Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Định hướng phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Khi thị trường chứng khoán tập trung đầu tiên của Việt Nam đi vào hoạt động ngày 20 tháng 7 năm 2020 thì đã có một nghề mới được xuất hiện, đó là nghề môi giới chứng khoán. Có thể nói một trong những đặc trưng của Thị trường chứng khoán là hoạt động theo nguyên tắc trung gian, theo nguyên tắc này các giao dịch trên Thị trường chứng khoán bắt buộc phải được thực hiện qua các công ty môi giới chứng khoán và nhân viên môi giới. Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng và cơ bản trong thị trường chứng khoán. Khác với nghề môi giới trong các lĩnh vực khác, môi giới chứng khoán là một loại hoạt động chuyên nghiệp mang tính nhà nghề cao, đòi hỏi phải có kỹ năng, nghiệp vụ, đạo đức, đồng thời đòi hỏi một môi trường hỗ trợ tương đối phức tạp.
Cùng với sự ra đời cách đây chưa lâu của Thị trường chứng khoán Việt Nam, nghề môi giới chứng khoán cũng đã hình thành và đang trên đà phát triển. Đây là kết quả của nỗ lực nhằm rút ngắn khoảng thời gian cần thiết để tạo lập kênh huy động vốn trung và dài hạn cho công cuộc tăng trưởng kinh tế đất nước. Thị trường tài chính phát triển ở trình độ cao là tiền đề để nghề môi giới chứng khoán có thể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài chính. Tuy nhiên, khi trường thị trường tài chính còn phát triển ở mức độ thấp, sự xuất hiện và phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán sẽ có tác động ngược lại, trở thành một nhân tố thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung. Chính vì thế, nghề môi giới chứng khoán cần được nhận thức một cách đầy đủ từ mọi khía cạnh pháp lý, đạo đức, cá nhân và cộng đồng, tích cực và tiêu cực… để từ đó có thể hoạch định một chương trình xây dựng và phát triển nghề môi giới chứng khoán như một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển tổng thể ngành chứng khoán.
Trên cơ sở nghiên cứu nghề môi giới chứng khoán cũng như phân tích thực trạng nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam, đề tài “Định hướng phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn, nhằm góp phần củng cố và thúc đẩy nghề môi giới chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung phát triển ổn định hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận: Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Làm rõ bản chất của nghề môi giới chứng khoán qua việc phân tích chức năng, bản chất, đặc trưng và các loại môi giới chứng khoán cũng như mâu thuẫn nội tại của nó trong nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn phát triển ban đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó phân tích vai trò của nghề môi giới chứng khoán trong nền kinh tế nói chung và trên thị trường chứng khoán nói riêng.
Xem xét cơ cấu tổ chức và vận hành của các công ty môi giới chứng khoán; các kỹ năng cần thiết của người môi giới chứng khoán và những chuẩn mực nghề nghiệp của họ với tư cách là những cá nhân hành nghề, đặt trong xu hướng phát triển của thế giới hiện đại.
Đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và nghề môi giới chứng khoán của Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động.
Đề xuất một số giải pháp cho việc xây dựng và phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Khoá luận nghiên cứu nghề môi giới chứng khoán nói chung, đồng thời nghiên cứu thực trạng nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam nhằm tìm ra một hướng phát triển cho nghề môi giới chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh để rút ra được các đánh giá, nhận xét tổng quát và đưa ra các nhận định, kiến nghị nhằm xây dựng và phát triển nghề môi giới chứng khoán Việt Nam.
5. Bố cục khoá luận: Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được bố cục thành ba chương:
- Chương 1. Tổng quan về nghề môi giới chứng khoán
- Chương 2.Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3. Định hướng phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam
Do những hạn chế về thời gian và nguồn tài liệu nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Những khuyến nghị đưa ra chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết và chưa đáp ứng được yêu cầu của người đọc. Vì vậy, người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn đọc để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHỀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
I: VÀI NÉT VỀ NGHỀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
1. Khái quát về thị trường chứng khoán
1.1 Khái niệm và chức năng của thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa ngày càng phát triển như hiện nay, Thị trường chứng khoán đã trở thành một yếu tố căn bản, không thể thiếu được của một nền kinh tế hiện đại. Thị trường chứng khoán đã và đang trở thành một định chế tài chính quan trọng nhất đối với những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Về định nghĩa Thị trường chứng khoán thì từ trước tới nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Thị trường chứng khoán.
Theo tiếng Latin, Thị trường chứng khoán có nghĩa là BURSA hay còn gọi là “sở giao dịch chứng khoán”, nghĩa đen là ví đựng tiền, là một tổ chức hoạt động có điều khiển. Theo chữ Hán, Thị trường chứng khoán là giao dịch sở, sở có nghĩa là nơi chốn, còn giao dịch có nghĩa là mua bán, đổi chác.
Từ điển Longman Dictionary of Business English, năm 1985, định nghĩa Thị trường chứng khoán như sau: “An organized market where securites are bought and sold under fixed rules”, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “TTCK là một thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán được mua và bán theo những nguyên tắc nhất định”. Cũng theo The America Heritage Dictionary of the English Languahe, Dell, 1971, trong tiếng Anh, thì securites có nghĩa là written evidence of ownership, có nghĩa tiếng Việt là “chứng từ sở hữu bằng văn bản”. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Tuy nhiên trong đời sống hàng ngày thì Thị trường chứng khoán đã thoát ly định nghĩa ban đầu và có thêm nhiều nội dung mới. “TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán chuyển nhượng, trao đối chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”.
Nghị định 48/CP – NĐ ngày 11/7/2018, khoản 19 điều 2, quy định: “ Thị trường giao dịch tập trung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các CK được mua bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán”.
1.1.2 Chức năng chủ yếu của Thị trường chứng khoán
- TTCK có các chức năng chủ yếu sau:
Thứ nhất, Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế. Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán của các tổ chức phát hành, điều đó có nghĩa là số tiền nhàn rỗi của họ được huy động và sử dụng để đầu tư cho các hoạt động sản xuất cũng như kinh doanh dịch vụ, điều này giúp phần quan trọng trong việc phát triển đầu tư cho cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ sở vật chất kinh tế xã hội góp phần phát triển nền kinh tế.
Thứ hai, Thị trường chứng khoán cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng thông qua Thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể lựa chọn một loại hình chứng khoán phù hợp để đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và thu lợi nhuận.
Thứ ba, Thị trường chứng khoán tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Nhờ có Thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển cổ phiếu họ đang sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán một cách dễ dàng. Thị trường chứng khoán càng hoạt động hiệu quả càng nâng cao được tính thanh khoản của các loại chứng khoán và thu hút càng nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Thứ tư, Thị trường chứng khoán là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác trên Thị trường chứng khoán. Điều này tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, là động lực cho doanh nghiệp phát triển. Các doanh nghiệp vì vậy phải luôn nỗ lực, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Thứ năm, Thị trường chứng khoán giúp cho chính phủ thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế. Chúng ta có thể thấy rằng Thị trường chứng khoán với tính nhạy cảm vốn có, thì những động thái trên Thị trường chứng khoán phản ánh các biến động của nền kinh tế, qua đó chính phủ có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng và hợp lý. Thông qua Thị trường chứng khoán thì chính phủ có thể mua bán các loại trái phiếu, điều chỉnh cán cân ngân sách, điều tiết lượng cung tiền và quản lý lạm phát.
1.2. Các chủ thể tham gia Thị trường chứng khoán
1.2.1 Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện việc huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng cách phát hành và bán các CK trên thị trường sơ cấp, như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư… “Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện việc phát hành chứng khoán ra công chúng”. Nhà phát hành là người cung cấp chứng khoán – hàng hoá của Thị trường chứng khoán. Nhà phát hành chứng khoán có thể là chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và các công ty cổ phần. Trong đó nhà phát hành ở Việt Nam chủ yếu là chính phủ và các công ty cổ phần.
