Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I: THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1. Bối cảnh thị trường tiền tệ từ cuối năm 2023 đến cuối năm 2025

1.1. Tình hình lãi suất huy động và lãi suất cho vay trên thị trường tiền tệ từ cuối năm 2023 đến cuối năm 2025

Lãi suất huy động và lãi suất cho vay được duy trì khá ổn định cho đến cuối năm 2024. Trong những tháng đầu năm 2025, lạm phát diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, Ngân hàng nhà nước đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ưu tiên thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Từ tháng 01/2025, ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lượng tiền trong lưu thông. Từ đó, các Ngân hàng thương mại bắt đầu tăng lãi suất để huy động vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản.

  • Tình hình lãi suất huy động

Lãi suất huy động VND: được duy trì tương đối ổn định từ cuối năm 2023 cho đến tháng 12/2024. Lãi suất huy động cho tất cả các loại kỳ hạn dao động ở mức 7.2%/năm – 9.5%/năm. Từ đầu năm 2025, các Ngân hàng đã đồng loạt tăng lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi từ dân cư. Lãi suất bình quân huy động vào tháng 04/2025 cho kỳ hạn 3 tháng là 10.32%/năm (tăng khoảng 2%/năm so với năm 2024); 6 tháng là 10.50%/năm (tăng khoảng 1.5%/năm so với năm 2024); 12 tháng là 10.98%/năm (tăng khoảng 1.5%/năm). Lãi suất tiếp tục tăng cho đến tháng 08/2025, lãi suất huy động cho kỳ hạn 3 tháng là 18.20%/năm; 6 tháng là 18.00%/năm; 12 tháng là 17.90%/năm. Như vậy, tính đến tháng 08/2025, lãi suất huy động VND tăng gấp 2 lần so với năm 2024.

  • Bảng 2. Lãi suất huy động

Từ tháng 9/2025, hầu như tất cả các ngân hàng thương mại đều bắt đầu giảm mạnh lãi suất huy động sau khi chỉ số CPI tháng 9/2025 được công bố ở mức thấp nhất kể từ đầu năm. Lãi suất huy động VND các kỳ hạn ngắn và dài đều giảm mạnh kể cả ở các ngân hàng nhỏ vốn luôn dẫn đầu trong những cuộc đua lãi suất. Từ ngày 05/11/2025, thực hiện cơ chế mới theo sự điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm xuống mức thấp. Cuối năm 2025, đầu năm 2026, mặt bằng lãi suất của đa số các ngân hàng đã giảm mạnh xuống dưới mức 10%/năm.

Lãi suất huy động USD: áp dụng theo cơ chế lãi suất thả nổi gắn với lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế nên chịu tác động ảnh hưởng nhiều bởi các đợt điều chỉnh, thay đổi lãi suất của FED. Đến tháng 06/2025, lãi suất của FED ở mức 2%/năm, tuy nhiên, lãi suất tiền gửi USD ở Việt Nam vẫn ở mức 6.5 – 7%/năm, cao hơn 1.25% so với mức lãi suất của trái phiếu chính phủ 1 năm của Mỹ là 5.25%/năm. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Diễn biến lãi suất USD trong nước trong năm 2025 luôn đi ngược lại với thị trường thế giới. Trong khi FED giảm lãi suất cơ bản xuống 2,25% thì lãi suất tiền gửi USD trong nước tăng dần lên 7- 8%. Tiếp đó, khi FED chuẩn bị tăng lãi suất cơ bản thì ở trong nước lại hạ. Tuy nhiên, đợt “đi ngược chiều” này sẽ đem đến kết quả hợp lý là lãi suất USD tại Việt Nam sẽ gần với thị trường thế giới. Chỉ trong khoảng thời gian từ đầu tháng 8/2025, nhiều ngân hàng thương mại đã điều chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng USD với mức giảm đáng kể. Đến cuối năm 2025, lãi suất huy động USD giảm xuống còn khoảng 4 -5%/năm. Hiện nguồn tiền gửi đang lớn, trong khi nhu cầu vay vốn USD lại giảm.

  • Tình hình lãi suất cho vay

Từ cuối năm 2023 đến tháng 12/2024, lãi suất cho vay VND ngắn hạn dao động trong khoảng 10.8%/năm – 13.8%/năm; trung dài hạn dao động trong khoảng 12%/năm – 15.48%/năm. Cho đến tháng 06/2025, lãi suất cho vay ngắn hạn, trung dài hạn đều ở mức 20%/năm – 21%/năm, tăng gấp 1.55 lần so với năm 2024. Đối với USD, trong năm 2023 và năm 2024, lãi suất cho vay dao động trong khoảng 6%/năm – 8.7%/năm. Đến tháng 06/2025, lãi suất cho vay dao động trong khoảng 9.5%/năm – 13%/năm, tăng gấp 1.5 lần so với năm 2024.

  • Bảng 3. Lãi suất cho vay

Tháng 11/2025, khi nền kinh tế thế giới đã bước đầu được hồi phục và tình hình lạm phát trong nước đã có những tín hiệu được kiềm chế, Ngân hàng nhà nước ban hành một loạt các quyết định về giảm lãi suất cơ bản, giảm lãi suất tái cấp vốn và giảm lãi suất tái chiết khấu để tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn, thanh khoản và giảm lãi suất cho vay. Ngay sau khi Ngân hàng nhà nước ban hành các quyết định nêu trên, nhiều ngân hàng thương mại (Agribank, SEABank, ABBank, Techcombank, VPBank, ACB…) đã hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Mức giảm lãi suất cho vay cụ thể tùy thuộc vào chính sách cho vay, nguồn vốn huy động hiện có và khả năng, điều kiện thực tế của mỗi ngân hàng. Mức lãi suất cho vay bằng VND được đa số các ngân hàng áp dụng từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026 là khoảng từ 7%/năm – 10%/năm; Mức lãi suất cho vay bằng USD là khoảng từ 5%/năm – 6.5%/năm.

1.2. Chính sách điều hành của Ngân hàng nhà nước từ cuối năm 2023 đến cuối năm 2025

  • Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Trong giai đoạn 2018-2023, mục tiêu của chính phủ Việt Nam là ưu tiên tăng trưởng kinh tế nên đã duy trì một chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mở rộng. Lượng cung tiền mỗi năm tăng 25% trong khi lãi suất và tỷ lệ dự trữ giữ nguyên không đổi. Từ cuối năm 2022 đến 31/12/2024, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu được duy trì ở mức 8.25%/năm – 6.5%/năm – 4.5%/năm.

  • Bảng 4. Tỷ lệ lạm phát các năm

Từ cuối năm 2024, trước sức ép lạm phát Ngân hàng nhà nước buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng một loạt biện pháp: phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền trong lưu thông về, chuyển tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các Ngân hàng về Ngân hàng nhà nước, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, khống chế dư nợ tín dụng…, cụ thể:

Cuối tháng 05/2024, Ngân hàng nhà nước ban hành Chỉ thị 03/2024/CT-NHNN ngày 28/05/2024 về việc kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong đó khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ của tổ chức tín dụng, hạn chót 31/12/2024 phải đảm bảo tỷ lệ này.

Ngày 01/06/2024, Ngân hàng nhà nước đã điều chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp đôi đối với cả nội tệ và ngoại tệ: từ 5% lên 10% đối với tiền gửi VND kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến 24 tháng, tăng từ 8% lên 10% đối với tiền gửi ngoại tệ kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng.

Ngày 30/01/2025, Ngân hàng nhà nước thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8.25%/năm tăng lên 8.75% năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6.5%/năm tăng lên 7.5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 4.5%/năm tăng lên 6.0%/năm.

Ngày 01/02/2025, tăng dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đối với VND và từ 10% lên 11% đối với ngoại tệ, đồng thời mở rộng kỳ hạn tiền gửi phải thực hiện dự trữ bắt buộc từ dưới 24 tháng thành tất cả các kỳ hạn.

