Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
I: ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ CỦA NGÂN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Bối cảnh chung về hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hội nhập quốc tế trở thành một xu thế tất yếu của thời đại và diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, đây là yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Hội nhập kinh tế là một hướng đi đúng đắn và quan trọng, góp phần tạo dựng vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đồng thời nhằm mục đích cuối cùng là thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững. Bắt nhịp xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia quá trình hội nhập quốc tế: gia nhập ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ký kết hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, các hiệp định song phương khác và cuối cùng là kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2023. Việt Nam sẽ mở cửa thị trường ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố trong nước mà còn chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên ngoài. Hoạt động ngân hàng sẽ mang tính cạnh tranh quốc tế cao, phạm vi kinh doanh mở rộng, tham dự vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Hoạt động ngân hàng diễn ra trong môi trường quốc tế đầy biến động. Những biến động tài chính, tiền tệ dù xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào đều nhanh chóng tác động tới hoạt động ngân hàng ở mỗi quốc gia.
Hoạt động ngân hàng diễn ra trong môi trường công nghệ hiện đại và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng internet. Hội nhập quốc tế sẽ thúc đẩy những tiến bộ về công nghệ điện tử và mạng viễn thông làm thay đổi phương thức hoạt động và cung cấp dịch vụ của hệ thống ngân hàng.
2. Những cơ hội và thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam sau khi gia nhập WTO Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
2.1. Những cơ hội
Gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trên cả hai phương diện trực tiếp và gián tiếp:
- Cơ hội trực tiếp:
Thứ nhất, trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) trong lĩnh vực dịch vụ theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), các nước thành viên WTO phải mở cửa thị trường dịch vụ tài chính cho các ngân hàng Việt Nam theo nguyên tắc không phân biệt đối xử. Nhờ vậy, ngân hàng thương mại Việt Nam có điều kiện mở rộng hoạt động tại nước ngoài. Sau đó, khi thế và lực đã đủ mạnh, ngân hàng thương mại Việt Nam có đủ điều kiện để phục vụ khách hàng ở trong và ngoài nước.
Thứ hai, gia nhập WTO giúp ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận một cách dễ dàng với chi phí rẻ các nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế thông qua việc phát hành trái phiếu, niêm yết cổ phiếu trên các thị trường chứng khoán quốc tế để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài. Ngân hàng thương mại Việt Nam trở nên linh hoạt hơn trong việc phản ứng với các diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế để tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Tự do hóa tài chính làm giảm chi phí vốn do giảm mức độ rủi ro trên thị trường nội địa, thị trường tài chính trong nước trở nên thanh khoản hơn.
Thứ ba, theo các cam kết gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài được phép thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh, ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài (kể từ ngày 1/4/2024), các ngân hàng nước ngoài cũng được phép nắm giữ tối đa 30% cổ phần tại các ngân hàng thương mại trong nước. Đây chính là cơ hội tốt để ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp thu các công nghệ ngân hàng hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến thông qua việc liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ phía ngân hàng nước ngoài. Sự tham gia góp vốn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành đối tác chiến lược đồng nghĩa với việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia quản trị, điều hành các ngân hàng trong nước, nhờ đó cải thiện và từng bước nâng cao kỹ năng quản trị tại các ngân hàng Việt Nam.
Hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế, cùng với dòng vốn vào là kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật phòng ngừa rủi ro, công nghệ và sản phẩm mới được đưa vào thị trường nội địa. Các yếu tố này làm tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ của các ngân hàng và các tổ chức tài chính, tăng cường khả năng quản trị rủi ro đối với các hoạt động tài chính trong nước và quốc tế. Ngoài ra, ngân hàng thương mại Việt Nam còn có điều kiện nhận được sự hỗ trợ về tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nhờ đó tăng cường khả năng quản trị rủi ro nhờ ứng dụng các kỹ năng quản trị hiện đại và tiên tiến của nước ngoài.
Thứ tư, mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính tại Việt Nam ngày càng tăng do sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các định chế tài chính nước ngoài vào thị trường trong nước. Sự cạnh tranh này buộc các ngân hàng trong nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, giảm dần sự bảo hộ của Chính phủ. Qua đó thúc đẩy việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý hơn và cải thiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, mức độ chuyên môn hóa ngày càng sâu rộng và hình thành nên các ngân hàng hoạt động kinh doanh chuyên biệt, tập trung vào những lĩnh vực mà mình có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam cũng sẽ được nâng cao do sự liên kết, hợp tác với các định chế tài chính nước ngoài để tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm mới. Quá trình cạnh tranh cũng sẽ tạo ra những tập đoàn tài chính có quy mô lớn, tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực và kinh doanh hiệu quả hơn.
Thứ năm, hội nhập WTO làm tăng tính minh bạch của các ngân hàng thương mại Việt Nam, các ngân hàng trong nước sẽ phải áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc lập báo cáo tài chính và công bố thông tin. Nhờ vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được đánh giá chính xác hơn và có thể so sánh được với các ngân hàng khác cùng quy mô, các ngân hàng cũng dễ dàng hơn trong việc nhìn nhận và đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu của chính mình để đề ra hoặc thay đổi chiến lược kinh doanh phù hợp.
- Cơ hội gián tiếp: Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam cũng được hưởng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) trong lĩnh vực thương mại hàng hóa theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu do các hàng rào thuế quan ngày càng bị cắt giảm. Các doanh nghiệp này chính là đối tượng khách hàng tiềm năng của ngân hàng, các doanh nghiệp phát triển kéo theo quy mô hoạt động tăng, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng (thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ…) ngày càng gia tăng, nhờ vậy hệ thống ngân hàng có điều kiện phát triển.
Mặt khác, cùng với việc mở cửa thị trường trong nước, sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước ngày càng nhiều, cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa sẽ diễn ra mạnh mẽ. Đây chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải tự thay đổi, điều chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nếu muốn tồn tại. Nhờ vậy, mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh ngày càng giảm, góp phần làm cho hoạt động ngân hàng ngày càng an toàn và lành mạnh.
2.2. Những thách thức
Một là, gia nhập WTO đặt ngân hàng thương mại Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt. Mở cửa cho sự tham gia của ngân hàng nước ngoài quá mức có thể gây ra hiện tượng những ngân hàng nước ngoài lớn chi phối hoạt động cả hệ thống ngân hàng quốc gia và sự lệ thuộc của nền kinh tế vào một số ít ngân hàng nước ngoài. Hoạt động của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa với những sản phẩm mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất nhanh sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của từng quốc gia.
