Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Tài Chính Dầu Khí dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước và thế giới, thị trường tài chính Việt Nam ngày càng lớn mạnh cả về qui mô và số lượng các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường. Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao cho đầu tư và phát triển, hàng loạt các công ty tài chính trực thuộc các Tổng công ty và Tập đoàn đã ra đời. Công ty tài chính là công cụ để các Tổng công ty và Tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ, công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng. Có thể kể đến các ví dụ điển hình như công ty tài chính Vinashine thuộc Tập đoàn Tàu thủy Việt Nam, công ty tài chính Bưu điện thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam,…Công ty Tài chính Dầu khí trực thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) cũng là một trong số những công ty như vậy.

Được thành lập năm 2018 với mục tiêu là đảm bảo sự phát triển bền vững của Tập đoàn Dầu khí, công ty Tài chính Dầu khí đã không ngừng lớn mạnh và phát triển trên tất cả các hoạt động kinh doanh của mình. “Tầm nhìn tăng trưởng-Cam kết vững chắc-Thành công tài chính” là tôn chỉ hoạt động của công ty Tài chính Dầu khí. Tư tưởng của tôn chỉ thể hiện rõ nhiệm vụ chiến lược của công ty là: đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam và vận hành sinh lời hiệu quả nhất mọi nguồn tài chính tiền tệ của ngành Dầu khí.

Trong các hoạt động kinh doanh của công ty, hoạt động cho vay dự án đóng vai trò hết sức quan trọng bởi trong giai đoạn hội nhập hiện nay, nhu cầu ngày càng lớn mạnh về đầu tư các dự án lớn của các doanh nghiệp không thể không cần nguồn tài trợ từ các tổ chức tín dụng. Trong quá trình thực hiện, hoạt động cho vay dự án của công ty Tài chính Dầu khí đã gặt hái được những thành công đáng kể và khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc lộ nhiều mặt hạn chế trong quá trình cho vay như các điều kiện vay vốn dự án còn khắt khe, lãi suất cho vay cao, nguồn vốn cho vay bị hạn chế và thời gian xét duyệt dự án kéo dài,…Thực trạng đó đã đặt ra cho công ty Tài chính Dầu khí nhu cầu cấp thiết phải có những giải pháp thích hợp và kịp thời để hoàn thiện hoạt động cho vay dự án của doanh nghiệp nhằm hoàn thành tốt những nhiệm vụ mà Tập đoàn dầu khí đề ra. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Tài Chính Dầu Khí” nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về hoạt động cho vay dự án của công ty Tài chính Dầu khí, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện hoạt động này tại doanh nghiệp.

Kết cấu bài khóa luận tốt nghiệp gồm 3 phần:

  • Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính.
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay dự án của công ty Tài Chính Dầu Khí.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay dự án của công ty Tài Chính Dầu Khí.

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khoá luận, do kiến thức lý thuyết và thực tiễn còn nhiều hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu vấn đề không nhiều, nên khóa luận tốt nghiệp của em còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn đọc để hoàn thiện bài viết hơn nữa.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Việt Hoa đã dành thời gian quí báu trực tiếp hướng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận, đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong Ban thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp, công ty Tài chính Dầu khí đã cung cấp những tài liệu bổ ích giúp em hoàn thành bài viết này.

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DỰ ÁN CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH

1.1. Tổng quan về công ty tài chính

1.1.1. Khái niệm về công ty tài chính

Hoạt động ngân hàng và thị trường tài chính xuất hiện từ rất lâu và ngày càng trở thành một trong những lĩnh vực được nhân dân và xã hội quan tâm đặc biệt, vì nó góp phần tạo ra những tiến bộ to lớn và có ý nghĩa quyết định với lịch sử văn minh của loài người thông qua việc thúc đẩy thương mại và các hoạt động kinh tế phát triển. Việc đẩy mạnh phát triển định chế tài chính là việc làm cần thiết và cấp bách. Tuy các ngân hàng là tổ chức tài chính mà chúng ta thường giao dịch nhất, nhưng không phải tất cả các tổ chức tài chính đều chỉ là các ngân hàng. Giả sử bạn mua bảo hiểm của một công ty bảo hiểm, vay một món trả dần của một công ty tài chính để mua một xe hơi mới, hoặc mua một số cổ phiếu qua sự giúp đỡ của một người môi giới, trong mỗi vụ giao dịch này bạn đang giao tiếp với một tổ chức tài chính phi ngân hàng.

Đầu thế kỷ XX, các tổ chức tài chính phi ngân hàng được hình thành dựa trên cơ sở chuyên môn hóa một số hoạt động ngân hàng nhằm khắc phục những hạn chế của các ngân hàng thương mại, và đa dạng hóa các tổ chức tài chính trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế của chúng ta, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc huy động vốn từ người cho vay – những người tiết kiệm tới người vay – những người chi tiêu y như một ngân hàng. Đặc biệt quá trình đổi mới tài chính ở Việt Nam đã tăng tính quan trọng của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cụ thể là trong “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam thời kỳ 2019-2028” đã khẳng định: “Tạo lập môi trường tài chính lành mạnh, thông thoáng nhằm giải phóng và phát triển các nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư; bồi dưỡng và mở rộng nguồn thu ngân sách, thu hút các nguồn vốn bên ngoài; đa dạng hóa các công cụ và hình thức tổ chức tài chính, tiền tệ phi ngân hàng và các quỹ đầu tư nhằm động viên các nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội”. Qua đổi mới, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cạnh tranh trực tiếp hơn với các ngân hàng qua các dịch vụ tương tự như hoạt động ngân hàng. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động dưới các loại hình tổ chức sau: Công ty tài chính; Công ty cho thuê tài chính; Quỹ đầu tư; Các tổ chức tài chính của Chính phủ và địa phương; Bảo hiểm; Công ty chứng khoán…Trong các tổ chức tín dụng phi ngân hàng đó có một thành phần hết sức quan trọng đó là các công ty tài chính. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Để tìm hiểu rõ về công ty tài chính, ta cần tìm hiểu rõ về khái niệm các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Hiện nay trên thế giới tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về tổ chức tín dụng phi ngân hàng, bắt nguồn từ sự khác biệt về môi trường pháp lý và công cụ tài chính tại các nước. Ở Việt Nam, khái niệm này được đưa ra tại Luật các tổ chức tín dụng số 07/2015/QHX, điều 20 của Luật này ghi rõ: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác”.

