Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội – chi nhánh Đông sài gòn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Phương hướng hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đông Sài Gòn

3.1.1 Định hướng phát triển chung

Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ và các kết quả kinh doanh đã đạt được trong năm 2025, ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đông Sài Gòn đã xây dựng mt sch tiêu kế hoch và các bin pháp thc hin ch yếu nhm nâng cao v thế và uy tín ca mình trong toàn h thống nói riêng cũng như trong hệ thống ngân hàng thương mi nói chung.

  • Sau đây là một số chỉ tiêu kinh doanh đến thời điểm 31/12/2025:
  • Huy động vốn: 2.219 tỷ đồng
  • Dư nợ tín dụng: 1.131 tỷ đồng
  • Nợ xấu: 1.2%
  • Lợi nhuận trước thuế: 26 tỷ đồng
  • Kế hoch phát triển kinh doanh năm 2026
  • Kế hoạch huy động dân cư:

Phân công nhân viên phụ trách cập nhật thông tin, tìm hiểu sở thích, nhu cầu của khách hàng từ đó phân nhóm khách hàng để chăm sóc nâng cao hiệu quả chất lượng dịch vụ (nhanh, thân thiện, nhớ đặc điểm khách hàng, cập nhập thông tin tặng quà nhân ngày sinh nhật khách hàng…)

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Phòng giao dịch, lên kế hoạch chăm sóc, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, phát triển khách hàng mới, đặc biệt là các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực ưu tiên của ngân hàng Quân Đội là các khách hàng thuộc đối tượng khách hàng ưu tiên, các khách hàng sử dụng các sản phẩm trọn gói, khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng Quân Độ Tích cực đào tạo cán bộ nhân viên bán chéo các sản phẩm bán lẻ, các loại dịch vụ. Để đạt 120% kết quả huy động năm 2026 Ban lãnh đạo Chi nhánh và toàn thể CBNV đã không ngừng cố gắng nỗ lực phấn đấu.

  • Lp kế hoạch đào to: Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Thực tế tại Phòng DVKH hiện tại có đến 55% là nhân viên đang trong thời gian thử việc và học việc. Do đó bên cạnh các công việc phát sinh hàng ngày thì việc đào tạo nâng cao nghiệp vu cho CBNV luôn được Chi nhánh chú trọ Lịch đào tạo cụ thể cho năm 2026 như sau:

Đào tạo đội ngũ chuyên viên chuyên nghiệp: Triển khai việc đào tạo tại chỗ cho các chuyên viên về nghiệp vụ, kỹ năng bán chéo sản phẩm, tiếp thị và chắm sóc khách hàng, kỹ năng giải quyết vấn đề phát sinh trong công việ Phát triển điểm mạnh, điểm yếu của từng nhân viên để tiếp tục có kế hoạch đào tạo và phân công công việc hợp lý.

  • Lp kế hoch phát triển và chăm sóc khách hàng:

Chi nhánh Đông Sài Gòn là một trong số các Chi nhánh trên toàn hệ thống có Phòng Priority theo đúng tiêu chuẩn, Tổng số lượng khách hàng đến 31/12/2025 của Chi nhánh 7221 khách hàng cá nhân, trong đó: KH TGCKH: 2.377 khách hàng, KTGKKH: 4.844 khách hàng với tỷ lệ khách hàng TG CKH như sau:

Đặc điểm khách hàng tại Chi nhánh Đông Sài Gòn: số lượng khách hàng Gold và khách hàng Platium chiếm tỷ lệ rất nhỏ 3.84 nhưng tỷ lệ số dư huy động chiếm hơn 65 trên tổng số tiền huy động. Chính vì vậy, bên cạnh việc chăm sóc chất lượng chung đối với các khách hàng, Chi nhánh cần phải đặc biệt chú trọng hơn với đối tượng các khách hàng Priority vì đây là những khách hàng rất khó tính và nhạy bén với thông tin thị trường nhất là vào những thời điểm biến động lãi suất, sốt vàng, biến động của thị trường BĐS. Và đây cũng chính là đòn bẩy để chi nhánh phát triển nguồn khách hàng mới, nguồn huy động mới theo hình thức vết dầu loang.

Trong quá trình hoạt động, Chi nhánh Đông Sài Gòn luôn tuân thủ các chỉ tiêu, chỉ số kinh doanh, chỉ tiêu lợi nhuận và an toàn trong hoạt động của ngân hàng Quân Đội.