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa phương. Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ.
1.2.2 Nhà đầu tư
Đầu tư chứng khoán chỉ là việc bỏ vốn, tiền tệ ra mua chứng khoán để kiếm lời, việc kiếm lời trong đầu tư chứng khoán có thể là do thu nhập từ cổ tức, trái tức, nhưng cũng có thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại.
Nhà đầu tư chứng khoán là những người có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền đầu tư vào Thị trường chứng khoán bằng cách thực sự mua các CK đang được phát hành trên Thị trường chứng khoán nhằm hưởng lãi và lợi nhuận. Có thể chia nhà đầu tư chứng khoán thành hai loại đó là:
Nhà đầu tư cá nhân: nhà đầu tư cá nhân chính là công chúng, là khối lượng công chúng đông đảo có thể cung cấp một lượng tiền tệ rất lớn, từ những nguồn thu nhập thường xuyên của mình. Đầu tư từ công chúng là một nguồn cung cấp rất quan trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với sự tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia.
Các tổ chức đầu tư: các quỹ hưu bổng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng thương mại, các công ty đầu tư quốc gia, các quỹ tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ…Đây là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính dồi dào, có kinh nghiệm và có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của thị trường chứng khoán.
Ở Việt Nam, “nhà đầu tư là tổ chức cá nhân Việt Nam và tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên Thị trường chứng khoán”. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
1.2.3 Các trung gian chứng khoán
Trung gian là đưa đường dẫn lối để hai bên có thể gặp nhau. Nhà trung gian chứng khoán có thể với tư cách là: nhà trung gian cá nhân hay các tổ chức trung gian (pháp nhân) như các công ty chứng khoán.
Vai trò chủ yếu của nhà trung gian chứng khoán là: kinh doanh, môi giới và bảo lãnh chứng khoán. Thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả một phần là nhờ sự thực hiện tốt vai trò của các trung gian chứng khoán. Hầu hết các công ty chứng khoán đều vừa có hoạt động môi giới vừa có hoạt động kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên trong giao dịch để đảm bảo tính trung thực, công bằng và uy tín của ngành, hai hoạt động này được lưu ý tổ chức và giám sát tách bạch.
1.2.4 Người quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động của Thị trường chứng khoán
Là người có nghĩa vụ đảm bảo cho Thị trường chứng khoán hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo vệ lợi ích cho những người đầu tư.
Vai trò quản lý, giám sát và điều chỉnh hoạt động của Thị trường chứng khoán thuộc về nhà nước. Để thực hiện vai trò này, phải hình thành một cơ quan quản lý giám sát và điều chỉnh thị trường – cơ quan đó gọi là hội đồng chứng khoán quốc gia (mà ở nước ta gọi là Ủy Ban Chứng Khoán Quốc Gia). Thành viên của cơ quan này thường là những quan chức của: Bộ tài chính, ngân hàng trung ương, Bộ thương mại, Bộ tư pháp và đại diện của sở giao dịch chứng khoán.
II: NGHỀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
1. Nghề môi giới chứng khoán là gì?
1.1 Thế nào là môi giới chứng khoán
Có thể nói, hoạt động Môi giới chứng khoán là hạt nhân của Thị trường chứng khoán, hoạt động Môi giới chứng khoán phát triển sẽ tạo đà phát triển cho Thị trường chứng khoán. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt động của Thị trường chứng khoán là chỉ dựa vào các hoạt động giao dịch được cấp phép giữa những người trung gian làm nghề Môi giới chứng khoán. Luật Chứng Khoán Việt Nam 2026 định nghĩa Môi giới chứng khoán như sau: “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện việc mua bán chứng khoán cho khách hàng”.
MGCK là một hoạt động kinh doanh CK trong đó một công ty CK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Với cách tiếp cận như vậy, người môi giới chứng khoán, hiểu theo nghĩa rộng, là những người trung gian mua bán CK cho khách hàng để hưởng hoa hồng; trung gian mua bán CK bằng vốn của mình; và là người bảo lãnh phát hành cho những tổ chức phát hành CK. Đó có thể là các tổ chức tài chính quốc doanh, hoặc tổ chức tài chính thuộc khu vực kinh tế tư nhân với hai hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Ở Việt Nam, khái niệm Môi giới chứng khoán còn khá mới mẻ, nhiều người vẫn coi môi giới chứng khoán như một loại trung gian, hay một loại “cò” như là cò nhà, cò đất, cò xe… mà không hiểu bản chất của Môi giới chứng khoán là một tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhất định. Để trở thành một nhà Môi giới chứng khoán giỏi, có tiếng tăm và có nhiều khách hàng chỉ có thể làm được nếu như khách hàng của nhà môi giới đó thu được nhiều lợi nhuận. ở các Thị trường chứng khoán có tổ chức, các nhà Môi giới chứng khoán không hoạt động với tư cách cá nhân độc lập. Mỗi cá nhân người Môi giới chứng khoán dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng thường đại diện cho công ty chứng khoán. Vì vậy, các công ty chứng khoán phải chọn người môi giới có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn về Thị trường chứng khoán nói chung và về Môi giới chứng khoán nói riêng.
Có thể nói việc hình thành và phát triển nghề môi giới chứng khoán là một tất yếu khi Thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao, khi sản phẩm và dịch vụ ngày càng đa dạng về số lượng và phong phú về chủng loại. Khi đó nhà đầu tư sẽ ngày càng cần hơn những người môi giới có thể cung cấp cho họ những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu tư mới mẻ, những lời khuyên mang tính chiến lược và giúp cho họ đầu tư theo hướng có hiệu quả nhất. Từ yêu cầu thực tế đó, đòi hỏi hoạt động môi giới chứng khoán phải phát triển ở trình độ cao, mang tính chuyên nghiệp, nói cách khác là trở thành nghề môi giới chứng khoán. Như vậy, có thể hiểu nghề môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới, nơi cung cấp phương tiện vật chất, tổ chức và pháp lý, và nhân viên môi giới, người trực tiếp giao dịch với khách hàng.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của nghề môi giới chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Nghề môi giới chứng khoán xuất hiện trước đây khá lâu, lâu hơn nghề tư vấn tài chính độc lập chuyên về hoạt động bảo hiểm rất nhiều. Ngay từ trước năm 1773 năm mà Thị trường chứng khoán được hình thành, những người môi giới đã tiến hành giao dịch cổ phiếu của các công ty tại các quán cafê của Anh. Khi nhu cầu tài chính tăng lên, việc giao dịch các tài sản tài chính thường diễn ra trong các phòng trà trước khi Sở giao dịch chứng khoán London được thành lập. Tài sản tài chính ở đây chủ yếu là các cổ phiếu. Các công ty thu hút vốn đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu và bán ở Sở giao dịch chứng khoán. Trong khi đó, các nhà đầu tư chứng khoán thì kiếm tiền bằng cách bán cổ phiếu ở mức giá cao hơn mức họ mua vào. Ban đầu, Sở giao dịch chứng khoán London vận hành dựa vào hai đối tượng là các nhà môi giới (stockbroker) và những người chạy việc (jobber). Những người chạy việc chạy quanh sàn giao dịch để mua và bán cổ phiếu cho các nhà môi giới. Họ kiếm tiền bằng khoản chênh lệch giữa mức mà nhà môi giới đồng ý bỏ ra để mua cổ phiếu với mức mà họ mua vào. Trong khi các nhà môi giới kiếm tiền bằng khoản phí hoa hồng họ được trả khi tiến hành giao dịch mua bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư.