Như vậy theo khái niệm về các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thì công ty tài chính là một trong những loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Theo điều 2- Nghị định 79/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, công ty tài chính được định nghĩa là: “ Loại hình tổ chức tín dụng phi Ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm.”

Ở các nước phát triển, các dạng công ty tài chính phát triển rất nhanh chóng. Trong thời gian 2 thập niên gần đây, các công ty này bành trướng ngày càng lớn và nắm quyền kiểm soát (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhiều ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, hoạt động của chúng bao trùm lên hoạt động của các Ngân hàng thương mại để nắm giữ và chi phối hoạt động của các ngành kinh tế.

Những năm qua, công ty tài chính ở Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể về nguồn vốn, về việc sử dụng vốn trong ngành. Bên cạnh đó, các công ty tài chính ngày nay còn đối đầu với sự gia tăng cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay cùng các tổ chức cho vay khác. Do áp lực về giá cả và cạnh tranh, các loại hình công ty tài chính đã phải đa dạng hóa hoạt động nhằm thâm nhập cùng một lúc vào cả hai thị trường cho vay đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Như vậy, các công ty tài chính cũng giống như các tổ chức tài chính trung gian khác đó là cùng kinh doanh trên một lĩnh vực đặc biệt, lĩnh vực tài chính tiền tệ. Cũng như các ngân hàng thương mại, công ty tài chính cũng đóng vai trò là trung gian trong quá trình dịch chuyển nguồn vốn từ những người có vốn chưa sử dụng sang những người cần vốn, thực hiện vai trò là kênh dẫn vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, công ty tài chính (CTTC) cũng có những khác biệt quan trọng so với ngân hàng thương mại (NHTM). Cụ thể là: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

  • Về mặt tổ chức:

Các công ty tài chính là một tổ chức kinh doanh chuyên biệt trên thị trường tài chính, hạch toán độc lập, được đăng ký kinh doanh theo pháp luật. Qui mô thường nhỏ hoặc vừa và không có nhiều chi nhánh như các Ngân hàng Thương mại

  • Về mặt hoạt động:

Khác với các Ngân hàng thương mại được thực hiện đầy đủ cả ba khâu: nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán, hoạt động của Công ty tài chính hẹp hơn, giới hạn ở một số khâu và mang tính chuyên biệt trong một số nghiệp vụ nhất định.

Các Công ty tài chính thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi, phát hành cổ phiếu, trái phiếu và sử dụng tiền thu được để cho vay. Các khoản cho vay thường là các khoản vay nhỏ, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Quá trình trung gian tài chính của các Công ty tài chính có thể được mô tả rằng họ đi vay những khoản tiền lớn và cho vay lại những khoản vay nhỏ. Đây là một quá trình hoàn toàn khác với các Ngân hàng thương mại, họ thường huy động những món tiền gửi với giá trị nhỏ và sau đó cho vay các món tiền lớn hơn nhiều lần.

Khác với các Ngân hàng thương mại, các Công ty tài chính không được thực hiện nghiệp vụ huy động tiền gửi ngắn hạn dưới một năm. Điều này đã được qui định rõ trong các văn bản pháp luật về Công ty tài chính. Việc không được huy động tiền gửi có thời hạn dưới một năm như các Ngân hàng thương mại đã làm hạn chế rất nhiều hoạt động của các Công ty tài chính. Khách hàng của các Công ty tài chính không thể là các khách hàng cá nhân với các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ, mà chỉ là các cá nhân lớn hoặc các tổ chức có nguồn vốn dồi dào và có nhu cầu cho vay trong dài hạn. Chính sự hạn chế trong hoạt động huy động vốn này đã làm Công ty tài chính mất đi một lượng vốn huy động đáng kể để cho vay.

Các công ty tài chính không được tự do thực hiện nghiệp vụ thanh toán như các Ngân hàng thương mại. Các ngân hàng ra đời với chức năng cơ bản là thực hiện dịch vụ tạo tiền, dịch vụ giữ hộ và thanh toán. Các ngân hàng chỉ có thể tạo ra lượng tiền lớn hơn gấp rất nhiều lần lượng tiền ban đầu bằng việc thực hiện kết hợp các nghiệp vụ này.

Các Công ty tài chính không phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà Nước như các Ngân hàng thương mại. Hệ thống các Ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát của các cơ quan ban ngành như: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà Nước về cả hoạt động đi vay và cho vay. Hầu hết các hoạt động của ngân hàng muốn đi vào thực hiện phải được sự phê duyệt của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước. Ngược lại, các Công ty tài chính thường chỉ được định hướng hoạt động chung đúng pháp luật, còn đối với các nghiệp vụ cụ thể và việc tổ chức thực hiện thường do công ty tự đề xuất và Tổng công ty hay Tập đoàn phê duyệt. Do vậy, các hoạt động của công ty tài chính trở nên linh động hơn nhiều.

Ngày nay, với sự phát triển và hội nhập kinh tế mạnh mẽ ở mỗi quốc gia, các Công ty tài chính thường có nhu cầu mở rộng phạm vi và qui mô hoạt động, do đó các Công ty tài chính đều mong muốn mở rộng và đa dạng hóa các nghiệp vụ hoạt động kinh doanh của mình để nhằm phục vụ nhu cầu của đông đảo tầng lớp khách hàng cũng như để tối đa hóa lợi nhuận. Do vây, sự khác biệt giữa các Công ty tài chính cũng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác với Ngân hàng thương mại ngày càng mờ nhạt dần và tiến tới không có sự khác biệt lớn.