Phân công nhân viên phụ trách cập nhật thông tin, tìm hiểu sở thích, nhu cầu của khách hàng từ đó phân nhóm khách hàng để chăm sóc nâng cao hiệu quả chất lượng dịch vụ (nhanh, thân thiện, nhớ đặc điểm khách hàng, cập nhập thông tin tặng quà nhân ngày sinh nhật khách hàng…)

Tham gia bán chéo các sản phẩm đối với các khách hàng mới cũng như khách hàng cũ. Tìm hiểu kỹ về tình hình dân cư, tận dụng các mối quan hệ trên địa bàn.

  • Triển khai gọi điện cho khách hàng theo danh sách mà TTPT sản phẩm thẻ hỗ trợ, cố gắng bán sản phẩm thẻ Visa tối đa.
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ, đạt điểm KHBM từ 96 điểm trở lên..

Theo sát các định hướng, chính sách phát triển của Quân Đội, thường xuyên cập nhập các văn bản mới của Quân Đội trong từng thời kỳ, phổ biến cho nhân viên trong phòng, đảm bảo toàn bộ cán bộ nhân viên nắm được các định hướng phát triển và chính sách của Quân Đội, giúp các nhân viên có kế hoạch trong công việc, có kế hoạch chăm sóc, phát triển khách hàng nhằm đạt được mục tiêu phát triển chung.

Tạo môi trường tích cực, hoà đồng và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, phối hợp tốt cùng các bộ phận khác.

3.1.2 Định hướng cơ bản việc thực hiện nghiệp vụ bảo đảm tín dụng tại chi nhánh Đông Sài Gòn Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ sau khi chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO). Do vậy, hội nhập quốc tế về hoạt động ngân hàng đã trở thành yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết của nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, hệ thống các ngân hàng thương mại bao gồm cả ngân hàng thương mại quốc doanh lẫn ngân hàng cổ phần đang “đầu tư tổng lực” để phát triển. Việc không ngừng nỗ lực hoàn thiện chính mình, tạo dựng lòng tin vững chắc nơi khách hàng mà ngân hàng đã và đang thực hiện là điều đáng quan tâm hàng đầu. Nhận thức được vai trò quan trọng đó của chất lượng và độ an toàn của nguồn vốn tín dụng, ngân hàng chủ trương:

Mục tiêu trong giai đoạn tới là đảm bảo vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vì vậy ngân hàng phải đẩy mạnh công tác huy động vốn cũng như phân phối vốn, gắn việc cho vay vào các phương án, dự án hiệu quả, tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng.

Tăng tỷ trọng cho vay có bảo đảm trong tổng doanh số cho vay, mở rộng và đa dạng hoá danh mục tài sản cầm cố, thế chấp. Linh hoạt trong việc nắm giữ và bảo quản tài sản bảo đảm.

Phối hợp chặt chẽ với cơ quan hữu quan để đánh giá, thẩm định tài sản bảo đảm, đồng thời nắm bắt cập nhật những thông tin, văn bản mới nhất về bảo đảm tiền vay để thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối.

Ngân hàng chủ động trong việc phối, kết hợp với các cơ quan, hữu quan, giải quyết tốt các khoản nợ tồn đọng, nợ quá hạn phát sinh. Kiên quyết xử lý tài sản, thu hồi nợ đối với con nợ chây ỳ, đề xuất với cấp trên và các ngành hữu quan xử lý những con nợ có tính chất phức tạp, làm tốt công tác xử lý nợ theo chế độ.

Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thẩm định để có thể đánh giá được một cách chính xác tính hiệu quả của dự án cũng như đánh giá được đúng chất lượng của tài sản đảm bảo, tránh rủi ro cho ngân hàng.

Những mục tiêu và phương hướng trên chính là định hướng soi đường, là kim chỉ nam cho lãnh đạo và công nhân viên Quân Đội nỗ lực thực hiện thành công kế hoạch phát triển trong các năm tới, để có thể đưa ngân hàng ngày một phát triển hơn.

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

3.2.1 Khai thác triệt để các nguồn thông tin

Giá trị thực của TSĐB thường xuyên biến động theo thị trường nên giá trị bảo đảm cho khoản vay của khách hàng cũng tăng, giảm theo. Do đó, ngân hàng sẽ không thể xác định mức độ an toàn của khoản vay nếu không cập nhật kịp thời thông tin. Để đảm bảo thông tin luôn chính xác thì ngân hàng cần phải có cách thức thu thập và xử lý thông tin từ phía khách hàng, cơ quan chức năng, báo chí, internet…

  • Phương pháp thu thập:

Phương pháp chủ yếu là phân tích và tổng hợp các thông tin đã có, bên cạnh đó là trao đổi thông tin với các cơ quan chức năng và trong hệ thống ngân hàng.