Ngày 13/02/2025 Ngân hàng nhà nước ra quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng nhà nước bắt buộc. Theo đó, bắt buộc các tổ chức tín dụng mua tín phiếu bắt buộc với tổng giá trị 20.300 tỷ đồng, lãi suất 7.8%/năm, ngày phát hành 17/03/2025. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Ngày 26/02/2025 thông qua công điện 02/CĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, các ngân hàng thương mại phải điều chỉnh lãi suất huy động vốn không vượt quá 12%/năm; Các ngân hàng thương mại nhà nước tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mở và các kênh tái cấp vốn khác của Ngân hàng nhà nước để đảm bảo khả năng thanh toán và hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất tối đa bằng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở tại phiên giao dịch gần nhất cộng với 1%/năm.

Sau nhiều năm thực hiện điều hành cơ chế lãi suất thỏa thuận, ngày 16/05/2025, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 16/2025/QĐ-NHNN quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2022 (có hiệu lực ngày 01/01/2023). Theo đó, kể từ ngày 19/5/2025, Ngân hàng nhà nước xoá bỏ cơ chế lãi suất trần huy động bằng đồng Việt Nam và sử dụng công cụ lãi suất cơ bản để điều tiết lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng theo tín hiệu của thị trường. Ngân hàng nhà nước thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8.75%/năm tăng lên 12% năm; lãi suất tái cấp vốn từ 7.5%/năm tăng lên 13%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 6%/năm tăng lên 11%/năm. Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh bằng VNĐ đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố để áp dụng trong từng thời kỳ.

Ngày 10/06/2025, Ngân hàng nhà nước thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 12%/năm tăng lên 14% năm; lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm tăng lên 15%/năm; lãi suất chiết khấu từ 11%/năm tăng lên 15%/năm.

Ngày 26/06/2025, Ngân hàng nhà nước ra Quyết định 1435/QĐ-NHNN điều chỉnh lãi suất tín phiếu bắt buộc, theo đó từ 01/07/2025, lãi suất tín phiếu Ngân hàng nhà nước bằng VND dưới hình thức bắt buộc phát hành ngày 17/03/2025 sẽ tăng từ 7.8%/năm lên 13%/năm, áp dụng đối với thời hạn thanh toán còn lại của tín phiếu.

Ngày 03/07/2025 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành 6076/NHNN-TTR về việc kiểm tra lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng, theo đó, yêu cầu các tổ chức tín dụng có mức huy động vốn bình quân từ 17.5%/năm trở lên báo cáo phương án kinh doanh phù hợp với mức lãi suất huy động vốn và có biện pháp xử lý kiên quyết phù hợp với các quy định của pháp luật đối với các tổ chức tín dụng có mức lãi suất huy động vốn ở mức cao, không có khả năng bù đắp chi phí kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Ngày 29/08/2025, điều chỉnh lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng: điều chỉnh từ 1,2%/năm (theo Quyết định số 923/QĐ-NHNN ngày 20/7/2021) tăng lên 3,6%/năm (Quyết định số 1907/QĐ-NHNN ngày 29/8/2025). Mục đích của việc tăng mức lãi suất này là nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng có điều kiện giảm lãi suất cho vay, góp phần chia sẻ cùng doanh nghiệp và người vay, tác động thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển.

Ngày 25/09/2025, Ngân hàng nhà nước ban hành Quyết định 2133/QĐ-NNNN, theo đó mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng được tăng lên 5%; và ban hành Quyết định 2132/QĐ-NHNN theo đó, Tín phiếu Ngân hàng nhà nước bắt buộc phát hành ngày 17/03/2025 được cầm cố để vay vốn, chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước, được sử dụng làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở do Ngân hàng nhà nước thực hiện theo quy định hiện hành.

Cho đến giữa tháng 10/2025, khi nền kinh tế thế giới đã bước đầu được hồi phục bởi các biện pháp giải cứu, hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương, Chính phủ các nước và tình hình lạm phát trong nước đã có những tín hiệu được kiềm chế (chỉ số giá tiêu dùng giảm, nhập siêu giảm…), Ngân hàng nhà nước ban hành một loạt các quyết định về giảm lãi suất cơ bản (từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm), giảm lãi suất tái cấp vốn (từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm), giảm lãi suất tái chiết khấu (từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm), tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc (từ 5%/năm lên tới 10%/năm) và cho phép các tổ chức tín dụng (nếu có nhu cầu) được thanh toán tín phiếu bắt buộc trước hạn… để tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn, thanh khoản và giảm lãi suất cho vay.

Đến tháng 12/2025, Ngân hàng nhà nước lại tiếp tục ban hành các quyết định về giảm lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu. Theo đó, kể từ ngày 22/12/2025, lãi suất cơ bản là 8.5% năm; lãi suất tái cấp vốn là 9.5%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 7.5%/năm.

  • Các biện pháp đã được Ngân hàng nhà nước áp dụng để giúp các ngân hàng thương mại trong hoạt động Quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất

Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại.Hoạt động an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các tổ chức tín dụng trong năm 2024 có sự đóng góp quan trọng của Thanh tra ngân hàng thông qua thực hiện thanh tra, giám sát một cách thường xuyên đối với các các tổ chức tín dụng, bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật và vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Trong năm 2024, Thanh tra ngân hàng đã tiến hành 909 cuộc thanh tra, kiểm tra theo chương trình, kế hoạch và đột xuất để đánh giá việc tuân thủ các quy định an toàn và pháp luật về hoạt động ngân hàng kết hợp với việc phân tích, đánh giá rủi ro. Nội dung thanh tra tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực tín dụng, hoạt động ngoại hối, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, … Thanh tra ngân hàng đã tổ chức 2 đợt thanh tra đột xuất với tổng số 33 đoàn thanh tra tại 33 tổ chức tín dụng. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, Thanh tra ngân hàng đã phát hiện nhiều vi phạm, tiến hành xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và đề xuất, kiến nghị nhiều biện pháp để quản lý, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của tổ chức tín dụng: Yêu cầu tổ chức tín dụng xây dựng phương án, kế hoạch chi tiết giảm dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán theo đúng quy định; tiến hành đánh giá kết quả, tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện Chỉ thị số 03/2024/CT-NHNN; tổ chức thanh tra cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở tổ chức tín dụng còn dư nợ cho vay chứng khoán vượt tỷ lệ quy định. Bằng nhiều biện pháp chỉ đạo quyết liệt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, tích cực thanh tra, giám sát chặt chẽ của Thanh tra ngân hàng và nỗ lực của các tổ chức tín dụng, Chỉ thị số 03/2024/CT-NHNN về cơ bản đã được thực hiện nghiêm chỉnh, tổng dư nợ cho vay kinh doanh, đầu tư chứng khoán giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối (đến cuối năm 2024 chỉ còn 13.149 tỷ đồng, ước tương đương gần 1,4% tổng dư nợ). Khi các ngân hàng thương mại lách Chỉ thị 03/2024/CT-NHNN bằng cách tăng đẩy mạnh cho vay nhằm đưa dư nợ cho vay chứng khoán xuống 3% tổng dư nợ, Ngân hàng nhà nước tiếp tục kiểm soát mức cho vay đầu tư chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ, đồng thời tăng hệ số rủi ro đối với cho vay đầu tư chứng khoán từ 150% lên 250%.

Bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ thanh tra, giám sát thường xuyên các tổ chức tín dụng, Thanh tra ngân hàng tích cực đẩy mạnh các hoạt động hoàn thiện khung pháp lý, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng. Năm 2024, được sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới (WB), Cơ quan Phát triển quốc tế Canada (CIDA), Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ), Ủy ban châu Âu (EC)) và sự hợp tác tích cực của các đơn vị liên quan, Thanh tra ngân hàng đã triển khai nhiều công việc quan trọng: Trình Thống đốc Ngân hàng nhà nước phê duyệt Đề án cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng nhằm triển khai thực hiện định hướng, giải pháp đổi mới và phát triển hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Quyết định số 112/2023/QĐ-TTg ngày 24/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ; hoàn thành đánh giá toàn diện hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Việt Nam theo 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu của Uỷ ban Basel; hoàn thành căn bản việc xây dựng Nghị định về tổ chức và hoạt động Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thay thế Nghị định số 91/2016/NĐ-CP; triển khai xây dựng Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng; hoàn thành căn bản đề án giám sát từ xa theo tiêu chuẩn CAMELS; hoàn thành đánh giá hệ thống thông tin báo cáo phục vụ giám sát; xây dựng Sổ tay thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro và Quy chế về quản trị rủi ro tối thiểu tại các ngân hàng thương mại để làm tiền đề cho việc triển khai áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro trong thời gian tới, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra ngân hàng về các kỹ năng, nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, quản trị rủi ro và giám sát dựa trên cơ sở rủi ro.

