Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoạt động quản trị Tài sản nợ – Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế không còn là vấn đề xa lạ mà đã và đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu khách quan đối với nền kinh tế của một quốc gia. Chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO cùng với các tổ chức hợp tác khu vực, Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang từng bước nỗ lực làm mới mình, đón đầu hội nhập. Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại được đánh giá là hệ thống khá năng động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, đến thời điểm này, chúng ta chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập – giai đoạn chuẩn bị những điều kiện tốt nhất để bước vào cuộc cạnh tranh thực sự sẽ diễn ra từ sau năm 2027, khi mà các cam kết hội nhập thực sự bắt đầu có hiệu lực.

Việc duy trì lãi suất ổn định trong một thời gian dài của Ngân hàng trung ương đã làm cho nhà quản trị các ngân hàng thương mại lơ là công tác đề phòng rủi ro lãi suất. Cho đến cuối năm 2024 đầu năm 2025, tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều diễn biến bất lợi do lạm phát gia tăng cùng với chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng trung ương đã đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc khủng hoảng thanh khoản, buộc các ngân hàng bước vào cuộc đua lãi suất làm lãi suất liên tục tăng cao. Điều này bộc lộ mặt yếu kém trong công tác đề phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là rủi ro lãi suất. Qua việc nghiên cứu về hoạt động của các ngân hàng thương mại, tác giả mong muốn các ngân hàng có nhận thức đúng đắn về mối liên hệ giữa hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có để phòng chống rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất, góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại.

Với ý tưởng này, tôi xin chọn đề tài “Hoạt động quản trị Tài sản nợ – Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam” với hy vọng các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể phát triển vững vàng trong thời kỳ hội nhập.

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm kiểm soát rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam, khóa luận đề xuất một số giải pháp thiết thực, khả thi đối với ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại nhằm giúp các Ngân hàng thương mại hạn chế rủi ro lãi suất thông qua hoạt động quản trị Tài sản nợ – Tài sản có.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề cơ bản liên quan tới quản trị Tài sản nợ – Tài sản có tại các Ngân hàng; mối quan hệ giữa quản trị Tài sản nợ – Tài sản có và kiểm soát rủi ro lãi suất.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và một số biện pháp đã được thực hiện trong công tác kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc quản trị Tài sản nợ – Tài sản có tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong thời gian từ cuối năm 2023 đến cuối năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin; Phương pháp phân tích – tổng hợp, đối chiếu – so sánh; Phương pháp mô tả và khái quát hoá đối tượng nghiên cứu; Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa phân tích phổ biến và tính đặc thù để nghiên cứu. Khoá luận có kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của khóa luận được chia làm 3 chương:

  • Chương I. Lý luận chung về rủi ro lãi suất và hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có trong kinh doanh ngân hàng
  • Chương II. Hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
  • Chương III. Giải pháp quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Đề tài “Hoạt động quản trị Tài sản nợ – Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là một đề tài khó và mang tính thực tế cao, đòi hỏi rất nhiều công sức tìm hiểu, nghiên cứu và đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ của rất nhiều người. Vì vậy tác giả khóa luận xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả những người đã giúp đỡ tận tình để tác giả có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Quy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu tìm hiểu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đang giảng dạy tại trường Đại học Ngoại thương và các thầy cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành khoá học.

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cơ quan tổ chức, các ngân hàng thương mại, các ṭap chí, báo chuyên ngành , các website…đã cung c ấp bài viết, tư liệu và các thông tin cần thiết khác phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và viết khóa luận tốt nghiệp này.

Do kiến thức tích luỹ chưa đủ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên khoá luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được nhiều sự nhận xét, đóng góp ý kiến để khoá luận tốt nghiệp này có ý nghĩa thực tiễn hơn.

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

I: KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1. Những vấn đề chung về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

1.1. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Nó là một yếu tố khách quan nên con người không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những thiệt hại do chúng gây ra. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro nhưng nhìn chung có thể chia làm 2 quan điểm:

  • Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
  • Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được bằng xác suất. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực: Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro.

Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có những điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác, nó có tính lan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành, mà còn của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

1.2. Những rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng

  • Trong hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro, trong đó, các rủi ro chủ yếu là:

Rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn. Nói cách khác, nếu người vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ thì rủi ro tín dụng nảy sinh.

Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh do tính lỏng của tài sản có thấp hơn so với tài sản nợ, làm ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất.

Rủi ro tỷ giá hối đoái: là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên. Rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ của ngân hàng như: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ; mua bán ngoại tệ; đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…

Rủi ro lãi suất: là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi chỉ đề cập tới rủi ro lãi suất.

1.3. Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế – xã hội

Rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng: mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; khiến ngân hàng thua lỗ, phá sản, sẽ ảnh hưởng đến những khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng vay tiền,… làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Từ đó có thể làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trong nước, trong khu vực; Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay.

2. Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

2.1. Khái quát về rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng.

Rủi ro lãi suất xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng và lãi suất thị trường có biến động. Giả sử ngân hàng có mức lãi suất huy động bình quân là 8%, lãi suất cho vay là 9%. Kỳ hạn khoản vay là 1 năm, kỳ hạn cho vay là 2 năm. Sau năm thứ nhất, ngân hàng thu được lợi nhuận từ sự chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động +1%. Tuy nhiên lợi nhuận năm thứ hai thì chưa chắc chắn vì chưa biết lãi suất thị trường năm thứ hai. Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không đổi là 8% và trong năm thứ hai, ngân hàng có lợi nhuận tương tự như năm thứ nhất. Nhưng lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro lãi suất. Giả sử năm thứ hai, ngân hàng chỉ có thể huy động được vốn với mức lãi suất thị trường là 10%, khi đó ngân hàng sẽ chịu lỗ từ sự chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động – 1%. Như vậy, nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro lãi suất trong tái tài trợ tài sản nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất cho vay tín dụng dài hạn. Ngược lại, nếu ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và cho vay với kỳ hạn ngắn thì với cách lập luận tương tự như trên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất trong tái đầu tư tài sản có khi lãi suất thị trường giảm.

