Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hoạt động PR nội bộ tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài :

Xã hội trong thế kỷ 21 được đánh giá là xã hội trong đó thông tin đóng vai trò chiến lược, tác động đến hầu hết các lĩnh vực chủ yếu của xã hội, từ kinh tế, cho đến chính trị, văn hóa…Chính vì thế, các tổ chức, cơ quan và các doanh nghiệp rất cần sự can thiệp của quản lý thông tin chuyên nghiệp. Đó chính là cơ sở dẫn đến sự ra đời và phát triển ngành quan hệ công chúng, hay còn gọi là PR. PR thể hiện tầm quan trọng trong giao tiếp của một tổ chức hay một cá nhân và đối tượng của họ như là nhân viên, đối tác, nhóm cần quan tâm. Hoạt động PR không chỉ tốt cho những đối tượng đó mà còn hữ ích cho công chúng và xã hội. Nó làm cho mọi người hay những mối quan hệ mục tiêu hiểu nhau hơn, đồng cảm và gần nhau hơn.

Thêm vào đó, nhu cầu về PR chuyên nghiệp ở nước ta xuất hiện và song hành với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, nó đang từng bước nỗ lực không ngừng để góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam theo kịp với nền kinh tế thế giới. Hoạt động giao lưu, trao đổi, mua bán quốc tế diễn ra rất thường xuyên, đó cũng là động lực thúc đẩy nhu cầu giao tiếp, thông tin của các cá nhân cũng như của doanh nghiệp, tổ chức. Đặc biệt trong kinh doanh ngành sữa, hoạt động PR với những cách thức thực hiện có tính linh hoạt và mang lại sự hiểu biết lẫn nhau cao, bên cạnh các hoạt đông Marketing, quảng cáo, xúc tiến thương mại.

Trên thực tế, các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng NutiFood nói riêng đều đã ít nhiều nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động quan hệ công chúng – PR. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chỉ lo quảng cáo rầm rộ bên ngoài mà quên, hoặc không biết, để có thể đi đường dài, phải bắt dầu xây dựng thương hiệu ngay từ trong nội bộ, với công chúng nội bộ chính là những nhân viên của mình, trong đó có công ty NutiFood. Hoạt động quan hệ cống chúng tại NutiFood đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, mới chỉ tập trung ở một số mảng riêng lẻ. Trước đó, NutiFood vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu về lĩnh vực công tác truyền thông này đặc biệt là đối với hoạt động PR nội bộ.

Hơn thế nữa, đối với một công ty lớn như NutiFood, trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, ngoài việc trang bị cho mình những sản phẩm vượt trội tốt cho người tiêu dùng, xây dựng một hình ảnh đẹp với công chúng bên ngoài , thì công ty cũng không quên việc ghi điểm trong mắt công chúng nội bộ cũng là một trong những công cụ mà công ty đang từng bước đổi mới và đầu tư hơn. Một công ty cho dù có tốt đến mấy nhưng lại có nội bộ không vững chắc, không đoàn kết và quan trọng hơn nữa là không tin tưởng nhau thì khó mà tồn tại lâu dài được. Đồng thời, công ty NutiFood với triết lý kinh doanh “Mỗi sản phẩm làm ra nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng bức xúc của cộng đồng, góp phần vào sự phát triển toàn diện về thể chất của người Việt nam”, NutiFood còn mong muốn thể hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội này. Cho nên sự tồn tại của hoạt động PR nội bộ càng là một yếu tố tất yếu, là bước đầu tiên trên con đường xây dựng lòng tin và thể hiện trách nhiệm mà công chúng nội bộ chính là những người đầu tiên công ty phải thuyết phục.

Chính vì những lí do trên em nhận thấy việc “Thực trạng hoạt động PR nội bộ tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood” là một đề tài phù hợp với quý Công ty, nó góp phần nâng cao nhận thức của công ty về PR nội bộ và vai trò của nó đối với công ty, đưa ra thực trạng PR nội bộ tại công ty. Đồng thời hiểu được khả năng hoạt động PR nội bộ của mình từ đó lên kế hoạch hoạch định chiến lược nhằm hoàn thiện hoạt động PR ngày một tốt hơn nữa trong tương lai.

2. Mục đích nghiên cứu : Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

  • Hệ thống những lý luận cơ bản về hoạt động Quan hệ công chúng.
  • Mang lại những hiểu biết cơ bản cho bản thân về Quan hệ công chúng –
  • Phân tích hoạt động Quan hệ công chúng tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood, từ đó tìm hiểu được những điều Công ty đã làm được và chưa làm được. Thông qua đó sẽ có cái nhìn thực tế hơn về hoạt động Quan hệ công chúng.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động này, qua đó biến hoạt động này trở thành một vũ khí lợi hại hỗ trợ hoạt động kinh doanh của quý Công ty.
  • Rèn luyện khả năng của bản thân trong việc thu thập thông tin, phân tích và đánh giá các vấn đề.
  • Thử sức trong việc đưa ra các ý tưởng sáng tạo cho việc phát triển hoạt động Quan hệ công chúng.
  • Trở thành tài liệu tham khảo cho những người muốn nghiên cứu về hoạt động Quan hệ công chúng – PR nói chung và hoạt động Quan hệ công chúng – PR của NutiFood nói riêng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PR nội bộ tại công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng NutiFood.

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng khảo sát: Các nhân viên đang làm việc tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood.
  • Vấn đề nghiên cứu: Phân tích hoạt động PR nội bộ tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được khảo sát tại công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood
  • Phạm vi thời gian: nghiên cứu này thực hiện khảo sát trong khoảng thời gian từ đến.

4. Phương pháp nghiên cứu : Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Để thực hiện đề tài này, em đã sử dụng một số phương pháp sau :

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Nghiên cứu tài liệu : sách báo, Internet, tạp chí…
  • Quan sát, tham dự.
  • Phương pháp so sánh.
  • Phương pháp phân tích
  • Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi.

5. Tình hình nghiên cứu:

So với các đề tài đã làm trước đó, đề tài “ Thực trạng hoạt động PR nội bộ tại công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood ‟‟ sẽ có bảng khảo sát trực tiếp sát với thực tế hơn. Từ những kết quả đó, giúp cho quý công ty dễ dàng trong việc đưa ra những chính sách mới nâng cao hoạt động PR và góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho công ty NutiFood.