Hệ thống vận hành nói trên của Sở giao dịch chứng khoán London không thay đổi suốt từ những năm 1800 cho đến những năm 1980. Nhu cầu sở hữu cổ phiếu của công chúng bắt đầu tăng lên. Các con số thống kê cho thấy nếu những năm 1960, 30 tổ chức tài chính nắm giữ hầu hết các cổ phiếu giao dịch trên thị trường thì đến năm 1981 họ chỉ còn chiếm 58% lượng cổ phiếu. Mà như thế nghĩa là Sở giao dịch chứng khoán London phải giải quyết một khối lượng lớn các giao dịch. Thực tế như vậy đòi hỏi Sở giao dịch chứng khoán London phải thay đổi lại cách thức hoạt động. Những người chạy việc-jobber- được phép mua và bán chứng khoán như các nhà môi giới trong khi vẫn có thể tiếp tục làm việc cho các nhà môi giới. Nhờ thế mà có thể giải quyết được số lượng giao dịch ngày càng tăng. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Nghề môi giới chứng khoán phát triển không đồng đều giữa các quốc gia và ở mỗi quốc gia, quá trình phát triển nghề môi giới lại có sự khác biệt. Ở Mỹ, vào ngày 17/05/1792 tại New York, một nhóm gồm 24 người đã ký một hiệp định thoả thuận chỉ bán chứng khoán cho người trong nhóm và đưa ra mức hoa hồng cố định là 1 USD. Đến năm 1863, các thành viên trong nhóm này – Uỷ ban giao dịch chứng khoán New York- chuyển hoạt động đến nơi mà ngày nay chính là Sở giao dịch chứng khoán New York.
Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, Wall Street trở nên nhộn nhịp hơn với các hoạt động mua bán chứng khoán. Chứng khoán được mua đi bán lại bởi những người không phải là thành viên trong Uỷ ban, và diễn ra ngay trên đường phố vì rất ít người có đủ khả năng tài chính để mở văn phòng. Những người này được gọi là các “nhà môi giới đá lát đường”-Curbstone stockbrokers.
Nghề môi giới chứng khoán ở Mỹ cũng bắt đầu phát triển mạnh kể từ đó. Thị trường mua bán mà những người môi giới này tạo nên gọi là “thị trường lề đường” – Curb Market (cũng giống như chợ trời, chợ vỉa hè).
Đầu những năm 1900, thị trường “lề đường” phát triển lớn mạnh và các nhà môi giới đã mở được văn phòng ở các khu phố lớn. Do việc giao dịch diễn ra ngay trên hè phố, mỗi lần như vậy, những người môi giới lại phải hét thật to để người ở bên kia đường nghe thấy. Cách liên lạc này quả thật rất bất tiện vì rất dễ nhầm lẫn với những tiếng la hét khác trên đường phố. Vì vậy, hệ thống giao dịch bằng cách ra dấu hiệu tay đã được chính các nhà môi giới này phát minh và sử dụng rộng rãi. Dần dần, cách ra dấu hiệu bằng tay đã trở thành dấu hiệu trong giao dịch giữa những người môi giới.
Đầu những năm 1920, “thị trường lề đường” chuyển địa điểm tới nơi mà ngày nay là số 86 Trinity Place, chấm dứt kiểu thị trường giao dịch ngoài hè phố. Nhiều năm sau đó, năm 1952, dựa trên cơ sở thị trường vốn có, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX) đã chính thức được thành lập. Nghề môi giới càng có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán ở một loạt các nước trên thế giới, nghề môi giới cũng ngày càng phát triển và không ngừng hoàn thiện. Nghề môi giới chứng khoán từ chỗ diễn ra trên các đường phố, rồi tiến vào sàn giao dịch, ngày nay đã phát triển lên thành môi giới chứng khoán trực tuyến. Nhà đầu tư với máy tính kết nối internet có thể giao dịch chứng khoán qua mạng, vừa cập nhật thông tin vừa nhanh chóng, tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí. Ngược lại, với vai trò là nhịp cầu kết nối người mua và người bán, tạo điều kiện thuận lợi để phát sinh các giao dịch, các thương vụ có thể nói nghề môi giới sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của thị trường chứng khoán.
2. Phân loại môi giới chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
2.1 Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp
- Có hai loại môi giới nếu đánh giá theo tiêu chí dịch vụ cung cấp:
2.1.1 Môi giới toàn phần ( Full – service)
Là những người Môi giới chứng khoán có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng như: đại diện cho khách hàng để thương lượng mua hoặc bán chứng khoán; thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán của khách hàng… Họ cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Tóm lại, với tư cách là một cố vấn tài chính, người MG dịch vụ đầy đủ có thể phục vụ người đầu tư với nhiều ý tưởng tốt và sản phẩm tốt, giúp nhà đầu tư giải quyết các vấn đề của mình.
2.1.2 Môi giới giảm giá (Discount – service)
Là những người môi giới chỉ cung cấp một số ít dịch vụ, tùy theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Hoạt động chủ yếu của họ là giúp khách hàng thực hiện các lệnh mua, bán chứng khoán. Những người môi giới chứng khoán này thích hợp với các nhà đầu tư tự mình đưa ra các quyết định mua bán mà không muốn lời khuyên hay kết quả nghiên cứu đầu tư của nhà môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, với loại hình Môi giới chứng khoán này, nhà đầu tư dễ gặp rủi ro hơn so với loại hình Môi giới chứng khoán toàn phần, nhưng chắc chắn mức phí hoa hồng môi giới sẽ thấp hơn môi giới chứng khoán toàn phần.
2.2 Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
- Theo hoạt động của nhà môi giới ta phân thành bốn loại môi giới chứng khoán như sau:
2.2.1 Các nhà môi giới được ủy nhiệm hay thừa hành (Commission House Brokers) hay người môi giới tại sàn giao dịch
Hầu hết họ là nhân viên của một công ty chứng khoán – Thành viên chính của Sở giao dịch chứng khoán. Theo hình thức này, công ty tính cho khách hàng của mình tỷ lệ hoa hồng trên các dịch vụ của chính công ty. Hoạt động của họ là thực hiện các lệnh cho khách hàng của công ty chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán nên họ được gọi là nhà môi giới ủy nhiệm hay nhà môi giới trên sàn giao dịch. Họ làm việc hưởng lương của các công ty và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay khách hàng của công ty trên sàn giao dịch (vì thế họ cũng được gọi theo một tên chung khác là “môi giới trên sàn – floor brocker). Một Công ty chứng khoán thuê người để làm chủ một chỗ ngồi của công ty tại sở GDCK.
2.2.2 Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đôla- $2 dollar broker)
Nhà môi giới 2 đôla là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, nhưng là một nhà môi giới chứng khoán độc lập, không thuộc về một công ty nào. Nhà môi giới 2 đôla có thể sở hữu hoặc thuê chỗ cho mình, thực hiện các lệnh giao dịch cho bất kỳ một công ty môi giới nào thuê mình. Trong trường hợp một nhà Môi giới chứng khoán của một công ty CK không có khả năng thực hiện các lệnh giao dịch của mình, hoặc vắng mặt trong phòng giao dịch, người này có thể chuyển một số lệnh cho nhà môi giới độc lập. Công ty CK sẽ trả cho nhà môi giới độc lập một khoản phí trên các dịch vụ của anh ta. Trước đây, khoản phí trả cho nhà môi giới độc lập là 2 đôla cho 100 cổ phiếu mua bán hộ công ty CK (điều này giải thích tại sao lại có tên gọi là nhà môi giới 2 đôla). Tuy nhiên, hiện nay, khoản phí của các nhà môi giới độc lập thường lớn hơn 2 đôla.
Người môi giới 2 đôla thực hiện lệnh mua bán của những người môi giới ủy nhiệm khi những người này quá bận rộn, không thể thực hiện hết tất cả các lệnh nhận được từ công ty của họ. Người môi giới 2 đôla hoạt động cho bất cứ công ty nào, bất cứ loại CK gì và sẽ được ăn hoa hồng.
