Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản (VEGETEXCO) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt, từ một nước nông nghiệp phải nhập khẩu lớn lương thực triền miên, giờ đây chúng ta đã trở thành một nước xuất rau quả và nông sản có vị thế trên thế giới. Đặc biệt từ khi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII hướng dẫn thực hiện đa dạng hoá cây trồng, hướng về xuất khẩu, ngành rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể .Tuy nhiên kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước; trình độ sản xuất, năng suất, sản lượng, chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu trong và ngoài nước. Trong tình hình hiện nay, việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là việc gia nhập WTO tuy mở ra nhiều cơ hội cho ngành xuất khẩu rau quả Việt Nam song cũng đặt ra không ít thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nỗ lực trong cuộc chạy đua ngày càng khốc liệt trên trường quốc tế.

Nhận thức được những khó khăn đó, Tổng công ty Rau quả, nông sản (trước đây là Tổng công ty Rau quả Việt Nam), một doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành rau quả Việt Nam, đã xác định hướng phát triển và xây dựng chiến lược phát triển cho Tổng công ty bằng việc định hướng cho xuất khẩu trên cơ sở phát huy tối đa các nguồn lực về lao động, điều kiện tự nhiên…Với nỗ lực của mình, Tổng công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể với 58 thị trường xuất khẩu, với nhiều các chủng loại mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, so với tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước thì xuất khẩu rau quả của Tổng công ty chiếm tỷ trọng chưa lớn và chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Tổng công ty. Từ thực tế đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản (VEGETEXCO)” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Khoá luận tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản, trong đó có đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty, nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Tổng công ty trong xuất khẩu rau quả đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản.

3. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, dự báo, bảng biểu kết hợp với những kiến thức lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu để rút ra những kết luận và đề xuất chủ yếu.

4. Cấu trúc của khoá luận

Khoá luận gồm ba chương:

  • Chương 1: Tổng quan hoạt động xuất khẩu rau quả Việt
  • Chương 2: Thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản
  • Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các cán bộ giảng dạy và công tác tại trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã hết lòng dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Xin cảm ơn các bác, các cô chú công tác tại Tổng công ty Rau quả, nông sản đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tìm hiểu và cung cấp các dữ liệu thống kê cần thiết để hoàn thành khoá luận này.

CHƯƠNG I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RAU QUẢ XUẤT KHẨU VIỆT NAM

1.1.1. Vị trí của rau quả trong nền kinh tế quốc dân

Rau quả không chỉ là sản phẩm thiết yếu trong cơ cấu bữa ăn của dân cư mà trong xu thế thu nhập và đời sống dân cư ngày càng được cải thiện nhanh, nó còn là sản phẩm để nâng cao đời sống. Dân số quốc gia ngày càng tăng, đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu, đòi hỏi về khối lượng, chất lượng rau quả cũng lớn hơn, tốt hơn. Hiện nay, xu hướng tiêu dùng trong tương lai của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam có sự thay đổi lớn, tức là tăng dinh dưỡng bằng thực vật và các loại sinh tố khác có trong rau quả, sử dụng đồ uống pha trộn nhiều nước quả nguyên chất, mặt khác giảm tiêu dùng các loại thực phẩm nhiều chất béo, tinh bột… Sự tiêu dùng một số loại rau quả đặc sản còn được coi là một dấu hiệu của đời sống cao. Điều này có thể lý giải tại sao các nước công nghiệp phát triển lại sản xuất, tiêu dùng ngày càng nhiều các loại rau quả, cũng như nhập khẩu ngày càng nhiều để đáp ứng đủ nhu cầu. Trong điều kiện đó, Việt Nam đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu rau quả, đưa sản xuất và xuất khẩu rau quả trở thành một trong những ngành quan trọng trong phát triển kinh tế của mình.

Việt Nam có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi cho việc trồng trọt các loại rau, hoa, quả để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển sản xuất và xuất khẩu các loại rau, hoa, quả để thay thế cho những cây trồng khác có hiệu quả kinh tế thấp, qua đó mà chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá của cả nước là rất cần thiết. Hơn nữa, đây lại là một lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa xã hội và nhân văn rất to lớn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận xã hội quan trọng với 70% là nông dân, đời sống còn rất khó khăn, diện tích đất canh tác đang bị thu hẹp. Do vậy, việc tập trung sức để phát triển cho được ngành này đi lên lại càng có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội cực kỳ quan trọng.

1.1.2. Đặc điểm của rau quả xuất khẩu Việt Nam Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên các loại thực vật, rau quả cũng như các sản phẩm lương thực rất phong phú và đa dạng. Ở nước ta, nghề trồng rau quả đã hình thành từ rất lâu cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp. Song song với việc phát triển sản xuất lương thực, phát triển rau quả cũng là khai thác một lợi thế khác của đất nước, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của đời sống nhân dân.

Rau quả là sản phẩm nông nghiệp mang những đặc điểm khác với các sản phẩm của các ngành khác. Nói chung sản phẩm rau quả xuất khẩu được chia thành hai dạng: rau quả tươi và rau quả chế biến.

  • Rau quả tươi:

Rau quả tươi là sản phẩm tươi nên vẫn giữ nguyên được hàm lượng chất dinh dưỡng, mang lại những hương vị đặc trưng của rau quả nhiệt đới. Nhưng rau quả tươi lại là mặt hàng dễ hỏng; không để được lâu; khai thác theo thời vụ và phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đất đai; chất lượng giảm mạnh nếu không được bảo quản tốt sau khi thu hoạch.