Đối với thông tin từ phía khách hàng, thông tin đầu tiên ngân hàng nhận được từ hồ sơ do khách hàng cung cấ Ngân hàng phải yêu cầu khách hàng cung cấp đủ thông tin về năng lực dân sự, tình hình tài chính…qua các hợp đồng, hóa đơn, giấy tờ bảo hiểm, quyền sở hữu. Ngân hàng cần xem xét ký lưỡng, kiểm tra tính xác thực của các thông tin từ đó đưa ra đánh giá, so sánh để đưa tới quyết định cấp tín dụng hay không. Hiện nay trình độ công nghệ phát triển mạnh, vì vậy nguy cơ làm giả thông tin xảy ra rất nhiều nên ngân hàng đẩy mạnh phương pháp thu thập trực tiếp từ khách hàng đó là phỏng vấn trực tiếp, thăm cơ sở sản xuất để xác nhận thông tin.

Thông tin từ phỏng vấn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của nhân viên thẩm định.

Những yếu tố ảnh hưởng tới cuộc phỏng vấn như:

  • Khách hàng đã quan hệ giao dịch hay mới quan hệ lần đầu
  • Lĩnh vực kinh doanh mới hay lĩnh vực kinh doanh truyền thống
  • Mục đích tài trợ ảnh hưởng tới cách phỏng vấn
  • Qui mô tài trợ ảnh hưởng tới thời gian tiến hàng phỏng vấn
  • Địa điểm phỏng vấn tại ngân hàng hay tại cơ sở sản xuất
  • Mức độ chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn
  • Nhân viên phỏng vấn có mối quan hệ trước với khách hàng hay không. Hay kinh nghiệm của người tiến hàng phỏng vấn

Đối với thông tin từ phía cơ quan chức năng, ngân hàng cần xây dựng mối quan hệ trực tiếp với các cơ quan này như: Ngân hàng nhà nước, CIC, tổ chức tín dụng khác, Cơ quan Thuế, Hải quan, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Tư pháp… để có được thông tin nhanh nhạy, thường xuyên, cập nhật, chính xác để đánh giá đúng uy tín, năng lực tài chính của khách hàng.

Thu thập từ thông tin đại chúng như báo chí, internet…thường xuyên đăng tải thông tin về giá cả thị trường các loại hàng hóa. Giá cả hàng hóa thường xuyên biến động theo thời gian, do đó đây là những thông tin khá cần thiết và bổ ích cho việc xác định giá trị TSĐB nhưng thông tin này thường đa dạng và không có tính chất đảm bảo nên ngân hàng luôn phải xem xét cẩn thận, sàng lọc thông tin kỹ lưỡng tránh gây hậu quả không đáng có. Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Ngân hàng nên xây dựng bộ phận chuyên trách cho việc thu thập, phân loại, xử lý thông tin, giảm tải áp lực cho nhân viên tín dụng, để họ có thể tập trung cho việc phân tích, thẩm định, tiếp thị khách hàng.

Xây dựng mạng lưới thông tin bao quanh dầy đặc đồng thời trang bị cho cán bộ thẩm định những phương pháp tiếp cận, khai thác thông tin từ nhiều nguồn Tích cực tiếp cận, cập nhật từ những thay đổi trong đường lối chính sách của các cấp thẩm quyền, của các phương tiện thông tin đại chúng, điều tra qua thâm nhập thực tế , mua thông tin từ các tổ chức chuyên nghiệp, thuê chuyên gia tư vấn thẩm định về các thông số kĩ thuật của các tài sản có tính chuyên biệt cao. Ngân hàng phải tập trung khai thác triệt để các nguồn thông tin để làm phong phú, đầy đủ và hoàn thiện hơn về hệ thống thông tin của mình.

Đẩy mạnh đầu tư cho công nghệ, trang bị công nghệ hiện đại, nâng cao tiện ích, tính bảo mật khách hàng vừa đảm bảo thông tin, vừa nhanh chóng, thuận tiện giao dịch, vừa tiết kiệm thời gian.

3.2.2 Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định TSĐB

Hoàn thiện kỹ thuật thẩm định để giải quyết vấn đề cơ bản của tín dụng là có nên cho vay hay không và cho vay như thế nào. Để trả lời và đi đến quyết định cuối cùng, ngân hàng cần thiết phải hoàn thiện thẩm định trên các mặc.