2.2.3 Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký (Registered Floor Trader)
Một số người mua chỗ trên Sở giao dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua bán chứng khoán cho chính bản thân họ. Những người đó được gọi là “nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký”, không thuộc về một công ty môi giới nào. Tuy nhiên, do sự gia tăng các nguyên tắc và các quy định nên hoạt động của họ bị hạn chế rất nhiều. Ngày nay, các nhà giao dịch chứng khoán này hoặc hỗ trợ cho các nhà môi giới chuyên môn với tư cách là những người tạo lập thị trường hoặc hoạt động như là “nhà môi giới 2 đôla”. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Người giao dịch có đăng ký thực hiện lệnh mua bán với tài khoản của chính họ và tự gánh chịu mọi rủi ro. Họ ít khi thực hiện lệnh của hàng, nhưng nếu nhận lệnh của khách hàng thì phải ưu tiên cho khách hàng trước.
2.2.4 Nhà môi giới chứng khoán chuyên môn hay các chuyên gia (Specialist)
Mỗi chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán chỉ được buôn bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch, vị trí này được gọi là “quầy”. Trong mỗi “quầy” có một số nhà môi giới được gọi là những nhà môi giới chuyên môn. Họ chịu trách nhiệm mua bán một loại chứng khoán nhất định, đã được Hội đồng quản trị của Sở giao dịch chứng khoán phân công. Những người tụ tập chung quanh các vị trí giao dịch của chuyên gia được gọi quen là nhóm giao dịch (trading crowd).
Nhà môi giới chuyên môn thực hiện hai chức năng chủ yếu: là thực hiện các lệnh giao dịch và tạo thị trường.
Thông thường, các nhà môi giới chuyên môn thực hiện các lệnh giao dịch theo giá hạn mức. Khi đó, họ đóng vai trò là một nhà Môi giới chứng khoán và nhận được các khoản phí môi giới thông thường, hoặc tiền hoa hồng trên các dịch vụ mà họ cung cấp.
Một chức năng khác mà nhà Môi giới chứng khoán chuyên môn thực hiện là hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với loại cổ phiếu mà anh ta được phân công bằng cách mua bán cổ phiếu với tư cách một nhà giao dịch để thu hẹp chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
Người môi giới và các công ty chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong quá trình kết nối cung cầu chứng khoán. Họ góp phần đẩy nhanh quá trình lưu thông và phân phối chứng khoán, qua đó giúp cho các dòng chảy của nguồn vốn trên thị trường được liên tục.
3. Đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán là những xung đột, tranh chấp lợi ích không thể tránh khỏi trong lĩnh vực này. ở đây khái niệm tranh chấp lợi ích không bao hàm hành vi của người môi giới hoặc khách hàng cố tình vi phạm pháp luật để kiếm lời một cách bất chính. Tranh chấp hay xung đột lợi ích có thể xảy ra trong những trường hợp như việc người môi giới không sẵn sàng thông báo với khách hàng của mình về những diễn biến xấu của khoản đầu tư do chính anh ta khuyến nghị với khách hàng, và khi khách hàng bị thiệt hại thì việc bắt lỗi và xử lý người môi giới là rất khó. Hoặc có những trường hợp khách hàng do không thực sự hiểu biết về trách nhiệm và khả năng của người môi giới, nên đã kỳ vọng một cách không hợp lý về những gì mà nhà môi giới có thể mang lại cho mình, và đã khiếu nại khi thực tế xảy ra trái với những gì họ mong muốn.
Người môi giới sống bằng tiền hoa hồng hay là khoản chênh lệch giá trong việc mua hoặc bán những lợi ích tài chính. Như thế, những lợi ích tài chính của riêng họ có thể xung đột với nhu cầu và mục tiêu của khách hàng. Với tư cách là người đại diện hay người được ủy quyền của khách hàng, người môi giới luôn luôn phải dẹp đi xung đột này để phục vụ cho lợi ích cao nhất của khách hàng là cái phải được ưu tiên hàng đầu.
Các công ty môi giới có thể gây áp lực lớn buộc nhân viên môi giới của mình phải bán được những sản phẩm nhất định hoặc đạt được mức tổng sản lượng nhất định. áp lực như vậy có thể thấy dưới nhiều hình thức, từ việc cấp văn phòng riêng cho tới việc tiếp tục thuê nhân viên đó. Giải pháp cho những xung đột như vậy nói chung chỉ đơn giản là đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết. Các công ty chứng khoán cũng có thể tăng hoa hồng để khuyến khích người môi giới thực hiện nhiều giao dịch và nói chung mức hoa hồng càng cao, và được tạo ra càng thường xuyên thì càng tốt về mặt kinh tế đối với người môi giới và cũng kích thích tăng nguồn thu cho công ty. Song các công ty chứng khoán hay là những người môi giới chứng khoán cũng phải luôn luôn vì lợi ích của khách hàng, khách hàng phải được bán những sản phẩm phù hợp với nhu cầu cá nhân, với khối lượng thích hợp và việc bán hàng việc bán hàng phải diễn ra một cách hợp lý và trung thực trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Và nếu như tư cách đại diện được tạo lập với sự tín nhiệm và trên cơ sở hợp lý, thì một khách hàng công bằng hầu như không thể trách cứ người môi giới hay công ty môi giới của họ nếu như những khuyến nghị họ đưa ra không phải bao giờ cũng mang lại những kết quả mỹ mãn.
Tóm lại, nếu các cố vấn tài chính và những khách hàng của họ ý thức được đầy đủ hơn, thì họ sẽ hành động thận trọng và tránh được những tranh chấp, hay ít nhất cũng giảm thiểu được những thiệt hại và chi phí để giải quyết tranh chấp.
4. Chức năng của nghề môi giới chứng khoán
Với tư cách là một hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới – nơi cung cấp phương tiện vật chất, tổ chức và pháp lý, và nhân viên bán hàng – người trực tiếp tiếp thị và giao dịch với khách hàng, nghề môi giới chứng khoán có hai chức năng chính sau đây:
4.1 Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Công ty môi giới chứng khoán thông qua các nhân viên bán hàng cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu tư. Việc nghiên cứu này được tiến hành thông qua bộ phận nghiên cứu trong công ty chứng khoán nghiên cứu các lĩnh vực chủ yếu như: diễn biến tổng thể của thị trường, động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường đó, hay hoạt động của từng công ty trong khu vực. Những thông tin này các nhà nghiên cứu cung cấp cho các nhà môi giới hàng tuần, kèm theo đó là những khuyến nghị cụ thể về từng loại chứng khoán cần mua và cần bán. Nhà môi giới sẽ sử dụng những thông tin này để cung cấp cho khách hàng của mình theo những yêu cầu cụ thể.
Các nhà môi giới hàng ngày tiếp cận với một mạng thông tin điện tử cung cấp các thông tin tài chính liên tục và được cập nhật về lãi suất, kinh tế, thông tin thị trường, và cũng được tiếp cận với tất cả các tin tức mới nhất từ khắp nơi trên thế giới liên quan tới cổ phiếu của khách hàng.
Nhờ nguồn thông tin được thu thập và sử lý công phu này, người môi giới có đủ tri thức để trở thành nhà tư vấn tài chính riêng của khách hàng. Ngoài việc đề xuất với khách hàng những chứng khoán và dịch vụ đơn thuần, người môi giới cũng có thể giới thiệu với khách hàng những cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành, các chứng chỉ quỹ đầu tư và những công cụ đầu tư khác, và quan trọng hơn là đề xuất một cách thức kết hợp các chứng khoán đơn lẻ trong một tổng thể (danh mục đầu tư) để giảm thiểu rủi ro và tăng tối đa lợi nhuận.