6. Kết cấu đề tài:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động PR.
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động PR nội bộ tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood.
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR nội bộ tại công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PR

1.1 Quan hệ công chúng – PR :

1.1.1 Khái niệm về PR :

Có rất nhiều quan niệm, các định nghĩa khác nhau về PR. Người ta ước tính có khoảng 500 định nghĩa khác nhau về PR. Những định nghĩa này tồn tại song song và bổ sung cho nhau.

Theo Viện quan hệ công chúng Anh ( England Institute of Public Relations – IPR ): “ PR là những nỗ lực hoạch định và thực hiện bền bỉ nhằm mục tiêu hình thành và duy trì mối quan hệ thiện cảm và thông hiểu lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng của nó‟‟.

Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc PR là hoạt động được tổ chức thành chiến dịch hay một chương trình kéo dài liên tục và phải có kế hoạch.

Theo tác giả Frank Jefkins ( tác giả cuốn cuốn sách Public Relations – Frameworks do Financial Times xuất bản ) thì: “ PR bao gồm tất cả các hình thức giao tiếp được lên kế hoạch, cả bên trong và bên ngoài tổ chức, giữa một tổ chức và công chúng của nó, nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể liên quan đến sự hiểu biết lẫn nhau”.

Định nghĩa này nhấn mạnh đến hoạt động có mục tiêu cụ thể và dựa vào đó để xây dựng các hoạt động và đánh giá hiệu quả hoạt động của PR.

Hội nghị các viện sĩ thông tấn PR toàn cầu ( World Assembly of Public Relations Associates ) tại Mexico tháng 8 năm 1978 thì nêu “ PR là một nghệ thuật và môn khoa học xã hội, phân tich những xu hướng, dự đoán những kết quả, tư vấn cho các nhà lãnh đạo của tổ chức, và thực hiện các chương trình hành động đã được lập kế hoạch để phục vụ quyền lợi của tổ chức và của công chúng”. Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Định nghĩa này chú trọng đến việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu trước khi lên kế hoạch PR và khía cạnh xã hội của một tổ chức. Một tổ chức sẽ được đánh giá qua sự quan tâm và trách nhiệm của nó đối với quyền lợi của công chúng. PR liên quan đến uy tín và danh tiếng của tổ chức.

Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới định nghĩa “ PR là hoạt động nhằm mục đích tăng cường khả năng giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức hoặc cá nhân với một hoặc nhiều nhóm công chúng”.

Một cách ngắn gọn, PR là quá trình truyền thông nhiều chiều được xây dựng, duy trì và phát triển nhằm tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp. Hay nói cách khác PR là một hệ thống các nguyên tắc và hoạt động có liên hệ hữu cơ, nhất quán nhằm xây dựng một hình ảnh, một quan điểm, một ấn tượng lâu dài, lòng tin, thói quen sử dụng. Tại Việt Nam, các ví dụ điển hình về hoạt động PR là chương trình “P/S bảo vệ nụ cười” của Unilever, “Đèn đom đóm” của Dutch Lady Việt Nam, chương trình “Thắp sáng ước mơ xanh” của công ty Dệt may Thái Tuấn, “Tiếp sức mùa thi” của Thiên Long, “Ươm mầm tài năng” của Vinamilk hay “Ấm áp mùa đông” của công ty 4 Orange…

  • Chủ thể của hoạt động PR: là những cá nhân hay tổ chức xây dựng và vận hành các chương trình PR trong hoạt động của mình.
  • Đối tượng của hoạt động PR: Phillip Cateora, một chuyên gia Marketing đưa ra một quyết định về công chúng như sau “ Công chúng là bất cứ nhóm người nào có mối quan tâm hay ảnh hưởng hiện tại hoặc tiềm năng đến khả năng đạt mục tiêu của doanh nghiệp”. Đây là một định nghĩa khá đầy đủ về công chúng của một doanh nghiệp.

Công chúng có thể được chia thành 2 nhóm:

  • Công chúng nội bộ:

Bao gồm các thành phần bên trong doanh nghiệp như: công nhân, nhân viên, kinh doanh, quản trị viên…

Các đối tượng công chúng này trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Họ cùng thụ hưởng, gánh vác và chia sẻ mọi kết quả hoạt dộng của doanh nghiệp..

Các đối tượng công chúng này được xem như nguồn nhân lực của doanh nghiệp, là tài sản, là sức mạnh nội tại của doanh nghiệp.

  • Công chúng bên ngoài:

Bao gồm các thành phần bên ngoài doanh nghiệp như: khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, nhà đầu tư, chính phủ…

Trong các thành phần bên ngoài có cả công chúng ủng hộ doanh nghiệp và công chúng chống đối doanh nghiệp.

Mối liên hệ giữa doanh nghiệp và công chúng bên ngoài thường thể hiện ở các hoạt động: hợp báo, triển lãm, thăm dò ý kiến khách hàng, các hoạt động tài trợ…

Thông điệp của hoạt động PR: là những gì doanh nghiệp muốn truyền tải đến công chúng để tác động đến suy nghĩ và hành vi của họ. Đó có thể là khẩu hiểu, thương hiệu, kế hoạch, tuyên bố, khuyến cáo, thái độ, cách hành xử…

Kênh truyền tải thông điệp là công cụ để doanh nghiệp chuyển tải thông điệp đến công chúng. Các công cụ này rất phong phú, tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục đích, ngân sách của doanh nghiệp mà có thể lựa chọn công cụ khác nhau. Theo Phillip Kotker, các công cụ chính của PR có thể được tóm tắt trong từ PENCILS, bao gồm: ấn phẩm (Public ations), sự kiện (Events), tin tức (News), hoạt động cộng đồng ( Community affairs ), công cụ nhận dạng ( Identity tools ), vận động hành lang ( Lobbying ) và đầu tư xã hội ( Social investments ) ( nguyên tắc PENCILS ).

1.1.2 Các kênh truyền tải thông điệp :

Theo nguyên tắc PENCILS của Phillip Kotler, chúng ta tìm hiểu kĩ hơn về các công cụ của PR.

  • Ấn phẩm ( Public ations ): Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Ấn phẩm ở đây có thể là tạp chí nội bộ, bá cáo thường kỳ, bản tin,…của doanh nghiệp.

Ấn phẩm của công ty tạo điều kiện cho giới truyền thông, khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư nắm bắt đầy đủ thông tin về doanh nghiệp. Đây đồng thời là phương tiện truyền đạt thông tin cho nhân viên một cách hiệu quả và chuyên nghiệp.