Các ngân hàng nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt, có thể gây ra những xung đột về lợi ích giữa các nhóm khác nhau, ảnh hưởng đến đặc quyền kinh doanh của các ngân hàng trong nước. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam còn thấp do tiềm lực tài chính yếu, chất lượng dịch vụ tài chính còn thấp, sản phẩm dịch vụ cung cấp còn đơn điệu, nền tảng công nghệ ngân hàng lạc hậu, kỹ năng quản trị điều hành còn yếu. Ngược lại, các định chế tài chính nước ngoài vốn có thế mạnh về tiềm lực tài chính, kỹ năng quản trị tiên tiến, nền tảng công nghệ hiện đại, sản phẩm dịch vụ đa dạng và chất lượng dịch vụ cao. Các định chế tài chính nước ngoài cũng được hưởng đầy đủ các chế độ đãi ngộ quốc gia như một ngân hàng trong nước. Do vậy, các ngân hàng nước ngoài có nhiều lợi thế hơn trong cạnh tranh và thị phần của ngân hàng thương mại sẽ bị co hẹp lại nếu không có chiến lược kinh doanh hợp lý.
Hai là, gia nhập WTO cũng đặt ngân hàng thương mại Việt Nam trước nguy cơ phải đối mặt với nhiều rủi ro, như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá… Với việc mở cửa thị trường tài chính, thị trường tài chính Việt Nam sẽ có mối quan hệ chặt chẽ và trở thành một bộ phận của thị trường tài chính toàn cầu. Như vậy, bất kỳ một sự biến động dù là nhỏ bé của thị trường tài chính toàn cầu cũng sẽ gây tác động đến thị trường tài chính trong nước. Để minh chứng cho điều này, có thể thấy bất kỳ động thái nào của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất cơ bản (FED Fund Target Rate) cũng ngay lập tức tác động đến mặt bằng lãi suất ngoại tệ trong nước và gián tiếp tác động đến lãi suất nội tệ. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Ba là, giống như ngân hàng thương mại Việt Nam, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Hội nhập WTO đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh mạnh mẽ. Nếu không nhận thức được những thách thức do quá trình hội nhập mang lại và đề ra chiến lược điều chỉnh cho phù hợp, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản, bị thâu tóm, sáp nhập, thất bại ngay trên sân nhà. Điều đó làm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng thương mại có thể tăng cao, làm tăng rủi ro cho hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, môi trường vốn luân chuyển tự do giữa các nước sẽ kích thích các tổ chức trong nước nhận vốn vay nước ngoài một cách thiếu thận trọng. Nếu những tổ chức kinh tế có hệ số nợ nước ngoài cao bị mất khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng. Nếu nhiều tổ chức có hệ số nợ cao đổ vỡ theo kiểu dây chuyền, nguy cơ này sẽ nhanh chóng bị khuếch đại gây nguy hiểm cho hệ thống ngân hàng.
3. Định hướng hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng, việc các ngân hàng thương mại trong nước nâng cao trình độ quản trị tài sản nợ – tài sản có, học hỏi kinh nghiệm quản trị tài sản nợ – tài sản có từ các ngân hàng nước ngoài là vô cùng cần thiết. Để đạt được hiệu quả tốt nhất, hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nên được thực hiện theo hướng như sau:
- Trước hết, danh mục tài sản nợ, tài sản có phải được nhìn nhận như một thể thống nhất trong quá trình quản trị. Để đạt được mục tiêu kế hoạch đã đề ra, nhà quản trị phải chú trọng kiểm soát quy mô, cấu trúc, chi phí và thu nhập của cả hai bên tài sản có và tài sản nợ.
- Thu nhập và chi phí có thể phát sinh từ cả tài sản có và tài sản nợ. Do đó, chính sách của ngân hàng cần được điều chỉnh phù hợp nhằm tối đa hóa thu nhập, tối thiểu hóa chi phí trong mọi hoạt động của ngân hàng dù hoạt động đó xuất phát từ phía tài sản nợ hay tài sản có. Quản trị tài sản nợ và tài sản có phải là một quá trình thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau để tối đa hóa thu nhập của ngân hàng đồng thời giúp kiểm soát chặt chẽ các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.
Cụ thể hơn, chúng ta sẽ xem xét từng yêu cầu riêng đối với quản trị tài sản nợ và quản trị tài sản có.
- Đối với quản trị tài sản nợ Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Để hạn chế rủi ro, chiến lược quản lý tài sản nợ của ngân hàng là phải xây dựng được một kết cấu tài sản nợ hợp lý để giảm tới mức thấp nhất mức độ ảnh hưởng của thị trường, hạn chế tình trạng rút tiền ồ ạt của khách hàng.
Trước hết, ngân hàng phải đa dạng hóa nguồn vốn. Trong kết cấu tài sản nợ của ngân hàng, những khoản tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn có chi phí tương đối thấp nhưng lại có thể bị rút ra bất kỳ lúc nào. Ngược lại, những khoản tiền gửi có kỳ hạn tuy có chi phí cao hơn nhưng lại cung cấp cho ngân hàng một nguồn vốn ổn định và dài hạn hơn. Đặc biệt là các loại chứng chỉ tiền gửi hầu như không có rủi ro rút vốn trước hạn và luôn đảm bảo cho ngân hàng một nguồn vốn ổn định. Như vậy, rõ ràng một nguồn vốn đa dạng với nhiều loại kỳ hạn khác nhau sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế được rủi ro do việc khách hàng rút tiền ồ ạt – loại rủi ro vô cùng nguy hiểm, liên quan tới sự sống còn của ngân hàng. Bên cạnh đa dạng hóa kỳ hạn, ngân hàng cũng phải sử dụng các công cụ huy động vốn đa dạng để hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm của ngân hàng.
Ngoài ra, việc tăng cường nguồn vốn dài hạn cũng vô cùng quan trọng. Với nguồn vốn dài hạn, ngân hàng giảm được rủi ro thanh khoản, tránh phải dự trữ quá cao về thanh khoản, song lại làm cho chi phí của ngân hàng tăng lên. Do vậy, để đạt được các mục tiêu hợp lý trong từng thời kỳ, mỗi ngân hàng cần chủ động điều chỉnh kết cấu các loại tài sản nợ cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của hoạt động kinh doanh.