Người môi giới cho nhà đầu tư biết lúc nào thì họ nên mua, lúc nào thì nên bán và đồng thời cung cấp cho họ những thông tin kinh tế tài chính trên thị trường. Người môi giới khi đưa ra các lời khuyên cho khách hàng của họ, sẽ dựa trên các yếu tố như hệ số giá, thu nhập, các dự đoán về thu nhập và giá, tình trạng chung của nhóm ngành của cổ phiếu và trạng thái tổng thể của thị trường.
Người môi giới không chỉ là người đưa ra các khuyến nghị về tài chính cho khách hàng mà đôi khi còn là một người bạn tin cẩn, có thể lắng nghe tất cả câu hỏi liên quan tới tình trạng tài chính của khách hàng, và trong một chừng mực có thể, đưa ra giải pháp thích đàng giúp khách hàng tháo gỡ những khó khăn. Do đó tìm được một nhà môi giới giỏi hành nghề và thật tâm huyết là mong muốn của bất cứ nhà đầu tư chứng khoán nào.
4.2 Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và lợi ích của họ. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Người môi giới nhận các đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm một loạt công việc, từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch, thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ có vậy, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng, tiếp tục đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc mà có thể dẫn tới những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất những giải pháp hay chiến lược mới thích hợp.
Công ty môi giới là nơi đảm bảo những điều kiện vật chất- bao gồm địa điểm, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch- nhân lực (đội ngũ nhân viên tác nghiệp), và pháp lý để cho quá trình này được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả; đồng thời khi xảy ra tranh chấp thì có thể xử lý được một cách thỏa đáng. Để làm được chức năng này, công ty được tổ chức theo những phòng ban chức năng phù hợp, với những quy trình hoạt động chặt chẽ, khoa học.
5. Vai trò của nghề môi giới chứng khoán
5.1 Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Công ty môi giới chứng khoán và các nhân viên bán hàng của họ, khi thực hiện vai trò làm trung gian giữa người mua (nhà đầu tư) và người bán (nhà phát hành) có thể nắm bắt nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung ứng hàng hóa và dịch vụ, cung cấp những ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Kết quả của quá trình đó là đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, phát triển cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư và tăng trưởng.
Một ví dụ về sự thành công là công ty Merrill Lynch, trong thập niên 60, 70 trong khi hoạt động chủ yếu của các công ty chứng khoán mới chỉ là buôn bán cổ phiếu và trái phiếu thì Merrill Lynch đã tìm kiếm những dịch vụ mà khách hàng cần. Qua đó đã phát triển và tạo ra Tài khoản quản lý tiền mặt (CMA) và Tài khoản tiếp cận vốn tự có. Nhờ vậy mà công ty này đã vượt lên hẳn các đối thủ cạnh tranh vào thời kỳ đó. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
5.2 Giảm chi phí giao dịch
Trên Thị trường chứng khoán với đặc trưng là một thị trường của những sản phẩm và dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lượng, giá cả của hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một thị trường đấu giá tập trung. Những chi phí đó chỉ có các công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải. Mặt khác, một tổ chức trung gian chuyên nghiệp như vậy làm cầu nối cho các bên mua và bán gặp nhau sẽ làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và giám sát thực thi hợp đồng. Như thế, vai trò của nghề môi giới chứng khoán là tiết kiệm được chi phí giao dịch, xét trong từng giao dịch cụ thể cũng như trên tổng thể thị trường, nhờ đó giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường.
5.3 Góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư
Hoạt động của người môi giới chứng khoán khi thâm nhập sâu vào cộng đồng các doanh nghiệp và người đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng hình thành nên văn hóa đầu tư. Khi các nhân viên môi giới tiếp cận và mang theo những sản phẩm tài chính phù hợp với yêu cầu của khách hàng, hoạt động này lâu dần sẽ hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính. Hơn nữa, hoạt động này sẽ làm tăng thói quen và các kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư, mà phổ biến là dịch vụ môi giới chứng khoán. Cùng với đó là sự tăng cường hiểu biết môi trường pháp lý, và ý thức tuân thủ pháp luật vì hoạt động môi giới chứng khoán là một nơi phát sinh và bộc lộ những xung đột lợi ích giữa các bên tham gia thị trường.
5.4 Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Để thành công trong nghề môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán và từng người môi giới phải thu hút được khách hàng tìm đến, giữ chân khách hàng, và tăng cường khối tài sản mà khách hàng ủy thác cho họ quản lý. Điều này tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán và từng người môi giới chứng khoán với nhau. Chính vì vậy góp phần không nhỏ làm tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ.
5.5 Hình thành những dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và làm phong phú thêm môi trường đầu tư.
Với phương châm là chủ động tìm đến với khách hàng, cung cấp những dịch vụ tài chính tốt nhất, nên công ty CK nào cũng có lực lượng những người bán hàng rất đông đảo. Ví dụ như công ty Merrill Lynch ở Mỹ có tới 13000 nhân viên môi giới hay những công ty chứng khoán nhỏ khác của Mỹ cũng có không dưới 1000 nhân viên môi giới. Có thể nói, phát dịch vụ môi giới chứng khoán đã góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho nên kinh tế và cũng làm phong phú thêm môi trường kinh doanh.
III: CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGƯỜI MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
1. Công ty chứng khoán với chức năng môi giới chứng khoán
1.1 Khái quát chung về công ty môi giới chứng khoán
1.1.1 Khái niệm công ty môi giới chứng khoán
Công ty chứng khoán có thể được hiểu là một định chế tài chính kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nếu coi thị trường chứng khoán là “chợ” thì “hàng hoá” là các loại chứng khoán và các công ty chứng khoán là các “sạp hàng”.
Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành CK, họ cần phải nhờ đến những nhà chuyên nghiệp mua bán CK cho họ. Đó là công ty CK – với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện được vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng hợp lại. Như vậy, “Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp”.
Ở Việt Nam, theo luật chứng khoán năm 2026, công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập tại Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động. Các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm hoặc các tổng công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập. Giấy phép hoạt động của công ty chứng khoán do ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp cho phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán. Các loại hình nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các công ty chứng khoán là: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư.
1.1.2 Phân loại công ty chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của Thị trường chứng khoán, và của nền kinh tế, các Công ty chứng khoán cũng được hình thành và phát triển theo hướng rất đa dạng, về cả quy mô, lĩnh vực hoạt động, hay cả tính chất hoạt động. Theo loại dịch vụ cung cấp thì có hai loại công ty chứng khoán sau:
1.1.2.1 Công ty môi giới giảm giá
Công ty môi giới giảm giá chủ yếu chỉ giúp khách hàng thực hiện lệnh mua và bán chứng khoán, loại hình công ty này chủ yếu thích hợp cho các khách hàng thích tự mình đưa ra các quyết định đầu tư.
Công ty môi giới giảm giá được sử dụng cho ba đối tượng chính sau đây:
- Các nhà đầu tư dài hạn tiến hành nghiên cứu thị trường, đó là các nhà đầu tư thích nghiên cứu theo dõi các xu hướng biến động của thị trường, của ngành rồi sau đó lựa chọn các cổ phiếu có tiềm năng lớn.
- Các nhà đầu tư ngắn hạn theo trường phái kỹ thuật, họ tự mình vẽ đồ thị cho các cổ phiếu, và tiến hành giao dịch trên cơ sở ngắn hạn, và họ thường sử dụng các công ty môi giới giảm giá.
- Những nhà đầu tư chỉ giao dịch một lần. Ví dụ như trường hợp một người nhận được một khoản thừa kế và muốn bán nó đi, người đó cần một công ty môi giới giảm giá để giúp tiến hành giao dịch.
1.1.2.2. Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ (full-service firm)
Đây là công ty chứng khoán cung cấp một dịch vụ hoàn hảo, từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên tới việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra các khuyến nghị cần thiết cho khách hàng.