Rau tươi xuất khẩu của Việt Nam còn ít và chủng loại chưa phong phú và trước mắt chưa có khả năng xuất khẩu với khối lượng lớn vì rau quả xuất khẩu dưới dạng tươi ngoài việc cần có giống tốt đảm bảo chất lượng màu sắc, hương vị phù hợp nhu cầu của khách hàng, đòi hỏi có đầu tư lớn: thiết bị lạnh tiên tiến đảm bảo rau quả không bị mất nước, kho chứa và phương tiện vận chuyển lạnh. Các loại rau tươi xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là cải bắp, cải xanh, ngô ngọt, cà tím, các loại đậu, khoai tây…

Trái lại, hoa quả tươi xuất khẩu có phần ngày càng đa dạng về chủng loại. Chuối là mặt hàng xuất khẩu từ lâu, có thể nói là truyền thống với số lượng và chất lượng xuất khẩu khá ổn định do áp dụng kỹ thuật trồng bằng cây giống nuôi cấy mô. Ngoài ra còn có: xoài, thanh long, nhãn, bưởi…

  • Rau quả chế biến: Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Rau quả chế biến có thể giữ được lâu dài, thuận lợi trong việc sử dụng, vận chuyển, nhưng hương vị bị giảm sút so với rau quả tươi, giá thành lại cao hơn do đã qua chế biến. Rau quả chế biến có thể chia thành hai loại: sơ chế hay chế biến thủ công và chế biến công nghiệp.

Sơ chế và chế biến thủ công: các công đoạn chế biến được tiến hành đơn giản, mang nhiều tính chất thủ công như: phơi, sấy khô, muối, ép nước hoa quả, nước cô đặc, mứt ô mai… Sơ chế và chế biến thủ công rau quả ở Việt Nam được tiến hành với tỷ trọng nhỏ dùng cho công nghiệp thực phẩm và xuất khẩu.

Chế biến công nghiệp: Các công đoạn chế biến được tiến hành chủ yếu bằng dây chuyền máy móc và có các công nghệ chế biến chủ yếu: đông lạnh, đóng hộp, ép nước, nước quả cô đặc, hoa quả nghiền. Chế biến công nghiệp ở Việt Nam được lưu ý và tiến hành từ lâu song tính đến nay số rau quả tươi được chế biến công nghiệp vẫn còn hạn chế. Việt Nam là nước có nhiều quả nhiệt đới có thể chế biến thành nước quả và nước cô đặc với chủng loại phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới như: dứa, đu đủ, xoài, chôm chôm, sữa dừa, cam, táo, ổi, mãng cầu, dâu tây, dưa hấu, thanh long.

1.1.3. Vai trò của xuất khẩu rau quả

Rau quả là loại sản phẩm rất cần thiết cho con người, và nhu cầu về rau quả là nhu cầu thường xuyên, liên tục và không thể thiếu được. Với tình hình dân số thế giới ngày càng tăng, đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu và đòi hỏi về khối lượng, chất lượng rau quả cũng lớn hơn, tốt hơn. Việt Nam là một nước nông nghiệp với khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho các loại cây trồng phát triển, đặc biệt là các loại cây ăn trái và các loại rau, cùng với lực lượng lao động dồi dào, nước ta hoàn toàn có lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp mà rau quả là một trong những mặt hàng cần được phát triển để khai thác tối đa những lợi thế có sẵn.

Việc đặt nền sản xuất nông nghiệp nước ta trong quan hệ với thị trường trong nước cũng như thị trường ngoài nước sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn. Chính vì vậy, xuất khẩu rau quả có vai trò hết sức quan trọng. Điều đó thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, xuất khẩu rau quả là một trong những giải pháp quan trọng tạo nguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Việt Nam là nước kinh tế đang phát triển trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Muốn đẩy nhanh phát triển kinh tế phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải có vốn, có thiết bị, máy móc, công nghệ sản xuất tiên tiến. Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, muốn có thiết bị, máy móc và công nghệ tiên tiến cần phải nhập từ nước ngoài, nghĩa là cần phải có ngoại tệ. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Thứ hai, xuất khẩu rau quả tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng khai thác các nguồn lợi tự nhiên, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xoá đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác ở nông thôn.

Sau những năm đổi mới, sản xuất rau quả nước ta có bước phát triển về chất. Điều đó không chỉ biểu hiện ở lượng rau quả sản xuất ra ngày càng tăng mà còn biểu hiện ở việc tạo thêm nhiều việc làm trong nông nghiệp, nông thôn, thu nhập của các tầng lớp trong nông thôn ngày càng tăng, đói nghèo đang từng bước được khắc phục. Đó là những thành tựu rất cơ bản và cũng rất quan trọng của ngành rau quả nước ta trong những năm vừa qua.

Thứ ba, xuất khẩu rau quả góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất rau quả, nhờ bán được sản phẩm rau quả với giá cả cao hơn. Cơ sở kinh tế của xu hướng đó là lợi ích của các tác nhân khi tham gia vào quá trình đó thường lớn hơn khi không tham gia vào giao thương quốc tế. Trong đó, nhóm các nước nhập khẩu nông sản tìm cách xuất khẩu tư bản, tìm môi trường đầu tư có lợi về mặt tài chính, nhóm các nước xuất khẩu nông sản tìm cách khai thác lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ… để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do xuất khẩu nông sản ở dạng thô nên hiệu quả chưa thật cao. Nhưng nếu không xuất khẩu nông sản, lượng tiêu thụ trong nước tăng sẽ làm giá cả giảm sút. Hiệu quả sản xuất nông nghiệp sẽ bị giảm mạnh.

Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả là đòn bẩy để kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển. Trong điều kiện khả năng thanh toán trong nước chưa cao, khả năng tiêu thụ sản phẩm rau quả chưa lớn, thì với một lượng rau quả sản xuất ra chưa nhiều như hiện nay song đã có tình trạng “thừa” sản phẩm. Nếu tiếp tục khuyến khích sản xuất, thì tình trạng ế thừa càng có nguy cơ trầm trọng hơn. Do đó, cần thiết phải mở rộng xuất khẩu sang thị trường thế giới để có thể mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu rau quả cũng là đòn bẩy để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Ngày nay, nông dân có thể trồng các loại cây trồng phi lương thực nhưng lại giải quyết được vấn đề lương thực với hiệu quả cao hơn. Hàng vạn hộ nông dân vùng trung du và miền núi phía Bắc đã trồng vải, trồng mận trên đất mà trước kia họ trồng ngô, sắn… Với việc xuất khẩu rau quả, vừa đáp ứng được nhu cầu về rau quả cho thị trường trong và ngoài nước, vừa đảm bảo vấn đề lương thực của người nông dân và đem lại cho họ nguồn thu nhập để nâng cao đời sống.