Cho phép các ngân hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Từ tháng 1/2024 Ngân hàng nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất với các doanh nghiệp không phải là ngân hàng được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam; giữa các ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng với tổ chức tín dụng ở nước ngoài. Mục đích của việc hoán đổi lãi suất là nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro do biến động của lãi suất thị trường cho các ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Thời hạn của một hợp đồng hoán đổi lãi suất do các bên thỏa thuận, nhưng tối đa không quá thời hạn còn lại của hợp đồng giao dịch khoản vốn gốc. Trong việc thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất, số vốn gốc của các hợp đồng hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp không vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng. Cũng theo quy định này, các ngân hàng được thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất nhằm phòng ngừa rủi ro lãi suất cho khách hàng phải có vốn tự có từ 1.000 tỷ đồng trở lên. Trên cơ sở các quy định của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng cần ban hành Quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất phù hợp với điều kiện, đặc điểm và khả năng tài chính của mình. Giới chuyên môn nhận định, việc cho phép các ngân hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất một cách đại trà sau thời gian thực hiện thí điểm ở một số ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước làm quen và tiếp cận với các nghiệp vụ phái sinh mới nhằm phòng tránh rủi ro và kiểm soát chi phí một cách hợp lý. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Ngoài ra, nhằm tránh tình trạng chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nhằm góp phần bảo vệ ngân hàng thương mại khỏi những rủi ro lãi suất, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã cho vay tái cấp vốn với tài sản đảm bảo là các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, ấn định mức trần lãi suất cho vay là 18% (trần lãi suất huy động 12% bị xóa bỏ), sau đó Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lãi suất thông qua công cụ lãi suất cơ bản, tăng lãi suất tín phiếu bắt buộc cho các Ngân hàng và tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 1.2%/năm lên 3.65%/năm. Đồng thời kiểm soát lãi suất huy động vốn bình quân của các ngân hàng thương mại để đảm bảo khả năng bù đắp chi phí huy động vốn.

2. Thực trạng rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam

2.1. Duy trì khe hở kỳ hạn dương, các ngân hàng gặp rủi ro lãi suất khi lãi suất tăng cao

Trên thực tế, các ngân hàng thương mại thường gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn trung dài hạn do xu hướng gửi tiền của khách hàng thường là ngắn hạn, trong khi đó nhu cầu vay trung và dài hạn rất lớn, do đó hầu như các ngân hàng đều có khe hở kỳ hạn dương (kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có lớn hơn kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ). Trong lĩnh vực bán lẻ, các ngân hàng cho vay tín chấp lên tới 300 triệu đồng với thời gian cho vay có thể lên đến 20 năm. Rủi ro lãi suất xuất hiện vì kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có lớn hơn kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ, có nghĩa là ngân hàng đứng trước rủi ro lãi suất nếu lãi suất tăng.

Từ cuối năm 2024, trước sức ép lạm phát Ngân hàng nhà nước buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng một loạt biện pháp: phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền trong lưu thông về, chuyển tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các Ngân hàng về Ngân hàng nhà nước, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, mở rộng biên độ tỷ giá hối đoái, tăng mạnh tỷ giá, khống chế dư nợ tín dụng…Hành động này của Ngân hàng nhà nước đã đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc đua lãi suất để đảm bảo thanh khoản mặc dù biết trước khả năng rủi ro lãi suất xảy ra sẽ rất cao.

Ngay sau khi Ngân hàng nhà nước hủy bỏ trần lãi suất huy động 12%/năm và thay bằng trần lãi suất cho vay 18%/năm (150% của lãi suất cơ bản vừa được nâng lên 12%/năm), tất cả các ngân hàng thương mại đều đồng loạt tăng lãi suất huy động. Từ tháng 1/2025, thị trường tiền tệ nóng lên chưa từng thấy trong lịch sử nền kinh tế Việt Nam, vốn VND khan hiếm. Các ngân hàng thương mại liên tục bám đuổi nhau tăng lãi suất huy động VND. Ngày 20/2/2025, việc ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Sea Bank) công bố biểu lãi suất mới được coi như “một quả bom” bắt đầu cuộc chạy đua cạnh tranh tăng lãi suất trên thị trường với mức lãi suất là 12%/năm. Không chịu thua, ngày 21/2/2025 ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đưa ra chương trình siêu lãi suất, với mức lãi suất cao nhất lên tới 12,5%/năm cho kỳ hạn 1 tháng. Cũng không kém hơn, từ ngày 22/2/2025, ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) đưa ra mức lãi suất cao hơn, huy động vốn kỳ hạn 12 tháng với lãi suất tới 13,5%/năm. Còn ngân hàng thương mại cổ phần An Bình thì tăng cao lãi suất nhưng chủ yếu ở kỳ hạn ngắn: 1 tuần, 2 tuần và 3 tuần,…Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 4 tuần lên tới 7,8%/năm. Một số ngân hàng thương mại khác còn đưa ra mức lãi suất thoả thuận tới 1,2% đến 1,3%/tháng đối với khách hàng gửi tiền với khối lượng lớn.

Đây được coi là mức lãi suất “cực kỳ nguy hiểm” vì nó làm cho nhiều người nhớ đến mức lãi suất tiền gửi lên quá cao cách đây 20 năm khi xảy ra cơn đổ vỡ gần 6.000 quỹ tín dụng và hợp tác xã tín dụng, trong thời điểm lạm phát lên tới 200% – 300% trong các năm 1987 – 1988 ở nước ta. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất liên ngân hàng tăng cao chóng mặt. Đặc biệt lãi suất liên ngân hàng ngày 15/2/2025 lên tới 30,1%/năm; ngày 18/2/2025 lập một kỷ lục mới khi lên tới 33%/năm, ngày 19/2/2025 kỷ lục cao hơn nữa lên tới 43%/năm…

Lãi suất thị trường mở qua đấu thầu giấy tờ có giá ngắn hạn tại Ngân hàng nhà nước lên tới 10% thậm chí 15%/năm cho kỳ hạn vay chỉ có 2 tuần, gấp 2-3 lần mức lãi suất bình thường. Thị trường “căng“ đến mức ngày 22/2/2025 Ngân hàng nhà nước phải bơm thêm 6.000 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở cho một số ngân hàng thương mại trúng thầu, với lãi suất tới 13%/năm của kỳ hạn 14 ngày, giảm 2% so với mức 15%/năm của ngày 21/2/2025.

Chỉ trong 1 tuần, Ngân hàng nhà nước phải bơm ra tới 39.000 tỷ đồng, mức hỗ trợ thanh khoản chưa từng có trong lịch sử can thiệp của Ngân hàng nhà nước từ trước đến nay, bằng trên 50% so với mức 61.133 tỷ đồng mua vào giấy tờ có giá ngắn hạn của cả năm 2024. Tuy nhiên hầu như chỉ có các ngân hàng thương mại Nhà nước, một số ít ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn, một số chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có điều kiện đang sở hữu tín phiếu Ngân hàng nhà nước và Tín phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu đô thị TP.HCM,… thì mới có cơ hội vay với khối lượng lớn vốn đó, còn phần đông các ngân hàng thương mại cổ phần thì không.

Do đó các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ và trung bình phải đi vay lại trên thị trường liên ngân hàng khoản vay của các ngân hàng thương mại đó với lãi suất từ 30% đến 43%/năm, gấp 2 – 3 lần lãi suất vay được của Ngân hàng nhà nước. Tình trạng vốn chạy lòng vòng đẩy lãi suất lên cao rõ ràng tác động tiêu cực chung đến tăng trưởng GDP, đến hiệu quả của nền kinh tế và tính an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.