Ảnh hưởng của ấn phẩm của công ty đối với từng đới tượng rất khác Với khách hàng nhất là những công ty có mạng lưới khách hàng rộng khắp, các ấn phẩm như cầu nối cung cấp thông tin thường xuyên cho khách hàng về giá cả, sản phẩm mới, chính sách khuyến mãi…Nhà đầu tư có thể tìm hiểu về tình hình kinh doanh, những dự án mới mà doanh nghiệp sắp triển khai. Nhà cung cấp tìm hiểu thêm được nhu cầu nguyên liệu của khách hàng trong từng thời điểm. Nhân viên thông qua ấn phẩm nội bộ có thể hiểu rõ hơn về công ty, những chiến lược mà công ty đang triển khai. Ngoài ra, để vượt qua khủng hoảng tài chính như hiện nay, ấn phẩm còn là công cụ thông đạt, khích kệ và trấn an nhân viên hiệu quả.

Các cơ quan truyền thông báo chí là đối tượng quan trọng của ấn phẩm. Đặc biệt một số công ty e ngại tiếp xúc với báo chí, dẫn đến nhiều cơ quan truyền thông không hiểu chính xác thông tin hoặc thông tin cung cấp gây nhằm lẫn ảnh hưởng đến hình ảnh, hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, ấn phẩm như một kênh thông tin chính thức của doanh nghiệp nhằm đối chiếu, và bổ sung trong bộ tư liệu truyền thông cho cơ quan thông tấn báo chí. Được quyền chia sẻ ý kiến, được quyền hiểu biết thấu đáo, và nhận được sự quan tâm sâu sắc từ phía công ty chính là điều mà ấn phẩm của công ty có thể mang lại cho năm đối đượng quan trọng trên hơn chỉ là một công cụ cung cấp thông tin bình thường. Với tất cả những lợi ích kể trên mà ấn phẩm công ty có thể mang lại, thì bộ phận PR hay Marketing của công ty nên triển khai thực hiện càng sớm càng tốt.

  • Tổ chức sự kiện ( Events ) :

Tổ chức sự kiện là công việc góp phần đánh bóng cho thương hiệu và sản phẩm của một công ty thông qua những sự kiện, nhằm mục đích gây sự chú ý với công chúng nhằm giới thiệu, quảng bá, tạo ra mối quan hệ mang lại lợi ích cho tổ chức. Có nhiều hình thức tổ chức sự kiện như: họp báo, hội nghị, lễ hội, hội chợ, triển lãm, văn nghệ, thể thao…

Ví dụ khi Nokia tung ra một sản phẩm điện thoại mới, công ty này sẽ tổ chức một sự kiện công phu, mời các khách hàng thân thiết và tiềm năng cùng với báo giới đến tham gia sự kiện này. Thông qua sự kiện, Nokia thông báo đến khách hàng và báo giới về sản phẩm mới này đồng thời (điều này quan trọng hơn) đánh bóng thương hiệu của Nokia, làm cho khách hàng nhớ và tiêu thụ sản phẩm này. Trong nội bộ doanh nghiệp, các công ty cũng có thể tổ chức các sự kiện nhân dịp ngày lễ, ngày tổng kết cuối năm cũng nhằm đánh bóng hình ảnh của công ty trong lòng nhân viên, gia đình của nhân viên cũng như những ứng viên tiềm năng có thể ứng tuyển vào công ty. Đây còn là cơ hội giúp công ty có thể trao đổi với bạn hàng, đối tác, các cơ quan truyền thông, cơ quan công quyền, giúp thúc đẩy thông tin hai chiều và tăng cường quan hệ có lợi cho công ty.

  • Tin tức (News):

Tin tức là những thông tin doanh nghiệp đưa ra nhằm gây sự chú ý của công chúng đối với doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. Một tin tức tạo hiệu quả PR tốt thường bao gồm các yếu tố sau:

Tác động – có bao nhiêu người bị ảnh hưởng bởi một sự kiện hay một ý tưởng? Nó ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào ?

Xung đột – Đây là một đề tài muôn thuở trong mọi câu chuyện. Những cuộc đấu tranh giữa ngừoi với người, giữa các quốc gia hay với sức mạnh thiên nhiên đều lôi cuốn người ta đọc. Xung đột chính là một yếu tố cơ bản của cuộc sống.

Mới lạ – Đây là một yếu tố phổ biến. Con người hay sự kiện, có thể gây được giá trị hấp dẫn và do đó có giá trị thông tin chỉ vì yếu tố đặc biệt hoặc kì quái.

Gần gũi – Thông thường người ta sẽ thích thú và quan tâm tới những gì gần nơi họ ở. Khi họ đọc hay nghe một tin trong nước hay thế giới, họ thường muốn biết nó có liên can gì đến cộng động của họ.

Cấp thời – Tin đòi hỏi phải mới. Nếu tin thích đáng và hữu ích nó ắc hẳn phải đúng lúc. Những thông cáo kịp thời cho người ta cơ hội tham dự vào các vụ việc chung hơn là chỉ là một khán giả.

  • Quan hệ cộng đồng ( Community Relations ) Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Theo Fraser P.Seitel, một chuyên gia về PR người Mỹ, thì “quan hệ cộng đồng là một qui trình nhằm tạo ảnh hưởng đến suy nghĩ, nhận thức của cộng đồng, thông qua những phẩm chất tích cực được trình bày theo một phong cách thích hợp, dựa trên quá trình truyền thông cùng thỏa mãn hai chiều” Jane Johnnston và Clara Zawawi cho rằng “quan hệ cộng đồng là thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa tổ chức và những nhóm cộng đồng có tác động ảnh hưởng qua lại với tổ chức”.

Người ta tin rằng suy nghĩ, nhận thức của cộng đồng về một doanh nghiệp, tổ chức có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đó. Về mặt hiệu quả kinh doanh, nghiên cứu cho thấy một khi đứng trước sự chọn lựa, ngừoi tiêu dùng thường có xu hướng chọn mua sản phẩm mà họ có thiện cảm với những thương hiệu đó hơn là những sản phẩm mà họ có ác cảm. Chính vì lý do trên, các doanh nghiệp ngày nay không nagị đầu tư một khoảng tiền không nhỏ vào công tác quan hệ cộng đồng nhằm tạo ra thiện cảm và xây dựng quan hệ tốt với cộng đồng nơi mà doanh nghiệp hoạt động.

  • Các phương tiện nhận diện thương hiệu ( Identity Tools ):

Hệ thống nhận diện thương hiệu được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nhiều yếu tố mang tính đồng bộ và nhất quán của thương hiệu. Bao gồm: tên thương hiệu, logo, danh thiếp, website, cách bố trí và các vât dụng tại văn phòng đồng phục, bảng tên,…Để xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cần xây dựng một hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố trên.