- Những nhà đầu tư sử dụng người môi giới dịch vụ đầy đủ là:
Những người đánh giá cao sự thuận tiện của việc luôn luôn có sẵn một cố vấn chuyên nghiệp hướng dẫn những quyết định mua bán của họ. Những nhà đầu tư này coi người môi giới của họ cũng giống như luât sư riêng hay kế toán riêng, họ thừa nhận những hạn chế của bản thân trên thị trường chứng khoán đầy phức tạp và coi người môi giới như là những chuyên gia, những người giữ vai trò quan trọng để khoản đầu tư của họ không ngừng tăng lên.
Là những người cần có sự quan tâm cá nhân của một người môi giới đầy đủ. Họ muốn có một người môi giới luôn để mắt tới tài khoản của mình, thông tin ngay khi cần thiết và quan tâm tới các vấn đề của họ.
1.2 Hoạt động môi giới của một công ty chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Hoạt động môi giới chứng khoán trong thời gian đầu chỉ là hoạt động của các cá nhân môi giới độc lập, nhưng khi quy mô hoạt động giao dịch của nhà Môi giới chứng khoán tăng lên thì đã dẫn tới sự hình thành các công ty chứng khoán, là tập hợp có tổ chức của những nhà môi giới chứng khoán riêng lẻ.
Một Công ty chứng khoán hay bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hay một doanh nghiệp sản xuất nào khác thì phải thực hiện tốt chức năng marketing và chức năng bán hàng. Công ty chứng khoán muốn thực hiện tốt chức năng bán hàng thì phải hoạt động môi giới phải có hiệu quả. Một nhân viên môi giới chứng khoán hay một người bán hàng luôn luôn phải xác định xem công chúng quan tâm tới loại chứng khoán nào. Để xác định được khách hàng quan tâm đến những loại CK nào, các nhân viên bán hàng của công ty CK có thể xem xét đến các điều kiện sau: điều kiện về kinh tế, điều kiện về Thị trường chứng khoán hiện tại, dự tính tăng trưởng kinh tế …
Việc xác định công chúng quan tâm tới loại chứng khoán nào sẽ giúp cho các Công ty chứng khoán điều chỉnh các sản phẩm (như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…) sao cho phù hợp nhất với thị hiếu của khách hàng. Trong Công ty chứng khoán, nhà Môi giới chứng khoán hay những nhân viên bán hàng, chính họ sẽ tiếp xúc trực tiếp với các khách hàng của công ty để giới thiệu về các sản phẩm đã được lựa chọn. Khi tiếp xúc với các khách hàng, nhà Môi giới chứng khoán có thể bán các CK đó hoặc tư vấn giúp cho khách hàng nên mua loại CK nào là tốt nhất. Khi một nhà Môi giới chứng khoán bán hàng, quá trình xử lý bắt đầu diễn ra. Một giao dịch diễn ra như thế nào là điều rất quan trọng. Nếu một giao dịch diễn ra hoàn hảo, nó làm cho khách hàng thấy rằng các nhà Môi giới chứng khoán của công ty quan tâm đến họ, đến tài khoản của họ. Điều này sẽ tạo ấn tượng tốt cho khách hàng, và họ sẵn sàng nhờ Công ty chứng khoán thực hiện các thương vụ tiếp theo.
Việc thực hiện một giao dịch chứng khoán nói chung bao gồm các công việc chuẩn bị và hệ thống đưa vào và truyền lệnh giữa các bên, phát hiện giá cân bằng, thực hiện lệnh, báo cáo giao dịch, giám sát và thông tin thị trường. Những công việc và hệ thống này có thể từ những thủ tục giấy tờ đơn giản đến các hệ thống thông tin và xử lý bằng máy điện tử, phụ thuộc vào yêu cầu của từng thị trường. Các giao dịch giữa một khách hàng và một người Môi giới chứng khoán nói chung được thực hiện trực tiếp giữa hai bên. Trái lại, giao dịch giữa hai người Môi giới chứng khoán thường được thực hiện thông qua một cơ chế thị trường, chẳng hạn như một sở buôn bán trung tâm nơi người mua và người bán gặp nhau, thị trường qua quầy truyền thống, hoặc hệ thống thực hiện giao dịch tự động. Trong toàn bộ quy trình giao dịch, bộ phận hành chính luôn làm việc. Họ tính toán, nhập sổ sách các khoản tiền hoa hồng, thanh toán các chi phí, vào tài khoản doanh thu, tuyển người …
- Quy trình giao dịch của hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty chứng khoán
Quy trình giao dịch của một hoạt động chứng khoán thông thường bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Mở tài khoản
- Bước 2: Nhận đơn đặt hàng
- Bước 3: Thực hiện lệnh đặt hàng
- Bước 4: Xác nhận cho khách hàng, cấp giấy xác nhận và vào sổ theo dõi của khách hàng
- Bước 5: Thanh toán và giao hàng Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
(Nội dung các bước nêu trên xin trình bày một cách chi tiết ở phụ lục 1).
- Cơ cấu tổ chức một công ty môi giới chứng khoán
Về cơ cấu tổ chức của một công ty môi giới CK thì gồm những phòng ban sau:
- Phòng lệnh
- Bộ phận mua và bán
- Bộ phận ký quỹ
- Bộ phận thủ quỹ
- Bộ phận quản lý hồ sơ chứng khoán
- Bộ phận kế toán tiền mặt
- Bộ phận quản ký thu nhập chứng khoán
- Bộ phận quản lý các tài khoản mới
(Nội dung chi tiết về các bộ phận trên xin trình bày ở phụ lục 2.)
1.3 Những quy định trong việc thực hiện nghiệp vụ Môi giới chứng khoán
Trong quy trình giao dịch của hoạt động Môi giới chứng khoán, cả Công ty chứng khoán và khách hàng đều phải tuân thủ những quy định được ban hành trong quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán hay pháp luật của Nhà nước về chứng khoán. Cụ thể, bao gồm những quy định cơ bản sau:
1.3.1 Công ty chứng khoán
Thứ nhất, công ty chứng khoán phải thực hiện chính xác các lệnh của khách hàng. Mọi sai sót gây ra từ phía công ty chứng khoán, dẫn đến việc thực hiện sai lệnh gây thiệt hại cho khách hàng, công ty chứng khoán và các nhân viên công ty chứng khoán phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt tài chính và pháp luật.
Thứ hai, theo yêu cầu của khách hàng, hàng tháng, hàng quý, công ty CK sẽ gửi bản báo cáo CK đến khách hàng để đối chiếu số tiền và CK trên tài khoản của khách hàng. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Thứ ba. công ty CK có trách nhiệm tổ chức việc sắp xếp, theo dõi và thực hiện các lệnh của khách hàng một cách có hiệu quả nhất. Trong trường hợp CK của khách hàng mang tên công ty CK, công ty CK phải tổ chức theo dõi và cung cấp các thông tin khi khách hàng yêu cầu, cũng như việc chuyển cổ tức đến khách hàng.
Thứ tư, công ty CK phải thông báo kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng chậm nhất là vào ngày làm việc kế tiếp ngày thực hiện giao dịch. Nếu thông báo chậm trễ, công ty CK phải chịu trách nhiệm về việc thanh toán và chuyển giao chậm trễ của khách hàng.
Thứ năm, trong hoạt động Môi giới chứng khoán, công ty CK phải đảm bảo giữ bí mật nghề nghiệp, không được tiết lộ các loại CK giao dịch, những chi tiết liên quan đến các nghiệp vụ và tài khoản tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp khách hàng cho phép hoặc khi Uỷ ban chứng khoán nhà nước yêu cầu xuất trình, chứng từ sổ sách để kiểm tra.