Ngân hàng phải giảm lợi nhuận trong xu hướng lãi suất tăng cao. Việc lãi suất tăng cao thường đi cùng với mức tăng của nợ khó đòi. Đây là rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng phải đối mặt. Chỉ có những doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng, không có khả năng tiếp cận được những nguồn vốn khác mới chấp nhận mức lãi suất đó. Cũng có thể hiểu đây là những doanh nghiệp năng lực tài chính kém, uy tín thấp và theo đó là khả năng trả được nợ là không cao. Như vậy, rủi ro nợ xấu của ngân hàng sẽ dần lộ diện. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia nước ngoài, nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay như một ẩn số, cao gấp nhiều lần so với mặt bằng dưới 1% đối với khối cổ phần và từ 3 – 9% đối với khối quốc doanh như công bố.

Tóm lại, chỉ sau vài ngày chạy đua, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại (lên đến 15%-16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng nhà nước (13%/năm) và lãi suất tái chiết khấu (11%/năm) mà ngân hàng nhà nước đã nâng lên. Với khe hở kỳ hạn dương, các ngân hàng đã thực sự gặp rủi ro lãi suất, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

2.2. Sự mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn lớn Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại rất cao. Năm 2024, gần 50 tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng trên 50% và gần 30 tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng trên 100% (so với năm 2023). Chẳng hạn: ABB là 509.07%; SCB là 131.10%; STB là 145.90%; HDB là 233.80%; TCB là 135.60%…Trong khi đó, không phải ngân hàng nào cũng có tốc độ tăng trưởng huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế tương xứng với tốc độ tăng trưởng tín dụng của mình. Vì vậy, khi nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, các ngân hàng không có đủ thời gian để huy động một số tiền lớn bù đắp vào phần thiếu hụt do các khoản tiền gửi liên ngân hàng đến hạn đều bị rút về và không thể vay tiền trên thị trường liên ngân hàng. Điều đó làm mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, đẩy các ngân hàng vào cuộc đua lãi suất để đảm bảo thanh khoản với rủi ro lãi suất rất lớn. Chẳng hạn như HDB: cuối năm 2024, nguồn vốn của HDB đạt 5.041.415 triệu đồng, tăng 87% so với năm 2023; trong khi tổng sử dụng vốn của HDB là 10.456.561 triệu đồng, tăng 251% so với năm 2023 (trong đó tổng dư nợ cho vay tăng 233.8%). Sở dĩ, tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn không tương xứng với tốc độ tăng trưởng của sử dụng vốn là vì HDB đã sử dụng nguồn vốn vay liên ngân hàng để đầu tư (nguồn vốn vay liên ngân hàng chiếm khoảng 46.62% tổng tài sản) nên khi Ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ đã đẩy HDB vào tình trạng thiếu thanh khoản, rủi ro lãi suất rất lớn vì trong tình hình thắt chặt tiền tệ, lãi suất huy động liên tục tăng, với những khoản nợ phải trả lớn nhưng những khoản đầu tư lại chưa đến hạn thu hồi sẽ làm HDB phải đối mặt với rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của HDB.

Một số ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng (đây là nguồn vốn chỉ sử dụng để hỗ trợ khả năng thanh toán giữa các ngân hàng) để đẩy mạnh cho vay và đầu tư. Có ngân hàng trong 100% dư nợ cho vay đến 50% là từ nguồn vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Ngoại trừ một số ít ngân hàng (Techcombank, ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín STB, ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam MSB) sử dụng nguồn tiền vay liên ngân hàng để đảm bảo thiếu hụt thanh khoản tạm thời giữa các ngân hàng, còn lại đa số các ngân hàng đều sử dụng nguồn vốn vay liên ngân hàng để đầu tư, có ngân hàng sử dụng nguồn tiền này để đầu tư lên đến 47% tổng tài sản. Vì vậy mức độ rủi ro trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua rất cao nếu nguồn cung tiền giảm đi, đồng thời công tác Quản trị tài sản nợ – tài sản có tại các ngân hàng thương mại cũng không được quan tâm hoặc các nhà quản trị cho rằng nguy cơ nguồn cung tiền giảm đi là không có, bộc lộ điểm yếu kém về năng lực dự báo của những nhà quản trị ngân hàng.

  • Bảng 5. Nguồn vốn vay liên ngân hàng được sử dụng để đầu tư so với tổng tài sản của một số ngân hàng thương mại

Nguồn vốn vay liên ngân hàng thường có giá trị rất lớn, mỗi khoản vay trung bình trị giá khoảng 50 tỷ đồng, vì vậy khi nguồn vốn vay này bị rút về mà các khoản đầu tư chưa đến hạn thu hồi (bởi việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư để bù đắp khoản thiếu hụt này phải mất nhiều thời gian), điều này dễ dàng đẩy các ngân hàng vào tình trạng thiếu thanh khoản. Nếu ngân hàng có thể huy động kịp để bù đắp nguồn vốn liên ngân hàng phải trả thì ngân hàng cũng phải đối mặt với rủi ro lãi suất rất cao sẽ làm giảm lợi nhuận ngân hàng vì tốc độ tăng các khoản lãi thu được tăng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng các khoản lãi phải trả. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

2.3. Sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn

Sự mất cân đối giữa thời hạn của các khoản tiền gửi với thời hạn các khoản cho vay ngày càng lớn. Các ngân hàng thương mại dùng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.

Theo Quyết định 457/2022/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước về “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng” thì tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn ngân hàng thương mại được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn là 40%. Như vậy, theo quy định khoảng 60% nguồn vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng được dùng cho vay ngắn hạn mà chủ yếu là cho vay kỳ hạn 12 tháng, 40% nguồn vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng đa số được sử dụng để cho vay trên 12 tháng.

Trong điều kiện thị trường tiền tệ ổn định, nguồn cung tiền dồi dào, việc sử dụng 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn có thể vẫn đảm bảo an toàn cho hệ thống vì các ngân hàng có thể dễ dàng huy động được nguồn tiền gửi lớn, cho dù đa số nguồn huy động được đều là nguồn ngắn hạn. Trong những tháng đầu năm 2025, do Ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ (bắt buộc 41 Ngân hàng mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, đồng thời chuyển hết số tiền gần 52.000 tỷ đồng của kho bạc nhà nước gửi tại các Ngân hàng Quốc doanh về) làm nguồn cung tiền giảm, các ngân hàng bị mất cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Để đảm bảo số dư huy động phục vụ cho việc duy trì các khoản cho vay bất động sản trung dài hạn, các ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn với công cụ chủ yếu là lãi suất làm lãi suất huy động tăng liên tục. Với khe hở kỳ hạn dương, các ngân hàng đã thực sự gặp rủi ro lãi suất, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Cho đến tháng 07/2025, thực tế đã có nhiều ngân hàng phải điều chỉnh lại mục tiêu lợi nhuận cho năm 2025 như: EIB điều chỉnh kế hoạch từ 1500 tỷ đồng xuống 1.300 tỷ đồng; ABB điều chỉnh kế hoạch từ 555 tỷ đồng xuống 500 tỷ đồng…So với kế hoạch dự kiến ban đầu, lợi nhuận điều chỉnh trong năm 2025 của một số ngân hàng đã giảm xuống khoảng 10% – 20%.

2.4. Dư nợ cho vay bất động sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay

Trong năm 2024, các ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản, tỷ trọng dư nợ cho vay bất động sản chiếm 15% – 20% tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô nhỏ, các sản phẩm dịch vụ chưa phát triển, để tăng lợi nhuận chỉ có thể đẩy mạnh tín dụng trong đó tín dụng bất động sản tăng nhanh nhất với tỷ trọng từ 50% – 70% tổng dư nợ. Theo thống kê của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, cơ cấu cho vay bất động sản trung dài hạn luôn chiếm tỷ trọng khoảng 80% tổng dư nợ cho vay bất động sản.

Hiện nay, hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 70% đến 90% tổng tài sản có và một tỷ lệ tương đương trong tổng thu nhập của hệ thống ngân hàng. Theo báo cáo tài chính của một số ngân hàng thương mại, trong quý 2 năm 2025, tỷ trọng thu nhập lãi thuần so với tổng thu nhập của ABB là 99.1%; SCB là 75.4%; HDB là 59.0%; TCB là 69.8%; MSB là 77.1%. Trong khi đó tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng tăng lên vì: việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, mà thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán bị đóng băng, trong khi đó tín dụng bất động sản chiếm tỷ trọng từ 50% – 70% tổng dư nợ, do đó, dễ phát sinh nợ quá hạn do không thu hồi được nợ, việc phát mãi tài sản của khách hàng để thu hồi nợ cũng gặp rất nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian.