Th nht, uy tín của khách hàng phải được đề cập trong thẩm định và cụ thể hơn, nó phải có nội dung trong tờ trình của cán bộ tín dụng, với các tiêu thức cụ thể là thẩm định qua hồ sơ quá khứ của khách hàng; thẩm định qua phỏng vấn trực tiếp với mục đích cần đạt được rõ ràng là: tìm hiểu phẩm chất của khách hàng vay trên góc độ như động cơ vay, sự liêm chính, thái độ sẵn lòng trả nợ; thẩm định danh tiếng hoặc tai tiếng; uy tín của khách hàng qua các luồng thông tin

Th hai, hoàn thiện thẩm định nguồn trả nợ của khách hàng trước khi một nhu cầu cho vay được đáp ứng, việc nhìn thấy một loạt các nguồn tiền trả nợ là cần thiết, nó đem lại cho TCTD giải quyết cả ba vấn đề trong quan hệ tín dụng là giá cả, rủi ro và lòng tin. Với ba nguồn được xếp thứ tự trong việc thẩm định cần làm là :

Một là, nguồn từ quyết toán khoản vay: là nguồn trả nợ từ chính hiệu quả của khoản tín dụng, nó phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận của người vay mà trực tiếp là phương án vay vốn

Hai là, nguồn từ chính năng lực tài chính của khách hàng vay vốn: được dùng khi dự án vay thực hiện không thành công, khi đó nguồn này vẫn chứa đựng sự không chắc chắn do việc ngân hàng cùng phải chia sẻ nguồn thu này với chủ nợ khác.

Ba là, tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố…): Là nguồn thu sau cùng từ phía khách hàng. Nguồn này tỏ ra khá chắc chắn và có tính “ưu quyền” của ngân hàng trên giá trị của tài sản bảo đảm.

Việc quy trách nhiệm rõ ràng, cụ thể đối với cán bộ thẩm định tài sản đảm bảo sẽ giúp cho cán bộ thẩm định có trách nhiệm hơn với nhiệm vụ của mình, khuyến khích được cán bộ nâng cao kiến thức về các lĩnh vực liên quan, nghiên cứu, thực hiện đúng các quy chế, văn bản, tuân thủ đúng quy trình thẩm định, tránh được tình trạng làm việc hời hợt, vô trách nhiệm hay đánh giá theo những kinh nghiệm chủ quan của bản thân mà dẫn đến những đánh gía sai lệch gây rủi ro cho ngân hàng.

3.2.3 Áp dụng linh hoạt hình thức TSĐB Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Việc nhận cầm cố, thế chấp những tài sản tại ngân hàng xưa nay diễn ra rất đơn giản, khách hàng vay đề nghị cầm cố hay thế chấp tài sản gì thì cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định tài sản đó chứ không hề có một quy định chuẩn mực, chi tiết nào về điều kiện cụ thể của từng loại tài sản bảo đảm ứng với từng hình thức cấp tín dụ Mà thực tế đối với loại hình vay mức độ rủi ro của nó là khác nhau, do đó mà những tiêu chuẩn, mức độ khắt khe đối với điều kiện và giá trị tài sản đảm bảo của các khoản vay đó cũng khác nhau. Vì vậy nếu làm tốt được việc thiết lập một cơ chế lựa chọn tài sản đảm bảo thì sẽ tránh được trường hợp khách hàng cứ có tài sản là mang đến ngân hàng đòi cầm cố, thế chấp mà không cần biết tài sản của mình có đủ điều kiện và phù hợp với hình thức tín dụng mà mình đề nghị hay không, hay việc cán bộ thẩm định chỉ dựa trên những khía cạnh chung chung, dựa vào kinh nghiệm chủ quan là chính dẫn đến tình trạng đề cao mặt này, xem nhẹ mặt khác, tính rủi ro vì thế mà cao. Ngoài ra nó còn giúp tiết kiệm được chi phí, công sức và thời gian của cả ngân hàng và khách hàng.

Đánh giá lại từng khoản tín dụng và tài sản bảo đảm có phù hợp với giá trị, thời lượng của khoản vay hay không. Trong trường hợp TSĐB đã nhận chưa đầy đủ cơ sở pháp lý, tính chuyển nhượng và giám sút về mặt giá trị yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản hoặc giảm dư nợ vay/ tất toán khoản vay trước hạn nếu nhận thấy những dấu hiệu rủi ro từ nguồn thanh toán nghĩa vụ vốn vay.

Giảm dần tỷ lệ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, theo qui định của ngân hàng, những đơn vị trả lương qua tài khoản, cán bộ nhân viên trong đơn vị có thể xem xét cho vay tín chấp lương. Thực tế, nhiều các nhân trong đơn vị có ý thức trả nợ thấp, hoặc mức độ ổn định thu nhật của người vay thấp nên thường xuyên để nợ quá hạ Vì vây, ít nhất 6 tháng hoặc 1 năm, chi nhánh tiến hành đánh giá lại từng đơn vị trả lương qua tài khoản để thiết lập chính sách tín dụng cho những khoản vay tín chấp của các đơn vị.