Ngoài rủi ro lãi suất trong tái tài trợ tài sản nợ khi lãi suất thị trường tăng và rủi ro lãi suất khi tái đầu tư tài sản có khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng còn gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Rủi ro giảm giá trị tài sản là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảm khi lãi suất thị trường biến động. Giá trị của tài sản có và tài sản nợ được xác định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại của tiền tệ. Nếu lãi suất thị trường tăng lên tức là lãi suất chiết khấu giá trị tài sản tăng lên, làm cho giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ tăng lên. Do đó, nếu kì hạn của tài sản có và tài sản nợ không bằng nhau, chẳng hạn kỳ hạn tài sản có dài hạn kỳ hạn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn sự giảm giá trị của tài sản nợ, dẫn đến sự thiệt hại về tài sản của ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Tóm lại, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có – tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì khi lãi suất thị trường có biến động, ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, hoặc rủi ro lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi.

Trên thực tế, các nhà quản trị không thể dự báo chính xác lãi suất thị trường vì việc dự báo chính xác lãi suất thị trường đòi hỏi phải có khả năng dự báo được tất cả những thay đổi trong nguyên nhân gây biến động lãi suất như: lạm phát; sự tăng trưởng kinh tế trong từng chu kỳ kinh doanh; tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế; chính sách tài khóa của chính phủ và chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương; tính lỏng và rủi ro của tài sản tài chính mà mình đang nắm giữ…Điều này là không thể, do đó, các ngân hàng phải chấp nhận rằng ngân hàng không thể kiểm soát và dự báo chính xác về lãi suất nên ngân hàng phải tìm những biện pháp bảo vệ để đối phó với rủi ro lãi suất.

2.2. Các biện pháp thường được sử dụng để hạn chế rủi ro lãi suất

Theo kinh nghiệm của các nước, để kiểm soát rủi ro lãi suất, các ngân hàng thực hiện các biện pháp như: Mua bảo hiểm rủi ro lãi suất để chuyển giao toàn bộ rủi ro lãi suất cho cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp; Áp dụng các biện pháp cho vay ngắn hạn để ngân hàng có thể linh động thay đổi lãi suất cho vay khi lãi suất thị trường thay đổi theo chiều hướng tăng; Áp dụng chiến lược chủ động trong quản trị rủi ro lãi suất: Nếu ngân hàng có thể dự báo được chiều hướng thay đổi lãi suất, ngân hàng có thể chủ động điều chỉnh khe hở nhạy cảm lãi suất và khe hở kỳ hạn một cách hợp lý; Vận dụng các kỹ thuật bảo hiểm lãi suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi.

II: QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

1. Quản trị tài sản nợ trong kinh doanh ngân hàng

1.1. Khái niệm tài sản nợ

Tài sản nợ là giá trị tiền tệ của các nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng khác, và ngân hàng có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi cả gốc lẫn lãi sau một kỳ hạn nhất định. Nói cách khác, tài sản nợ là nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng, được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng.

1.2. Các thành phần của tài sản nợ

Cấu trúc của tài sản nợ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị tài sản nợ, do đó, trước khi đi vào phân tích hoạt động quản trị tài sản nợ, chúng ta sẽ xem xét các thành phần của tài sản nợ. Tài sản nợ bao gồm các thành phần sau:

Các tài khoản giao dịch: là những tài khoản được khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng những dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nên ngân hàng không phải trả lãi suất cao. Đây là loại tiền gửi không ổn định nên các ngân hàng thường sử dụng để dự trữ, và một phần dùng để cho vay ngắn hạn. Các tài khoản giao dịch gồm: Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản vãng lai.

Các tài khoản phi giao dịch: là những loại tiền gửi định kỳ như những khoản tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân. Khi khách hàng mở các tài khoản phi giao dịch tại Ngân hàng sẽ được rút gốc và lãi theo kỳ hạn được quy định trước nhưng không được tham gia thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là loại tiền gửi ổn định nên ngân hàng thường sử dụng để cho vay trung – dài hạn. Và khách hàng gửi tiền sẽ được hưởng lợi tức với lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn.

Vốn vay trên thị trường tiền tệ: Các ngân hàng có thể vay vốn trên thị trường tiền tệ bằng cách vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng; Vay ngân hàng Trung ương; Phát hành chứng chỉ tiền gửi; Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Các tài khoản hỗn hợp: Là một dạng tài khoản tiền gửi hoặc phi tiền gửi cho phép kết hợp thực hiện các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, môi giới đầu tư, tín dụng. Loại tài khoản này đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng sử dụng. Theo đó, tài khoản của khách hàng sẽ được quản lý nhằm mang lại lợi ích tối đa cho khách hàng.

Vay ngắn hạn qua hợp đồng mua lại (Repurchase agreement – RP): đây là hợp đồng được ký kết giữa ngân hàng với khách hàng (có tài khoản tại ngân hàng) hoặc với ngân hàng khác. Trong đó, ngân hàng thỏa thuận bán tạm thời chứng khoán chất lượng với tính thanh khoản cao (cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chính phủ sắp đến hạn thanh toán,…) kèm theo thỏa thuận sẽ mua lại các chứng khoán này tại một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định trong hợp đồng. Giao dịch này có thể thuộc loại qua đêm hoặc đến vài tháng, tùy vào nhu cầu vốn của ngân hàng và khả năng của chủ thể mua chứng khoán. Thông thường lãi suất trong hợp đồng mua lại rất thấp so với lãi suất huy động vốn của ngân hàng.