II: HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

1. Các biện pháp đã được áp dụng trong hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.1. Sử dụng biểu đồ độ lệch

Hiện nay, rất nhiều ngân hàng Quản trị tài sản nợ – tài sản có để bảo đảm lợi nhuận của ngân hàng tránh rủi ro lãi suất bằng biểu đồ độ lệch. Đây là phương pháp đo lường bằng biểu đồ, phương pháp này thể hiện số vốn chịu rủi ro lãi suất và số vốn theo từng thời kỳ tái định giá. Các ngân hàng sử dụng khe hở nhạy cảm lãi suất cùng với việc phân loại các tài sản nợ – tài sản có theo kỳ hạn tái định giá để lập biểu đồ độ lệch.

Ví dụ: Ta xác định các tài sản nợ – tài sản có theo từng kỳ hạn tái định giá như sau:

  • Bảng 6. Giá trị các tài sản nợ – tài sản có theo từng kỳ hạn tái định giá

Dựa vào biểu đồ độ lệch trên, nhà quản trị có thể có cái nhìn tổng quát về cơ cấu tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng đối với từng kỳ hạn tái định giá, từ đó dễ dàng xác định được sự thay đổi của thu nhập ròng trong trường hợp lãi suất thị trường biến động. Khi có một sự thay đổi lãi suất trên thị trường, các nhà quản trị sẽ tính toán được mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất đến lợi nhuận của ngân hàng qua công thức: DNIIi = Dr * RSAi – Dr * RSLi = Dr * GAPi trong đó:

  • DNIIi: biến động thu nhập ròng của nhóm tài sản thứ i.
  • Dr: biến động lãi suất
  • GAPi: chênh lệch giá trị tài sản có và tài sản nợ (giá trị ghi sổ) của nhóm i RSAi: số dư ghi sổ của tài sản có nhạy cảm lãi suất thuộc nhóm i
  • RSLi: số dư ghi sổ của tài sản nợ nhạy cảm lãi suất thuộc nhóm i
  • Chẳng hạn, đối với nhóm tài sản thứ nhất, khi lãi suất qua đêm tăng 1% thì mức thay đổi thu nhập ròng của ngân hàng là: – 10 x 1% = – 0,1 (tỷ đồng). Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy phương pháp sử dụng biểu đồ độ lệch để quản lý rủi ro lãi suất là một phương pháp đơn giản và là một công cụ khá hữu ích đối với các nhà quản trị ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất.

1.2. Thực hiện điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn

Các ngân hàng thương mại đã đẩy mạnh công tác huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế vì đây là nguồn vốn ổn định, ít có sự biến động lớn có thể xảy ra cùng 1 lúc. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, để đáp ứng nhu cầu thanh toán các ngân hàng có thể sử dụng tạm thời nguồn vốn huy động liên ngân hàng nhưng sau đó nguồn vốn vay liên ngân hàng này phải được nhanh chóng bù đắp bằng nguồn vốn huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế. Vì vậy, trong năm 2024, dù có thể huy động nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí thấp hơn nhiều so với huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế nhưng một số ngân hàng vẫn chú trọng huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế với những chương trình có giải thưởng lớn, lãi suất cao.

1.3. Quan tâm đến công tác chăm sóc khách hàng

Các ngân hàng thương mại đã quan tâm đến công tác chăm sóc khách hàng, thiết lập mối quan hệ thân thiết với khách hàng để có thể biết được kế hoạch sử dụng vốn của khách hàng gửi tiền và kế hoạch trả nợ của khách hàng vay vốn nhằm đạt được một dự báo khá chính xác về dòng tiền vào – ra ngân hàng trong tương lai gần. Đồng thời, các ngân hàng còn kiểm tra, rà soát lại các khoản vay, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, cập nhật thông tin về khách hàng để có thể biết được khả năng trả nợ của khách hàng nhằm dự báo được luồng tiền thu vào từ nguồn khách hàng trả nợ.

1.4. Thành lập Hội đồng Quản lý tài sản nợ, tài sản có

Các ngân hàng đã thành lập Hội đồng Quản lý tài sản nợ, tài sản có và phát huy vai trò, tầm quan trọng trong hoạt động của Hội đồng để có thể bảo vệ lợi nhuận của ngân hàng khỏi những rủi ro có thể xảy ra.( Ngân hàng Á Châu ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thành lập Hội đồng Quản lý tài sản nợ – tài sản có).

Ngoài ra, một số ngân hàng (như Vietinbank, Vietcombank…) để phòng tránh rủi ro lãi suất, trong thời gian qua đã chủ động áp dụng một số chính sách như chính sách lãi suất linh hoạt theo tín hiệu thị trường; tham gia vào các hợp đồng hoán đổi lãi suất với nhiều đối tác nước ngoài; áp dụng chính sách lãi suất thả nổi trong nhiều hợp đồng tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn nhằm giảm thiểu rủi ro lãi suất.

2. Đánh giá chung về hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, sử dụng biểu đồ độ lệch, nhà quản trị có thể có cái nhìn tổng quát về cơ cấu tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng đối với từng kỳ hạn tái định giá, từ đó dễ dàng xác định được sự thay đổi của thu nhập ròng trong trường hợp lãi suất thị trường biến động. Từ đó, nhà quản trị có thể điều chỉnh chiến lược quản trị tài sản nợ – tài sản có hiện tại, xây dựng kế hoạch kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Tuy nhiên, công cụ này vẫn còn một số hạn chế mà ta sẽ phân tích ở phần sau.

Thứ hai, một số ngân hàng vẫn tăng được tổng vốn huy động ngay cả trong bối cảnh nguồn cung tiền của nền kinh tế giảm. Thông qua việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, đẩy mạnh công tác huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế với những chương trình có giải thưởng lớn, lãi suất cao…, ngay cả trong bối cảnh nguồn cung tiền của nền kinh tế giảm, một số ngân hàng vẫn tăng được tổng vốn huy động từ một nguồn vốn ổn định, ít có sự biến động lớn.

Điển hình như ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), trong năm 2024, SCB rất được khách hàng quan tâm với các sản phẩm huy động hấp dẫn: Phát hành kỳ phiếu lãi suất cao, gửi tiền tặng vàng,… qua đó đã huy động được một khối lượng lớn vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế để thực hiện điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tại ngân hàng. Cuối năm 2023, huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế của SCB đạt 3.575.633 triệu đồng, cuối năm 2024 đạt 15.970.542 triệu đồng. Hết quý I/2025, SCB huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế được 17.747.587 triệu đồng và đến hết quý II/2025, SCB huy động được 19.417.461 triệu đồng. Như vậy, tổng huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế của SCB trong năm 2024 tăng 346,6% so với năm 2023. Và trong 6 tháng đầu năm 2025, khi nguồn cung tiền của nền kinh tế giảm thì tổng huy động của SCB trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng 21,6% so với năm 2024.

Thứ ba là hạn chế được phần nào nợ quá hạn. Ngoài hoạt động tín dụng, các ngân hàng còn tập trung khai thác các dịch vụ ngân hàng khác làm tăng lợi nhuận từ các dịch vụ, làm giảm áp lực tìm kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay qua đó có thể hạn chế được nợ quá hạn, đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng góp phần kiểm soát tốt khe hở kỳ hạn để tránh rủi ro lãi suất.

Ngân hàng ACB mở sàn giao dịch vàng, sàn giao dịch chứng khoán, sàn giao dịch địa ốc; Ngân hàng Đông Á có Công ty cho thuê tài chính, công ty dịch vụ kiều hối,… Ngoài ra, các ngân hàng tiếp tục khai thác thị trường thẻ. Tính đến đến tháng 12/2024, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã phát hành hơn 8 triệu thẻ thanh toán, trong đó có khoảng 7.7 triệu thẻ nội địa và hơn 302 ngàn thẻ quốc tế; khoảng 4.300 máy ATM; và trên 23.000 thiết bị POS được lắp đặt trên toàn quốc.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân

  • Những tồn tại Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Trong thực tế, các Ngân hàng rất khó thuyết phục khách hàng để có thể huy động phù hợp với chương trình Quản trị tài sản nợ – tài sản có tại Ngân hàng. Ngoài ra, đối với các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm, rất khó dự đoán được khoản tiền này sẽ tăng lên hay giảm xuống; Và dự đoán về khả năng thu hồi nợ đến hạn của khách hàng cũng không chính xác. Do đó, việc xây dựng được một dòng tiền ra – vào cân xứng kỳ hạn rất khó thực hiện. Vì vậy, rủi ro lãi suất luôn luôn tồn tại trong một ngân hàng.