1.1.2. Phân loại công ty tài chính Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Đứng trên nhiều góc độ khác nhau có thể tiến hành phân chia công ty tài chính theo các dạng khác nhau.

  • Căn cứ vào cơ cấu sở hữu, theo điều 3- nghị định 79/2020/NĐ- CP công ty Tài chính được chia thành năm loại:
  • Công ty tài chính Nhà nước: Là công ty tài chính do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
  • Công ty tài chính cổ phần: Là công ty tài chính do các tổ chức, cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.
  • Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng: Là công ty tài chính do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân.
  • Công ty tài chính liên doanh: Là công ty tài chính được thành lập bằng vốn góp giữa một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài bao gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
  • Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài: Là loại hình công ty tài chính được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật trong nước.

Căn cứ vào sự độc lập trong hoạt động, công ty tài chính được chia thành 2 loại:

Công ty tài chính độc lập thực hiện hoạt động kinh doanh như: Hoạt động tín dụng gồm cho vay và bảo lãnh cho các khách hàng thương mại và sản xuất công nghiệp; các hoạt động cho thuê tài sản; bao thanh toán; kinh doanh tiền tệ; tư vấn tài chính….

Các Công ty tài chính trong tập đoàn kinh doanh tham gia chủ yếu các hoạt động sau: Tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư để cung ứng cho các thành viên trong tập đoàn; quản lý và đầu tư các nguồn vốn chưa sử dụng trong tập đoàn; quản lý các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, điều hòa vốn giữa các thành viên; làm đầu mối tư vấn cho tập đoàn; các công ty thành viên trong quan hệ với các ngân hàng; các đối tác đầu tư; quản lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro tài chính; cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính cho các khách hàng bên ngoài… Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

  • Căn cứ vào các hoạt động kinh doanh, công ty tài chính được chia thành 3 loại:

Các Công ty tài chính bán hàng: Do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ của chính công ty. Ví dụ hệ thống bán lẻ Sears Holdings Corp. tài trợ cho khách hàng mua các dịch vụ và hàng hóa tại chuỗi các cửa hàng bán lẻ của tập đoàn. Công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và thu hút được khá nhiều khách hàng bởi vì thông thường các khoản vay này được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn ngay tại các địa điểm mua hàng.

Các Công ty tài chính tiêu dùng: Thực hiện các khoản cho vay cho khách hàng mua các loại hàng hóa cụ thể. Ví dụ: Đồ gỗ và vật dụng gia đình, sửa chữa nhà cửa hay giúp đỡ chi trả các khoản nợ nhỏ. Các Công ty tài chính tiêu dùng là các doanh nghiệp riêng biệt hay do các ngân hàng là chủ sở hữu ví dụ như các công ty: Citicorp, Owns person-to-person, Finance company hoạt động khắp các nước trên thế giới.

Các công ty tài chính doanh nghiệp: Cung cấp các hình thức tín dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu có chiết khấu (hóa đơn thanh toán thuộc về công ty tài chính). Dạng cung cấp tín dụng này được gọi là factoring (bao thanh toán). Xét một ví dụ cụ thể như sau: một xí nghiệp may mặc có hóa đơn chưa thanh toán từ các cửa hàng bán lẻ đã mua hàng từ xí nghiệp với giá trị 100.000$. Nếu xí nghiệp này cần tiền mặt ngay để mua trang thiết bị, họ có thể bán tài khoản thanh toán này cho Công ty tài chính với giá là 90.000$ và giao quyền thu lại số nợ 100.000$ cho Công ty tài chính. Ngoài nghiệp vụ factoring, công ty tài chính doanh nghiệp còn chuyên môn hóa vào cho thuê trang thiết bị máy móc (ô tô, xe tải, toa hàng, máy bay, tàu thủy, máy tính…) mà họ mua về và cho các doanh nghiệp vay trong một khoảng thời gian nào đó. Việc cấp tín dụng theo dạng này được gọi là leasing (cho thuê tài chính).

1.1.3. Các hoạt động chủ yếu của công ty tài chính Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Hoạt động của các công ty tài chính rất đa dạng, phong phú ở các nước khác nhau cũng như ở các thị trường khác nhau. Nhìn chung công ty tài chính hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực sau:

  • Hoạt động huy động vốn:

Bước đầu của hoạt động này là các tổ chức tài chính giữ tiền hộ khách hàng và khách hàng còn phải trả phí, nhưng ngày nay người ta thấy được vai trò của nguồn vốn đó nên đã tích cực huy động và để khách hàng được hưởng tiền lãi tùy theo mức lãi suất, kỳ hạn gửi và số tiền gửi.

Huy động vốn là hoạt động khởi đầu của các hoạt động khác tại công ty tài chính. Công ty tài chính bản chất là một trung gian tài chính hoạt động chủ yếu không phải bằng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vậy để hoạt động và cung cấp vốn cho nền kinh tế thì ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, công ty tài chính phải huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các hoạt động:

  • Nhận tiền gửi có kỳ hạn của các đơn vị thành viên, các doanh nghiệp cùng ngành, các tổ chức cá nhân.
  • Phát hành trái phiếu, chứng chỉ nợ:
  • Phát hành trái phiếu: Bên cạnh vốn điều lệ ban đầu khi thành lập, Công ty tài chính có thể huy động thêm nguồn vốn trong xã hội thông qua việc phát hành trái phiếu. Trong quá trình hoạt động, vốn điều lệ có thể được bổ sung và tăng dần thông qua việc huy động vốn góp của tập đoàn hoặc phát hành thêm trái phiếu.
  • Phát hành chứng chỉ nợ: Là một giấy nhận nợ mà Công ty tài chính phát hành để vay vốn trên thị trường tiền tệ dùng để giải quyết những nhu cầu về tiền mặt, vốn ngắn hạn cấp thiết.
  • Vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước:

Công ty tài chính có thể đi vay từ các ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính khác, nhưng không được vay từ ngân hàng nhà nước.