- Đối với quản trị tài sản có
Để hạn chế rủi ro và đáp ứng được các nhu cầu thanh toán chi trả thường xuyên và đột xuất, mỗi ngân hàng cần xây dựng được một kết cấu tài sản có và một mức dự trữ hợp lý.
Trước hết, ngân hàng cần đa dạng hóa các khoản mục tài sản có để phân tán rủi ro. Tiếp theo, để thiết lập được một mức dự trữ tài sản có hợp lý, ngân hàng cần xác định được giới hạn về dự trữ cho các nhu cầu thanh toán, dự báo được những biến động thông thường của thanh khoản. Đồng thời phải kiểm soát được những yếu tố tác động có thể làm tăng hoặc giảm trạng thái thanh khoản. Trạng thái thanh khoản cơ bản hàng ngày của ngân hàng được tính toán dựa trên cơ sở số liệu lịch sử của hoạt động cho vay và huy động vốn tiền gửi, kết hợp với việc xem xét các yếu tố tác động làm thay đổi nhu cầu thanh khoản thường xuyên như: các cam kết tín dụng, yếu tố thời vụ, sở thích của nhà đầu tư…
Theo truyền thống, để đạt được mục đích thanh khoản, các ngân hàng thường duy trì dự trữ tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác. Rõ ràng rủi ro của ngân hàng có thể được giảm bớt nếu ngân hàng dự trữ một số lượng lớn các tài sản có lỏng như: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hay các chứng từ có giá. Nhưng bằng cách này sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng. Để giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa thanh khoản và mục tiêu lợi nhuận trong một khoản mục tài sản có, mỗi ngân hàng phải thường xuyên điều chỉnh tỷ trọng các loại tài sản có cho phù hợp với biến động của môi trường kinh doanh.
II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
1. Các giải pháp đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam
1.1. Điều hành linh hoạt, thận trọng chính sách tiền tệ
Điều hành linh hoạt, thận trọng chính sách tiền tệ, lãi suất và tỷ giá để tạo môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, kiểm soát lạm phát; hạn chế sử dụng các biện pháp can thiệp hành chính đối với thị trường để tránh gây sốc hoặc làm gia tăng rủi ro đối với các tổ chức tín dụng.
Đảm bảo nắm bắt, phân tích, đánh giá kịp thời diễn biến của thị trường tài chính, trong đó, nắm bắt nhanh những diễn biến của các yếu tố thị trường như: lãi suất, tỷ giá, giá vàng, giá cổ phiếu,.. dự báo diễn biến tình hình kinh tế có tác động liên quan đến ngân hàng nhằm phục vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý của Ngân hàng nhà nước. Tổ chức và triển khai kịp thời cơ chế chính sách của Ngân hàng nhà nước theo chương trình kế hoạch cụ thể đối với các tổ chức tín dụng, hạn chế các rủi ro liên quan đến pháp luật phát sinh.
1.2. Thanh tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương mại
Vai trò của Ngân hàng nhà nước trong việc giám sát, quản lý rủi ro là rất quan trọng. Ngân hàng nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý và ban hành các chính sách liên quan tới hoạt động ngân hàng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại. Hiện nay, hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng thương mại được tiến hành định kỳ một lần một năm, trừ các trường hợp bất thường cần kiểm tra đột xuất; thời gian kiểm tra từ 7 đến 10 ngày. Để kịp thời phát hiện và khắc phục các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Ngân hàng nhà nước nên tổ chức thanh tra, giám sát thường xuyên hơn, đồng thời, cần phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra cả về số lượng, chất lượng và tham gia các hiệp ước, thỏa thuận về thanh tra, giám sát ngân hàng và an toàn hệ thống tài chính.
Ngân hàng nhà nước cần tập trung thanh tra, giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay bất động sản, tín dụng tiêu dùng, cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, đầu tư; tài trợ dự án, kinh doanh ngoại hối, nghiệp vụ ngân hàng mới. Ngân hàng nhà nước cần hình thành cơ chế điều hành lãi suất, cùng với nghiệp vụ thị trường mở theo hướng khuyến khích các ngân hàng thương mại vay mượn lẫn nhau trên thị trường trước khi tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng nhà nước.
Tiến hành những cuộc khảo sát về phản ứng của các thành viên thị trường (bao gồm cả dân chúng và các doanh nghiệp) trước những thay đổi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, nhất là lĩnh vực tiền tệ – cơ sở quan trọng để nhận định về cơ chế tác động của chính sách tiền tệ đến thị trường. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Ngân hàng nhà nước ngoài việc kiểm soát mức độ an toàn trong chi trả của tổ chức tín dụng theo Quyết định số 457/2022/QĐ-NHNN và Quyết định số 03/2024/QĐ- NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng còn phải kiểm soát thông qua các chỉ tiêu khác như dự trữ bắt buộc hoặc khe hở kỳ hạn để bảo vệ các tổ chức tín dụng tránh khỏi những rủi ro có thể làm đổ vỡ hệ thống như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản,…
1.3. Hoàn thiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Việc giám sát hoạt động ngân hàng theo các tỷ lệ an toàn phải dựa trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu gốc. Nhưng tới nay một số chỉ tiêu gốc chưa được thay đổi cho phù hợp với văn bản về tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng và văn bản phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro do ngân hàng nhà nước ban hành. Vì vậy, ở mỗi tổ chức tín dụng cách tính toán các chỉ tiêu này còn có sự khác nhau.
Thứ nhất là về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá các tổ chức tín dụng. Hiện tại, việc tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước dường như chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của Chính phủ bằng nguồn ngân sách nhà nước. Song để tạo ra hàng chục nghìn tỷ đồng tài trợ cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước là một thách thức khó vượt qua của ngân sách nhà nước trong bối cảnh hiện nay.Vì vậy, nếu không có giải pháp mạnh, có tính khả thi cao hơn để tăng vốn tự có cho hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước như cổ phần hóa, phát hành trái phiếu dài hạn… thì đến năm 2027 các ngân hàng thương mại nhà nước không thể đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế.