Tên thương hiệu là từ hoặc cụm từ để khách hàng xác định công ty, sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Tên thường hiệu là một yếu tố rất quan trọng vì nó quyết đinh ấn tượng đầu tiên của công chúng đối với doanh nghiệp.

Logo là một chữ, một biểu tượng hay một hình ảnh đồ họa đại diện cho công ty hoặc sản phẩm. Đôi khi logo không chỉ đơn giản là những chữ cái hoặc hình vẽ mà chúng còn là một thực thể không thể tách rời trong việc liên tưởng đến thương hiệu. Bao gồm thành phần cơ bản của logo, font chữ của logo, sự bố trí và phối hợp màu sắc của logo, tỷ lệ kích thước chuẩn của logo.

Danh thiếp: được sử dụng trong hoạt động kinh doanh nhằm mang tính truyền tải thông tin ngắn gọn, đặc biệt là để trao đổi, lưu giữ các số điện thoại, địa chỉ giao dịch cá nhân, do đặc thù có kích thước nhỏ nên người dùng có thể để trong ví và rất thuận tiện trong việc lưu giữ. Danh thiếp là sản phẩm phổ thông nhất của bất cứ doanh nghiệp hay cá nhân nào có nhu cầu giới thiệu, chỉ dẫn về bản thân. Trên danh thiếp, ngoài các thông tin cá nhân, tên công ty, để đồng thời có thể quảng bá cho thương hiệu công ty có thể có logo, khẩu hiệu của doanh nghiệp hoặc đơn giản danh thiếp chỉ cần trang trí theo màu sắc chủ đạo của logo doanh nghiệp để khéo léo đưa hình ảnh công ty cũng như cảm nhận về công ty đến bất kì ai mà bạn tiếp xúc.

Website cũng là một yếu tố không thể thiếu trong bộ nhận diện thương hiệu của công ty trong thời đại công nghệ phát triển nhanh. Thể hiện đẳng cấp của doanh nghiệp qua cách trình bày website, bố trí thông tin, cách phối hợp màu sắc chủ đạo của website và logo của công ty. Giúp doanh nghiệp thể hiện rõ nét hơn thương hiệu của mình không bị bỏ rơi lại phía sau cánh cửa công nghệ thông tin hiện đại. Tên miền cũng chính là tên công ty trên trang web. Ngoài ra còn có yếu tố khác như mẫu giấy văn phòng, bìa thư, mẫu email, fax, đồng phục cho nhân viên bán hàng, nhân viên văn phòng, quà khuyến mãi, áo mưa…Và một yếu tố không thể thiếu trong việc nhận diện đó là con người, nhìn vào trang phục, bảng tên, phóng cách tác phong của đội ngũ nhân viên, quy trình làm việc khoa học bài bản mang đậm bản sắc văn hóa của doanh nghiệp đó làm cho khách hàng tin tưởng và ghi nhớ lâu hơn về thương hiệu của công ty. Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

  • Vận động hành lang ( Lobby ):

Vận động hành lang lobby lấy theo tên địa điểm địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị Viện Anh Quốc, nơi mà trong thời gian giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với đồng nghiệp hoặc với bất kì ngừoi nào để bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại nghị viện. Tại một số quốc gia vận động hành lang được luật pháp thừa nhận như một hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của lobby là phải diễn ra một cách công khai và minh bạch. Nếu không nó chỉ là sự móc ngoặc để trục lợi giữa chính quyền và các nhóm lợi ích có liên quan.

Với tư cách là một công cụ của PR, mục tiêu của hoạt động hành lang là gây ảnh hưởng đến chính phủ nhằm hướng tới những quyết định, những chính sách có lợi cho doanh nghiệp. Trong quá trình hình thành và hạt động, để đạt được những các mục tiêu của mình, các doanh nghiệp kinh tế không chỉ ngồi chờ những cơ quan quản lý tạo ra sân chơi, luật chơi mà phải thấy, chính doanh nghiệp, đại diện doanh nghiệp phải chủ động tạo dựng cho mình thế chủ động. Thế chủ động ở đây là vận động hành lang. Vận động để sớm hình thành chính sách, đưa chính sách nhanh đi vào thực tế. Chính sách đó có lợi cho doanh nghiệp, thuận lợi cho việc quản lý cho doanh nghiệp.

  • Đầu tư xã hội (Social Investment):

Hằng ngày, mỗi doanh nghiệp đều gửi rất nhiều thông điệp của thương hiệu đến với khách hàng. Có nhiều phương cách khác nhau để truyền tải thông điệp thông qua hoạt động marketing, hoạt động bán hàng và nhận diện thương hiệu…Tuy nhiên phương cách mà chưa nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và chưa tìm được ý nghĩa của nó là gửi thông điệp thương hiệu đến trái tim khách hàng thông qua đầu tư xã hội.

Các nhà nghiên cứu và những ngừơi làm kinh doanh đã và đang kêu gọi doanh nghiệp hãy hành động có trách nhiệm với xã hội, bởi vì “không còn nghi ngờ gì nữa nguyên tắc xử thế của ngày hôm nay có thể là luật định của ngày hôm sau” (Gaski,1999). Vậy đầu tư xã hội nghĩa là doanh nghiệp dùng tiền của mình vào những dự án cộng đồng, tài trợ học bổng và thành lập các quỹ hỗ trợ, ngoài ra họ còn vận động nhân viên của mình tự nguyện tham gia vào công tác xã hội, nhằm tạo ra một cảm giác thiện chí với quần chúng, điều này giúp đánh bóng tên tuổi công ty và củng cố hỉnh ảnh công ty.

1.1.3 Vai trò của PR:

Với cá nhân: tạo dựng, củng cố, phát triển hình ảnh, uy tín, ảnh hưởng, vai trò, quan hệ của họ với cộng đồng. Đặc biệt với những ngôi sao thể thao, ca nhạc, chính trị hay những cá nhân đang muốn tạo dựng và củng cố uy tín của mình với cộng đồng.

  • Với tổ chức:

Xây dựng/ tạo dựng và duy trì hình ảnh, uy tín của tổ chức

Xây dựng và quảng bá thương hiệu đối với cộng đồng. PR được đánh giá là phương tiện quan trọng và hiệu quả hàng đầu trong việc định vị và xây dựng, thương hiệu cho các tổ chức cá nhân.

Khuyến khích công chúng tham gia vào hoạt động của tổ chức.

Khuyến khích và tạo động lực cho nhân viên/ thành viên tích cực làm việc, đóng góp vì quyền lợi của tập thể.