Đối với từng sản phẩm tín dụng cụ thể, điều kiện của từng cá nhân cụ thể, từng mục đích vay cụ thể…mà ngân hàng áp dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tín dụng bằng tài sản sao cho đạt hiệu quả bảo đảm cao nhất.

Đối với tài sản đảm bảo là hàng hóa hình thành thừ vốn vay: Chi nhánh thực hiện nghiêm túc quy trình ban hành thống nhất trong toàn hệ thố Mở rộng hợp tác với các đơn vị giao vận uy tín và trình phòng phát triển sản phẩm ngân hàng nghiên cứu kỹ các thỏa thuận hợp tác toàn hệ thống nhằm tạo thuận tiện cho khách hàng và ngân hàng. Những trường hợp cá biệt không tuân thủ đúng quy trình giao vận, chi nhánh tiến hành thuê kho hàng hai bên, thuê bảo vệ độc lập vòng ngoài, không chấp nhận những kho hàng không đủ điều kiện, hàng hóa quản lý không có sự tách biệt với hàng hóa của các đơn vị khác. Bên cạnh đó, cần giữ toàn bộ giấy tờ chứng minh nguồn gốc và quyền sở hữu tài sản và nhập kho lưu giữ theo quy định của Ngân hàng. Ngân hàng cần kiểm tra đột xuất hoặc thường xuyên hàng hóa để tại kho ba bên, giám sát quy trình nhập xuất kho. Kiểm tra chất lượng hàng hóa. Khi xảy ra dấu hiệu bị rút hàng hoặc hàng hóa giảm sút giá trị cần có giải pháp kịp thời để xử lý nhằm bảo toàn vốn vay ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Đối với tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ: trường hợp những khoản vay Chi nhánh chấp nhận lấy quyền đòi nợ cần yêu cầu trong hợp đồng kinh tế mà Chi nhánh nhận quyền đòi nợ có cam kết thanh toán duy nhất không hủy ngang về tài khoản của khách hàng mở tại chi nhánh hoặc yêu cầu có cam kết thanh toán ba bên. Chi nhánh thường xuyên theo dõi dòng tiền thanh toán về tài khoản của khách hàng và đánh giá chất lượng, giá trị hàng hóa, đánh giá đối tác mà chi nhánh nhận quyền đòi nợ. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ trả nợ không thực hiện theo đúng cam kết ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn thực hiện cam kết. Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng phải thường xuyên đánh giá uy tín của bên có nghĩa vụ, yêu cầu khách hàng vay vốn phải cung cấp thông tin về bên mua hàng để đảm bảo chắc chắn nguồn thu từ quyền đòi nợ không vi phạm cam kết.

Đối với tài sản bảo đảm là hàng tốn kho, khoản phải thu luân chuyển: chỉ áp dụng với khách hàng có mức độ uy tín cao, sản xuất kinh doanh an toàn, hiệu quả. Việc kiểm tra phải tiến hành thường xuyên, đối chiếu với sổ sách và hàng hóa, công nợ thực tế của công ty. Theo dõi sát dòng tiền về tài khoản của khách hàng để theo sát hoạt động kinh doanh của khách hàng và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng khi nhận TSĐB là hàng hóa, khoản phải thu.

Đối với từng sản phẩm tín dụng cụ thể, điều kiện của từng cá nhân cụ thể, từng mục đích vay cụ thể…mà ngân hàng áp dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tín dụng bằng tài sản sao cho đạt hiệu quả bảo đảm cao nhất.

3.2.4 Hoàn thiện công tác quản lý và giám sát TSĐB

Chi nhánh muốn thực hiện tốt vấn đề an toàn trong cho vay thì cần phải làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý tài sản đảm bảo và việc sử dụng vốn của khách hàng. Bởi vì có như vậy thì Chi nhánh mới sớm phát hiện được tình trạng thực tế của khách hàng để từ đó có biện pháp xử lý thích hợp nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng.

Chi nhánh phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình trạng của tài sản bảo đảm, đồng thời cũng phải thực hiện việc giám sát vấn đề sử dụng tài sản bảo đảm của khách hàng có đúng mục đích không để có biện pháp xử lý kịp thời.