  • Nhận ủy thác đầu tư: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Các công ty tài chính có thể nhận ủy thác đầu tư của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu đầu tư dài hạn. Nguồn vốn ủy thác đầu tư bao gồm cả nguồn vốn của tập đoàn kinh doanh nếu công ty tài chính đó thuộc tập đoàn kinh doanh giao để đầu tư vào những công trình, dự án của tập đoàn và các đơn vị thành viên.

Ngoài ra đối với các Công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh doanh còn một nguồn huy động lớn là vay từ tập đoàn kinh Dựa vào uy tín và lợi thế của mình, các tập đoàn kinh doanh đứng ra phát hành trái phiếu để huy động vốn rồi chuyển cho các công ty tài chính vay. Mặt khác khi tập đoàn kinh doanh đứng ra phát hành trái phiếu thì không bị ràng buộc về dự trữ, lãi suất, số lượng do ngân hàng nhà nước quy định do tập đoàn không phải là một tổ chức tín dụng.

  • Hoạt động tín dụng:

Sau khi huy động được vốn, để bù đắp chi phí huy động vốn và có lợi nhuận thì Công ty tài chính phải tìm cách sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này. Hoạt động tín dụng của công ty tài chính cũng như các ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, giúp dịch chuyển vốn từ nơi thừa vốn (nguồn vốn huy động được) đến nơi thiếu vốn (hoạt động tín dụng của ngân hàng).

Hoạt động tín dụng ở đây được hiểu là tất cả các hoạt động như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các hình thức tín dụng khác theo đúng pháp luật. Trong tất cả các hoạt động đó, hoạt động cho vay chiếm vai trò quan trọng nhất, đem lại nguồn doanh thu lớn nhất cho các công ty tài chính. Do vậy, hiện nay thông thường khi nhắc đến tín dụng của các công ty tài chính vẫn được hiểu nhầm là hoạt động cho vay của các công ty này.

  • Đối với cho vay công ty tài chính được cho vay dưới hình thức:
  • Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
  • Cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, các nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác.
  • Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay trả góp để mua các vật dụng là các hàng hoá lâu bền như xe hơi, bất động sản,.. và cho doanh nghiệp vay để kinh doanh.

Ở Việt Nam, hoạt động cho vay của công ty tài chính còn rất hạn hẹp, chủ yếu là công ty tài chính tiến hành cho doanh nghiệp vay để kinh doanh theo hình thức cho vay dự án trung hoặc dài hạn.

  • Đối với hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác:

Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

  • Đối với hoạt động bảo lãnh:

Bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của công ty tài chính (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho công ty tài chính số tiền đã được trả thay.

Các hoạt động khác:.

  • Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.
  • Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng.
  • Tham gia thị trường tiền tệ.
  • Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng.
  • Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp.
  • Được quyền nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.
  • Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng.
  • Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác.

1.2. Hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

1.2.1. Khái quát về cho vay dự án

  • Khái niệm chung về dự án:

Đầu tư là một hoạt động quan trọng của bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh tế. Đó là hoạt động bỏ vốn với hy vọng đạt được lợi ích tài chính, kinh tế xã hội trong tương lai. Ngày nay, nhằm tối đa hóa hiệu quả đầu tư, các hoạt động đầu tư đều được thực hiện theo dự án.

Dự án có vai trò rất quan trọng đối với các chủ đầu tư, các nhà quản lý và tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội, nếu không có dự án, nền kinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển. Dự án là căn cứ quan trọng để bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư. Dự án là căn cứ để các tổ chức tài chính đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của Nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư.

Trong “Quy chế đầu tư và xây dựng” theo Nghị định 52/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 07 năm 2017 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nêu khái niệm về dự án như sau: “Dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định”.

Với các quan điểm khác nhau, có thể có các khái niệm khác nhau về dự án. Song, một cách tổng quát nhất, dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt ra (mục tiêu nhất định) với nguồn lực và thời gian xác định.

  • Các nguồn tài trợ cho dự án: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Các phương thức tài trợ cho dự án thông thường bao gồm tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, tài trợ bằng nợ, tài trợ bằng leasing và tài trợ kết hợp (được tiến hành bằng cách kết hợp giữa các phương thức tài trợ nêu ở trên). Mỗi phương thức tài trợ đều có những đặc trưng riêng cũng như những lợi thế, bất lợi cho các chủ đầu tư. Hơn nữa, quá trình xác định dòng tiền và lựa chọn lãi suất chiết khấu không thể được tiến hành một cách biệt lập với phân tích bản chất của phương thức tài trợ. Hay nói cách khác, phương thức tài trợ sẽ chi phối việc xác định dòng tiền phù hợp cũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu hợp lý cho dự án. Rõ ràng các phương thức tài trợ cho doanh nghiệp nói chung cũng không khác biệt so với tài trợ cho dự án, bởi vì dự án mà chúng ta nghiên cứu ở đây là dự án thuộc doanh nghiệp và do doanh nghiệp tiến hành.

  • Cho vay dự án:

Cho vay dự án của công ty tài chính là việc một công ty tài chính giao cho khách hàng một khoản tiền trực tiếp hoặc thông qua một tổ chức tài chính trung gian khác để cho vay toàn bộ hay một phần dự án được đề nghị.

Giống như cho vay thông thường, cho vay dự án của công ty tài chính cần xem xét cho vay đối với những dự án thỏa mãn đồng thời các điều kiện, đó là đúng đối tượng, ngành nghề, thuộc danh mục và nằm trong hạn mức tín dụng của công ty, bảo đảm tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án đạt tối thiểu là 10%, bảo đảm việc quản lý dòng tiền dự án một cách chặt chẽ (ngoại trừ trường hợp cho vay đồng tài trợ mà tổ chức tín dụng đầu mối có qui định khác), thời hạn cho vay của dự án phụ thuộc vào dòng tiền của từng dự án.