1.3. Quản trị tài sản nợ trong kinh doanh ngân hàng

1.3.1 Khái niệm quản trị tài sản nợ

Quản trị tài sản nợ là quản trị nguồn vốn phải trả cho ngân hàng nhằm đảm bảo cho ngân hàng luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển một cách hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp nhất. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

1.3.2 Các nguyên tắc quản trị tài sản nợ

Khi huy động vốn, các Ngân hàng cần phải chấp hành các quy định của luật pháp và các cơ quan quản lý: Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá nhiều so với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả (Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990, tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại phải nhỏ hơn hoặc bằng 20 lần vốn tự có), áp dụng lãi suất huy động phù hợp so với cơ chế quản lý về lãi suất của ngân hàng Nhà nước,…

Ngoài ra các ngân hàng phải đảm bảo đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu thanh khoản của ngân hàng, hạn chế đến mức tối đa sự sụt giảm đột ngột về nguồn vốn của ngân hàng với chi phí thấp nhất. Đồng thời phải sử dụng các công cụ huy động vốn đa dạng để hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm của ngân hàng.

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc quản trị tài sản nợ tốt sẽ giúp các ngân hàng khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đảm bảo sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định, bền vững để nâng cao thị phần, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn cho khách hàng cả về số lượng, thời hạn và lãi suất. Nhưng vẫn phải đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

1.3.3 Các phương pháp quản trị tài sản nợ

  • Thực hiện các chính sách và biện pháp đồng bộ để tăng nguồn vốn của ngân hàng

Các chính sách và biện pháp này gồm 3 nhóm biện pháp, đó là biện pháp kinh tế, biện pháp kỹ thuật và biện pháp tâm lý.

Biện pháp kinh tế: Là biện pháp mà ngân hàng dùng những đòn bẩy kinh tế (lãi suất, quà tặng,…) để khai thác và huy động các nguồn vốn cần thiết. Biện pháp này rất linh hoạt, nhạy bén có thể giúp ngân hàng huy động được nguồn vốn trong trường hợp cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng sẽ làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây ra những tổn hại cho ngân hàng.

Biện pháp kỹ thuật: Đây là biện pháp lâu dài, chủ lực của mỗi ngân hàng để mang lại hiệu quả cả trong ngắn hạn và dài hạn: Trang bị máy móc, công nghệ hiện đại, tiên tiến nhằm đảm bảo cho việc thanh toán được nhanh chóng, chính xác, thuận tiện hơn; Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, tạo ra nhiều sản phẩm huy động vốn để thu hút tiền gửi trên thị trường; Hoàn thiện và phát triển mạng lưới huy động vốn: mạng lưới truyền thống (chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch,…), mạng lưới hiện đại (ATM, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…) Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Biện pháp tâm lý: Là biện pháp tác động vào tình cảm, tâm lý của khách hàng để tạo lập, cũng cố, duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài, bền vững giữa Ngân hàng và khách hàng. Để làm được điều này, Ngân hàng cần tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi, đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng vững chuyên môn, có khả năng giao tiếp ứng xử để tạo ra hình ảnh đẹp về ngân hàng cả nội dung và hình thức.

  • Sử dụng các công cụ cơ bản để tìm kiếm nguồn vốn

Khi phát sinh nhu cầu vốn vượt quá khả năng thanh khoản, ngân hàng vay theo thứ tự sau: Vay qua đêm; Vay tái cấp vốn của ngân hàng trung ương; Sử dụng các hợp đồng mua lại, phát hành các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn, …

  • Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động và tạo cơ cấu nguồn vốn

Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động và tạo cơ cấu nguồn vốn sao cho phù hợp với những đặc điểm hoạt động của ngân hàng. Cụ thể, đối với ngân hàng bán lẻ chủ yếu cho vay ngắn hạn để bổ sung nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu vốn lưu động nên ưu tiên huy động vốn ngắn hạn. Đối với ngân hàng bán buôn chủ yếu cho vay trung dài hạn nên ưu tiên huy động vốn trung dài hạn.

  • Tận dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn theo quy định của pháp luật

Các ngân hàng có thể dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn nhưng phải đảm bảo tỷ lệ theo quy định của pháp luật. Hiện nay, theo quyết định 457/QĐ/NHNN ngày 19/04/2022, tỷ lệ áp dụng đối với ngân hàng thương mại là 40% và áp dụng đối với tổ chức khác là 30%.

  • Thực hiện đầy đủ các nội dung cơ bản trong quản trị tài sản nợ của ngân hàng

Xây dựng kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng đảm bảo cân đối giữa nguồn vốn với sử dụng vốn và đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo cân đối ở trạng thái động. Do đó, khi lập kế hoạch nguồn vốn nhà quản trị phải xuất phát từ cơ cấu và quy mô tài sản có để quyết định cơ cấu, quy mô tài sản nợ, phù hợp với khả năng quản lý và đảm bảo được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Kế hoạch nguồn vốn của toàn hệ thống phải được xây dựng trên cơ sở tổng hợp kế hoạch nguồn vốn của các chi nhánh và hội sở chính. Sau khi kế hoạch được duyệt sẽ giao chỉ tiêu huy động đến từng chi nhánh; Thực hiện công tác điều hành vốn trong toàn hệ thống: giao kế hoạch nguồn vốn cho từng chi nhánh, xác định hạn mức điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống, lãi suất điều chuyển vốn,…; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nguồn vốn trong từng thời kỳ của từng chi nhánh và toàn hệ thống; Theo dõi việc thực hiện lãi suất, chênh lệch lãi suất bình quân cho vay và huy động của từng chi nhánh cũng như toàn bộ hệ thống.