1.3.2 Khách hàng
Thứ nhất, khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số CK khi công ty CK thực hiện đúng những yêu cầu của khách hàng.
Thứ hai, khi muốn sửa đổi hay hủy bỏ lệnh đã đặt, khách hàng phải thông báo cho công ty CK biết để kịp thời điều chỉnh. Trong trường hợp lệnh đã được thực hiện thì việc sửa đổi hay từ bỏ sẽ không có giá trị, khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số CK đã được thực hiện.
Thứ ba, khi khách hàng ủy quyền cho công ty CK hay nhân viên Môi giới chứng khoán toàn quyền sử dụng tài khoản của mình để mua bán CK, khách hàng phải làm giấy ủy quyền cho công ty CK hay người Môi giới chứng khoán đó. Trình tự và thủ tục theo đúng luật pháp hiện hành và phải có sự đồng ý của công ty CK hoặc ngân hàng, nơi khách hàng mở tài khoản.
Thứ tư, trường hợp sau khi đã thực hiện xong lệnh đặt hàng, nếu đến thời gian thanh toán mà khách hàng không thanh toán hết số tiền hoặc giao số chứng khoán còn thiếu, công ty chứng khoán vẫn có quyền kiện khách hàng để đòi hỏi thanh toán hoa hồng và những chi phí khác. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
1.3.3 Mức phí môi giới
Mức hoa hồng cho hoạt động môi giới chứng khoán thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số giao dịch và theo nguyên tắc doanh số giao dịch càng lớn thì tỷ lệ hoa hồng càng thấp. Mức tối thiểu và tối đa về hoa hồng cho hoạt động Môi giới chứng khoán ở Việt Nam sẽ do Uỷ ban chứng khoán nhà nước quy định.
Thông thường, các công ty chứng khoán đều có một chế độ hoa hồng của mình và thỉnh thoảng lại điều chỉnh cho thích hợp. Các công ty nhỏ thường phải chờ xem những hãng lớn như Merril Lynch (Mỹ), Nomura (Nhật) v.v. cho biết tỷ suất hoa hồng của họ rồi mới công bố tỷ suất của mình.
2. Người môi giới chứng khoán
2.1 Khái niệm chung về người môi giới chứng khoán
Người môi giới chứng khoán là người trung gian đại diện cho khách hàng của mình tiến hành các hoạt động mua và bán chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng và được hưởng phí hoa hồng cho các giao dịch mà anh ta tiến hành. Khái niệm nhà môi giới chứng khoán là chỉ các công ty môi giới chứng khoán, song khái niệm người môi giới chứng khoán ở đây là để chỉ cá nhân hành nghề môi giới chứng khoán.
Có thể nói hiệu quả kinh doanh của một Công ty chứng khoán phụ thuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ cũng như kỹ năng nghề nghiệp của các nhân viên môi giới chứng khoán, vì chính họ tìm kiếm khách hàng cho công ty và là nhứng người trực tiếp mang về cho công ty những khoản lợi nhuận khổng lồ dựa trên những hợp đồng môi giới chứng khoán với khách hàng. Trên thế giới những nhà Môi giới chứng khoán hàng đầu chỉ chiếm 20% nhưng chính họ đã mang lại 80% hoa hồng cho công ty Môi giới chứng khoán của họ. Bên cạnh đó, phải nói rằng nghề Môi giới chứng khoán cũng mang lại cho những người hành nghề Môi giới chứng khoán một khoản thù lao xứng đáng. Ở Thị trường chứng khoán phát triển như Wall Street, thu nhập của nhà Môi giới chứng khoán có thể sánh với một số người có thu nhập cao nhất hiện nay như luật sư, bác sĩ … Tuy nhiên, để có thể trở thành người Môi giới chứng khoán giỏi, họ phải đáp ứng được những yêu cầu của nghề nghiệp, đôi khi là vô cùng khắt khe và khắc nghiệt.
2.2 Kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của người môi giới chứng khoán Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Và làm thế nào để một người Môi giới chứng khoán có thể tiếp cận với khách hàng, giúp đỡ khách hàng một cách có hiệu quả, điều này đòi hỏi ở người Môi giới chứng khoán một loạt các kỹ năng cần thiết phải tiến hành, các kỹ năng này không tách rời nhau mà gắn bó và hỗ trợ cho nhau. Những kỹ năng cần thiết ở người môi giới chứng khoán là các kỹ năng sau:
2.2.1 Kỹ năng truyền đạt thông tin
Với một người môi giới chứng khoán thì kỹ năng truyền đạt thông tin là rất quan trọng. Việc thực hiện kỹ năng này không chỉ phụ thuộc vào ngôn từ mà người môi giới sử dụng mà phụ thuộc rất nhiều vào cách diễn đạt và khả năng truyền đạt thông tin. Để có thể đưa thông tin tới khách hàng một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi người môi giới phải có kỹ năng truyền đạt tốt, biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:
Thái độ quan tâm: Việc thể hiện thái độ quan tâm tới khách hàng chính là việc người môi giới tìm hiểu về nhu cầu, khả năng và sở thích của khách hàng. Và người môi giới luôn phải coi trọng lợi ích của khách hàng, coi khách hàng là trên hết và luôn luôn tôn trọng họ.
Kỹ năng nói chuyện: kỹ năng này mang lại thành công rất nhiều cho người môi giới, ví dụ như trong trường hợp nói chuyện trực tiếp hay nói chuyện qua điện thoại, người môi giới phải có khả năng truyền đat hết các ý tưởng của mình qua giọng nói. Trong thực tế, có tới 93% ý nghĩa của bất kỳ sự truyền đạt nào được truyền đi không phải bằng ngôn từ mà bằng âm điệu trong giọng nói, bằng sự nhấn mạnh những ngôn từ được sử dụng, bằng tốc độ nói… Vì thế phải luôn luôn lưu ý và uốn nắn giọng nói trong một chừng mực có thể, người Môi giới chứng khoán sẽ tạo ra một ấn tượng tốt đối với khách hàng qua điện thoại nói riêng, và qua giọng nói nói chung. Khi nói, yêu cầu là phải nói một cách rõ ràng, ngắn gọn mà vẫn thể hiện được đầy đủ nội dung cần truyền đạt.
2.2.2 Kỹ năng tìm kiếm khách hàng
Bước quan trọng trong hoạt động của một nhà môi giới chứng khoán là tìm kiếm khách hàng. Người Môi giới chứng khoán không thể chỉ ngồi chờ khách hàng đến với mình mà cần thiết là tự mình phải tìm đến với khách hàng. Và việc tìm kiếm khách hàng sẽ làm tăng thu nhập của nhà môi giới cũng như duy trì mức tăng trưởng ổn định trong hoạt động kinh doanh CK của Công ty chứng khoán. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
- Sau đây là một số phương án tìm kiếm khách hàng thông dụng nhất:
Thứ nhất, dựa vào những đầu mối do công ty gây dựng hoặc các tài khoản bàn giao lại. Theo phương pháp này các nhà môi giới chứng khoán dường như không được chủ động trong quá trình tiếp xúc với khách hàng do vậy hiệu quả hoạt động của họ thường bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đối với một số nhà môi giới chứng khoán đã dày dặn kinh nghiệm thì họ có thể nhanh chóng tiếp cận được với các đối tượng khách hàng có sẵn này và chắc chắn họ sẽ không bỏ lỡ việc tiếp tục duy trì và nâng cao mối quan hệ để mang lại hiệu quả cao nhất cho công việc kinh doanh của công ty.
Thứ hai, thông qua lời giới thiệu của khách hàng. Để nhận được lời giới thiệu của khách hàng thì bản thân người Môi giới chứng khoán phải là người đã tạo được niềm tin với chính khách hàng của họ. Nếu những người này đầu tư có hiệu quả và tin tưởng vào nhà Môi giới chứng khoán thì họ sẽ sẵn sàng giới thiệu với người Môi giới chứng khoán những người bạn của họ đang có ý định đầu tư chứng khoán.