Hiện nay ngân hàng đã thành lập công ty định giá MBAMC – hoạt động trên các lĩnh vực xử lý và mua bán nợ, phát triển mạng lưới, xây dựng cơ bản, kinh doanh vận chuyển và quản lý ô tô, quản lý tài sản, kho… cho Ngân hàng. Tuy nhiên, do mới thành lập chưa lâu nên MBAMC trong công tác quản lý không tránh khỏi những vấp váp, khuyết điểm và cần có thời gian để hoàn thiện các nghiệp vụ của mình. Thực chất của vấn để này là đưa ra phương pháp quản lý hiệu quả nhất cho từng loại tài sản để tối thiểu hóa rủi ro từ việc hỏng hóc, mất cắp, biến đổi giá trị. Mỗi một loại tài sản dùng để cầm cố, thế chấp có đặc điểm khác nhau về hình thức, tính ổn định, tính thanh khoản, cơ chế pháp luật tác động nên việc quản lý cũng khác nhau. Đối với TSĐB là thẻ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, các loại GTCG khác…thì việc quản lý là tương đối đơn giả Ngoài việc lưu trữ các giấy tờ trong két bảo quản của ngân hàng thì ngân hàng còn cần phải theo dõi và phong tỏa các hoạt động ghi trên tài khoản của người vay. Đối với kỳ phiếu, trái phiếu thì chỉ cần quan tâm đến thời hạn đáo hạn, sở hữu hợp pháp. Để bảo đảm an toàn, ngân hàng phải có các cuộc kiểm tra định kỳ để tiến hành đánh giá lại TSĐB đồng thời kiểm tra xem tài sản có bị hỏng hóc, thay đổi hay không để tiến hàng các biện pháp xử lí kịp thời. Cũng như việc thẩm định khách hàng, thẩm định TSĐB không những chỉ chú trọng ở giai đoạn đầu của quy trình tín dụng mà ngân hàng phải coi đó là một hoạt động thường xuyên liên tục cần thực hiện trong suốt thời hạn của khoản vay.

3.2.5 Nâng cao hiệu quả công tác xử lý tài sản bảo đảm Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Biện pháp cuối cùng để thu hồi nợ là xử lý TSĐB, đây là một công việc hết sức khó khăn. Khi khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng phải tiến hàng xử lý TSĐB để làm cho hoạt động tín dụng của ngân hàng được an toàn và hiệu quả. Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi thời gian dài. Vì vậy đối với các khoản nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm cần phải tập trung nghiêm cứu để phân tích nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển hóa tài sản thành tiền.

Trên thực tế, việc xử lý tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân như thủ tục pháp lý còn có sự bất cập, ngân hàng không nhận được sự giúp đỡ của có quan chức năng có liên quan đến việc thi hồi tài sản hay do chủ nợ không tự nguyện giao tài sản cho ngân hàng. Bên cạnh đó, việc phát mại tài sản cũng gặp nhiều khó khăn như phải tốn nhiều thời gian và chi phí, hoặc có thể tài sản phát mại không có trên thị trường nên không định giá được giá trị phát mại của tài sản phát mạ Vì vậy, để đạt được mục đích của hoạt động BĐTD thì ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác xử lý TSĐB, chi nhánh cần tuân thủ chặt chẽ các bước xử lý TSĐB .

3.2.6 Nâng cao trình độ nhân viên

Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là trong công tác BĐTD. Trong khi đó những vấn đề BĐTD thường phức tạp, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có một trình độ nhất định. Do đó, ngân hàng phải coi trọng đúng mức việc đào tạo nhằm nâng cao trình độ cán bộ, nhân viên.

Đối với bộ phận quan hệ khách hàng là bộ phận trực tiếp thẩm định phương án vay vốn và lựa chọn TSĐB cho khoản vay trước khi chuyển sang bộ phận hỗ trợ thẩm định và định giá độc lập TSĐB, cần nâng cao trình độ thẩm định khoản vay, đánh giá, nhận định khách hàng. Xác định TSĐB là rào chắn rủi ro cho ngân hàng, không phải là điều kiện then chốt trong quyết định cho vay. Nhiều nhân viên quan hệ khách hàng tại chi nhánh vẫn mang tư tưởng TSĐB là vấn đề lãnh đạo quyết định việc cho vay, trên thực tế phương án vay vốn của khách hàng và dòng tiền từ phương án quyết định đến khả năng trả nợ vay của khách hàng. Để việc đào tạo có hiệu quả, chi nhánh cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Cung cấp những tài liệu cần thiết về bảo đảm tín dụng để cán bộ tự học tập nghiên cứ Coi việc tự học tập và nghiên cứu là công việc bắt buộc đối với cán bộ ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Thường xuyên tổ chức những khóa học có tính chất chuyên đề về các vấn đề có liên quan đến công tác BĐTD , nhằm trao đổi kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp tối ưu trong quá trình thực hiện BĐTD. Kết hợp với công ty quản lý nợ AMC tổ chức các khóa đào tạo chuyên đề về thẩm định TSĐB để kịp thời cập nhập các qui định và trao đổi, chia sẻ các kinh nghiệm thực tế.