Bảo vệ tổ chức trước các cơn khủng hoảng.

Khẳng định chất lượng nâng cao uy tính, chất lượng của sản phẩm

Tính hữu hiệu của PR còn thể hiện trong các trường hợp: tung sản phẩm dịch vụ mới, định vị lại thương hiệu sản phẩm cũ.

Quản trị khủng hoảng cho doanh nghiệp.

1.1.4 PR với Marketing và quảng cáo : Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

  • PR với quảng cáo:

Armand Dayan định nghĩa quảng cáo là “là thông báo phải trả tiền, một chiều và không riêng cho cá nhân nào, được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm cổ động có lợi cho một hàng hóa, một nhãn hiệu, một nhãn (cho một công việc, một ứng cử viên, chính phủ)…Vậy PR và quảng cáo giống và khác nhau như thế nào?

Bảng 1.1 Phân biệt sự giống và khác nhau giữa PR và quảng cáo

  PR Quảng cáo
Giống –   Đặc điểm đều là quá trình đưa thông tin đến đối tượng

–   Mục tiêu cuối cùng đều là tạo dựng sự hiểu biết lẫn nhau, sự ủng hộ và những mối quan hệ có lợi.

Khác -Thông tin một chiều được truyền từ người bán đến khách hàng tiềm năng, thường là thông tin thương mại, chủ yếu hướng tới đối tượng mua hàng. -Thông tin hai chiều có sự trao đổi thông tin(trao đổi giữa người phát ngôn và báo chí, trả lời phỏng vấn…), đa dạng, hướng đến nhiều đối tượng.
-Hướng vào việc làm thay đổi nhu cầu của khách hàng tiềm năng, nhằm thúc đầy hành vi mua hàng. – Thay đổi về nhận thức để cuối cùng dẫn đến thay đổi về hành vi của công chúng theo hướng có lợi cho công ty.
– Tốn nhiều chi phí và có thể kiểm soát được nội dung. – Không phải trả tiền nên không kiểm soát được nội dung.
– Tính khách quan: là tiếng nói trực tiếp của người bán hàng về sản phẩm của mình nên thường mang tính chủ quan. Không tin cậy. – Là tiếng nói gián tiếp của bên thứ ba giới truyền thông nên khách quan hơn.
  • PR với marketing:

( Nguồn Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi)

Theo hiệp hội Marketing của Mỹ – American Marketing Association (AMA). “Marketing được xem như là một chức năng tổ chức, và là một tiến trình báo gồm thiết lập, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng và quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên có liên quan đến nó”

Hiện nay còn nhiều người lầm tưởng PR và marketing là một. Trong khi, mặt dù hai hoạt động này có những đặc điểm chung nhưng nó có nhiều điểm khác biệt rõ rệt. Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Bảng 1.2 So sánh sự khác nhau và giống nhau giữa PR và marketing

PR Marketing
Giống Tạo dựng mối quan hệ có lợi, sự hiểu biết lẫn nhau, tạo dựng sự uy tín giữa khách hàng và công ty.

Đều sử dụng các hoạt động thông tin truyền thông giao tiếp để tìm hiểu thái độ của công chúng, khuyến khích hợp tác.

Phạm vi rộng rãi, bất kì tổ chức cá nhân nào cũng có thể tham gia.

Khác Đối tượng quan tâm: là công chúng.

Hành vi: Thái độ

Doanh nghiệp, kinh doanh

Lợi nhuận

Khách hàng.

Mua hàng

Tổ chức

Mối thiện cảm thông hiểu

(Nguồn Giáo trình Quan hệ công chúng trường Đại học Công Nghệ TPHCM)

Trong thế giới hoặc khu vực kinh tế tư nhân PR, quảng cáo và marketing có liên hệ với nhau. PR có thể áp dụng trong tất cả các thành phần của marketing hỗn hợp, trong đó quảng cáo là một thành phần. Sẽ dễ gặp rủi ro nếu thiếu PR bên cạnh marketing như: làm sao cộng đồng chấp nhận một sản phẩm khi xã hội chưa có nhận thức về nó. Vả lại nếu không có PR các công cụ còn lại của marketing không làm nổi công việc giải quyết khi xảy ra khủng hoảng, có sự cố thị trường.

1.2 PR nội bộ : Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Một vấn đề trăn trở lớn của doanh nghiệp là làm thế nào để một người bên ngoài muốn vào làm việc tại công ty, và đồng thời một người trong công ty không muốn chia tay doanh nghiệp. Để làm được điều này thì doanh nghiệp cần phải biết đến PR nội bộ và phải đầu tư vào hoạt động này nhiều hơn nữa.

1.2.1 Khái niệm PR nội bộ :

Theo như định nghĩa về PR của Frank Jefkins đã nêu ở trên “PR bao gồm tất cả các hình thức giao tiếp đã được lên kế hoạch, cả bên trong và bên ngoài tổ chức, giữa một tổ chức và công chúng của nó nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể liên quan đến sự hiểu biết lẫn nhau”, ta có thể thấy hoạt động PR được chia làm hai mảng: PR bên ngoài tổ chức và PR bên trong tổ chức. PR bên trong tổ chức ở đây chính là PR nội bộ, khi mà tổ chức thực hiện các hoạt động PR hướng tới các thành viên của các tổ chức đó.

Có thể hiểu PR nội bộ là chức năng quản lý nhằm tạo ra và gây dựng mối quan hệ tốt đẹp và có lợi giữa ban lãnh đạo của tổ chức, cơ quan với thành viên của tổ chức, giữa các thành viên trong tổ chức với nhau, để đi tới thành công chung của tổ chức, cơ quan đó.

Công chúng của PR nội bộ chính là tập thể cán bộ, nhân viên tổ chức, công ty và họ được liên kết với nhau bằng các mối quan hệ chuyên môn và công việc. Nhiệm vụ của PR nội bộ nhằm kiểm soát cộng đồng bên trong nhằm tạo ra sự quản lý hiệu quả nhất. Hiệu quả của một tổ chức hay một công ty là tập hợp sự tin tưởng, trách nhiệm giữa lãnh đạo và nhân viên.