Thứ năm, xuất khẩu rau quả góp phần tạo mở các mối quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho quan hệ kinh tế chính trị chủ động hơn. Một số nước kinh tế phát triển đã sử dụng xuất khẩu nông sản, xuất khẩu rau quả nói riêng làm con bài chính trị trong các quan hệ đối ngoại. Vì vậy, giải quyết tốt nhu cầu về nông sản là điều quan trọng để ổn định xã hội, giữ vững chủ quyền dân tộc. Điều này cho thấy, xuất khẩu nông sản có vai trò to lớn không chỉ với các nước kinh tế phát triển mà cả các nước chậm phát triển.

1.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

1.2.1. Thuận lợi

1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên

  • Về vị trí địa lý:

Việt Nam nằm ở vòng cung Châu Á – Thái Bình Dương, là nơi đang diễn ra những dòng giao lưu kinh tế sôi động và hứa hẹn những bước phát triển trong tương lai. Nằm trên các tuyến giao thông quốc tế quan trọng với hệ thống cảng biển, là cửa ngõ không chỉ cho nền kinh tế Việt Nam mà còn cho các quốc gia khác. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam có thể xuất khẩu rau quả tươi đi hầu hết các thị trường lớn của thế giới, đặc biệt là thị trường vùng Đông Bắc Á, với thời gian vận chuyển ngắn, chi phí thấp. Đây là lợi thế so với các nước nằm sâu trong lục địa hoặc nằm ở những nơi ít diễn ra các hoạt động thương mại quốc tế trên biển. Lợi thế về địa lý đã và đang được nước ta khai thác để phát triển thương mại quốc tế.

  • Về khí hậu:

Việt Nam với nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau, phần lớn mang tính chất nhiệt đới, một phần mang tính chất cận nhiệt đới và ôn đới, đã hình thành các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau với những sản phẩm rau quả đa dạng, được trồng khắp các vùng trong cả nước. Khí hậu nước ta có thể chia thành ba miền khí hậu như sau: Miền Bắc có bốn mùa trong năm, có mùa đông rõ rệt thích hợp cho các cây cận nhiệt đới và nhiệt đới như: nhãn, vải, cam…, cũng có thể phát triển các loại rau quả mang tính ôn đới như cà chua, khoai tây, rau ăn lá; Miền Nam có nhiệt độ quanh năm luôn ổn định, ít biến động, có hai mùa khô và mùa mưa rất thích hợp cho các loại cây nhiệt đới cận xích đạo như các cây ăn quả: thanh long, dưa hấu, xoài, dứa, chuối, mít …; Miền Trung có khí hậu trung gian giữa hai miền Bắc Nam, mùa mưa đến chậm thích hợp với các loại cây nhiệt đới (dứa…). Sự khác nhau về khí hậu giữa các miền và trong từng vùng tạo thuận lợi cho nước ta phát triển một nền nông nghiệp đa canh với sản phẩm nông nghiệp phong phú, đa dạng.

  • Về đất đai:

Diện tích đất cả nước vào khoảng 330.363 km2 trong đó có tới 50% là đất nông nghiệp và ngư nghiệp. Điều kiện khí hậu nhiệt đới, mưa nắng điều hoà đã giúp cho đất đai trở nên màu mỡ và có độ ẩm lớn. Đây là một thuận lợi đáng kể cho việc gieo trồng các loại rau và phát triển cây ăn quả. Đặc biệt là các loại cây vừa ưa nhiệt, vừa ưa ẩm như chuối, dừa, xoài… Nói chung, chất lượng đất đai của nước ta rất tốt, phong phú về chủng loại, đất có tầng canh tác dày, kết cấu tơi xốp, chất dinh dưỡng khá cao cho phép phát triển các loại rau, quả phong phú.

1.2.1.2. Lao động Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ cũng là một lợi thế đáng kể trong việc sản xuất và xuất khẩu rau quả ở nước ta. Việt Nam là một nước nông nghiệp với 50% dân số đang ở tuổi lao động. Đây là một lực lượng lao động dồi dào cung cấp cho các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu rau quả nói riêng. Và đặc biệt nông dân nước ta có nhiều kinh nghiệm trong canh tác vườn quả, ruộng rau. Theo nguyên lý lợi thế so sánh: một nước sẽ sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó. Ngành sản xuất và chế biến rau quả sử dụng nhiều lao động trong tất cả các khâu: gieo trồng, chăm sóc, chế biến… bởi vì, về cơ bản sản xuất nông nghiệp ở nước ta vẫn mang nặng tính chất thủ công, việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất còn rất hạn chế nên cần số lượng lao động lớn. Mặt khác, giá nhân công ở Việt Nam rẻ hơn rất nhiều so với các nước cũng góp phần làm cho giá thành rau quả ở nước ta thấp hơn các sản phẩm cùng loại trên thế giới. Bên cạnh nguồn lao động dồi dào, cả nước còn có độ ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề có khả năng đảm đương các khâu trọng yếu trong sản xuất – chế biến – lưu thông – xuất khẩu rau quả.

1.2.1.3. Thị trường xuất khẩu

Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, con người ngày càng sử dụng đa dạng và triệt để hơn các sản phẩm rau quả. Theo Tổ chức lương nông LHQ (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng bình quân 3,6%/năm, nhưng mức cung chỉ tăng 2,8%/năm [19]. Như vậy đối với thị trường rau quả thế giới, cung vẫn chưa đáp ứng được cầu. Điều này cũng cho thấy thị trường xuất khẩu rau quả có nhiều tiềm năng. Đây chính là cơ hội cho các nước xuất khẩu rau quả trong đó có Việt Nam.

