năng suất cũng như chất lượng sản phẩm.

Tóm lại, trong công tác kinh doanh xuất khẩu rau quả, Tổng công ty Rau quả, nông sản đã đạt được một số thành tựu đáng kể, song bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế. Để khắc phục những tồn tại, yếu kém đồng thời đẩy mạnh phát triển hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau quả, Tổng công ty nhất thiết cần phải có những giải pháp cụ thể. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp xuất khẩu rau quả của công ty nông sản

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x