Định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm tiến hành kiểm tra trình độ nhận thức của cán bộ nhân viên. Từ đó có căn cứ để phân công công việc phù hơp với khả năng, trình độ của từng người.

Bên cạnh đó, chi nhánh cũng cần phải nâng cao chất lượng của bộ phận chuyên định giá TSĐB. Định giá TSĐB là rất quan trọng bởi vì việc định giá TSĐB này chính là cơ sở để xác định mức cho vay tối đa đối với một khoản vay và khả năng thu hồi nợ trong trường hợp phải xử lý TSĐB. Vì vậy, để giúp ngân hàng có được quyết định cho vay đúng đắn, đảm bảo an toàn ngân hàng và tạo ra được mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng vay thì ngân hàng cần phải xác định đúng giá trị đích thực của TSĐB. Tuy nhiên, việc xác định đúng giá trị TSĐB là việc mà khả năng chính xác là không cao vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan. Điển hình có thể nói là do chất lượng của bộ phận định giá TSĐB. Do đó, để nâng cao chất lượng đối với bộ phận chuyên định giá TSĐB thì chi nhánh cần phải sử dụng những biện pháp sau:

Để độ thẩm định đạt kết quả chính xác hơn thì cần phải lập một hội đồng thẩm định giá TSĐB vì việc định giá là phức tạo nên cần phải có một số đông người tham gia để có thông tin đầy đủ hơn, chính xác hơn và an toàn hơn.

Xây dựng một số tiêu thức định giá của TSĐB dựa trên những thông tin xác thực, đúng đắn.

3.3 Kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị về Chính phủ.

3.3.1.1. Hoàn thin pháp lut v bảo đảm tin vay.

Hiện nay, đã có rất nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay. Các văn bản pháp luật này đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và ổn định cho hoạt động tín dụng nói chung và bảo đảm tiền vay nói riêng. Nhiều quy định trong đó phù hợp với yêu cầu của hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh, quyền tự chủ của các TCTD và trách nhiệm của khách hàng vay, bên bảo lãnh trong giao dịch bảo đảm bằng tài sản được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hoạt động bảo đảm tiền vay bằng tài sản của khách hàng vay còn tồn tại nhiều vướng mắc, chưa thực sự bắt nhịp với những yêu cầu đa dạng, phong phú của thực tiễn cuộc sống, chưa thích ứng với những yêu cầu, đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều và có thể được đánh giá từ nhiều giác độ khác nhau: do tính chất phức tạp của giao dịch bảo đảm bằng tài sản; do năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng; do cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành…vv, nhưng chủ yếu là do những tồn tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay. Nội dung quy định trong các văn bản còn chưa đồng bộ, thống nhất làm cho việc triển khai thực hiện nhiều lúc còn lúng túng, thậm chí không thực hiện được. Chính vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay là rất cần thiết. Bên cạnh yêu cầu tuân thủ những nguyên tắc cơ bản đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay cần quán triệt các định hướng chủ yếu sau đây: Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Th nht, vấn đề liên quan tới tài sản đảm bảo là bất động sản Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quá phiền hà gây khó khăn không chỉ với người sở hữu mà còn với các ngân hàng trong vấn đề xác định tính chất pháp lý của bất động sản.

Theo Luật Đất đai năm 2003, việc cấp GCN thuộc thẩm quyền của các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan tài nguyên – môi trường, đây là quy định mới, nhằm bớt phiền hà cho người dân phải đi qua nhiều “cửa” như trước đây, khắc phục tình trạng nhiều cơ quan quản lý. Nhưng thực tế, từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành thì người dân vẫn còn nhiều bức xúc về thủ tục do cán bộ thực quyền gây ra khi đăng ký cấp giấy chứng nhận.

Kiến nghị chính phủ trong thời gian tới cần điều chỉnh, giảm bớt các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi việc cấp giấy chứng quyền sử dụng đất một cách hợp pháp.

Thứ hai, hiện Việt Nam có 3 phương thức đăng ký, bao gồm: đăng ký giao dịch bằng động sản; đăng ký giao dịch bằng bất động sản và tài sản gắn liền trên đất và đăng ký bằng tàu bay, tàu biển. Thế nhưng, dù những tài sản thuộc diện đăng ký giao dịch bảo đảm đa phần đều có giá trị lớn, song những điều khoản chi tiết đối với các loại tài sản trên lại bộc lộ nhiều bất hợp lý, gây ra không ít những rắc rối cho các bên. Chẳng hạn như trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biển), vẫn còn những “khoảng trống” giữa thời điểm nhận đơn và thời điểm thông tin trên đơn được cập nhật vào cơ sở dữ liệu để tra cứu. Ngoài ra, thực tế hiện nay, số điểm đăng ký còn quá ít, nhưng luật vẫn bắt buộc khách hàng ở xa phải gửi qua đường bưu điện (không được phép qua mail, fax) nên các khách phải chờ đợi trong một thời gian dài mới nhận được kết quả đăng ký.