Những nước có mùa đông lạnh giá không sản xuất được rau quả như SNG, Đông Âu, Bắc Âu hoặc những nước và khu vực tuy khí hậu cho phép sản xuất rau quả nhưng thiếu đất, thiếu lao động do lao động bị các ngành công nghiệp, dịch vụ thu hút như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những thị trường cần nhập khẩu rau quả với số lượng lớn. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau quả, các nước đó phải nhập khẩu rau quả. Có nước hàng năm nhập khẩu hàng triệu tấn rau quả như: Đức, Pháp, Mỹ, Canada, Nga, Tây Ban Nha. Đây là thị trường xuất khẩu tiềm năng cho những nước có lợi thế về trồng rau quả như nước ta.

Một số nước trước đây sản xuất nhiều rau quả nhưng gần đây có xu hướng giảm dần cả về diện tích, sản lượng và các chủng loại rau quả. Điều đó càng làm cho cung về rau quả trên thị trường giảm xuống, cầu về rau quả ngày càng tăng. Tình hình trên đã và đang là những vấn đề bức xúc đối với thị trường rau quả thế giới, đồng thời tạo ra những lợi thế lớn cho việc phát triển ngành sản xuất, xuất khẩu rau quả nước ta, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai.

1.2.1.4. Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước được xem như một trong những lợi thế có vai trò quyết định đối với thành công của hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các chủ trương chính sách điều tiết, quản lý nền kinh tế, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chính sách ban hành đã tạo ra những thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như xuất khẩu rau quả nói riêng.

Trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất khẩu nông sản trong đó có rau quả, từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, Chính phủ đã không ngừng ban hành, sửa đổi, bổ sung những chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, hệ thống chính sách cơ chế hợp lý có tác động tích cực thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu, nâng cao lợi thế cạnh tranh của sản phẩm rau quả xuất khẩu trên thị trường thế giới.  Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp như chủ trương tự do hoá thương mại, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi…Như vậy, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vừa là phương thức, vừa là động lực của quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, nó tạo điều kiện cho các vùng ở trung du, miền núi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ trồng cây lương thực sang trồng rau quả phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu. Chủ trương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, theo hướng xuất khẩu được coi là một lợi thế cuả nước ta trong sản xuất và xuất khẩu rau quả.

1.2.2. Khó khăn Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

1.2.2.1. Kỹ thuật và công nghệ sản xuất- chế biến rau quả

Nhìn chung, sản phẩm rau quả xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn ở dạng thô, nguyên liệu và thu gom từ các vùng lãnh thổ khác nhau nên chất lượng hàng hoá thấp và không đồng đều. Việc sản xuất rau quả vẫn còn nhiều bất cập như diện tích còn manh mún, chưa hình thành các vùng tập trung lớn để cung cấp sản phẩm ổn định cho thị trường. Bên cạnh đó, hệ thống giống rau quả của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của sản phẩm xuất khẩu, thiếu các giống rau quả mà bên trong có hương vị đặc trưng, bên ngoài có độ cảm quan hấp dẫn, có độ đồng đều cao. Trong khi đó, nếu nhập giống của nước ngoài sẽ quá đắt và làm tăng giá thành sản phẩm, do đó giá bán cũng tăng cao và làm giảm sức cạnh tranh của rau quả xuất khẩu Việt Nam.

Hệ thống bảo quản rau quả còn hạn chế, kỹ thuật bảo quản rau quả tươi chủ yếu vẫn sử dụng kinh nghiệm cổ truyền, thủ công. Do công tác bảo quản không tốt nên chi phí cho một đơn vị sản phẩm rau quả xuất khẩu thường vượt định mức cho phép. Cũng do chưa có công nghệ và phương tiện thích hợp để bảo quản sau thu hoạch nên tỷ lệ hư hỏng cao. Kỹ thuật bảo quản mới thực hiện ở mức đóng gói bao bì và lưu giữ tại cảng bằng kho mát chuyên dùng. Tuy vậy, khâu đóng gói và bao bì vẫn chưa đạt yêu cầu, qui cách, mẫu mã còn xấu, công nghệ lạnh trong bảo quản chưa được áp dụng tốt.

Công nghệ chế biến còn quá lạc hậu, chủ yếu được hình thành trong “cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp” nên hầu hết các trang thiết bị, máy móc và công nghệ đã lạc hậu hàng chục thế hệ, không thích hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay. Các xí nghiệp, kho tàng, bến bãi, máy móc thiết bị cồng kềnh nhưng kém hiệu quả, các định mức tiêu hao nguyên- nhiên- vật liệu thường rất cao, mà sản phẩm sản xuất ra chất lượng lại thấp. Tuy có nhiều doanh nghiệp rất tích cực đổi mới công nghệ, nhưng nguồn vốn hạn hẹp, nên thường sử dụng chắp vá, không đồng bộ và kèm theo đó là tổ chức sản xuất và bộ máy quản lý cồng kềnh, bất cập với công nghệ, đang là những cản lực trong cạnh tranh.

1.2.2.2. Sự hạn chế trong việc xâm nhập, tạo lập và ổn định thị trường

Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới đã được phân chia và sự phân công lao động quốc tế đã được xác lập tương đối ổn định. Các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ đã phải chấp nhận cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia hoặc với công ty hay doanh nghiệp lớn nhiều kinh nghiệm trên thương trường.

Mặt khác là sự yếu kém của chúng ta trong công tác tổ chức thông tin chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, chất lượng không cao. Bên cạnh đó trình độ tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động xuất nhập khẩu và khả năng tiếp thị của các doanh nghiệp còn yếu.