Ngoài ra, PR nội bộ còn được hiểu là một bộ phận kết dính, liên kết các bộ phận khác trong công ty, các nhân viên trong phòng ban tổ chức. Nhằm tạo sự khác biệt, đặc trưng của công ty mình với công ty khác, mục đích thu hút sự chú ý quan tâm của công chúng, xã hội tạo nên một hình ảnh doanh nghiệp đẹp trong mắt mọi người, đồng thời khích lệ, động viên nhân viên trong công ty làm việc hăng hái, nhiệt tình đóng góp công sức vào việc xây dựng công ty ngày một phát triển.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Thắng Lợi – chuyên viên Marketing bản chất của PR nội bộ có thể được đúc kết như sau:

PR NỘI BỘ = TRUYỀN THÔNG + KHÍCH LỆ

Như vậy, PR nội bộ ngoài chức năng truyền thông như các hoạt động PR khác còn có chức năng động viên, khích lệ tinh thần nhân viên của doanh nghiệp, khiến họ tin tưởng, gắn bó với tổ chức, tự mình cố gắng làm việc với năng suất cao nhất và sự tận tụy hết mình. Từ đó ta có thể thấy PR nội bộ ngoài chức năng là một công cụ truyền thông còn là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý nhân sự của công ty.

Mục tiêu mà PR nội bộ hướng đến là những nhân tố sau:

  • Sự tin tưởng hai chiều giữa lãnh đạo và nhân viên.
  • Thông tin tin cậy cả về bề ngang và bề dọc
  • Động viên tinh thần, đảm bảo vị trí và khả năng tham gia vào công việc của mỗi nhân viên.
  • Giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong công ty
  • Niềm tin và sự thấu hiệu của nhân viên đối với công ty, hàng hóa của công ty
  • Sự thành đạt của tổ chức

1.2.2 Các kênh truyền tài của PR nội bộ: Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Ấn phẩm nội bộ: Ấn phẩm nội bộ ở đây có thể là báo chí, bản tin phát hành trong nội bộ doanh nghiệp với mục đích.

Cung cấp thông tin thường xuyên cho nhân viên về các công việc của tổ chức, mục tiêu và các nhiệm vụ hiện hành.

Cung cấp các thông tin có thể liên quan hoặc được sử dụng để hoàn thành công việc của tổ chức.

Nhắc nhở nhân viên những điều cần thiết để thực hiện nội quy hoặc để nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, trách nhiệm xã hội.

  • Công bố các thành tích của nhân viên

Tạo sự hiểu biết chung, củng cố sự tin tưởng của nhân viên đối với ban lãnh đạo và tổ chức, thúc giục nhân viên tích cực cộng tác, hợp tác với tổ chức.

Các xuất phẩm nội bộ không có tính thương mại, có thể hướng tới nhiều nhóm công chúng khác nhau, nhưng nhóm công chúng chủ yếu là nhân viên. Họ chính là công chúng trung tâm. Tại Hoa Kỳ, hai phần ba trong tổng số 100 tỷ xuất bản phẩm là dành cho nội bộ, có hàng chục nghìn tờ báo nội bộ với số lượng phát hành là 300 triệu bản. Tị Anh có 1800 tờ báo nội bộ với số lượng phát hành là 23 triệu bản, tại Nhật 3000 tờ, Pháp là 700 tờ.

  • Các kênh giao tiếp trong nội bộ:

Các kênh giao tiếp qua các phương tiện công nghệ thông tin:

Các phương tiện công nghệ thông tin phổ biến dùng trong truyền thông nội bộ gồm: thoại ( Analog, Volp), Email (Outlook Express, MS outlook, Thunder Bird…), SharePoint (chia sẻ thông tin), File Service (chia sẻ file), các giải pháp về thoại và hình ảnh ( voice, video), YM, Chat, Skype…. Các hệ thống quản lý và dùng chung văn bản , quản lý báo cáo, văn phòng điện tử, điều hành trực tuyến.

Đó là các công cụ rất hữu hiệu để tăng hiệu quả truyền thông nội bộ, lưu trữ thông tin, trợ giúp đắc lực trong việc quản lý. Đồng thời nó giúp tăng năng suất lao động tăng lợi nhuận kinh doanh vì thông tin nhanh chóng được cập nhật và thông báo hằng ngày

  • Kênh giao tiếp trực tiếp:
  • Giữa lãnh đạo với nhân viên:

Việc chia sẻ này có thể thông qua hình thức nhóm họp hay các hội nghị quản lý hoặc chia sẻ cá nhân giữa lãnh đạo và nhân viên để có thể giải đáp các thắc mắc của nhân viên cũng như truyền tải các thông điệp kinh doanh quan trọng đến họ.

Sẽ là thiếu sót lớn nếu doanh nghiệp chỉ biết tận dụng các công cụ công nghệ thông tin để nâng cao hiệu suất giao tiếp mà quên đi việc chia sẻ mặt đối mặt giữa lãnh đạo với nhân viên. Điều này sẽ khiến cho thông điệp được truyền tải nhanh hơn rất nhiều, có tác động mạnh mẽ tới nhân viên, đặc biệt là khi các lãnh đạo có khả năng thuyết trình, thuyết phục. Dựa theo những phản ứng, thái độ tại chỗ của nhân viên, lãnh đạo có thể linh hoạt điều chỉnh thông điệp của mình để phù hợp với từng nhân viên. Đối với nhân viên, nếu có một lời khen ngợi hay một lời chia sẻ từ người lãnh đạo là việc hết sức có ý nghĩa và có giá trị ý nghĩa không kém những quyền lợi vật chất. Nhân viên thường quan tâm đến môi trường làm việc bên cạnh tiền lương, ở đây quan hệ với lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá môi trường làm việc trong công ty.

Hơn nữa, trong rất nhiều trường hợp, chỉ khi trực tiếp chia sẻ thì nhân viên mới bộc lộ những cảm nhận suy nghĩ của mình, điều mà ít khi được đưa ra trong bất kì hoàn cảnh nào khác. Dựa trên những ý kiến đóng góp của nhân viên, người lãnh đạo có thể tiếp tục hoặc giải đáp những khúc mắc và đi đến những thống nhất trong tư tưởng giữa lãnh đạo và nhân viên.

  • Giữa nhân viên với nhân viên:

Bên cạnh việc chia sẻ giữa lãnh đạo và nhân viên, thì việc tạo điều kiên tiếp xúc, chia sẻ thường xuyên giữa các phòng ban, giữa nhân viên với nhau cũng là một phương pháp tốt để tạo dựng sự đồng lòng thấu hiểu lẫn nhau. Từ đó khả năng phối hợp làm việc giữa các nhân viên sẽ tăng lên đáng kể và các mâu thuẫn trong công ty cũng được giảm thiểu.