Thứ hai là tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn. Ngân hàng nhà nước phải quy định tỷ lệ chuyển vốn ngắn hạn sang cho vay trung và dài hạn trong từng thời kỳ để đảm bảo an toàn cho các tổ chức tín dụng. Việc quy định tỷ lệ cứng như hiện nay đối với các ngân hàng thương mại là chưa hợp lý, chưa phù hợp với khả năng quản lý kỳ hạn của từng ngân hàng. Bởi mỗi ngân hàng có đặc thù kinh doanh riêng, do quy mô, cấu trúc, kỳ hạn, tính ổn định và thanh khoản của nguồn vốn là không giống nhau. Một ngân hàng có kỳ hạn nguồn vốn dài hay tính ổn định của nguồn vốn cao thì việc chuyển hoá nguồn vốn có thể có tỷ lệ cao hơn mà vẫn đảm bảo an toàn và ngược lại. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Thứ ba là tỷ lệ nợ quá hạn. Để đánh giá chính xác mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại cần phải quan niệm nợ quá hạn theo chuẩn mực quốc tế. Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành quyết định 127/2022/QĐ-NHNN có nội dung, quan niệm nợ quá hạn đã có sự phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, để văn bản này thực sự phát huy tác dụng, góp phần lành mạnh hóa môi trường tín dụng của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng nhà nước phải đưa ra chế tài xử phạt đối với các tổ chức tín dụng không thực hiện chuyển nợ quá hạn theo đúng quy định, đồng thời phải sửa đổi các văn bản có liên quan như hệ thống tài khoản kế toán và văn bản trích lập dự phòng rủi ro (theo văn bản trích dự phòng rủi ro hiện tại thì chưa trích dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ được gia hạn nợ), để nợ quá hạn được phản ánh đầy đủ, chính xác và thể hiện rõ chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
Ngoài ra, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của nợ quá hạn không có khả năng thu hồi dẫn đến sự suy giảm của vốn tự có, cần sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi so với vốn tự có. Chỉ tiêu này càng lớn, thể hiện sự thâm hụt vốn tự có càng nhiều.
1.4. Các giải pháp khác
Ngân hàng nhà nước cần tăng cường quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ cho công tác quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại thông qua việc phổ biến kinh nghiệm về quản lý rủi ro của các ngân hàng trong và ngoài nước, ban hành các văn bản thống nhất về quản lý rủi ro. Hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ nghiệp vụ,…
Khuyến khích các ngân hàng và đứng ra tổ chức các buổi họp giữa các ngân hàng để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm cũng như mô hình quản trị tài sản nợ – tài sản có để giúp các ngân hàng thương mại có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm giảm bớt những rủi ro mà các ngân hàng thương mại có thể gặp.
Hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin CIC (Trung tâm thông tin tín dụng – Credit Information Center) giúp các tổ chức tín dụng có đầy đủ thông tin về khách hàng, phục vụ cho công tác thẩm định, đánh giá khách hàng trước khi quyết định cho vay.
Chỉ đạo việc sáp nhập các ngân hàng có năng lực tài chính yếu, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, tạo niềm tin cho người dân đối với hệ thống ngân hàng trong nước.
Bên cạnh đó Ngân hàng nhà nước cần xây dựng và kịp thời đưa vào áp dụng qui trình giám sát và cảnh báo sớm rủi ro để từ đó các ngân hàng thương mại có những chính sách phòng chống rủi ro hiệu quả.
2. Các giải pháp đối với các Ngân hàng thương mại trong nước Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
2.1. Duy trì sự cân xứng về kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ – tài sản có
Ta vẫn biết rằng nguyên nhân chính đặt các ngân hàng thương mại trước rủi ro lãi suất là sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có, do đó để hạn chế rủi ro lãi suất, các ngân hàng cần duy trì sự cân xứng về kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có. Tuy nhiên, ví dụ sau đây sẽ cho thấy rằng khi kỳ hạn tài sản nợ và tài sản có cân xứng với nhau thì ngân hàng vẫn có thể gặp rủi ro lãi suất.
Giả sử ngân hàng huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi với mệnh giá 100 USD, kỳ hạn 1 năm, lãi suất đơn 15%. Nghĩa là khi đến hạn ngân hàng sẽ thanh toán cho người gửi tiền cả gốc lẫn lãi là 115 USD. Ta có thể biểu diễn luồng tiền của chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 năm như sau:
Giả sử ngân hàng dùng vốn huy động để cho các công ty vay với mức lãi suất 15% với điều kiện gốc được thanh toán một nửa sau 6 tháng, phần còn lại được thanh toán vào thời điểm đến hạn. Trong trường hợp này kỳ hạn đến hạn của khoản tín dụng này bằng với kỳ hạn của vốn huy động là 1 năm. Ta có thể biểu diễn luồng tiền của khoản tín dụng kỳ hạn 1 năm như sau: 6 tháng
Nếu mức lãi suất thị trường 6 tháng cuối năm không thay đổi thì lãi ngân hàng thu được từ việc tái đầu tư 57,5 USD thu được trong 6 tháng đầu là: (57,5 x 1/2 x 15%) = 4,3125 USD. Vậy luồng tiền thời điểm cuối năm ngân hàng thu về là: (50 + 3,75 + 57,5 + 4,3125) = 115,5625 Như vậy, mặc dù kỳ hạn của tín dụng và chứng chỉ tiền gửi đều là 1 năm nhưng chênh lệch giữa luồng tiền thu về và luồng tiền phải chi trả vào thời điểm cuối năm là 0,5625 USD. Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do ngân hàng đã tái đầu tư phần gốc và lãi thu được sau 6 tháng đầu với lãi suất 15%/năm.
Giả sử 6 tháng cuối năm lãi suất giảm xuống, còn 12%/ năm. Khoản 57,5 USD đem đầu tư 6 tháng cuối năm chỉ mang lại cho ngân hàng: 57,5 x 1/2 x 12% = 3,45 USD. Vậy luồng tiền thời điểm cuối năm ngân hàng thu về là: 114,70 USD, ngân hàng lỗ 0,3 USD. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Qua ví dụ trên ta thấy rằng ngân hàng chịu lỗ do lãi suất thay đổi ngay cả trong trường hợp kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ là cân xứng với nhau (1 năm). Mặc dù các kỳ hạn đã cân xứng với nhau nhưng thực chất luồng tiền tín dụng được thu hồi sớm hơn so với thời hạn của tiền gửi. Như vậy, chỉ trong trường hợp kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau thì ngân hàng mới có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất một cách triệt để.