1.2.2.3. Tổ chức thu mua Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Do thiếu tổ chức hợp tác hợp lực một cách chặt chẽ nên hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp của trung ương và địa phương, của nhiều ngành nhiều cấp quản lý trên một vùng lãnh thổ cùng tham gia sản xuất kinh doanh, xuất khẩu một ngành hàng, một mặt hàng. Nhưng không có sự hình thành rõ quan hệ ngành hàng (giữa sản xuất- chế biến- lưu thông tiêu thụ), vẫn trong tình trạng nhiều nhưng mà thiếu, đông nhưng không mạnh, thiếu sự hướng dẫn, điều hành, phân công và sự phối kết hợp trong hoạt động kinh doanh đã dẫn đến tình trạng lộn xộn trên thị trường mỗi khi có nhu cầu hàng cho xuất khẩu mạnh ai nấy làm, phân tán cục bộ, tranh mua tranh bán, làm suy yếu lẫn nhau… Hậu quả xảy ra là giá mua trong nước bị đẩy lên cao và giá bán ở thị trường nước ngoài bị đẩy xuống, gây thiệt hại đến lợi ích xã hội và người sản xuất.

1.2.2.4. Môi trường kinh tế

Tuy trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Nhà nước đã có nhiều chính sách ban hành nhằm khuyến khích tạo điều kiện mở rộng các hoạt động thương mại, nhưng do cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý xuất nhập khẩu nói riêng thay đổi thường xuyên làm cho các doanh nghiệp không kịp xoay xở, bị động, lúng túng, thậm chí không xác định rõ phương hướng hoạt động của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp chưa thật sự yên tâm bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh hàng rau quả xuất khẩu.

Tóm lại, nhận thức đầy đủ những lợi thế và bất lợi trong sản xuất và kinh doanh rau quả là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng để chủ động và tự tin hơn trong quá trình chỉ đạo sản xuất và thị trường. Vấn đề là làm sao kết hợp được các lợi thế so sánh, phát huy tối đa hiệu quả của chúng. Muốn vậy đòi hỏi sự nỗ lực của cả xã hội và sự kết hợp chặt chẽ của các ngành các cấp, các đơn vị sản xuất, đặc biệt là vai trò điều tiết của Chính phủ, nhằm chủ động tạo lập và xây dựng các chiến lược về mặt hàng xuất khẩu, ngành hàng xuất khẩu và thị trường xuất khẩu chủ lực, để có thể từ những lợi thế tạo ra sức cạnh tranh cao cho mỗi sản phẩm rau quả của Việt Nam trên thị trường thế giới.

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM

1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Những năm vừa qua, thị trường rau quả có xu hướng phát triển nhanh. Xu hướng hội nhập cũng tạo điều kiện mở rộng thị trường và là điều kiện tốt cho xuất khẩu rau quả phát triển.

  • Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam, 2009-2025
  • Biểu đồ 1. Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam giai đọan 2009-2025

Số liệu bảng 1 và biểu đồ 1 cho thấy từ năm 2009 đến 2013, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam liên tục giảm sút, từ 52,3 triệu USD năm 2009 xuống còn 33,2 triệu USD năm 2010, 32,3 triệu USD năm 2011, 23,6 triệu USD năm 2012 và 20,8 triệu USD năm 2013. Có 3 nguyên nhân chủ yếu làm cho kim ngạch xuất khẩu rau quả bị giảm sút. Một, thị trường xuất khẩu chủ yếu của rau quả Việt Nam là Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu bị khủng hoảng sau khi thay đổi chế độ. Hai, Việt Nam thời kỳ này còn đang bị bao vây, cấm vận, nên xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thị trường mới còn hạn chế. Ba, Việt Nam còn đang tập trung vào việc giải quyết an ninh lương thực ở trong nước và xuất khẩu gạo, bước đầu phát triển nông nghiệp toàn diện để khắc phục thiếu hụt các nông sản ngoài lương thực, cha có điều kiện đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu rau quả.

Năm 2014, xuất khẩu rau quả đã tăng khá và đạt đỉnh cao nhất so với trước đó vào năm 2015 với kim ngạch đạt 90,2 triệu USD. Tuy nhiên, lại bị giảm sút mạnh vào hai năm 2016-2017 xuống chỉ còn 56,2 triệu USD năm 2017. Sự phục hồi của kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này là do sự mở rộng và phát triển của các thị trường mới như Đông Nam Á. Đồng thời, giai đoạn này cũng chuyển sang tự do hoá xuất khẩu, cho phép các nhà xuất khẩu tư nhân tự do tìm kiếm thị trường và các sản phẩm xuất khẩu mới. Đặc biệt, xuất khẩu rau quả bắt đầu được chú trọng vì có tiềm năng khai thác lớn.

Trong giai đoạn 2017-2020, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng nhanh và tăng liên tục, đạt đỉnh cao nhất vào năm 2020 với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 330 triệu USD. Nguyên nhân chính là do thị trường xuất khẩu rau quả chủ yếu là Trung Quốc đã gia tăng mạnh và một số thị trường khác cũng tăng lên.

Trong 2 năm 2021-2022, kim ngạch xuất khẩu rau quả bị sút giảm mạnh, chủ yếu do xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc bị sút giảm ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu rau quả của nước ta. Năm 2022, giá trị xuất khẩu chỉ dừng ở mức rất thấp là 151,5 triệu USD. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Từ năm 2023 đến nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả đã có dấu hiệu phục hồi. Năm 2024 kim ngạch xuất khẩu đạt 235,5 triệu USD, tăng 32,5% so với năm 2023 (177,7 triệu USD), năm 2025 đạt 259,1 triệu USD, tăng 10% so với năm 2024 [26].

Theo số liệu thống kê (bảng 2), kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước trong tháng 7/2026 đạt 22.542.139 USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 7 tháng đầu năm 2026 lên 179.339.903 USD, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong tháng 7/2026 lại giảm 15,3% so với tháng 6/2026 [27].