Các khoản cho vay dự án có thể được chấp nhận dựa trên cơ sở bảo lãnh theo đó người cho vay có thể khôi phục vốn từ những tổ chức thực hiện bảo lãnh nếu dự án không trả được nợ đúng như kế hoạch đã định. Tuy nhiên khoản cho vay cũng có thể được cung cấp không dựa trên cơ sở bảo lãnh, không có người đứng ra đảm bảo, dự án tồn tại hoặc sụp đổ dựa trên giá trị của chính nó. Trong trường hợp này, công ty phải đối mặt với những rủi ro rất lớn và họ sẽ yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có đảm bảo. Đối với nhiều khoản cho vay như vậy, công ty tài chính thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ dự án phải thế chấp tài sản cho tới khi dự án hoàn tất.

Cho vay dự án có một vai trò hết sức quan trọng. Nó không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho tổ chức cho vay trong một thời gian đủ dài mà thông qua việc cho vay dự án, các dự án có đủ nguồn vốn để thực hiện, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, tạo công ăn việc làm và sự ổn định nền kinh tế đất nước.

1.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Cho vay dự án là một hoạt động cho vay chủ chốt của các tổ chức tín dụng trên thị trường tài chính, cho vay dự án cũng có ba đặc điểm lớn giống như nghiệp vụ cho vay thông thường của các tổ chức tín dụng, bao gồm:

Một là, có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. Người sở hữu vốn có thể là Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài. Họ là những người có nguồn vốn chưa sử dụng và có nhu cầu cho vay vốn để lấy lại một phần lợi tức do nguồn vốn ấy mang lại. Ngược lại, bên vay là những tổ chức, cá nhân có những dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh hiệu quả, có khả năng sinh lời cao, tuy nhiên lại thiếu vốn để thực hiện mục đích đó. Việc cho vay ở đây được hiểu là cho vay của các tổ chức tài chính trên thị trường. Họ chính là những trung gian tài chính đứng ra làm nhiệm vụ huy động các khoản tiền tiết kiệm trong nền kinh tế, tập hợp lại và với kinh nghiệm, chuyên môn của mình để đứng ra làm nhiệm vụ cho vay đến các tổ chức và cá nhân có nhu cầu. Thu nhập của công ty tài chính là khoản chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Hai là, sự chuyển nhượng trong hoạt động cho vay là có thời hạn. Bất cứ các khoản vay nào cũng có thời hạn nhất định phải hoàn trả. Thời hạn này dài hay ngắn là phụ thuộc vào nhu cầu của người vay và chính sách cho vay, khả năng cho vay của bản thân tổ chức tài chính. Các khoản vay có thể là ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm) và dài hạn (trên 5 năm). Việc xác định thời hạn của vốn vay giúp tổ chức tài chính hoạch định được chính sách cho vay vốn của mình, từ sự dịch chuyển của luồng tiền cho vay, lãi suất và các biện pháp thu hồi nợ đối với người vay.

Ba là, sự chuyển nhượng có kèm theo chi phí. Chi phí cho các khoản vay đó chính là lãi suất cho vay. Bất cứ khoản cho vay nào của công ty tài chính cũng đều phải có một lãi suất cho vay nhất định. Loại lãi suất này không cố định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: đối tượng khách hàng, giá trị khoản vay, thời hạn của khoản vay, khả năng trả nợ của người vay cũng như những biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, mức lãi suất này luôn luôn phải bảo đảm lớn hơn lãi suất của các tổ chức tín dụng phải trả từ việc huy động vốn và đủ bù đắp chi phí hoạt động kinh doanh trong việc cho vay.

Trên đây là ba đặc điểm cơ bản của cho vay dự án trên giác độ một khoản cho vay thông thường. Tuy nhiên do những đặc điểm khác biệt của việc đầu tư dự án, cho vay dự án còn có những đặc điểm riêng:

Thứ nhất, lượng vốn ban đầu để đầu tư cho dự án là rất lớn, do đó chủ đầu tư dự án phải huy động từ nhiều nguồn, trong đó nguồn tài trợ từ cho vay dự án của các công ty tài chính là rất quan trọng. Tuy nhiên các công ty tài chính lại không tài trợ toàn bộ vốn đầu tư mà yêu cầu chủ đầu tư phải có lượng vốn tự có với một tỷ lệ nhất định, và đồng thời căn cứ trên các thông tin dữ liệu về dự án để xác định mức cho vay hợp lý đối với từng dự án cụ thể. Dự án được xây dựng gồm nhiều mục như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa điểm công nghệ, qui trình sản xuất, phân tích tài chính…trong đó phân tích tài chính là mục tiêu quan tâm hàng đầu của công ty. Khối lượng vốn mà công ty tài trợ cho dự án được xác định theo nguyên tắc sau:

  • Số tiền cho vay = Tổng vốn đầu tư – vốn tự có – các nguồn huy động khác

Thứ hai, thời hạn cho vay của dự án thường kéo dài nhiều năm, chủ yếu là các khoản cho vay trung và dài hạn. Do đặc tính của những dự án này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn, được thực hiện trong khoảng thời gian dài nên tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, và thực hiện phân tích trước khi cho vay cũng như quản lý vốn vay chặt chẽ hơn.

  • Thời hạn cho vay = Thời gian xây dựng cơ bản + Thời gian trả nợ.

Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của một công ty tài chính để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ hoạt động cho vay mới bù đắp được các chi phí như chi phí tiền gửi, chi phí quản lý, chi phí kinh doanh, chi phí rủi ro đầu tư, chi phí thuế. Khi nền kinh tế càng phát triển, lượng vốn mà công ty tài chính cho các doanh nghiệp cũng càng tăng và các loại hình cho vay cũng trở lên vô cùng đa dạng. Nguyên tắc cho vay gồm hai nguyên tắc cơ bản:

  • Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì mỗi lần cho vay công ty tài chính phải xác định kỳ hạn nợ phù hợp. Khi đến hạn trả nợ, khách hàng phải trả nợ cho công ty.

  • Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích:

Đây là phương châm hoạt động của công ty tài chính. Khi vốn vay không được sử dụng đúng mục đích như trong “Giấy đề nghị vay vốn” thì sẽ rất dễ dẫn đến rủi ro cho công ty. Khi thực hiện nguyên tắc này, các công ty tài chính yêu cầu khách hàng phải sử dụng vốn đúng với mục đích ghi trong “ Giấy đề nghị vay vốn” bởi vì mục đích đó đã được công ty thẩm định. Khi công ty phát hiện việc khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích thì công ty có quyền thu hồi nợ trước hạn.

1.2.3. Các hình thức cho vay dự án

Cho vay dự án là một loại hình cho vay cơ bản của các tổ chức tín dụng trên thị trường tài chính, gồm các hình thức cơ bản sau:

  • Cho vay trực tiếp (cho vay toàn bộ):

Cho vay trực tiếp hay cho vay toàn bộ là hình thức đơn giản nhất trong cho vay dự án. Trong đó công ty tài chính sau khi tiến hành thẩm định dự án phù hợp, xét thấy có đủ tiềm năng về vốn và không bị hạn chế về hạn mức tín dụng đối với tổ chức vay, công ty tài chính có khả năng bỏ hoàn toàn vốn của mình ra để trực tiếp cho vay. Toàn bộ lãi suất thu được từ việc cho vay và những rủi ro có thể xảy ra do cho vay đều thuộc công ty tài chính cho vay vốn, và tất cả các công đoạn trong quá trình cho vay về việc giải ngân, thu nợ đều do công ty tài chính trực tiếp đứng ra thực hiện.

  • Đồng tài trợ

Theo quyết định 154/2016/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng, thì :”Đồng tài trợ dự án của các Tổ chức tín dụng là quá trình cho vay- bảo lãnh của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng”.

  • Thu xếp vốn: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Hoạt động thu xếp vốn là một khái niệm tương đối mới với các tổ chức tín dụng. Thu xếp vốn ở đây được hiểu là việc Công ty tài chính tiến hành với tư cách trung gian giữa bên vay và bên cho vay nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn vay của dự án. Có thể nói hoạt động thu xếp vốn cho dự án được hình thành trên cơ sở đặc điểm riêng biệt của công ty tài chính trực thuộc tổng công ty hoặc tập đoàn. So với các Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính có số vốn điều lệ thấp hơn nhiều, các khoản cho vay lại bị khống chế bởi hạn mức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước dẫn đến khả năng cung cấp vốn tín dụng của Công ty tài chính nhỏ hơn nhu cầu vốn đầu tư dự án. Bù lại, Công ty tài chính có trình độ chuyên môn trong việc tìm kiếm nguồn vốn, am hiểu dự án ngành về mặt kỹ thuật, và là một tác nhân của thị trường tài chính. Vì vậy các Công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn hoặc Tổng công ty xem hoạt động này là thế mạnh của mình khi thực hiện hoạt động cho vay dự án.

  • Ủy thác cho vay:

Theo quyết định số 742/2020/QĐ-NHNN quy định về ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, thì “Ủy thác cho vay là việc bên ủy thác giao vốn cho bên nhận ủy thác thông qua hợp đồng ủy thác cho vay để trực tiếp cho vay các đối tượng khách hàng, trong đó bên ủy thác trả phí ủy thác cho bên nhận ủy thác”.

Ủy thác cho vay diễn ra là do các trung gian tài chính có quan hệ rất tốt với các tổ chức vay vốn, có những nhận định chính xác về nhu cầu vốn và khả năng trả nợ của đơn vị đi vay, tuy nhiên do các quy định của luật pháp về hạn mức tín dụng, tổ chức tài chính không thể tiếp tục cho vay trực tiếp mà phải ủy thác nguồn vốn đó cho một bên thứ ba đứng ra tiến hành cho vay. Như vậy, lợi tức từ cho vay nguồn vốn đó phải san sẻ cho các tổ chức tiếp nhận trực tiếp nhận ủy thác cho vay vốn. Một trường hợp khác là công ty tài chính vẫn có đủ tiềm năng về vốn, và khoản cho vay khách hàng vẫn nằm trong hạn mức tín dụng, tuy nhiên công ty không có điều kiện nhận định về khách hàng, không có điều kiện thẩm định dự án của khách hàng, công ty có thể ủy thác cho tổ chức tín dụng khác để cho khách hàng vay và phải trả phí ủy thác cho vay.

1.2.4. Quy trình cho vay dự án Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Quy trình cho vay dự án bao gồm các bước sau:

  • Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ xin vay dự án của khách hàng.

Hồ sơ vay dự án phải có đầy đủ tất cả các tài liệu mà tổ chức tín dụng yêu cầu, được gọi là hồ sơ pháp lí của chủ đầu tư, bao gồm:

  • Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đi
  • Quyết định phê duyệt dự án của cấp có thẩm quyền.
  • Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo đầu tư nếu dự án chỉ cần lập báo cáo đầu tư.
  • Các văn bản, hồ sơ bổ sung khác tùy theo đặc điểm của dự án và đòi hỏi của từng tổ chức tín dụng khác nhau.

Bước 2: Thẩm định dự án:

Mục tiêu của thẩm định dự án là giúp các cán bộ tín dụng ra quyết định có nên cấp tín dụng cho dự án hay không. Để đưa ra các quyết định thì các cán bộ tín dụng phải dựa trên các chỉ tiêu thẩm định dự án. Thẩm định dự án là một quá trình phức tạp, trong đó ngoài các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp đi vay thông thường, trong quá trình thẩm định dự án đòi hỏi cán bộ tín dụng phải phân tích và ước đoán đúng số liệu mà dự án tạo ra, từ đó mới có khả năng đưa ra kết luận dự án thực hiện có hiệu quả không để ra quyết định cho vay.