Thứ ba, thực hiện việc tiếp thị và bán hàng tới những người giàu có hay tiến hành nghiên cứu và tìm ra những khách hàng lý tưởng, khách hàng tiềm năng.
Thứ tư, tổ chức các cuộc hội thảo, tiếp xúc, trao đổi kiến thức kinh doanh giữa các ngành nghề và quan trọng hơn cả là người Môi giới chứng khoán phải biết nắm bắt các cơ hội quan trọng này để tìm kiếm khách hàng.
Thứ năm, thực hiện các chiến dịch viết thư và gọi điện làm quen. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như ngày nay thì việc viết thư điện tử để giới thiệu và làm quen là một phương pháp hữu hiệu. Đây là phương pháp đến với khách hàng tiềm năng thường dùng nhất và nên nhớ rằng là bạn phải biết khá rõ về họ. Ngay cả với những danh sách tốt nhất cũng chỉ mong đợi tỷ lệ trả lời là 1% – 2%. Còn khi gọi điện làm quen, người Môi giới chứng khoán cần thẩm định xem khách hàng có cần người Môi giới chứng khoán không? Đây có phải là đối tượng mà người môi giới tìm kiếm không? Có như vậy người Môi giới chứng khoán mới hy vọng tìm cho mình những khách hàng tiềm năng và có hiệu quả.
2.2.3 Kỹ năng khai thác thông tin Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Công việc của một người Môi giới chứng khoán là thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, và để Là một nhà tư vấn đầu tư thành công thì người Môi giới chứng khoán đòi hỏi phải hiểu được khách hàng ra quyết định như thế nào và động lực thúc đẩy của khách hàng là gì? Từ việc khai thác thông tin từ khách hàng, người môi giới sẽ xác định được loại hình dịch vụ nào thích hợp nhất với khách hàng, và đồng thời đưa ra những lời tư vấn hiệu quả cho hoạt động đầu tư của khách hàng. Việc thực hiện tốt nghiệp vụ này không những làm tăng lượng tài sản mà công ty chứng khoán được quản lý mà còn làm tăng sự trung thành và gây ấn tượng tốt đẹp về Công ty chứng khoán với khách hàng.
Để thực hiện tốt kỹ năng khai thác thông tin, người môi giới cần nắm vững các vấn đề sau:
- Nắm được các nhu cầu tài chính, các nguồn lực, và các mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng.
- Hiểu cách nghĩ và ra quyết định đầu tư của khách hàng, cũng như những tình cảm bên trong có thể ảnh hưởng tới phản ứng của họ đối với mối quan hệ giúp đỡ khiến NMG có thể đáp ứng được các nhu cầu của họ.
- Cam kết đạt được mục tiêu tài chính của khách hàng.
- Tìm được ngôn ngữ riêng cho khách hàng tiềm năng về tiêu thức mua và việc xây dựng các chiến lược làm động lực cho họ.
- Tăng tỷ lệ phần trăm tài sản của khách hàng cho việc đầu tư chứng khoán.
Quá trình khai thác thông tin được tiến hành từ khi tiếp xúc lần đầu cho đến các lần gặp tiếp theo. Yêu cầu ở đây là người môi giới chứng khoán phải có nghệ thuật đặt câu hỏi cũng như thái độ quan tâm đúng mực đến nhà đầu tư để có thể khai thác thông tin một cách đầy đủ và hiệu quả nhất.
2.2.4 Kỹ năng bán hàng
- Quy trình bán hàng hay cung cấp dịch vụ môi giới của người Môi giới chứng khoán bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: mở đầu, người môi giới chuẩn bị cho buổi thuyết trình với nhà đầu tư bằng cách xem xét lại nhu cầu của họ và kiểm tra lại sự hiểu biết của mình về tình huống cũng như mong muốn của họ để giải quyết nhu cầu, vấn đề và sự mong muốn đó.
Bước 2: phần chính của thuyết trình, người môi giới đưa ra giải pháp cho vấn đề của nhà đầu tư và giải thích những đặc điểm, ưu điểm và lợi ích thích hợp của sản phẩm, dịch vụ. Bản thuyết trình cần phải được cá nhân hóa tùy đặc trưng, khả năng tài chính, mục tiêu đầu tư, mức độ chấp nhận rủi ro của từng nhà đầu tư cụ thể và đưa ra một lời khuyến nghị phù hợp. Bản thuyết trình càng được chuẩn bị mang tính cá nhân càng chứng tỏ được sự am hiểu nghiệp vụ và sự quan tâm của người môi giới tới những nhu cầu cụ thể của người đầu tư. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
Bước 3:đạt được sự cam kết hay nhận lệnh đặt hàng và kết thúc giao dịch. Đạt được sự cam kết của người đầu tư đối với một giải pháp cần phải là sự kết thúc hợp logic của tất cả những gì đã diễn ra trước đó. Khi sử dụng phương pháp bán hàng tư vấn thì hầu như không cần thiết phải ép buộc người đầu tư (như được thực hiện trong tiếp cận bán hàng truyền thống). Thay vào đó, người MG hướng họ tới quyết định thích hợp.
Lệnh đặt hàng phải gắn với mục tiêu tài chính cũng như các thông số đi kèm của từng nhà đầu tư, không phải cứ yêu cầu đơn đặt hàng càng lớn càng tốt. Bằng cách nhắc nhở người đầu tư về nhu cầu của họ và chứng minh giải pháp đưa ra đáp ứng được nhu cầu của họ như thế nào, người MG có thể tạo ra được sức thuyết phục phi thường. Người MG không phải phụ thuộc vào “những kỹ thuật đơn thuần” hoặc cố gắng để tạo ra “sức ép” đối với nhà đầu tư.
Sau khi thương vụ được thực hiện, những gì người MG phải làm cũng rất quan trọng, vì qua đó người MG sẽ củng cố được mối quan hệ lâu dài với nhà đầu tư. Việc tiếp tục dịch vụ hậu mãi sẽ đảm bảo cho người MG nhận được những khách hàng được giới thiệu đến, điều này sẽ thúc đẩy hơn nữa việc kinh doanh của họ.
Người môi giới nên khuyến khích người đầu tư đặt câu hỏi hoặc nêu lên các khúc mắc. Bước này là một phần quan trọng trong bán hàng tư vấn vì nó giúp đảm bảo rằng các khuyến nghị của người MG là giải pháp đúng đắn của vấn đề. Nếu người MG không thể giải đáp được các khúc mắc cụ thể, người đầu tư có thể cảm thấy một cách ý thức hoặc vô thức là họ bị thúc ép, và họ sẽ quay lưng lại với thương vụ này- ngay cả khi giải pháp mà người MG đưa ra chính là cái họ cần.
Như vậy, có thể thấy ngay cả trong một thị trường có sự phát triển phong phú, đa dạng của hàng hóa và một nền tảng dân trí tương đối đồng đều về lĩnh vực này, để thành công trong công việc của mình, người MG chứng khoán vẫn cần phải có những kỹ năng cần thiết. Qua đó có thể hình dung được những thao tác cá nhân cũng như những phẩm chất cần thiết cho công việc của một người môi giới chứng khoán, từ đó có thể đề xuất một đường hướng dài hạn cho việc đào tạo, tuyển dụng, sử dụng đội ngũ các nhân viên môi giới của công ty chứng khoán. Đây là những kinh nghiệm được đúc kết từ các thị trường phát triển, nếu bỏ qua những yếu tố mang tính đặc thù về văn hóa, kinh tế xã hội thì phần còn lại là những vấn đề căn bản, cốt lõi, có thể áp dụng cho bất kỳ một hoàn cảnh thị trường nào. Khóa luận: Phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com