  • Các hoạt động cộng đồng trong nội bộ:

Đó là các hoạt động được tổ chức trong nội bộ công ty, thu hút sự tham gia của các thành viên trong công ty như ban lãnh đạo. Hình thức tổ chức các hoạt động này rất đa dạng và mang đầy tính sáng tạo của doanh nghiệp, nhằm mục tiêu tạo môi trường thoải mái, thân thiện, kết nối các thành viên trong công ty, phổ biến hình ảnh thương hiệu công ty, nâng cao nhận thức nhân viên đối với sản phẩm, tầm nhìn, sứ mạng của công ty. Về cơ bản có thể chia làm hai nhóm chính:

  • Sự kiện: được tổ chức nhân dịp nào đó trong năm ví dụ ngày lễ, ngày tổng kết cuối năm, ngày thành lập công ty…
  • Các hoạt động tập thể: gồm các hoạt động vui chơi, giã ngoại, các cuộc thi, trò chơi teamwork, trò chơi thương hiệu.

1.2.3 Các vai trò của PR nội bộ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

  • Gắn kết các thành viên và các phòng ban trong công ty
  • Tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo và nhân viên
  • Giúp xây dựng văn hóa doanh nghiệp
  • Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

1.3 Những yếu tố của PR nội bộ: Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

1.3.1 Cơ sở của các lý thuyết liên quan:

  • Các nghiên cứu trong nước:

Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động PR nói chúng và PR nội bộ nói riêng. Ta có thể kể đến một số công trình sau :

Theo Bùi Quý Toản với đề tài “Truyền thông doanh nghiệp : nhân tố dẫn đến thành công ‟‟ ông cho rằng truyền thông nội bộ liên quan đến sự tương tác giữa đội ngũ lãnh đạo với nhân viên cũng như giữa nhân viên với nhau, nó ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành văn hóa doanh nghiệp. Theo đó, ông đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PR nội bộ: quan hệ giao tiếp giữa nhà quản lý và đội ngũ nhân viên, truyền thông giữa nhân viên với nhân viên, thông điệp truyền thông, các hình thức truyền thông. Ngoài ra tác giả cũng đề cập đến việc truyền đi thông điệp nội bộ phải đồng bộ và thống nhất với chiến lược, mục đích của doanh nghiệp và cần phải rõ ràng đi đúng vào vấn đề, đúng đối tượng.

Tác giả Hồ Thị Thu Sương với đề tài „Quan hệ công chúng và đề xuất nâng cao hiệu quả của quan hệ công chúng đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay‟ đã đưa ra kết luận : nhờ có PR nội bộ mà lãnh đạo có thể quan tâm được tới đời sống và công việc từng nhân viên trong công ty, biết được điểm mạnh điểm yếu của nhân viên và có được sự phản hồi của nhân viên về những chính sách của lãnh đạo, đặc biệt là những đãi ngộ cho nhân viên từ đó làm cơ sở cho ban lãnh đạo đưa ra được những chính sách đãi ngộ phù hợp gắn với sự phát triển bền vững của công ty.

Cuộc khảo sát ý kiến tại công ty Traphaco về đề tài « Đánh giá về hoạt động PR nội bộ của công ty Traphaco‟‟. Trải qua 41 năm hình thành và phát triển, một nét đặc sắc tại Traphaco mà mọi ngừoi đều dễ nhận ra đó là sự đòng lòng đoàn kết của toàn thể nhân viên. Chia sẻ về bí quyết mang lại thành công trên, chủ tịch HĐQT bà Vũ Thị Nhuận cho biết đó chính là nhờ các cuộc khảo sát được diễn ra hằng năm. Từ các cuộc khảo sát trên công ty nhận rút ra được những cuộc giao ban, gặp gỡ trực tiếp và thường xuyên với ngừoi lao động trao đổi về mục tiêu, những khó khăn trong công việc, đồng thời lắng nghe những suy nghĩ, tâm tư của họ là cách để ban lãnh đạo Traphaco kết nối với ngừoi lao động để họ hiểu về doanh nghiệp hơn.

Giáo trình trường đại học Công Nghệ TPHCM (2023) cũng đã viết nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động PR nội bộ là tiếp thị nội bộ. Tiếp thị nội bộ coi nhân viên là khách hàng cần được đáp ứng các nhu cầu và mong muốn. Họ là những người nắm giữ các giá trị thương hiệu và truyền tải chúng đến khách hàng thực sự của mình. Bên cạnh đó, giáo trình còn đề cập đến những giải pháp cho hoạt động truyền thông nội bộ như chương trình cổ phiếu ưu đãi, chính sách phúc lợi, môi trường việc làm.

Một tác giả khác là Hồ Thị Sương với đề tài „Mức độ ảnh hưởng của môi trường làm việc đến động lực làm việc‟. Đề tài cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc gồm có chính sách công ty và môi trường làm việc. Trong đó, tác giả có chỉ rõ chính sách công ty bao gồm chính sách tiền lương, chính sách khen thưởng, đào tạo nhân viên, chính sách phúc lợi, và yếu tố môi trường là tập hợp các yếu tố cơ sở vật chất, phong cách lãnh đạo, công việc. Những yếu tố trên là những yếu tố chính tác động đến động cơ làm việc của nhân viên tại công ty.

  • Các nghiên cứu của nước ngoài: Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động PR, có thể liệt kê một số công trình chủ yếu như:

Theo một nghiên cứu của lực lượng lao động toàn cầu 2020 do Tower Washinton thực hiện ở Singapore về đề tài „ Quan điểm mới về hoạt động PR nội bộ (chính sách đãi ngộ)‟‟, kết quả của cuộc nghiên cứu này cho rằng, mặc dù lương vẫn được xem là một trong những yếu tố quan trọng có sức hút và giữ chân các nhân viên mẫn cán , nhưng chỉ có một phần ba người lao động ở đảo quốc này thỏa mãn với những phúc lợi ngoài lương (trong khi mức trung bình của thế giới là 46%), và chỉ có 36% thỏa mãn với những phúc lợi liên quan đến lương (mực trung bình của thế giới là 52%). Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng, lực lượng lao động ngoài lương ra thì gần đây họ còn có xu hướng quan tâm đến môi trường làm viêc, những chính sách phúc lợi – nơi mà có những gói phúc lợi đáp ứng được những nhu cầu cá nhân toàn diện hơn, đồng thời luôn đánh giá đúng thành tích làm việc của họ, ngoài ra còn có cả yếu tố nhân sự.