Việc kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam còn tồn tại những vấn đề sau:

Thứ nhất, biểu đồ độ lệch chưa phải là một công cụ thực sự hữu hiệu để lượng hóa rủi ro lãi suất. Như phần 1.1. đã trình bày, hiện nay, rất nhiều ngân hàng Quản trị tài sản nợ – tài sản có để bảo đảm lợi nhuận của ngân hàng tránh rủi ro lãi suất bằng biểu đồ độ lệch. Công cụ này đơn giản, dễ sử dụng, song nó bộc lộ một số hạn chế như sau:

Sự thay đổi của lãi suất ngoài ảnh hưởng đến thu nhập ròng từ lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản có và tài sản nợ. Công cụ này lại chỉ đề cập tới giá trị ghi sổ của tài sản chứ không phải giá trị thị trường của chúng. Do đó, nó chỉ phản ánh được một phần rủi ro lãi suất đối với ngân hàng mà thôi.

Việc phân nhóm tài sản theo một khung kỳ hạn nhất định có thể sẽ phản ánh sai lệch thông tin về cơ cấu các tài sản có và tài sản nợ trong cùng một nhóm. Chẳng hạn, trong cùng một nhóm tài sản có kỳ hạn tái định giá từ 3 tháng – 6 tháng, số lượng tài sản có và tài sản nợ là bằng nhau, khi đó theo phương pháp này thì chênh lệch là 0. Nhưng cơ cấu kỳ hạn của tài sản có là từ 3 tháng – 4 tháng, cơ cấu kỳ hạn của tài sản nợ là từ 5 tháng – 6 tháng, rõ ràng là kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có là không cân xứng với nhau, trong khi đó nếu theo công cụ này thì lại không có vấn đề gì với thu nhập ròng của ngân hàng. Rõ ràng là nếu kỳ hạn tái định giá được chia càng mau thì hạn chế nói trên sẽ càng nhỏ.

Nói tóm lại, các ngân hàng thương mại hiện nay chưa có công cụ thực sự hữu hiệu để lượng hóa rủi ro lãi suất. Ngoài ra, các báo cáo về kế hoạch giải ngân, kế hoạch thu hồi nợ trong ngắn hạn được lập nhưng số liệu báo cáo thường khó theo sát thực tế.

Thứ hai, vai trò của Hội đồng quản lý tài sản nợ – tài sản có (ALCO) còn mờ nhạt. Rất ít tổ chức tín dụng xây dựng kế hoạch đối phó với rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất; nếu có xây dựng thì cũng chưa được cập nhật thường xuyên, liên tục.

Thứ ba, các ngân hàng thương mại chưa xây dựng được chính sách lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro và hoạt động của Ngân hàng, chính sách lãi suất hiện nay của các Ngân hàng rất dễ bị dẫn dắt bởi các yếu tố thị trường; chưa lượng hóa được rủi ro lãi suất cho cơ cấu tài sản nợ – tài sản có hiện tại của Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Một số ngân hàng thương mại trong thời gian qua có biểu hiện thiếu hụt thanh khoản đã huy động được một khoản tiền gửi lớn nhờ đưa ra mức “siêu lãi suất”. Rủi ro thanh khoản đã tạm qua nhưng tiếp theo sẽ là rủi ro về lãi suất. Mức lãi suất cao, kỳ hạn ngắn (chủ yếu tuần, 1 tháng) đang đặt các ngân hàng này đứng trước những khó khăn về quản lý tiền gửi và chi phí. Tiền gửi kỳ hạn ngắn không cho phép ngân hàng có thể cho vay và đầu tư vào các tài sản dài hạn với tỉ lệ thu nhập cao.

Trong cuộc đua lãi suất vừa qua, rất nhiều ngân hàng đưa ra sản phẩm Tiết kiệm rút gốc linh hoạt, theo đó khách hàng gửi tiền có thể rút trước hạn mà vẫn được hưởng lãi suất cao hơn lãi suất không kỳ hạn. Sản phẩm này vô hình chung khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn dài để có lãi suất cao hơn nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Đây là một trong những nguyên nhân làm ngân hàng phải đối mặt với rủi ro cao vì các ngân hàng không thể xác định được kỳ hạn hoàn trả của món tiền, gây khó khăn cho công tác Quản trị tài sản nợ – tài sản có.

Thứ tư, rất ít các ngân hàng thương mại sử dụng công cụ phái sinh để bảo vệ lợi nhuận ngân hàng tránh rủi ro lãi suất. Các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ mặc dù chúng được sử dụng từ đầu năm 2017, một số tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện các công cụ phái sinh như: VCB, VIB, ACB, TCB, MB, EIB, nhưng doanh số về hoạt động này vẫn không đáng kể so với doanh số các hoạt động truyền thống.

Thứ năm, nhiều ngân hàng chưa chú ý đúng mức đến đa dạng hoá danh mục đầu tư. Thu nhập chủ yếu của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng (nghiệp vụ rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng). Bên cạnh đó còn tồn tại vấn đề về nhân lực và quản trị. Có thể thấy những ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong vừa qua phần lớn là những ngân hàng có trình độ quản trị rủi ro rất yếu; chiến lược hoạt động không chuyên nghiệp, không rõ ràng, chạy theo “phong trào”; chất lượng nguồn nhân lực hạn chế….

Thứ sáu, hệ thống công nghệ thông tin quản lý chưa hỗ trợ được việc lập báo cáo phục vụ quản lý rủi ro lãi suất. Hầu hết các Ngân hàng đều chưa có các công cụ nhằm phân tích độ nhạy của lãi suất để xác định ảnh hưởng của việc thay đổi lãi suất đối với kết quả hoạt động kinh doanh khi thị trường thay đổi.

Thứ bảy, tỷ trọng đầu tư vào giấy tờ có giá còn thấp. Cơ cấu đầu tư của các Ngân hàng thương mại, đặc biệt là các Ngân hàng có quy mô nhỏ, các ngân hàng mới chuyển đổi quy mô từ ngân hàng nông thôn lên ngân hàng đô thị chủ yếu tập trung mở rộng tín dụng, đây là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, do đó tỷ trọng đầu tư vào giấy tờ có giá rất thấp. Trong trường hợp hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, thì đây là công cụ hữu hiệu để ngân hàng tham gia nghiệp vụ thị trường mở, đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng, tránh việc chạy đua lãi suất, bảo vệ lợi nhuận của ngân hàng). Khi Ngân hàng nhà nước thực hiện các nghiệp vụ thị trường mở, các Ngân hàng này không thể tham gia để trực tiếp nhận vốn từ hàng nhà nước mà nhận vốn thông qua ít nhất một ngân hàng khác, làm cho chi phí huy động tăng cao.

Thứ tám, một số Ngân hàng nhỏ chỉ quản trị tài sản nợ – tài sản có dựa vào kinh nghiệm và số liệu quá khứ để dự đoán mức độ thay đổi của dòng tiền vào, đặc biệt là nguồn vốn huy động. Sau đó, tùy vào từng thời kỳ để phân phối nguồn vốn này theo tỷ lệ thích hợp đối với tiền mặt tại quỹ, đầu tư chứng khoán có tính thanh khoản cao, cho vay. Thông thường, tại các ngân hàng khi dư nợ cho vay chiếm khoảng 75%-90% tổng nguồn vốn huy động sẽ hạn chế cho vay đồng thời đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp để thu hút nguồn tiền gửi. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

  • Nguyên nhân

Có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những tồn tại này. Thứ nhất, đó là nhóm nguyên nhân chủ quan thuộc về năng lực quản trị, khả năng tài chính…của ngân hàng. Thứ hai là nhóm nguyên nhân khách quan, cụ thể ở đây là nguyên nhân từ chính sách điều hành tiền tệ của Ngân hàng nhà nước.

Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng thương mại Việt Nam

  • Cơ cấu tổ chức và trình độ quản lý còn yếu

Cơ cấu tổ chức của một số ngân hàng thương mại Việt Nam chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa chức năng, nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của các phòng ban. Điều này làm cho hoạt động của các phòng ban chồng chéo lên nhau gây lãng phí thời gian, tài sản cũng như ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Năng lực quản trị điều hành của các ngân hàng thương mại trong việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát toàn diện các rủi ro phát sinh chưa được cải thiện một cách tương xứng với tốc độ mở rộng quy mô hoạt động, do đó làm tăng rủi ro cho ngân hàng.

Vấn đề trình độ quản lý, đặc biệt trong quản trị danh mục tài sản có còn yếu. Trong danh mục tài sản có của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn vẫn là hoạt động tín dụng trong khi chất lượng tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ xấu vẫn lớn (khoảng dưới 5%, so với các ngân hàng nước ngoài thường ở mức xấp xỉ 2%). Các ngân hàng còn tập trung quá nhiều vốn cho hoạt động tín dụng và đầu tư dài hạn, chưa thiết lập được danh mục đầu tư hợp lý, hiệu quả. Bên cạnh đó, việc quản lý kỳ hạn của nguồn vốn huy động còn nhiều bất cập dễ dẫn đến rủi ro lãi suất khi huy động kỳ hạn ngắn nhưng lại cho vay dài hạn.

Việc quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại chưa được chú trọng đúng mức. Theo đánh giá của một số chuyên gia quốc tế, trình độ quản trị rủi ro của các ngân hàng Việt Nam hiện nay rất sơ khai, nhiều nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro chưa được áp dụng. Thậm chí, nhiều ngân hàng chưa coi trọng đúng mức việc quản trị vốn theo mức độ rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn được tính toán và duy trì chủ yếu để đáp ứng theo quy định của ngân hàng nhà nước chứ không phải theo mức độ rủi ro của ngân hàng mình; hệ thống thông tin báo cáo nội bộ còn nhiều hạn chế; hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ chưa hoạt động hữu hiệu. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

  • Trình độ công nghệ và năng lực tài chính còn hạn chế

Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng vì góp phần làm giảm đáng kể thời gian và nhân lực phục vụ cho công việc. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại trong nước trình độ công nghệ vẫn còn lạc hậu nên việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc dự báo, kiểm soát rủi ro gặp nhiều khó khăn, làm giảm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước. Khi cần dự báo dựa vào số liệu quá khứ, việc trích lọc số liệu rất mất thời gian vì phải mất thời gian xử lý số liệu thô.

Nếu phát huy được sức mạnh của công nghệ thông tin thì các ngân hàng trong nước sẽ có thể phát triển mạnh trong lĩnh vực cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho khách hàng một cách tiện lợi nhất. Qua đó các ngân hàng có thể huy động được nguồn vốn với giá rẻ hơn, đây sẽ là lợi thế của ngân hàng trong việc phát triển tín dụng vì lãi suất cho vay có thể thấp hơn.

Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại thể hiện khả năng tự chống đỡ rủi ro của mỗi ngân hàng. Đối với các ngân hàng, nếu khả năng tự đề kháng yếu, rủi ro sẽ dễ dàng nảy sinh, ngược lại, nếu khả năng tự đề kháng của ngân hàng cao, mức độ ảnh hưởng của rủi ro sẽ giảm xuống, do vậy hoạt dộng kinh doanh cũng sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn. Việc giữ vững và nâng cao khả năng chống đỡ rủi ro chính là cách thức để ngân hàng có thể tiếp nhận và vô hiệu hóa rủi ro, từ đó tối đa hóa được lợi nhuận trong kinh doanh.

Trong khi đó, quy mô vốn tự có của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé so với mức bình quân của các nước trong khu vực. Theo số liệu thống kê tính đến hết ngày 30/6/2025, Agribank có quy mô vốn lớn nhất trong các ngân hàng thương mại nhà nước, cũng chỉ đạt khoảng 930 triệu USD, thấp xa so với một số ngân hàng thương mại của một số quốc gia trong khu vực. (Ví dụ: Bank of China 52884 triệu USD; Bangkok 3674 triệu USD). Còn 37 ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay của Việt Nam thì rất ít ngân hàng có vốn trên 200 triệu USD. So với số vốn bình quân của các ngân hàng thương mại trong khu vực lên tới hơn 600 triệu USD thì rõ ràng quy mô đó còn quá nhỏ. Quy mô tài sản có cao nhất là ACB hiện nay mới đạt gần 64.000 tỷ đồng, tương đương gần 4,0 tỷ USD, bình quân các ngân hàng thương mại cổ phần mới đạt 20.000 tỷ đồng, tương đương 1,24 tỷ USD. Trong khi đó bình quân các ngân hàng thương mại trong khu vực lên tới 50 tỷ USD. Vốn tự có thấp, khả năng tích lũy từ nội bộ rất nhỏ nên việc chống đỡ với những hiện tượng đột biến rút tiền gửi, thiếu hụt thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ rất yếu. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

  • Hiệu quả và chất lượng hoạt động chưa cao

Các sản phẩm, dịch vụ mà các ngân hàng thương mại trong nước đang cung cấp cho khách hàng còn khá đơn điệu. Có thể thấy rõ điều này qua cơ cấu Thu nhập phi lãi/Tổng thu nhập của ngân hàng chỉ chiếm khoảng hơn 5%. Các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ chú trọng đẩy mạnh tín dụng, chưa chú trọng phát triển các mảng khác. Điều này có thể khiến cho các ngân hàng không thể tận dụng được lợi thế về mạng lưới, khách hàng, kênh phân phối và công nghệ hiện có. Trong chiến lược phát triển sản phẩm, các ngân hàng vẫn chỉ tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực tín dụng. Các dịch vụ khác, nếu có, cũng chỉ dừng lại ở dịch vụ thẻ rút tiền,…

Hiện tại, nguồn thu của các ngân hàng đa số thu từ hoạt động tín dụng cho vay (chiếm từ 70%-90% thu nhập của ngân hàng). Nhưng đây lại là lĩnh vực có rủi ro cao nhất trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng nên lợi nhuận của các ngân hàng sẽ không ổn định nếu nền kinh tế có những thay đổi bất lợi. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại chưa có khả năng quản trị rủi ro danh mục tín dụng, đánh giá hợp lý ngành nghề kinh doanh và rủi ro của khách hàng.

Nguyên nhân từ chính sách điều hành tiền tệ của Ngân hàng nhà nước

  • Chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc chạy đua lãi suất

Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từ năm 2020 đến 2024, cung tiền mỗi năm tăng 25% trong khi lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữ nguyên không đổi đã khiến lạm phát liên tục ở mức cao, tình trạng dư VNĐ kéo dài. Với lãi suất thực âm, các nhà đầu tư dễ dàng vay tiền để đầu tư vào bất động sản và chứng khoán bất chấp rủi ro. Ngay cả các ngân hàng hầu như cũng bỏ qua các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, dùng nguồn vốn ngắn hạn, vốn vay trên thị trường liên ngân hàng cho vay trung dài hạn để đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn.

Từ cuối năm 2024, trước sức ép lạm phát Ngân hàng nhà nước buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng một loạt biện pháp: phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền trong lưu thông về, chuyển tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các Ngân hàng về Ngân hàng nhà nước, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, mở rộng biên độ tỷ giá hối đoái, tăng mạnh tỷ giá, khống chế dư nợ tín dụng…Hành động này của Ngân hàng nhà nước đã đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc đua lãi suất để đảm bảo thanh khoản mặc dù biết trước khả năng rủi ro lãi suất xảy ra sẽ rất cao. Chỉ sau vài ngày chạy đua, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại (lên đến 15%-16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng nhà nước (13%/năm) và lãi suất tái chiết khấu (11%/năm) mà ngân hàng nhà nước đã nâng lên.