  • Quy trình thẩm định được thực hiện như sau:

Từ báo cáo khả thi, cán bộ tín dụng phải xác định được mô hình dự án thuộc loại nào trong các loại sau đây:

  • Dự án xây dựng mới
  • Dự án mở rộng nâng cao công suất
  • Dự án đầu tư chiều sâu, hợp lí hoá qui trình sản xuất
  • Dự án kết hợp giữa đầu tư chiều sâu, hợp lí hoá qui trình sản xuất và mở rộng nâng cao công suất

Phân tích và ước định số liệu tính toán: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Trên cơ sở tất cả những phân tích đánh giá về thị trường, cung cầu sản phẩm của dự án, báo cáo khả thi và báo cáo tài chính của dự án, cán bộ tín dụng ước tính các chỉ tiêu quan trọng như: sản lượng tiêu thụ, giá bán sản phẩm, doanh thu, nhu cầu vốn lưu động, chi phí bán hàng, chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công, chi phí quản lý, khấu hao, chi phí thuế,…Từ đó cán bộ tín dụng xem xét đến việc xác định tổng dự toán vốn đầu tư, các nguồn tài trợ cũng như các phương thức tài trợ cho dự án, xem xét việc cân đối giữa nguồn vốn chủ sở hữu và vốn nợ cho dự án được đầu tư.

  • Thiết lập các bảng tính chi phí và lợi ích của dự án:
  • Thiết lập báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
  • Xác định dòng tiền của dự án:
  • Thẩm định hiệu quả của dự án:

Thẩm định hiệu quả của dự án là điều kiện để công ty tài chính quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp đi vay. Cán bộ tín dụng phải dự tính được lãi suất chiết khấu cho dự án và từ đó tiến hành xác định các chỉ tiêu tài chính cơ bản cho dự án: giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn (PP) và điểm hoà vốn (BP).

  • Đánh giá rủi ro của dự án, từ đó đánh giá rủi ro trong hoạt động cho vay của công ty tài chính:

Khi tiến hành đầu tư dự án, có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra. Việc xem xét các rủi ro có thể phát sinh trong từng dự án là điều kiện cần để có những biện pháp giảm thiểu rủi ro cho cả nhà đầu tư và đối tác vay vốn. Các rủi ro có thể gặp trong việc triển khai dự án:

  • Rủi ro tiến độ thực hiện (đối với dự án xây dựng)
  • Rủi ro thị trường: thị trường đầu vào (nguồn cung, giá cả của nguyên vật liệu), thị trường đầu ra (hàng hoá sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu thị trường, thiếu sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã…)
  • Rủi ro môi trường và xã hội: Dự án có thể gây tác hại đến môi trường, gây ảnh hưởng đến đời sống của cong người.
  • Rủi ro kinh tế vĩ mô: Tỷ giá biến động mạnh, lạm phát cao… là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến dự án đầu tư.

Tất cả những rủi ro trên có thể xảy ra gây thiệt hại trực tiếp đến chủ đầu tư dự án và từ đó sẽ dẫn đến những rủi ro gián tiếp cho công ty tài chính khi tiến hành cho vay dự án, đó là những rủi ro như không thu được hoặc không thu đủ tiền gốc và lãi khi cho vay hoặc thu gốc và lãi chậm hơn dự kiến. Như vậy, khi tiến hành thẩm định dự án, cán bộ tín dụng của công ty tài chính phải tiến hành xem xét cẩn thận tất cả các rủi ro có thể xảy ra đối với dự án để đảm bảo hoạt động cho vay có hiệu quả, thu hồi được gốc và lãi đúng thời hạn cam kết. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

  • Bước 3: Xét duyệt dự án, ra quyết định cho vay và giải ngân.

Sau khi thẩm định khách hàng vay vốn và dự án, cán bộ tín dụng phải đưa ra những kết luận về tình hình tài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án, mức độ đáp ứng các điều kiện tín dụng, mức độ đáp ứng các điều kiện tài sản đảm bảo (nếu cho vay đảm bảo tài sản), từ đó đưa ra ý kiến đề xuất:

  • Đề nghị xét duyệt cho vay/ không duyệt cho vay nếu có lý do
  • Phương thức cho
  • Hạn mức tín dụng.
  • Thời hạn cho vay
  • Lãi suất cho
  • Phương thức trả nợ gốc, lãi tiền

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng tiến hành thủ tục giải ngân dự án theo đúng những cam kết trong hợp đồng. Những thay đổi trong quá trình giải ngân phải được sự thống nhất của cả hai bên hoặc do các cấp có thẩm quyền quyết định được quy định trong hợp đồng tín dụng.

  • Bước 4: Thu nợ, thu lãi từ dự án.

Việc thu nợ, thu lãi dự án cũng được xác định rõ trước khi ra quyết định cho vay và ký hợp đồng tín dụng. Quá trình này bao gồm việc thu lãi đủ và đúng hạn, tiến hành thu nợ gốc khi hết hợp đồng. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, cán bộ tín dụng có thể yêu cầu gia hạn hoặc chuyển nợ quá hạn đối với hợp đồng tín dụng đã kí kết.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

1.3.1. Các nhân tố chủ quan:

Đây là các nhân tố bên trong, thuộc về bản thân công ty tài chính:

  • Tình hình hoạt động của công ty tài chính:

Đây là một nhân tố hết sức quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh khác của công ty tài chính. Công ty có sản xuất kinh doanh tốt, có hiệu quả thì mới làm cho các hoạt động nói chung của công ty phát triển tốt. Và hoạt động của công ty tốt cũng làm cho hoạt động cho vay dự án của công ty phát triển vì khi đó công ty mới có đủ tiềm lực về vốn, nguồn nhân vật lực để thực hiện tốt hoạt động cho vay dự án.

  • Chiến lược kinh doanh và định hướng hoạt động cho vay dự án:

Chiến lược kinh doanh sẽ xác định cho công ty nhóm khách hàng mục tiêu, hay là khách hàng tiềm năng từ đó định hướng hoạt động cho vay dự án có hiệu quả, phòng tránh rủi ro xảy ra. Tùy từng giai đoạn, công ty sẽ có những chiến lược kinh doanh khác nhau về sản phẩm, dịch vụ, khách hàng….Công ty cần xác định rõ những khách hàng mục tiêu trong từng thời kỳ thuộc ngành nghề kinh tế nào sẽ trở thành khách hàng chính của hoạt động cho vay dự án.