  • Thực hiện quy trình quản lý tài sản nợ của ngân hàng

Mỗi hệ thống ngân hàng đều có quy trình quản lý tài sản nợ riêng nhưng quy trình này vẫn có những nét chung về xây dựng kế hoạch nguồn vốn, lập kế hoạch nguồn vốn, thực hiện huy động vốn gắn liền với việc điều hòa vốn trong toàn hệ thống,…

2. Quản trị tài sản có trong kinh doanh ngân hàng Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

2.1. Khái niệm tài sản có

Tài sản có là giá trị tiền tệ của các tài sản mà ngân hàng có quyền sở hữu (bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định hoạt) một cách hợp pháp, chúng là kết quả của các hoạt động trước đó, hiện đang được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng, tính đến một thời điểm nhất định. Nói cách khác, tài sản có là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng, chúng là những tài sản được hình thành từ các nguồn vốn của ngân hàng trong quá trình hoạt động.

2.2. Các thành phần của tài sản có

Cấu trúc của tài sản có sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị tài sản có, do đó, trước khi đi vào phân tích hoạt động quản trị tài sản có, chúng ta sẽ xem xét các thành phần của tài sản có. Tài sản có bao gồm các thành phần sau:

Ngân quỹ: Là khoản tài sản có có tính thanh khoản cao mà ngân hàng phải duy trì để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các ngân hàng khác và dự trữ pháp định.

Thông thường đây là những tài sản không sinh lời, được duy trì chủ yếu để đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng gửi tiền, chi phí cho hoạt động của ngân hàng, bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ và thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng trung ương. Trong tương lai, khoản mục này có xu hướng giảm do sự phát triển của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt và trình độ quản lý của ngân hàng.

  • Chứng khoán đầu tư: gồm có các công cụ của thị trường tiền tệ và các công cụ của thị trường vốn, cụ thể:

Các công cụ của thị trường tiền tệ: Những công cụ này có đặc điểm chung: lợi tức thấp, ngày đáo hạn dưới 1 năm, mức độ rủi ro thấp. Bao gồm: Trái phiếu ngắn hạn của các công ty, xí nghiệp; Trái phiếu đô thị thời hạn dưới 1 năm; Các hối phiếu, kỳ phiếu thương mại đã được một ngân hàng xác nhận hoặc đã qua ít nhất hai lần chuyển nhượng; Tín phiếu kho bạc; Tín phiếu Ngân hàng trung ương; Chứng chỉ tiền gửi có thời hạn dưới 1 năm. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Các công cụ của thị trường vốn: Những công cụ này có đặc điểm chung là lợi tức cao, thời gian đáo hạn trên 1 năm, nhiều rủi ro: Trái phiếu Chính phủ có thời hạn trên 1 năm; Trái phiếu đô thị thời hạn trên 1 năm; Kỳ phiếu ngân hàng có thời hạn trên 1 năm; Trái phiếu dài hạn của các công ty, xí nghiệp,..; Công trái. Khoản mục tín dụng: Đây là khoản mục rất quan trọng vì nó thu hút khoảng 60-75% tổng tài sản có của Ngân hàng, mang lại 2/3 tổng thu nhập cho ngân hàng và là khoản mục chứa đựng rất nhiều rủi ro. Danh mục tín dụng của ngân hàng được cấu thành bởi các loại hình tín dụng sau: cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng…Giá trị các danh mục của khoản mục tín dụng cao hay thấp tùy thuộc vào các yếu tố sau:

  • Đặc điểm của khu vực thị trường nơi ngân hàng đang hoạt động (khu dân cư, khu công nghiệp).
  • Quy mô của ngân hàng, đặc biệt là quy mô vốn tự có. Cụ thể: Đối với ngân hàng có quy mô lớn, vốn nhiều chủ yếu cho vay các doanh nghiệp lớn, thông thường là khoản vay trung – dài hạn. Đối với những ngân hàng nhỏ, vốn ít chủ yếu cho vay các tầng lớp dân cư hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ như cho vay tiêu dùng, cho vay bổ sung vốn lưu động.
  • Kinh nghiệm và trình độ quản lý: các ngân hàng có kinh nghiệm và hiểu biết sâu về loại hình tín dụng nào thì sẽ tập trung cho vay loại hình tín dụng đó để tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
  • Lợi nhuận mong đợi của một khoản tín dụng: Ngân hàng sẽ tập trung cho vay đối với những khoản tín dụng mang lại lợi nhuận lớn sau khi đã tính toán chi phí và những khoản thiệt hại do rủi ro gây ra.

Ngoài ra còn có danh mục tài sản có khác, gồm: tài sản cố định, các khoản phải thu,…

2.3. Quản trị tài sản có trong kinh doanh ngân hàng

2.3.1 Khái niệm quản trị tài sản có

Quản trị tài sản có là việc quản lý các danh mục sử dụng vốn của ngân hàng nhằm tạo một cơ cấu tài sản có thích hợp bao gồm: ngân quỹ, tín dụng, đầu tư và các tài sản khác đảm bảo ngân hàng hoạt động kinh doanh an toàn và có lãi.

2.3.2 Các nguyên tắc quản trị tài sản có

Thứ nhất, các ngân hàng cần đa dạng hóa các khoản mục tài sản có để phân tán rủi ro.