Để duy trì sự cân xứng về kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có và tài sản nợ, tôi xin kiến nghị một số giải pháp sau:
- Sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hoá
Các ngân hàng có thể thông qua nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản để thay đổi bảng cân đối kế toán của mình. Chứng khoán hóa tài sản là việc ngân hàng đem tài sản có ở nội bảng chưa đến hạn của mình bán cho những người đầu tư dưới hình thức phát hành chứng khoán.
- Giả sử một ngân hàng có bảng cân đối tài sản như sau:
Từ bảng cân đối tài sản trên, ta thấy ngân hàng đang đứng trước rủi ro lãi suất vì DA > kDL. Ngân hàng đã tài trợ cho các khoản tín dụng thế chấp 30 năm bằng các khoản tiền gửi ngắn hạn, do đó kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có và tài sản nợ là không cân xứng với nhau.
Để khắc phục sự không cân xứng này, ngân hàng có thể sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa, theo đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Ngân hàng sẽ thu được tiền từ những nhà đầu tư mua các chứng khoán này. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao.
Kết quả là ngân hàng đã thay thế được khoản tín dụng thế chấp có kỳ hạn 30 năm thành tiền mặt. Nếu bỏ qua các chi phí phát sinh trong quá trình chứng khoán hóa thì bảng cân đối tài sản của ngân hàng sẽ có kết cấu mới như sau:
Từ bảng cân đối tài sản trên, ta thấy sự không cân xứng về kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có và tài sản nợ đã được giảm, vì bây giờ cả DA và DL đều thấp, do đó ngân hàng đã có thể hạn chế bớt được rủi ro lãi suất.
Hoạt động chứng khoán hoá thực tế chưa phát sinh tại Việt Nam. Luật Chứng khoán mới ban hành cũng chưa quy định cụ thể về khuôn khổ pháp lý cho loại hình nghiệp vụ rất mới này (bao gồm cả các vấn đề như định nghĩa về chứng khoán hoá, các loại hình chứng khoán hoá, cơ chế để thực hiện hoạt động chứng khoán hoá, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hoá, quản lý nhà nước đối với hoạt động này để bảo vệ nhà đầu tư…). Bởi vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Chứng khoán, trong đó có những quy định liên quan đến hoạt động chứng khoán hóa để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, song phải đảm bảo quản lý chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
- Tham gia các giao dịch hoán đổi lãi suất
Giao dịch hoán đổi lãi suất là một giao dịch, trong đó bên mua và bên bán thoả thuận sẽ thanh toán lẫn cho nhau các khoản tiến lãi theo định kì trong một thời hạn nhất định. Tại những ngày giá trị giao dịch, bên mua sẽ thanh toán lãi suất cố định cho bên bán và bên bán sẽ thanh toán lãi suất thả nổi cho bên mua. Thông qua giao dịch hoán đổi lãi suất, ngân hàng mua (tức là ngân hàng thanh toán lãi suất cố định) nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình thức lãi suất thả nổi sang hình thức lãi suất cố định để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có. Trong khi đó, ngân hàng bán (tức là ngân hàng thanh toán lãi suất thả nổi) nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình thức lãi suất cố định sang hình thức lãi suất thả nổi để phù hợp với tính chất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có.
Để làm rõ thêm vấn đề này, ta xét ví dụ sau. Giả sử có 2 ngân hàng như sau. Ngân hàng A có đặc trưng tài sản nợ là vốn có kỳ hạn dài với lãi suất cố định, đặc trưng của tài sản có là các khoản tín dụng có mức lãi suất thay đổi 6 tháng 1 lần theo sự thay đổi của lãi suất thị trường. Ngân hàng A đang phải đối mặt với rủi ro lãi suất do có DA – kDL < 0. Do tính chất lãi suất của tài sản có là thả nổi trong khi của tài sản nợ là cố định nên nếu lãi suất thị trường giảm xuống, ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Để hạn chế rủi ro lãi suất, ngân hàng A sẽ muốn chuyển số tài sản nợ của mình từ hình thức lãi suất cố định sang hình thức lãi suất thả nổi để phù hợp với tính chất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có. Để làm được điều này, ngân hàng A có thể tiến hành giao dịch hoán đổi lãi suất với vai trò là người bán hợp đồng, tức là người thanh toán lãi suất thả nổi trong giao dịch hoán đổi lãi suất.
Còn ngân hàng B là ngân hàng có đặc trưng tài sản có là các khoản cho vay bất động sản có thế chấp kỳ hạn dài và có lãi suất cố định, đặc trưng của tài sản nợ là các khoản huy động tiết kiệm có kỳ hạn ngắn (dưới 1 năm). Khi đến hạn, các khoản tiết kiệm được thanh toán và tiếp tục được huy động tuần hoàn với mức lãi suất thị trường hiện hành. Kết quả là, do đặc thù cơ cấu kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có, ngân hàng B bộc lộ rủi ro lãi suất ngược chiều với ngân hàng A, cụ thể là DA – kDL > 0. Do tính chất lãi suất của tài sản nợ là thả nổi trong khi của tài sản có là cố định nên nếu lãi suất thị trường tăng lên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Để hạn chế rủi ro lãi suất, ngân hàng B sẽ muốn chuyển số tài sản nợ của mình từ hình thức lãi suất thả nổi sang hình thức lãi suất cố định để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có. Để làm được điều này, ngân hàng B có thể tiến hành giao dịch hoán đổi lãi suất với vai trò là người mua hợp đồng, tức là người thanh toán lãi suất cố định trong giao dịch hoán đổi lãi suất. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Tóm lại, thông qua giao dịch hoán đổi lãi suất, ngân hàng thanh toán lãi suất cố định có thể chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình thức lãi suất thả nổi sang hình thức lãi suất cố định để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có. Trong khi đó, ngân hàng thanh toán lãi suất thả nổi có thể chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình thức lãi suất cố định sang hình thức lãi suất thả nổi để phù hợp với tính chất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có.
Ngoài ra, thông thường kỳ hạn của tài sản có thường lớn hơn so với tài sản nợ vì phần lớn nguồn vốn tiền gửi là ngắn hạn trong khi nhu cầu vay trung dài hạn là rất lớn, do đó, ngoài hai biện pháp đã trình bày ở trên, để duy trì sự cân xứng về kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ – tài sản có trong trường hợp này, các ngân hàng có thể tăng kỳ hạn của tài sản nợ bằng cách phát hành các công cụ nợ với kỳ hạn dài hơn như chủ động phát hành trái phiếu để huy động vốn và rút ngắn kì hạn danh mục đầu tư.