Đến năm 2027, Việt Nam phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả này lên 600-700 triệu USD, đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2025-2027 là 23-25%/năm và đạt kim ngạch khoảng 700 triệu USD vào năm 2027 [30].

  • Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả sang các thị trường trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2026

1.3.2. Nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu

Nhóm hàng rau quả xuất khẩu bao gồm rau quả tươi, rau quả đông lạnh, rau quả đóng hộp và rau quả sấy, muối. Trong đó, nhóm rau quả hộp chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao nhất, nhóm hàng rau quả đông lạnh và nhóm hàng rau quả tươi có xu hướng giảm do thiếu các thiết bị bảo quản như hệ thống đông lạnh. Các loại quả xuất khẩu chủ yếu là dứa, chuối, xoài, vải, dưa hấu, nhãn, thanh long và chôm chôm. Các loại rau xuất khẩu chủ yếu là bắp cải, dưa chuột, hành, cà chua, đậu, súp lơ và ớt. Những năm gần đây, do sự biến động về thị trường xuất khẩu của Việt Nam có sự thay đổi đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2019 đối với toàn thế giới như sau: rau quả tươi (chiếm 26,3% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả), rau quả khô (chiếm 50,6%) và rau quả chế biến (chiếm 23,1%). Như vậy, có thể thấy tỷ lệ rau quả tươi xuất khẩu vẫn chiếm tỷ lệ tương đối hạn chế so với số lượng rau quả khô và chế biến.

  • Mặt hàng chuối:

Xuất khẩu chuối bắt đầu phát triển từ năm 1968, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Trước đây, mặt hàng chuối chủ yếu xuất sang thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, tuy nhiên thị trường này không ổn định. Thời kỳ 1980-2009, Việt Nam thực hiện các hiệp định xuất khẩu hiệu quả cho Liên Xô cũ nên lượng chuối tươi được dùng cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm. Từ năm 2010, do biến cố chính trị ở Liên Xô cũ nên lượng chuối tươi và sấy xuất khẩu sang thị trường này giảm. Những năm gần đây, sản lượng và giá trị xuất khẩu mặt hàng chuối liên tục có dấu hiệu khởi sắc, đặc biệt chuối xanh được thu gom và xuất khẩu sang thị trường tiểu ngạch vùng biên Trung Quốc. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

  • Mặt hàng dứa:

Dứa là một trong những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Hiện nay, thị trường xuất khẩu dứa ra thế giới của Việt Nam bị cạnh tranh rất gay gắt, đặc biệt là với Thái Lan. Dứa là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành rau quả. Dứa được xuất khẩu dưới dạng tươi và chế biến, nhưng dứa tươi xuất khẩu còn ít, chủ yếu là xuất khẩu dứa hộp và dứa đông lạnh. Ngoài thị trường truyền thống như Nga, Đông Âu, dứa đã xâm nhập vào thị trường Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông… và đặc biệt là thị trường Mỹ.

  • Nhóm quả đặc sản:

Nhóm quả đặc sản có ưu thế trong xuất khẩu gồm vải, nhãn, xoài, thanh long, bơ, măng cụt… nhưng hiện nay xuất khẩu chưa nhiều. Bình quân mỗi năm nước ta xuất khẩu được hàng trăm tấn vải hộp, chôm chôm hộp. Các loại quả tươi, đặc sản xuất khẩu có giá trị khá cao. Các loại cây ăn quả đặc sản thế mạnh của Việt Nam là: thanh long, vú sữa, măng cụt, bưởi, cam sành, xoài, sầu riêng, dứa, vải, nhãn, dừa, đu đủ. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long có một số loại quả đặc sản như: măng cụt, xoài cát Hoà Lộc, bưởi da xanh.

  • Mặt hàng rau:

Trong các loại rau xuất khẩu, dưa chuột là loại rau quả xuất khẩu chủ lực với hai mặt hàng đóng hộp là dưa chuột muối nguyên quả và dưa chuột chẻ tư. Tuy xuất khẩu dưa chuột muối có tăng nhưng không ổn định do chưa làm tốt khâu lai tạo, tuyển chọn giống dưa chuột có năng suất và chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường.

  • Bảng 3. Một số loại rau quả xuất khẩu chính của Việt Nam

1.3.3. Thị trường xuất khẩu Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Trong nhưng năm gần đây, thị trường xuất khẩu hàng rau quả nước ta không ngừng được rộng, thị trường trên thế giới. Bên cạnh nhưng thị trường truyền thống như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, EU, Ðài Loan, Singapore…, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta cần được rộng sang một số thị trường mới như Achentina, Li Băng, Quata, Môntitania, Áo, Estônia, Bêlarút…[22]. Trong đó, Châu Á là thị trường xuất khẩu hàng rau quả chủ lực của nước ta. Thị trường Châu Á, với những điều kiện vị trí địa lý thuận lợi và nhiều nét văn hoá ẩm thực tương đồng với nước ta là điều kiện thuận lợi cho hàng rau quả của nước ta thâm nhập sâu vào thị trường này. Trong năm 2025, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan luôn nằm trong top 5 thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta. Trung Quốc được coi là một thị trường lớn với hy vọng đẩy mạnh xuất khẩu rau quả vào thị trường này với mức hàng trăm triệu USD/năm.

  • Biểu đồ 2. Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam Nam 2025

Trong 7 tháng đầu năm 2026, phần lớn rau quả nước ta được xuất khẩu chủ yếu vào các nước như: Nhật Bản (16,1 triệu USD), Trung Quốc (14,4 triệu USD), Đài Loan (14,3 triệu USD), Liên Bang Nga (13,1 triệu USD), Mỹ (11,2 triệu USD)… Tính hết tháng 7/2026, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hàng rau quả lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 16,1 triệu USD (chiếm khoảng 9% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả) (bảng 2).