Các ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất huy động cao như vậy vì toàn bộ hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn về thanh khoản do chính sách thắt chặt tiền tệ của ngân hàng nhà nước và đang phải vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất rất cao (có lúc vượt quá 20%/năm). Có hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, đó là ngân hàng nhà nước chưa làm tròn chức năng “người cho vay cuối cùng” của mình đối với các ngân hàng thương mại và hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam không có đủ lượng trái phiếu chính phủ cần thiết. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Trong phát biểu ngày 20/05/2025, Thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết Ngân hàng nhà nước đang theo dõi tình hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại rất chặt chẽ và sẵn sàng bơm tiền ra nếu có dấu hiệu bất ổn (tức là thực hiện chức năng “người cho vay cuối cùng”). Tuy nhiên một câu hỏi đặt ra là tại sao Ngân hàng nhà nước không thực hiện chức năng này một cách bình đẳng với tất cả các ngân hàng thương mại thông qua thị trường mở? Trên thực tế rất nhiều ngân hàng thương mại nhỏ không được tham gia vào hoạt động thị trường mở của Ngân hàng nhà nước và còn khó khăn hơn nữa khi muốn được vay vốn với lãi suất tái cấp vốn trực tiếp từ Ngân hàng nhà nước.

Nguyên nhân của trở ngại này chính là mục tiêu thắt chặt tiền tệ mà Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng nhà nước thực hiện nhằm chống lại lạm phát gia tăng. Lập luận của Ngân hàng nhà nước là nếu thực hiện đầy đủ chức năng “người cho vay cuối cùng” như FED thì với nhu cầu thanh khoản hiện tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng nhà nước sẽ phải bơm ra một lượng tiền mặt rất lớn và điều này sẽ làm cung tiền gia tăng làm cho tình hình lạm phát sẽ tồi tệ hơn. Do vậy Ngân hàng nhà nước sẽ thực hiện chức năng “người cho vay cuối cùng” một cách có chọn lọc, nghĩa là sẽ chỉ cung cấp thanh khoản với lãi suất nằm trong khoảng 11% đến 13% cho ngân hàng thương mại nào có nguy cơ khủng hoảng thật cao. Còn các ngân hàng thương mại khác dù có thiếu thanh khoản nhưng chưa đến mức bị khủng hoảng sẽ phải tự thân vận động bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hơn nhiều.

Bởi vậy các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ không biết chắc mình có được Ngân hàng nhà nước ưu ái không nếu tình hình thanh khoản trở nên tồi tệ hơn, nên phải chạy đua lãi suất huy động khi cái trần 12% vừa được gỡ bỏ để tránh phải vay vốn từ thị trường liên ngân hàng mà lãi suất có lúc đã vượt 20%/năm. Lãi suất huy động sẽ tiếp tục bị đẩy lên cho đến khi nào các ngân hàng thương mại vượt qua tình trạng thiếu thanh khoản hoặc cho đến khi Ngân hàng nhà nước can thiệp bằng các biện pháp hành chính.

Ngoài ra, vì các ngân hàng quy mô lớn thường có nguồn vốn huy động vượt nhu cầu cho vay nên trong cơ cấu tổng tài sản luôn dành một phần nguồn vốn đầu tư vào các giấy tờ có giá, có thể tham gia vào thị trường mở để vay vốn của Ngân hàng nhà nước với lãi suất thấp để tăng tính thanh khoản cho Ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng quy mô nhỏ, dưới áp lực lợi tức cho cổ đông không những đã sử dụng hầu hết vốn huy động được mà còn sử dụng vốn vay liên ngân hàng để đẩy mạnh cho vay tín dụng mà không đầu tư hoặc đầu tư rất ít vào giấy tờ có giá nên không thể vay tiền Ngân hàng nhà nước thông qua thị trường mở. Khi Ngân hàng nhà nước hút một lượng lớn tiền lưu thông trên thị trường về, các khoản tiền gửi có kỳ hạn của các Ngân hàng khác bị rút về sẽ làm cho các ngân hàng nhỏ bị mất cân đối nguồn vốn trầm trọng, để đảm bảo thanh khoản, các ngân hàng nhỏ phải vay các ngân hàng có quy mô lớn với lãi suất cao, có thời điểm lên đến gần 35%/năm và bắt đầu cuộc đua lãi suất để bù đắp khoản tiền gửi bị các Ngân hàng khác rút về.

  • Ngân hàng nhà nước đã không nghiên cứu kỹ, không bao quát được hết những trường hợp có thể xảy ra khi ra các Quyết định, Chỉ thị. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Khi ra các Quyết định, Chỉ thị, Ngân hàng nhà nước đã không tìm hiểu kỹ tình hình thực tế của các Ngân hàng và khả năng các Ngân hàng có thể thực hiện được các Quyết định, Chỉ thị đó không. Thật vậy, vì lo ngại rủi ro quá lớn từ các khoản cho vay bất động sản và cổ phiếu và trước sức ép của lạm phát Ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, cuối tháng 05 năm 2024, Ngân hàng nhà nước ban hành Chỉ thị 03/2024/CTNHNN về việc kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong đó khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ của tổ chức tín dụng, hạn chót 31/12/2024 phải đảm bảo tỷ lệ này. Đi ngược lại mong muốn của Ngân hàng nhà nước. Đa số các Ngân hàng đẩy mạnh cho vay nhằm làm tăng tổng dư nợ lên để đảm bảo dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán xuống dưới mức 3% tổng dư nợ. Việc tăng quá nhanh dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại kèm theo đó là nới lỏng điều kiện cho vay nên không thể có chất lượng tín dụng tốt được. Đây cũng là nguyên nhân làm tăng rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại do phát sinh nợ quá hạn, làm ảnh hưởng đến kế hoạch quản lý Tài sản nợ – Tài sản có của các ngân hàng thương mại.

Ngoài ra, với việc khống chế tỷ lệ tăng trưởng tín dụng không quá 30%, các ngân hàng trong quý I năm 2025 có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vượt mức tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cho phép đã ngừng cho vay, chỉ tập trung thu hồi nợ. Một số khách hàng tới hạn trả nợ nhưng không trả vì e ngại ngân hàng không cho vay lại và khó có thể vay tại ngân hàng khác trong điều kiện thị trường tín dụng hầu như đóng băng hoặc nếu vay lại phải chịu lãi suất quá cao (lãi suất vay cũ khoảng 12%/năm, lãi suất phạt quá hạn là 18%/năm, thấp hơn so với lãi suất vay mới 21%/năm) nên không trả nợ, chấp nhận để nợ quá hạn. Vì vậy, ngân hàng một mặt phải cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn đảm bảo thanh khoản, một mặt không thể thu hồi nợ làm xuất hiện khe hở kỳ hạn dương, với lãi suất huy động ngày càng tăng làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Vì không thu hồi được nợ nên các ngân hàng bị mất cân đối giữa dòng tiền vào – dòng tiền ra theo kế hoạch, làm ảnh hưởng đến kế hoạch lợi nhuận của Ngân hàng.

  • Thay đổi liên tục các quyết định về lãi suất áp dụng tại các ngân hàng thương mại

Như đã trình bày ở phần 1.2.1. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước, từ tháng 1/2025 đến hết tháng 12/2025, Ngân hàng nhà nước đã liên tục điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, cụ thể, chỉ trong vòng 1 năm, Ngân hàng nhà nước đã 5 lần điều chỉnh các lãi suất này (ngày 30/01/2025, ngày 16/05/2025, ngày 10/06/2025, giữa tháng 10/2025 và ngày 22/12/2025), dẫn đến lãi suất huy động và cho vay tại các ngân hàng thương mại liên tục thay đổi. Việc thay đổi liên tục các quyết định về lãi suất huy động áp dụng tại các ngân hàng thương mại của Ngân hàng nhà nước đã tạo tâm lý không ổn định cho khách hàng gửi tiền, vì vậy khách hàng chỉ gửi tiền với kỳ hạn ngắn do kỳ vọng lãi suất sẽ tăng. Điều này làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của các Ngân hàng, gây khó khăn đến công tác Quản trị tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng. Vì các ngân hàng chủ yếu huy động được các nguồn vốn ngắn hạn, và khách hàng sẵn sàng rút tiền từ chỗ có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao, làm các ngân hàng bị động trong hoạt động kinh doanh của mình. Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x