Thứ hai, cấu trúc các khoản mục tài sản có phải giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời trong một khoản mục tài sản có. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Thứ ba, ngân hàng phải đảm bảo được sự chuyển hóa một cách linh hoạt về mặt giá trị giữa các danh mục của tài sản có nhằm giúp cho ngân hàng luôn có được một danh mục tài sản có phù hợp với những biến động của môi trường kinh doanh.

2.3.3 Các phương pháp quản trị tài sản có

  • Phân chia tài sản có để quản lý

Tùy theo đặc điểm, mục tiêu của mình, các ngân hàng có thể phân chia tài sản có theo nhiều cách để quản lý, bao gồm:

  • Căn cứ vào thứ tự ưu tiên của các khoản mục tài sản có:

Dự trữ sơ cấp: Các khoản dự trữ này được sử dụng để dự trữ theo quy định của Ngân hàng Trung ương và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng. Gồm tiền mặt, tiền gửi (bao gồm tiền gửi ngân hàng trung ương và tiền gửi vượt mức tối thiểu để duy trì tài khoản tại các ngân hàng khác). Đây là tài sản có không sinh lời nên các ngân hàng chỉ dự trữ vừa đủ.

Dự trữ thứ cấp: bao gồm các loại chứng khoán an toàn (phải chắc chắn được thanh toán khi đến hạn); thời gian đáo hạn ngắn (dưới 1 năm); có tính thanh khoản cao mà ngân hàng đang đầu tư như: trái phiếu kho bạc, hối phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng… Dự trữ thứ cấp được dùng để hổ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước.

Khoản mục tín dụng: Sau khi đáp ứng các yêu cầu về dự trữ, ngân hàng có quyền tự do cho khách hàng vay. Khoản mục tín dụng bao gồm các khoản cho vay, chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán,…

Khoản mục đầu tư: Sau khi các nhu cầu hợp lệ về tín dụng của ngân hàng đã được đáp ứng, các quỹ còn lại có thể dồn vào khoản mục đầu tư. Đây là những khoản đầu tư vì lợi tức gồm các trái phiếu của công ty, xí nghiệp có thời hạn dài, lợi tức cao.

Trong nghiệp vụ tín dụng và đầu tư dài hạn ngân hàng phải thận trọng và phải tính đến nguồn vốn đáp ứng. Nếu như tỉ trọng các nguồn vốn dài hạn thấp trong lúc đó lại cấp tín dụng và đầu tư tín dụng với tỉ trọng cao thì sẽ gia tăng mức độ rủi ro. Vì vậy cần phải tính tỉ lệ hợp lý giữa cho vay và đầu tư dài hạn trong mối tương quan với thời hạn của tài sản nợ.

Tài sản cố định: Đây là ưu tiên thứ 5 trong khoản mục tài sản có của ngân hàng. Khác với các xí nghiệp công nghiệp, tài sản cố định của các ngân hàng thương mại thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 10%) trong tổng tài sản có. Tài sản cố định của ngân hàng thương mại gồm: trụ sở giao dịch, hệ thống thông tin và các trang thiết bị khác.

  • Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của nguồn hình thành tài sản có:

Dựa vào những đặc điểm và tính chất của nguồn hình thành tài sản, ngân hàng có thể xây dựng nên khoản mục của tài sản có thích hợp. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Đối với tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi không ổn định, lãi suất thấp nên ngân hàng sử dụng hầu hết cho dự trữ sơ cấp, một phần còn lại dùng cho vay ngắn hạn.

Đối với nguồn vốn huy động có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi ổn định, rủi ro thấp, nhu cầu dự trữ cho loại tiền gửi này tương đối thấp nên phần lớn nguồn này được dùng cho vay trung dài hạn.

Đối với vốn điều lệ và các quỹ: Đây là vốn chủ sở hữu của ngân hàng, tính ổn định lớn nên nhu cầu dự trữ cho nguồn vốn này là không cần thiết, thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, góp vốn, liên doanh,…

  • Quản trị dự trữ

Dự trữ là một bộ phận tài sản của ngân hàng, được duy trì song song với tài sản sinh lời nhằm đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên của ngân hàng. Để làm được điều đó, tài sản có luôn luôn phải lớn hơn tài sản nợ. Nếu xét khả năng chi trả trong ngắn hạn, tài sản có ngắn hạn phải luôn luôn lớn hơn tài sản nợ ngắn hạn.

Các hình thức dự trữ của ngân hàng:

  • Căn cứ vào yêu cầu dự trữ: gồm dự trữ pháp định và dự trữ thặng dư.

Dự trữ pháp định là khoản dự trữ mà ngân hàng trung ương buộc các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương. Dự trữ bắt buộc được duy trì để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng, để đảm bảo cho ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh được khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại nhằm thực hiện chính sách tiền tệ của mình.

Dự trữ thặng dư là khoản dự trữ bao gồm khối lượng quỹ vượt quá nhu cầu dự trữ pháp định và bất cứ số vốn bổ sung nào mà các ngân hàng thương mại xem là cần thiết để cung ứng thêm nguồn thanh khoản cho các tài sản nợ.

Căn cứ vào hình thái tồn tại: gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.

  • Xây dựng một chính sách tín dụng hiệu quả Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Chính sách tín dụng là hệ thống các quan điểm, chủ trương, định hướng quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư của ngân hàng, do Hội đồng quản trị đưa ra phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng và những quy định pháp lý hiện hành.

  • Mục đích của chính sách tín dụng:

Cung cấp đường lối cụ thể của ngân hàng cho nhân viên tín dụng và các nhà quản trị khi đưa ra quyết định cho vay đối với khách hàng.

Hỗ trợ cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay có thể kết hợp nhiều mục tiêu khác nhau (tăng lợi nhuận; phòng chống, kiểm soát rủi ro; thỏa mãn các yêu cầu về mặt pháp lý; phù hợp với thế mạnh của ngân hàng).