2.2. Kiểm soát chất lượng tăng trưởng tài sản có và dư nợ tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu
Kiềm chế tốc độ tăng trưởng và kiểm soát chất lượng tăng trưởng của tài sản có và dư nợ tín dụng để đảm bảo sự an toàn trong tăng trưởng dư nợ tín dụng.
Việc mở rộng quy mô hoạt động phải gắn liền với việc cải thiện tương xứng về năng lực quản trị, kiểm soát hoạt động. Nâng cao năng lực quản trị điều hành trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc, thông lệ quản trị ngân hàng hiện đại. Trước hết, cần quan tâm hoàn thiện các chính sách, quy trình, thủ tục nội bộ phù hợp để kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trọng yếu.
Nhanh chóng giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng xuống mức trung bình trong khu vực vào năm 2027; Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tăng cường trang bị các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác thu thập và xử lý thông tin; tiếp tục triển khai các mô hình tổ chức và quản trị hiện đại, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế; phát triển hệ thống thông tin quản trị. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
2.3. Xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa và có kinh nghiệm về quản lý rủi ro
Cán bộ quản lý rủi ro hiện nay thường là những người trẻ, có kiến thức khá tốt song chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện các công tác quản lý của ngân hàng, do đó các ngân hàng thương mại cần có chương trình đào tạo thích hợp để họ có thể làm tốt công việc của mình. Các ngân hàng thương mại cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, đo lường, phân tích rủi ro cho cán bộ. Trong việc đánh giá rủi ro, yếu tố kinh nghiệm của nhân viên rất quan trọng nên ngân hàng thương mại cần đào tạo và nuôi dưỡng một đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa và có kinh nghiệm về quản lý rủi ro.
Với chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc phải thực hiện, các ngân hàng cần bổ sung thêm cán bộ đủ trình độ để các bộ phận quản lý rủi ro có điều kiện triển khai và thực hiện tốt công việc của mình. Nâng cao đạo đức của cán bộ công nhân viên để giảm thiểu rủi ro đạo đức, đảm bảo việc thẩm định tài sản, phương án vay vốn một cách khách quan, trung thực góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng. Để làm được như vậy, ngân hàng cần có chính sách nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ ngân hàng như: có cơ chế tiền lương phù hợp với từng vị trí công tác, từng nhiệm vụ được giao; có cơ chế bổ nhiệm, thưởng phạt hiệu quả; có sự trao đổi một cách dân chủ giữa nhân viên và ban lãnh đạo ngân hàng…
Trong hoạt động hàng ngày của mình, các bộ phận quản lý rủi ro cần rất nhiều thời gian cho việc thẩm định, rà soát, kiểm tra lại các hồ sơ do các đơn vị kinh doanh gửi lên. Do số lượng các giao dịch nhiều nên để hỗ trợ cho bộ phận quản lý rủi ro, các ngân hàng nên có các hướng dẫn cụ thể cho các bộ phận kinh doanh về cách khai thác thông tin và lập hồ sơ chứng từ, đồng thời phải nâng cao trách nhiệm kiểm soát của các trưởng bộ phận kinh doanh nói chung.
2.4. Phân loại các kỳ hạn theo đúng bản chất của nó, xây dựng quy trình xét duyệt tín dụng chặt chẽ và cơ cấu đầu tư hợp lý
Trong quản trị tài sản nợ – tài sản có, các Ngân hàng cần phân loại các kỳ hạn theo đúng bản chất của nó. Cụ thể: đối với các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt, khi phân tích kỳ hạn không được dựa vào kỳ hạn khách hàng cam kết gửi mà phải đưa vào khoản tiền gửi không kỳ hạn. Nghiêm túc thực hiện quy định về việc tính số tiền dự trữ bắt buộc phải duy trì, các khoản tiền gửi có kỳ hạn ghi trên hợp đồng phải phản ánh đúng kỳ hạn mà khách hàng thực gửi.
Xây dựng quy trình xét duyệt tín dụng chặt chẽ để có thể xây dựng được kế hoạch giải ngân tương đối chính xác. Đồng thời thiết lập tốt mối quan hệ với khách hàng để có những dự báo đúng về khả năng rút vốn, khả năng trả nợ của khách hàng nhằm thực hiện tốt công tác dự báo luồng vốn vào – ra, phục vụ cho hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng.
Xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý, bên cạnh việc tập trung đầu tư vào lĩnh vực truyền thống của ngân hàng, cần mở rộng sang những lĩnh vực khác để có thể giảm thiểu rủi ro do yếu tố khách quan mang lại; tăng cường nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng đặc biệt là các dịch vụ phi tín dụng.
Đa dạng hóa về kỳ hạn của danh mục đầu tư, mục đích là để hạn chế rủi ro lãi suất của danh mục đầu tư, phù hợp với các mục tiêu lợi tức và thanh khoản của ngân hàng. Các chứng khoán sẽ có sự thay đổi đáng kể về giá khi lãi suất thay đổi, từ đó ảnh hưởng tới lợi tức khi bán chứng khoán. Nếu số chứng khoán trong danh mục đầu tư có các thời gian đáo hạn khác nhau thì vốn và lãi thu được từ các chứng khoán có thời hạn ngắn hơn có thể được tái đầu tư vào các chứng khoán khác phù hợp nhất với khoản mục đầu tư. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
2.5. Chuyên nghiệp hóa việc quản trị rủi ro, cơ cấu hợp lý Hội đồng Quản lý tài sản nợ – tài sản có
Hiện nay, thông thường mỗi bộ phận nghiệp vụ trong một ngân hàng, như tín dụng, ngân quỹ, thanh toán quốc tế… sẽ đảm đương luôn việc phân tích những rủi ro trong lĩnh vực theo dõi của mình và báo cáo lên trên, chứ trên thực tế, chưa có một bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro. Để chuyên nghiệp hóa việc quản trị rủi ro thì cần thiết phải tiến đến hình thành hai ban như mô hình ngân hàng hiện đại. Trong đó, một ban quản lý rủi ro trực thuộc hội đồng quản trị, ban kia chuyên quản lý tài sản nợ và tài sản có. Không chỉ quản trị các loại rủi ro mang tính kỹ thuật mà các ban này còn đo lường các rủi ro về thị trường, hoạt động, kịp thời tiên lượng được những tình huống khủng hoảng như biến động của nền kinh tế, hoặc thậm chí như một tin đồn thất thiệt gây hoang mang trong dân cư, để có thể có những đối phó thích hợp và nhanh chóng.