  • Quy trình quy chế cho vay dự án:

Quy trình, quy chế cho vay dự án là những quy định riêng của công ty tài chính bên cạnh những quy định mang tính bắt buộc về hoạt động cho vay dự án do Nhà nước đặt ra. Đây là công cụ của các công ty tài chính khi tiến hành cho vay, các quy trình, quy chế phải chặt chẽ và nhanh gọn mới tạo điều kiện cho hoạt động cho vay dự án diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi cho khách hàng trong quá trình vay vốn, nâng cao sức cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.

  • Hoạt động huy động vốn và cân đối dòng tiền: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Hoạt động huy động vốn và cân đối dòng tiền là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án của công ty. Nếu như công ty có được nhiều dự án vay vốn có hiệu quả kinh tế cao mà lại không có kế hoạch huy động vốn hiệu quả, đáp ứng đầy đử nhu cầu về vốn vay thì các dự án đó cũng không thể thực hiện được.

  • Trình độ cán bộ tín dụng:

Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, thẩm định dự án, là cầu nối trực tiếp giữa khách hàng và công ty, do đó vai trò cán bộ tín dụng là hết sức quan trọng trong quá trình xét xem dự án có được cấp tín dụng hay không. Một người cán bộ có nhiều kinh nghiệm không chỉ là người thực hiện cho vay hiệu quả mà còn là nhân tố thu hút khách hàng đến với công ty tài chính, tạo sự gắn kết lâu bền giữa khách hàng và công ty. Do vậy, trình độ cán bộ tín dụng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính.

  • Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin:

Công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp công ty tài chính thu thập và quản lý thông tin dữ liệu về khách hàng vay vốn, mặt khác hỗ trợ rất đắc lực trong quá trình thẩm định tài chính dự án, giúp cán bộ thẩm định kết quả chính xác.

  • Các biện pháp bảo đảm tiền vay:

Các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động cho vay dự án. Một dự án cho vay của công ty tài chính không phải đã kết thúc khi tiến hành xong các thủ tục cho vay và giải ngân. Giai đoạn theo dõi dự án sau cho vay và tiến hành thủ tục thu hồi vốn vay (cả gốc và lãi) sẽ khẳng định dự án cho vay có thực sự hiệu quả và hoạt động cho vay dự án của công ty có phát triển hay không. Để đảm bảo cho việc thu hồi vốn vay đầy đủ và đúng hạn đòi hỏi phải có các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong cho vay, đó là các điều kiện về tài sản đảm bảo, các quy định chặt chẽ trước, trong và sau cho vay để đảm bảo tính lành mạnh của các khoản cho vay dự án của công ty tài chính.

1.3.2. Các nhân tố khách quan: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Đây là những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài công ty:

  • Dự án và chủ đầu tư dự án

Chủ đầu tư là người trực tiếp sử dụng nguồn vốn của dự án. Sự hiệu quả của dự án được quyết định bởi một nhân tố hết sức quan trọng đó là chủ đầu tư của dự án. Do vậy kết quả hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín của chủ đầu tư dự án quyết định đến sự thành công của dự án, nếu chủ đầu tư hoạt động kinh doanh không có hiệu quả thì dự án khó có thể thành công được.

Bên cạnh đó, dự án là đối tượng cho vay, là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính. Dự án được tiến hành đúng như kế hoạch, và hoạt động có hiệu quả thì việc thu hồi nợ và lãi từ cho vay dự án được tiến hành đúng như kế hoạch, còn ngược lại, nếu dự án không được tiến hành như kế hoạch, hoặc hoạt động không hiệu quả sẽ gây khó khăn trong quá trình thu nợ và lãi, làm ảnh hưởng đến chất lượng cho vay dự án.

  • Môi trường kinh tế xã hội

Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu đầu tư ngày càng cao và nhu cầu vay vốn ngày càng phát triển hơn vì các doanh nghiệp ngày càng muốn mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh. Tùy từng dự án mà nhu cầu vay vốn khác nhau, đối với các dự án vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thì cần nguồn vốn trung hạn, còn các nguồn vốn dùng để đầu tư và phát triển thì cần các nguồn vốn dài hạn. Còn khi nền kinh tế kém phát triển, hay rơi vào tình trạng suy thoái, thì các nhu cầu vay vốn đầu tư dự án của các doanh nghiệp bị giảm sút đáng kể. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

Một vấn đề nữa là các chỉ tiêu kinh tế như lạm phát, lãi suất chiết khấu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc cho vay dự án. Khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát, thì sẽ có sự can thiệp của ngân hàng Trung ương như tăng lãi suất chiết khấu, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đề nhằm kiềm chế lạm phát, khi ấy buộc các tổ chức tín dụng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp lạm phát, làm giảm nhu cầu vay vốn của các chủ đầu tư, ảnh hưởng đến cho vay dự án của công ty nói riêng.

Các dịch vụ, sản phẩm cùng loại của các tổ chức tín dụng khác cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dự án của công ty. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các định chế tài chính ra đời ngày càng nhiều, do đó cạnh tranh về khách hàng, cạnh tranh thị trường hoạt động là vấn đề mà công ty phải đối mặt. Các ngân hàng thương mại, các công ty cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm ngày càng phát triển hơn các loại hình dịch vụ của mình do đó miếng bánh của nền kinh tế ngày càng bị chia nhỏ hơn. Điều này đòi hỏi các công ty tài chính phải có nhiều chính sách hấp dẫn đối với người đi vay mới có thể thu hút được các chủ đầu tư.

Cuối cùng là các chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cho vay dự án. Các dự án của công ty tài chính đều là các dự án trung và dài hạn, cùng với quá trình thực hiện dự án, là sự thay đổi của nền kinh tế-xã hội, và nhà nước lại có nhiều thay đổi trong chính sách để phù hợp với sự thay đổi đó, do đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay dự án của công ty tài chính. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động cho vay dự án ở công ty Dầu Khí

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động cho vay dự án tại công ty Dầu Khí […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x