  • Để xây dựng một chính sách tín dụng, cần:

Xác định quy mô tín dụng: Xác định tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong danh mục tài sản có.

Xác định các thành phần của một khoản tín dụng: hạn mức tín dụng, thời hạn cho vay, thời gian ưu đãi tín dụng, thời gian trả nợ, kỳ hạn trả nợ,..

Xác định xem những giấy tờ, hồ sơ pháp lý nào của khách hàng đòi hỏi phải đi kèm với đơn xin vay và cần bảo quản tại ngân hàng.

Tuân theo những nguyên tắc tiếp nhận, đánh giá và quản lý tài sản thế chấp, cầm cố.

Xây dựng những tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu áp dụng với tất cả các khoản cho vay; trình tự, thủ tục giải quyết một hồ sơ vay vốn của ngân hàng.

Xác định rõ khách hàng chiến lược và ngành hàng chiến lược của ngân hàng.

Chính sách ưu đãi khách hàng: Ưu đãi về lãi suất cho vay, về hạn mức tín dụng, về tài sản đảm bảo, phương thức cho vay và thời hạn vay,… Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Chính sách cạnh tranh, marketing: Ngân hàng quảng bá chính sách tín dụng và điều kiện vay vốn nhằm giúp khách hàng vay hiểu và thực hiện đúng, giám sát việc triển khai thực hiện của cán bộ tín dụng, thông tin ngược lại cho ngân hàng bằng các đề xuất, kiến nghị cần sửa chữa và hoàn thiện chính sách tín dụng của ngân hàng.

  • Xác định chính sách lãi suất cho vay.

Chính sách quản lý rủi ro tín dụng: Phải đảm bảo các nguyên tắc: Phân tán rủi ro; Quy trình xét duyệt cấp tín dụng phải qua nhiều cấp, nhiều người hoặc tập thể; Kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Việc phân tích tín dụng ở các ngân hàng có thể thực hiện khác nhau nhưng mục đích chung đều là xác định khả năng, thành ý của khách hàng trong hoàn trả tiền vay, lãi vay theo những điều khoản của hợp đồng tín dụng đã được ký kết.

  • Xây dựng chính sách đầu tư hiệu quả

Để xây dựng một chính sách đầu tư hiệu quả, các ngân hàng dựa vào:

Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của ngân hàng như: tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng khi đầu tư chứng khoán, tỷ lệ thu nhập sau thuế so với tỷ lệ thu nhập trước thuế, các nhân tố rủi ro về lãi suất, rủi ro về tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thu hồi trước hạn của người phát hành chứng khoán, rủi ro lạm phát, rủi ro về kỳ hạn nắm giữ chứng khoán.

Chính sách đầu tư của ngân hàng: Ngân hàng cần có một chính sách đầu tư hữu hiệu, được đa số cổ đông thông qua và ban hành dưới dạng văn bản, bao gồm các nội dung chủ yếu: nêu rõ mục tiêu hoạt động đầu tư của ngân hàng, xác định cơ cấu danh mục chứng khoán, xác định tỷ trọng của khoản mục đầu tư chứng khoán trong tổng tài sản có của ngân hàng, xác định rõ khả năng cầm cố chứng khoán, chiết khấu hoặc tái chiết khấu khi nhu cầu vốn phát sinh,…

Chiến lược về kỳ hạn đầu tư: Ngân hàng phải phân phối các loại chứng khoán với cấu trúc về mặt thời hạn sao cho có lợi nhất.

III: QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỢ – TÀI SẢN CÓ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1. Khái quát về hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có

Ngân hàng là một tổ chức rất phức tạp, bao gồm nhiều phòng ban cung cấp các loại dịch vụ tiền tệ đa dạng. Một ngân hàng được quản lý tốt, mọi quyết định cần được phối hợp với nhau để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong hoạt động. Trong đó, các danh mục tài sản có và tài sản nợ phải được nhìn nhận như một thể thống nhất trong quá trình đánh giá ảnh hưởng của chúng tới mục tiêu được đề ra, để đảm bảo khả năng sinh lời với mức độ rủi ro có thể chấp nhận. Quá trình ra quyết định mang tính phối hợp và tổng hợp như vậy được gọi là phương pháp quản lý tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng.

Mục đích của quản trị tài sản nợ và tài sản có là tạo lập và thực hiện các chiến lược củng cố Bảng cân đối kế toán, nhằm đảm bảo cho ngân hàng: có thể tối đa hóa hoặc ít nhất là ổn định mức thu nhập từ lãi (chênh lệch giữa thu từ lãi và chi từ lãi); Tối đa hóa hoặc ít nhất là bảo vệ trị giá tài sản của ngân hàng (giá cổ phiếu) với mức rủi ro hợp lý.

Trước đây, theo quan điểm cổ điển thì các ngân hàng xem bên nợ của bảng tổng kết tài sản là các nghiệp vụ đương nhiên không cần phải quản lý và kiểm soát mà chỉ cần sử dụng cái có sẵn đó cho thích hợp là đủ, có nghĩa là chỉ cần quản lý tài sản có. Tuy vậy, đến khi thị trường xuất hiện sự bất ổn định trong lãi suất ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, việc dung hòa giữa quản trị tài sản có và tài sản nợ đã được sử dụng. Ngày nay các nhà ngân hàng đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tài sản nợ và coi việc quản lý tài sản nợ như là một yếu tố để nâng cao hiệu quả quản lý, cũng như tăng nguồn bổ sung đối với khả năng thanh toán của ngân hàng. Đây được gọi là chiến lược quản lý hỗn hợp với những điểm chính sau:

  • Để đạt được mục tiêu kế hoạch đã đề ra, nhà quản trị phải chú trọng kiểm soát quy mô, cấu trúc, chi phí và thu nhập của cả hai bên tài sản có và tài sản nợ.
  • Quản trị tài sản nợ và tài sản có phải là một quá trình thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau để tối đa hóa thu nhập của ngân hàng đồng thời giúp kiểm soát chặt chẽ các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.
  • Thu nhập và chi phí có thể phát sinh từ cả tài sản có và tài sản nợ. Do đó, chính sách của ngân hàng cần được điều chỉnh phù hợp nhằm tối đa hóa thu nhập, tối thiểu hóa chi phí trong mọi hoạt động của ngân hàng dù hoạt động đó xuất phát từ phía tài sản nợ hay tài sản có.