Hội đồng Quản lý tài sản nợ – tài sản có nên gồm 3 bộ phận:
- Ban quản trị tài sản nợ – tài sản có
Gồm: Giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, thêm 1 hoặc 2 thành viên của Ban Giám đốc; Trưởng bộ phận Ngân quỹ; Trưởng bộ phận kiểm soát rủi ro.
Ban quản trị tài sản nợ – tài sản có có trách nhiệm quyết định về chiến lược quản lý rủi ro và kiểm tra chiến lược quản lý rủi ro; theo dõi tính thanh khoản, vốn chủ sở hữu, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,…
- Bộ phận Ngân quỹ
Bộ phận Ngân quỹ có trách nhiệm thực hiện chiến lược quản lý rủi ro do Ban quản trị tài sản nợ – tài sản có đề ra; giữ quỹ và tạo vốn. Sau đó báo cáo với ban quản trị tài sản nợ – tài sản có về các giao dịch, rủi ro và tình hình thị trường.
- Bộ phận Kiểm soát rủi ro Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Bộ phận kiểm soát rủi ro có trách nhiệm theo dõi các rủi ro; tình hình sử dụng các công cụ tài chính; tình hình lãi lỗ và báo cáo cho Giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, ban quản trị tài sản nợ – tài sản có, Ban kiểm toán trực thuộc hội đồng quản trị.
Ngoài ra, mỗi ngân hàng thương mại nên tự xây dựng cho mình một Quy trình báo cáo hàng ngày / hàng tháng / hàng quý lên Hội đồng Quản lý tài sản nợ – tài sản có, Ban Giám đốc và Ban Kiểm toán phù hợp với ngân hàng mình và tình hình thực tế.
2.6. Tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại
Vốn tự có của ngân hàng thương mại được xem là tấm rào chắn để bảo vệ ngân hàng đối phó có hiệu quả với các cú sốc từ bên ngoài, đảm bảo an toàn trong kinh doanh Ngân hàng. Nếu vốn tự có quá thấp sẽ làm cho các ngân hàng thương mại bị hạn chế trong mở rộng thị phần cho vay và huy động vốn, sẽ bị hạn chế trong việc mở các chi nhánh, phòng giao dịch nên bị thua kém, bất lợi về khả năng cạnh tranh. Trong khi đó, quy mô vốn tự có của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé so với mức bình quân của các nước trong khu vực. Vốn tự có thấp nên việc chống đỡ với những hiện tượng đột biến rút tiền gửi, thiếu hụt thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ rất yếu.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình doanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động các ngân hàng thương mại phải thường xuyên cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa rủi ro từ xa có hiệu quả. Trên thực tế, ngân hàng có nhiều biện pháp để phòng ngừa rủi ro của mình như: nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa các nguồn vốn và danh mục đầu tư, bảo hiểm tiền gửi…Khi tất cả các biện pháp ngăn chặn rủi ro không còn hiệu quả thì vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ là biện pháp chống đỡ cuối cùng. Vốn chủ sở hữu bù đắp cho những tổn thất bắt nguồn từ những khoản cho vay và đầu tư thiếu hiệu quả, từ sự quản lý yếu kém, giúp cho ngân hàng có thể giữ vững được hoạt động cho tới khi các vấn đề khó khăn được giải quyết. Vì vậy, để chống đỡ lại những rủi ro ngày càng cao gây ra từ nhiều nguồn khác nhau, ngân hàng cần phải tăng vốn tự có của mình.
Những thay đổi trong lãi suất có thể khiến cho ngân hàng có nguy cơ tổn thất, và trong một số trường hợp thậm chí có thể đe dọa sự sống còn của ngân hàng. Ngoài các hệ thống và kiểm soát đầy đủ, an toàn thì vốn có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và giảm thiểu rủi ro này. Trong những trường hợp mà ngân hàng phải đối mặt với tình hình rủi ro lãi suất đáng kể trong quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh của mình, thì ngân hàng cần phải phân bổ một lượng vốn đáng kể để hỗ trợ cho rủi ro này.
Khi ngân hàng tăng vốn tự có sẽ làm cho năng lực tài chính của bản thân ngân hàng tăng lên, các rủi ro của khách hàng và của chính ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh được đảm bảo. Tăng vốn tự có còn giúp cho quy mô vốn của ngân hàng tăng lên, đáp ứng được những yêu cầu về mặt quản lý của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước khi mà vấn đề kiểm soát hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên chặt chẽ hơn nhằm đáp ứng cho yêu cầu hội nhập của nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, tăng vốn tự có góp phần làm cho quy mô của các ngân hàng tăng lên, giúp ngân hàng triển khai thêm nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới và gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng so với các ngân hàng nước ngoài. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại nên có một chiến lược tăng vốn tự có hợp lý, nên tăng vốn có lộ trình nhất định và nên sử dụng cả hai phương thức tăng vốn là tăng vốn từ bên trong và tăng vốn từ bên ngoài. Phương thức tăng vốn từ bên trong là sự tăng vốn do tăng lợi nhuận giữ lại. Đây là lợi nhuận ngân hàng đạt được trong năm, nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. Phương pháp này giúp ngân hàng tăng vốn tự có mà không mà không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được các chi phí huy động vốn lãi suất thả nổi, không tốn kém chi phí, không phải hoàn trả đồng thời không làm loãng quyền kiểm soát ngân hàng cũng như không đe dọa đến việc mất quyền kiểm soát của các cổ đông hiện thời. Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức là thường chỉ áp dụng được với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông và có nhiều bất lợi về thuế. Bổ sung cho phương thức tăng vốn từ bên trong là phương thức tăng vốn từ bên ngoài thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu mới hoặc trái phiếu có thể chuyển đổi. Phát hành thêm cổ phiếu mới là một hình thức huy động vốn phổ thông của các ngân hàng thương mại cổ phần. Ưu điểm của hình thức này là ngân hàng không phải hoàn trả cho cổ đông và cổ tức của cổ phiếu thường không phải là gánh nặng về tài chính cho ngân hàng trong những năm làm ăn thua lỗ. Phương pháp này làm tăng quy mô vốn nên cũng làm tăng khả năng được vay nợ của ngân hàng trong tương lai. Tuy nhiên, chi phí phát hành cao và có thể làm loãng quyền kiểm soát ngân hàng. Với hình thức phát hành trái phiếu chuyển đổi thì chi phí phát hành thấp hơn và không làm phân tán quyền kiểm soát của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi hết hạn, lãi trả cho trái phiếu sẽ là gánh nặng cho ngân hàng về tài chính, làm tăng chi phí hoạt động, giảm khả năng đi vay về sau của ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể thực hiện các biện pháp tăng vốn từ bên ngoài khác như bán tài sản và thuê lại, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu. Khi ngân hàng thực hiện giao dịch bán tất cả hoặc một phần phương tiện văn phòng của mình và thuê lại từ người chủ mới để phục vụ cho các hoạt động của mình, ngân hàng thường thu về những dòng tiền mặt lớn (có thể tái đầu tư với lãi suất hiện tại) và củng cố sức mạnh về vốn. Thành công lớn nhất của những giao dịch bán – thuê lại này đạt được khi lạm phát và tăng trưởng kinh tế đạt mức cao vì nó làm tăng giá trị thị trường của tài sản so với giá trị sổ sách được ghi nhận trong các báo tài chính. Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu nhằm giúp ngân hàng tăng vốn cổ phần và tránh khỏi những chi phí trả lãi phát sinh từ những chứng khoán nợ trong tương lai.