Một nghiên cứu khác của tác giả Anne Gregory với đề tài „ Sáng tạo chiến dịch PR‟. Ở đề tài này ông cho rằng PR là một nghệ thuật, công công việc đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc và xuyên suốt trong nhiều năm nhằm mục đích chăm sóc danh tiếng và tác động đến hành vi, thái độ của công chúng ( bên ngoài và bên trong) và các giới hữu quan đối với một tổ chức, cá nhân nhất định. Và bởi vì điều đó không thể đạt được trong ngày một ngày hai, không những phải nắm vững những kiến thức về PR mà còn phải biết sáng tạo trong bước hoạch định và quản lý các chiến dịch PR sao cho hợp lý, hiệu quả nhất. Để làm được điều đó cần phải xem xét đến các yếu tố tác động có liên quan như nguồn lực, công chúng, quỹ thời gian, đặc điểm của tổ chức.

Tương tự nghiên cứu này được thực hiện đối với Công ty CPTPDD NutiFood với quy mô tương đối so với các nghiên cứu nêu trên và đối tượng khảo sát là nhân viên tại công ty CPTPDD NutiFood.

Dựa trên việc tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến hoạt động PR nội bộ, tác giả đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PR tại công ty Cổ phần Thực phẩm Dinh dưỡng NutiFood bao gồm 5 yếu tố sau:

  • Môi trường làm việc
  • Chính sách lương và phúc lợi
  • Truyền thông nội bộ ( hoạt động giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên )
  • Hình thức truyền thông nội bộ
  • Nhân sự bộ phận PR
  • Giả thuyết nghiên cứu:

Bảng 1.3 Bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây liên quan đến hoạt động PR nội bộ.

Yếu tố Tác giả Đề tài
Môi trường làm việc Lực lượng lao động toàn cầu 2020 do Tower Washinton Quan điểm mới về hoạt động PR nội bộ
Chính sách lương và đãi ngộ Hồ Thị Thu Sương Quan hệ công chúng và đề xuất nâng cao hiệu quả của quan hệ công chúng đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Truyền thông nội bộ (Hoạt động giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên) Công ty Traphaco Đánh giá về hoạt động PR nội bộ của công ty Traphaco
Hình thức truyền thông nội bộ Chuyên viên PR Bùi Quý Toản Truyền thông doanh nghiệp : nhân tố dẫn đến thành công
Nhân sự bộ phận PR Anne Gregory Sáng tạo chiến dịch PR

1.3.2 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố: Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

  • Môi trường làm việc:

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Dung “Môi trường làm việc là một khái niệm rộng bao gồm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực cộng tác của mỗi cá nhân, cán bộ, công chức ( bao gồm môi trường bên trong và bên ngoài )”.

Môi trường làm việc đối với cán bộ, công chức (được tiếp cận là môi trường bên trong) bao gồm: cơ sở vật chất, tinh thần , mối quan hệ giữa lãnh đạo với nhân viên và giữa nhân viên với nhân viên…trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cán bộ, công chức cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

  • Chính sách lương và phúc lợi:

Tiền lương: theo Wikipedia tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và ngừoi lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phaỉ làm.

Ở Pháp sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà ngừơi sử dụng lao động trả cho ngừơi lao động .

Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, tháng, theo sản phẩm.

Ở Việt Nam, hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao từ công việc : tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phuc lợi và phụ cấp. Theo quan điểm cải cách tiền lương 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và ngừoi lao động phù hợp về quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường quyết định và được trả cho năng xuất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.

Phúc lợi xã hội: là một bộ phận của thu nhập quốc dân, được dùng để thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của người dân trong xã hội, chủ yếu là phân phối ngoài theo lao động. Phúc lợi xã hội bao gồm: tiền hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng, học phí cho học tập miễn phí, dịch vụ y tế, nghĩ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, trường mẫu giáo…

Phúc lợi xã hội là phương tiện cần thiết để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, đồng thời xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn.

Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân: “ Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ về cuộc sống cho người lao động. Có hai loại phúc lợi: Phúc lợi bắt buộc và phúc lợi tự nguyện. Phúc lợi bắt buộc là khoản mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo quy định của nhà nước. Phúc lợi không bắt buộc là khoản mà doanh nghiệp phải tự chi trả cho người lao động theo quy định của công ty.

Truyền thông nội bộ: là hoạt động xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ tốt giữa các thành viên trong một công ty, như giữa người chủ và người lao động, giữa người quản lý và nhân viên, để có thể hiệu triệu mọi nguồn lực, mọi nỗ lực trong nội bộ giúp tổ chức đạt được mục tiêu đề ra (Bảo Phương, 2022). Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Theo Nguyễn Hữu Thân PR nội bộ là việc củng cố tầm nhìn, giá trị và văn hóa tổ chức ở nhân viên trong doanh nghiệp, từ đó nhân viên có thể tiếp tục truyền tải nó ở trong nội bộ và ra bên ngoài.

Truyền thông nội bộ còn như là bộ khung sườn giúp định vị và giữ vững văn hóa của doanh nghiệp. Khi tất cả nhân viên có cách hiểu đúng và giống nhau thì sẽ cùng chú tâm vào một mục tiêu duy nhất, đó là nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, họ còn có thể làm tốt vai trò là đại sứ thương hiệu doanh nghiệp, truyền thông các giá trị thông điệp ra bên ngoài.

Hình thức truyền thông nội bộ: là sử dụng các công cụ được sử dụng nhằm truyền tải các thông điệp truyền thông đến với công chúng mục tiêu. Chọn lựa lênh nào để phù hợp và đạt được hiệu quả cao luôn là bài toán khó cho người làm truyền thông nội bộ. 5 kênh được đánh giá mang lại hiệu quả tiềm năng nhất trong việc kết nối với nhân viên bao gồm: mạng xã hội nội bộ, các buổi chia sẻ của lãnh đạo, trang tin nội bộ, Email, người quản lý trực tiếp.

  • Nhân sự bộ phận PR nôi bộ:

Nhân sự: bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nhân sự bộ phận PR chỉ những người làm việc ở bộ phận PR có chuyên môn về ngành quan hệ công chúng.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1:

Chương 1 đã trình bày về những vấn đề về một số khái niệm về PR, các kênh truyền tải thông điệp PR, vai trò, các lý thuyết về PR nôi bộ và vai trò của PR nội bộ. Khóa luận: Hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood.

Phân biệt PR với quảng cáo, PR với marketing. Các kết quả của một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Đưa ra mô hình nghiên cứu với 5 yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PR nội bộ tại công ty CPTPDD NutiFood bao gồm: môi trường làm việc, chính sách lương và phúc lợi, truyền thông nội bộ, hình thức truyền thông nội bộ, nhân sự bộ phận PR.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động PR nội bộ tại Công ty NutiFood

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x