Bảng 4. Thị trường xuất khẩu rau quả chính của Việt Nam năm 2025

  • Thị trường Trung Quốc

Trung Quốc là nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ rau quả lớn nhất Châu Á, và cũng là thị trường xuất khẩu hàng rau quả chủ lực của nước ta. Năm 2019 và 2020 kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc lần lượt là 120,4 triệu USD và 142,8 triệu USD. Đến năm 2021 lại giảm xuống còn 121,5 triệu USD. Tỷ trọng xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc có xu hướng giảm và giảm mạnh vào năm 2023 ( kim ngạch xuất khẩu đạt 25,5 triệu USD chiếm 15,2% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam). Như vậy so với năm 2020 – đỉnh cao của xuất khẩu rau quả sang thị trường này, thì năm 2023 đã giảm tới 117,3 triệu USD tức giảm 82,1%. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc đạt khoảng 35 triệu USD, tăng 37,3% so với năm 2023 (25,5 triệu USD). Năm 2025 đạt mức 24,6 triệu USD, giảm 29,5% so với năm 2024 [26].

  • Biểu đồ 3. Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc, 2019-2025

Các chủng loại rau quả chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc gồm: Rau quả tươi như xoài, sầu riêng, thanh long, dừa, chuối, cải bắp, ngô ngọt, cà tím; Rau quả hộp: dưa chuột bao tử, nấm hộp, dứa cô đặc, dứa hộp, ngô, sắn lát.

Nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giảm sút là do rau quả Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này đang phải chịu mức thuế lên tới 12-24,5%, điều này đã làm đội giá thành sản phẩm lên rất cao. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc và Thái Lan ký hiệp định thương mại, thực hiện thuế suất nhập khẩu bằng 0% cho rau quả Thái Lan đã gây khó khăn lớn cho ngành rau quả Việt Nam vì không thể cạnh tranh bằng giá cả [26].

Hiện tại, Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng lớn trong các thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Nhu cầu nhập khẩu rau quả của Trung Quốc những năm gần đây khoảng 680 triệu USD/năm, xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2024 vào Trung Quốc chiếm 5,1% kim ngạch nhập khẩu rau quả của nước này, Việt Nam phấn đấu đến 2027 nâng tỷ lệ này lên khoảng 15% (đạt kim ngạch trên 100 triệu USD) [30].

  • Thị trường Đài Loan

Trong những năm gần đây, Đài Loan là thị trường xuất khẩu hàng rau quả lớn của Việt Nam. Năm 2023 Đài Loan là nước nhập khẩu rau quả lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 12,8% kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Trong năm 2025, Đài Loan luôn nằm trong top 5 thị trường xuất khẩu hàng rau quả lớn nhất của nước ta. Về mặt hàng xuất khẩu, thanh long luôn là chủng loại rau quả xuất khẩu nhiều nhất của nước ta vào thị trường Đài Loan. Trong tháng 11/2025, xuất khẩu thanh long của nước ta vào thị trường này đạt 811 nghìn USD, tăng 152% so với tháng 10/2025 [21]. Bên cạnh đó, xuất khẩu măng, dưa gang, dưa chuột, ngô… vào thị trường Đài Loan cũng tăng khá mạnh.

Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường Đài Loan trong năm 2025 đạt 27,1 triệu USD, tăng 1% so với năm 2024 và thấp hơn 1,5% so với kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2025 sang Nhật Bản [26]. Như vậy, Đài Loan là thị trường xuất khẩu rau quả lớn thứ hai của Việt Nam trong năm 2025. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Nhu cầu nhập khẩu rau quả của Đài Loan những năm gần đây khoảng 270 triệu USD/năm, xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2024 vào Đài Loan chiếm 9,3% kim ngạch nhập khẩu rau quả của nước này, phấn đấu đến 2027 nâng tỷ lệ này lên trên 18% (đạt kim ngạch trên 50 triệu USD) [30]. Với những thuận lợi về vị trí địa lý và nét văn hoá tương đồng, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta vào thị trường Đài Loan sẽ tiếp tục khởi sắc.

  • Thị trường Nhật Bản

Hiện nay, Nhật bản là một trong những thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới, đồng thời Nhật Bản cũng là thị trường xuất khẩu rau quả tiềm năng của Việt Nam. Năm 2022, Nhật Bản đã nhập khẩu một lượng rau quả trị giá khoảng trên 16 triệu USD từ Việt Nam. Tuy vậy lượng kim ngạch này mới chỉ chiếm 0,4% tổng kim ngạch nhập khẩu rau quả của Nhật Bản. Năm 2025, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong những tháng cuối năm liên tục tăng, đưa kim ngạch xuất khẩu rau quả lớn nhất của nước ta trong cả năm 2025 đạt 27,5 triệu USD, nhưng vẫn thấp hơn gần 5% so với năm 2024 [26]. Các chủng loại rau quả chính xuất khẩu sang thị trường này là bó xôi, nấm rơm, cà tím, khoai tây, bắp cải, dưa chuột, đậu quả các loại, dứa, cà chua, chuối, sầu riêng.

Nhu cầu nhập khẩu rau quả của Nhật Bản những năm gần đây khoảng gần 6 tỷ USD/năm, xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2024 vào Nhật Bản chỉ chiếm 0,5% kim ngạch nhập khẩu rau quả của nước này, phấn đấu đến 2027 nâng tỷ lệ này lên 2% (đạt kim ngạch trên 120 triệu USD) [30].

Khó khăn lớn nhất đối với việc xuất khẩu rau quả sang thị trường này là yêu cầu của thị trường về chất lượng, an toàn, vệ sinh, bao bì và nhãn mác rất cao, hơn nữa cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu là rất lớn. Kinh nghiệm cho thấy cách tốt nhất cho các doanh nghiệp Việt nam thâm nhập vào thị trường này là hợp tác với các công ty Nhật Bản để được hướng dẫn về cách lựa chọn giống, phương thức xuất khẩu, chế biến, đóng gói và vận chuyển.