Trong các phương án tăng vốn tự có, không có phương án nào là tối ưu hoàn toàn và phương án này tốt cho thời kỳ này nhưng chưa chắc đã hiệu quả cho các giai đoạn khác. Ngoài ra, sau khi thực hiện quá trình tăng vốn tự có, các ngân hàng thương mại phải quan tâm đến hiệu quả của việc tăng thêm vốn bởi sự tăng lên của lượng bao giờ cũng đòi hỏi sự thay đổi tương ứng về chất. Nếu các ngân hàng không sử dụng lượng vốn tăng thêm một cách có hiệu quả thì e rằng chính lượng vốn tăng thêm đó lại trở thành gánh nặng cho chính bản thân ngân hàng. Các ngân hàng phải đánh giá hiệu quả kinh doanh dự kiến trên cơ sở vốn điều lệ mới. Trong đó nêu rõ các chỉ tiêu dự kiến gồm: mức tăng trưởng Tổng tài sản có, tín dụng, huy động tiền gửi của khách hàng, tiền gửi và vay của các tổ chức tín dụng khác, các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận…Đồng thời, các ngân hàng phải đánh giá khả năng quản trị, điều hành, kiểm soát của Hội đồng quản trị, Ban điều hành và hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy mô vốn và quy mô hoạt động sau khi thay đổi vốn điều lệ.
2.7. Các giải pháp khác Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Hiện nay, vấn đề cung cấp thông tin của ngân hàng đến với khách hàng chưa đủ mạnh. Do đó, các ngân hàng cần chú trọng hơn tới công tác dịch vụ khách hàng. Ngoài cách thông tin như trước đây thì ngân hàng còn nên thường xuyên gửi thư ngỏ đến khách hàng, báo cáo về tình hình kinh doanh của mình có kiểm toán, tận dụng nhiều kênh truyền thông để đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng. Bên cạnh đó, cần tích cực cung cấp thông tin chi tiết về khách hàng, tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, về dư nợ của khách hàng,… cho Ngân hàng nhà nước một cách nhanh chóng để có được một mạng lưới thông tin chuẩn xác hơn.
Để đảm bảo an toàn hoạt động trong ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống nói chung, các ngân hàng trong nước cần hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong việc chia sẻ về kinh nghiệm cũng như mô hình quản trị tài sản nợ – tài sản có. Nếu một ngân hàng không thực hiện tốt công tác quản trị tài sản nợ – tài sản có sẽ dễ dàng gây ra cuộc đua lãi suất, hậu quả của nó có thể làm mất niềm tin của người dân đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến việc huy động vốn của các ngân hàng khác trong hệ thống.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cần tìm kiếm và xây dựng cho mình 1 phần mềm quản trị rủi ro thích hợp với đặc điểm của ngân hàng, giúp nhà quản trị có thể bao quát và giảm thiểu rủi ro nhằm đề ra phương án kinh doanh hiệu quả. Đối với các Ngân hàng chưa đủ điều kiện về tài chính hay quy mô hoạt động thì chưa cần phải mua phần mềm quản trị tài sản nợ – tài sản có, có thể xây dựng mô hình quản lý riêng tùy từng đặc điểm của ngân hàng.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro, trong đó có rủi ro lãi suất. Khi các ngân hàng không duy trì được sự cân xứng về kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có thì rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện. Trên thực tế, đối với các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm, các ngân hàng rất khó dự đoán được khoản tiền này sẽ tăng lên hay giảm xuống; Và dự đoán về khả năng thu hồi nợ đến hạn của khách hàng cũng không chính xác. Do đó, việc xây dựng được một dòng tiền ra – vào cân xứng kỳ hạn rất khó thực hiện. Vì vậy, rủi ro lãi suất luôn luôn tồn tại trong một ngân hàng.
Với mục tiêu nghiên cứu cùng với việc vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, khóa luận đã giải quyết được một số nội dung quan trọng sau:
Một là, Nêu rõ những cơ sở lý luận về quản trị Tài sản nợ – Tài sản có tại các Ngân hàng; mối quan hệ giữa quản trị Tài sản nợ – Tài sản có và kiểm soát rủi ro lãi suất.
Hai là, Đưa ra thực trạng, nguyên nhân và một số biện pháp đã được thực hiện trong công tác kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc quản trị Tài sản nợ – Tài sản có tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm bảo vệ lợi nhuận ngân hàng tránh rủi ro lãi suất.
Ba là, Khóa luận đã đưa ra một số giải pháp, đề xuất đối với ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại nhằm giúp các Ngân hàng thương mại hạn chế những rủi ro lãi suất thông qua quản trị Tài sản nợ – Tài sản có.
Với những kết quả nghiên cứu đã đạt được, hy vọng khóa luận sẽ góp phần thiết thực cho sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm đảm bảo cho các Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay để đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com