2. Các công cụ được sử dụng trong hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

2.1. Duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)

Mục tiêu quan trọng của hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có nhằm hạn chế rủi ro lãi suất là nhằm bảo vệ thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố định. NIM là sự chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi, được thể hiện bằng một tỉ lệ phần trăm của tổng tài sản có sinh lời. Đây là hệ số giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn sẽ làm cho NIM bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.

Trong đó:

  • Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tư, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tư chứng khoán,…
  • Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay,..

Tổng tài sản có sinh lời = Tổng tài sản có – Tiền mặt – Tài sản cố định Như vậy, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng chịu sự tác động của các yếu tố như:

  • Những thay đổi trong lãi suất.
  • Những thay đổi trong mức chênh lệch giữa lãi thu từ tài sản có và chi phí phải trả lãi cho tài sản nợ.
  • Những thay đổi về giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất mà ngân hàng nắm giữ khi mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động của mình.
  • Những thay đổi về giá trị tài sản nợ phải trả lãi mà ngân hàng sử dụng để tài trợ cho danh mục tài sản có sinh lời khi mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động.
  • Những thay đổi về cấu trúc của tài sản có và tài sản nợ mà ngân hàng thực hiện khi tiến hành chuyển đổi tài sản có, tài sản nợ giữa lãi suất cố định và lãi suất thay đổi, giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài, giữa tài sản mang lại mức thu nhập thấp với tài sản mang lại mức thu nhập cao.

Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc phối hợp giữa quản trị tài sản nợ và tài sản có phải luôn luôn được thực hiện song song, hỗ trợ lẫn nhau mới có thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro lãi suất.

2.2. Quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất (GAP) Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

Đây là phương pháp phân tích mối liên hệ giữa lãi suất và thời gian đáo hạn (kỳ hạn) của tài sản nợ và tài sản có. Để thực hiện việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất, ngân hàng cần tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá lại các cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi của ngân hàng, những khoản tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên thị trường. Tại bất cứ thời điểm nào, ngân hàng có thể tự bảo vệ trước những thay đổi của lãi suất bằng cách bảo đảm cân bằng sau:

Giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất = Giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất Trong đó: Tài sản có nhạy cảm lãi suất là những tài sản có thể được định giá lại khi lãi suất thay đổi: các khoản cho vay ngắn hạn và sắp đến hạn, các khoản cho vay dài hạn lãi suất thả nổi, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư chứng khoán dài hạn lãi suất thả nổi…;Tài sản nợ nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo điều kiện thị trường: tiền gửi có kỳ hạn ngắn, tiền gửi dài hạn lãi suất thả nổi, tiền vay ngắn hạn…

Khi giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất và giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất không cân bằng, khe hở nhạy cảm lãi suất được hình thành:

Trong mỗi giai đoạn kế hoạch (ngày, tuần, tháng,…), nếu giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi suất dương. Và ngược lại, nếu giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi suất âm.

Trường hợp GAP = 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất bằng giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất: khi lãi suất tăng hay giảm cũng không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất không xuất hiện.

Trường hợp GAP > 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường tăng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, thu nhập từ lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi phải trả, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm vì NIM giảm. Lúc đó, ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ tăng lại hoặc ổn định; hoặc kéo dài kỳ hạn của tài sản có hoặc thu hẹp kỳ hạn của danh mục tài sản nợ; hoặc tăng tài sản nợ nhạy cảm lãi suất hoặc giảm tài sản có nhạy cảm lãi suất.

Trường hợp GAP < 0: Giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường giảm, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, thu nhập từ lãi tăng chậm hơn chi phí lãi, rủi ro lãi suất xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng vì NIM giảm. Ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ giảm hoặc ổn định; hoặc thu hẹp kỳ hạn của tài sản có hoặc kéo dài kỳ hạn của danh mục tài sản nợ; hoặc giảm tài sản nợ nhạy cảm lãi suất hoặc tăng tài sản có nhạy cảm lãi suất.

Từ GAP, ta có thể tính được mức độ biến động thu nhập ròng của ngân hàng do thay đổi lãi suất:

  • DNIIi = Dr * RSAi – Dr * RSLi ó DNIIi = Dr * GAPi trong đó:
  • DNIIi: biến động thu nhập ròng của nhóm tài sản thứ i.
  • Dr: biến động lãi suất
  • GAPi: chênh lệch giá trị tài sản có và tài sản nợ (giá trị ghi sổ) của nhóm i RSAi: số dư ghi sổ của tài sản có nhạy cảm lãi suất thuộc nhóm i Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
  • RSLi: số dư ghi sổ của tài sản nợ nhạy cảm lãi suất thuộc nhóm i

Nếu ngân hàng tin vào khả năng dự báo lãi suất của mình, họ thường xuyên thay đổi khe hở nhạy cảm lãi suất, đặt ngân hàng vào trạng thái nhạy cảm tài sản có hoặc nhạy cảm tài sản nợ. Đây gọi là phương pháp quản lý khe hở năng động:

  • Bảng 1. Phương pháp quản lý khe hở năng động

Tuy nhiên, chiến lược quản lý năng động buộc các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn vì khả năng dự đoán đúng chiều hướng thay đổi của lãi suất rất thấp nên phần lớn các ngân hàng chỉ sử dụng để phòng ngừa rủi ro chứ không phải để tăng thu nhập.