  • Thị trường các nước ASEAN Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Các nước ASEAN chưa nhập khẩu nhiều rau quả của Việt Nam. Năm 2021, mỗi nước Singapore, Malaysia chỉ nhập khẩu từ 2-3 triệu USD rau quả của Việt Nam. Hiện nay, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta có xu hướng tăng lên đối với thị trường các nước ASEAN. Năm 2025, Thái Lan là thị trường xuất khẩu rau quả của nước ta có tốc độ tăng trưởng cao nhất, gần 180% về giá trị so với năm 2024 (với kim ngạch năm 2025 là 9 triệu USD); kim ngạch xuất khẩu rau quả sang Singapore năm 2025 đạt 7,9 triệu USD, tăng 19,6% so với năm 2024 (bảng 4). Tính hết tháng 7/2026, xuất khẩu rau quả của nước ta sang Singapore, Thái Lan, Malaysia lần lượt đạt kim ngạch là 5,8 triệu USD, 4,1 triệu USD, 3 triệu USD ( bảng 2).

Lợi thế xuất khẩu rau quả sang các nước ASEAN của Việt Nam là khoảng cách gần, đều thuộc khối tự do thương mại AFTA. Tuy nhiên, điều kiện sinh thái ở các nước này tương tự như nước ta, nên họ có thể là đối thủ cạnh tranh hơn là thị trường tiềm năng cho các sản phẩm vườn của Việt Nam. Vì thế Việt Nam cần hợp tác với các nước ASEAN để tận dụng công nghệ và kỹ nghệ của các nước này và ngược lại các nước ASEAN có thể tận dụng lao động rẻ và các điều kiện đang phát triển khác của Việt Nam.

  • Thị trường Mỹ

Mỹ là một thị trường lớn trên thế giới với nhu cầu tiêu thụ các loại rau quả tươi, rau quả chế biến rất lớn. Những năm gần đây, Mỹ được coi là thị trường đầy tiềm năng đối với mặt hàng rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên để xâm nhập vào thị trường này thì sản phẩm rau quả nói chung và rau quả tươi nói riêng phải đạt được những tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm hết sức ngặt nghèo, đặc biệt quả và nước quả đóng hộp nhập khẩu vào Mỹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn của Cục quản lý Thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) về phân biệt sản phẩm, chất lượng, và độ dầy.

Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào thị trường Mỹ có xu tăng lên. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta vào thị trường này là 14,9 triệu USD, chiếm 8,9% kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, năm 2025 đạt 18,4 triệu USD, tăng gần 40% so với năm 2024 (bảng 4). Các mặt hàng rau quả chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ gồm: cải bắp, cà tím, cà rốt, chôm chôm, nước dứa cô đặc, dứa lạnh, vải lạnh.

Từ khi hiệp định thương mại song phương Việt – Hoa Kỳ có hiệu lực, xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn nhờ được hưởng quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN). Thuế nhập khẩu rau quả giảm đi rất nhiều, tuy nhiên rau quả Việt Nam vẫn khó có thể cạnh tranh với những nước được hưởng quy chế GSP (ưu đãi thuế quan phổ cập), vì những nước này được hoàn toàn miễn thuế. Hiện tại, riêng với rau quả tươi, Việt Nam chưa có danh mục riêng được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ, mà chỉ nhập theo danh mục chung của Cơ quan Kiểm dịch động thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (APHIS).

  • Các thị trường khác Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

Thị trường EU: Là một thị trường còn nhiều tiềm năng, tuy nhiên đây cũng là một thị trường tương đối khó tính, khắt khe, không đồng nhất nên sản phẩm của nước ta muốn xuất khẩu không phải là dễ dàng. Chất lượng của các sản phẩm rau quả chính là chìa khoá để có thể thâm nhập thành công vào thị trường EU. Ngoài ra rau quả nhập khẩu vào thị trường này còn phải tuân theo các quy định về “Tiêu chuẩn tiếp cận thị trường” của EU, trong đó nêu rõ những yêu cầu cụ thể về CO, các quy định liên quan đến vấn đề môi trường, xã hội, sức khoẻ, an toàn; quy định về bao bì, kỹ mã hiệu, nhãn mác…Do khoảng cách xa và chi phí vận chuyển cao và có nhiều nguồn cung cấp các sản phẩm nhiệt đới tươi gần Châu Âu nên EU chỉ nhập các sản phẩm vườn chủ yếu của Việt Nam như rau quả đóng hộp, nước quả và hạt tiêu. Pháp, Hà Lan, Italia, Anh, Thuỵ Sĩ và đặc biệt là Đức nhập nhiều sản phẩm dứa đóng hộp, nước quả và các loại rau quả đóng hộp khác. Trong những năm gần đây, EU có xu hướng tăng cường nhập khẩu các loại quả nhiệt đới.

Thị trường Nga và Đông Âu: Là thị trường có tiềm năng đối với ngành rau quả Việt Nam. Hầu hết các sản phẩm rau quả của Việt Nam đều có thể xâm nhập vào thị trường này. Hơn nữa, Việt Nam còn được hưởng chế độ GSP của Nga nên chính sách thuế không đặt ra áp lực cạnh tranh đối với xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường này. Thị trường Nga trước mắt và lâu dài còn cần nhiều hàng nông sản, rau, trái cây vùng nhiệt đới. Việt Nam có nhiều cơ hội có thể chiếm lĩnh được thị trường khu vực Viễn Đông của Nga, như đã làm trước kia. Vấn đề đặt ra là cách thức tổ chức sản xuất và xuất khẩu rau quả từ lúc chọn giống, cách trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển nội địa, giao hàng lên tàu lạnh. Những năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu quả đóng hộp, chuối khô, và các loại quả khác sang Ba Lan, CH Séc, Bulgari, Hungari, Nga, Ukraina. Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu rau quả của công ty nông sản

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại công ty nông sản […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x