Các ngân hàng lớn ngày nay thường sử dụng máy vi tính để xác định giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất và giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất trong những khoảng thời gian khác nhau và quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý rủi ro và dựa trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng. Tuy nhiên, kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất còn có hạn chế là chưa tính đến đặc thù kỳ hạn của lãi suất. Do đó, khi tính khe hở nhạy cảm lãi suất chỉ tính riêng cho từng loại kỳ hạn của lãi suất.

2.3. Quản lý khe hở kỳ hạn (Duration gap)

Quản lý khe hở kỳ hạn được sử dụng để khắc phục nhược điểm của việc dựa vào khe hở nhạy cảm lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là chỉ chú trọng vào số liệu trên sổ sách kế toán của vốn mà chưa tính đến đặc thù kỳ hạn của lãi suất, hay nói cách khác là chưa nghiên cứu đầy đủ tác động của rủi ro lãi suất đến giá trị thị trường của vốn. Lãi suất không chỉ ảnh hưởng đến sự thay đổi lợi nhuận của ngân hàng mà còn gây tác động làm thay đổi giá trị thị trường của tài sản. Phương pháp phân tích khe hở kỳ hạn được sử dụng nhằm xem xét ảnh hưởng của lãi suất tới giá trị thị trường của tài sản.

Để đi vào phân tích khe hở kỳ hạn, trước tiên chúng ta làm quen với khái niệm kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản. Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản là thời gian tồn tại trung bình các luồng tiền phát sinh từ tài sản trên cơ sở giá trị hiện tại của nó. Như vậy, Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong tương lai. Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng.

Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản được xác định theo công thức:

Trong đó:

  • D (duration): Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản t: thời gian tồn tại của dòng tiền t
  • n: số các dòng tiền phát sinh từ tài sản Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.
  • Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản là thước đo trực tiếp sự thay đổi giá trị của tài sản khi lãi suất thị trường thay đổi, hay nói cách khác, nó là phép đo độ nhạy cảm của giá trị tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, tức là:
  • D = – (phần trăm thay đổi giá trị tài sản)/(phần trăm thay đổi lãi suất)

Trong đó:

  • P: giá trị của tài sản tại thời điểm hiện tại
  • DP: mức độ biến động giá trị tài sản r: lãi suất thị trường
  • Dr: mức độ biến động lãi suất thị trường

Như vậy, kỳ hạn hoàn vốn trung bình càng ngắn thì giá trị tài sản càng ít chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất.

  • Từ đó, ta có thể xác định được rủi ro lãi suất đối với toàn bộ bảng cân đối kế toán như sau:

Bước 1: Xác định kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có và kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ:

Trong đó:

  • DA : kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản có
  • DL: kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nợ
  • DAi : kỳ hạn hoàn vốn trung bình của từng khoản mục tài sản có
  • DLj : kỳ hạn hoàn vốn trung bình của từng khoản mục tài sản nợ
  • XAi : tỷ trọng của từng khoản mục tài sản có
  • XLj : tỷ trọng của từng khoản mục tài sản nợ

Bước 2: Xác định mức độ thay đổi giá trị của tài sản có và tài sản nợ:

Bước 3: Xác định mức độ thay đổi giá trị ròng của ngân hàng: Như ta đã biết:

  • Giá trị ròng của ngân hàng = Giá trị tổng tài sản có – Giá trị tổng tài sản nợ
  • Khi lãi suất thay đổi thì:
  • Trong đó, k = Tổng tài sản nợ / Tổng tài sản có = L/A Công thức tính khe hở kỳ hạn là:

Khi khe hở kỳ hạn dương: Nếu lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng. Nếu lãi suất giảm sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng. Nói cách khác, ngân hàng sẽ chịu rủi ro lãi suất khi lãi suất tăng.

  • Khi khe hở kỳ hạn âm: Nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng. Nếu lãi suất giảm sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng. Nói cách khác, ngân hàng sẽ chịu rủi ro lãi suất khi lãi suất giảm.
  • Khi khe hở kỳ hạn bằng 0: Giá trị ròng của ngân hàng không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất. Ngân hàng không gặp rủi ro lãi suất.

Mặc dù các ngân hàng có thể sử dụng công cụ khe hở kỳ hạn một cách dễ dàng nhưng nó vẫn tồn tại một số hạn chế: rất khó khăn trong việc tìm kiếm các tài sản có, tài sản nợ có kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả phù hợp với yêu cầu của ngân hàng; Đối với một số loại tài khoản không thể xác định được chính xác mô hình luồng tiền vào ra làm cho việc tính kỳ hạn hoàn trả, kỳ hạn hoàn vốn rất khó khăn. Tuy nhiên, nó vẫn được sử dụng để giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro lãi suất.

3. Vai trò của hoạt động quản trị tài sản nợ – tài sản có trong hạn chế rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản nợ – tài sản có của ngân hàng, hay nói cách khác, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có – tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì khi lãi suất thị trường có biến động, ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, hoặc rủi ro lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi. Do đó, quản lý tốt tài sản nợ và tài sản có sẽ giúp các Ngân hàng hạn chế những rủi ro do sự thay đổi lãi suất. Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x