Hiện hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm do 3 cơ quan quản lý là Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT và Bộ GTVT với những thủ tục, trình tự không rập khuôn, khó thực hiện. Đó là kết quả từ sự “đa dạng” của quy định từ các văn bản khác nhau về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, bất động sản hay tàu bay, tàu biển. Không những thế, lại chưa có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liên quan, việc cung cấp thông tin giữa các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với một số đơn vị đăng ký sở hữu tài sản cũng còn hạn chế nên tất yếu dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không cao, gây khó khăn, vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân khi yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm.

Đến thời điểm hiện nay, khi một số văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc được ban hành mới, nên nhiều quy định trong NĐ số 08/2000/NĐ-CP (giấy tờ pháp lý có giá trị cao nhất về giao dịch bảo đảm) không còn phù hợp với các quy định của văn bản có giá trị pháp lý cao hơn như Bộ luật Dân sự 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng… cũng như tình hình thực tiễn về giao dịch bảo đảm.

Th ba, Quy định về TSĐB bằng tài sản hình thành trong tương lai còn nhiều điểm không rõ ràng. Theo qui định của Bộ Luật dân sự 2005 và Nghị định 163, TSĐB có thể là tài sản hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Nhưng theo qui định của Luật nhà ở năm 2005 thì giao dịch thế chấp nhà ở đòi hỏi phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, ngân hàng có thể nhận tài sản thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai không? Không chỉ có vậy, kể từ sau khi Luật công chứng năm 2006 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực ngày 01/07/2007 các NHTM còn gặp khó khăn với việc công chứng các hợp đồng bảo đảm với tài sản hình thành trong tương lai. Theo quan điểm của các công chứng viên thì đối tượng của hợp đồng, giao dịch phải có thật, nghĩa vụ bảo đảm là có thật và phải xác định được cụ thể do vậy không thể công chứng với các hợp đồng này có đặc trưng là tài sản hình thành trong tương lại có nghĩa là không có thật hoặc chưa có thật và thực tế đã có nhiều trường hợp bị từ chối công chứng hợp đồng TSĐB. Không công chứng được cũng đồng nghĩa với việc không được đăng ký giao dịch bảo đảm, Ngân hàng không giải ngân được và khách hàng cũng không thể vay được vốn.

Chính phủ không nên giao cho cơ quan cấp giấy chứng nhận sở hữu kiêm luôn công tác nhận đăng ký giao dịch bảo đảm vì tính chất hai công việc này là khác nhau. Nêu tập trung đăng ký giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, để không bị quá tải, cần tổ chức thành các Phòng Đăng ký giao dịch bảo đảm tại từng địa phương và nếu có thể thì bố trí gần các Phòng Công chứng quận, phường để giảm thời gian đi lạ Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

3.3.1.2 Chính ph cn tạo điều kiện để vic vic phát mi tài sn thế chp qua trung tâm đấu giá được thun lợi hơn.

Việc bán tài sản thế chấp tại Trung tâm bán đấu giá theo quy định phải được UBND cấp có thẩm quyền cho phép bán đấu giá. Như vậy, Trung tâm bán đấu giá chưa thực sự có đủ chức năng quyền hạn để việc bán đấu giá tài sản được dễ dàng và thuận lợi hơn. Sau khi có sự chấp thuận của UBND cấp có thẩm quyền thì việc tổ chức bán đấu giá tại Trung tâm bán đấu giá gặp không ít khó khăn, việc có tiếp nhận hồ sơ bán đấu giá hay không còn phụ thuộc vào quan điểm và thái độ của Trung tâm bán đấu giá. Khả năng bán được tài sản cũng rất mong manh, bởi tâm lý người mua ít ai chịu mua loại tài sản phải qua đấu giá này vì họ cho rằng đây là tài sản gán nợ, không đem lại may mắn và nếu có mua thì họ chỉ chấp nhận mức giá rất thấp. Do đó, việc bán tài sản qua Trung tâm đấu giá tốn rất nhiều thời gian và chi phí. Bên thế chấp thường không đồng ý vì họ cho rằng bán tài sản thế chấp qua Trung tâm đấu giá thấp hơn so với giá trên thị trường, còn ngân hàng thì khó thu hồi đủ nợ. Để tạo điều kiện cho việc bán tài sản qua Trung tâm bán đấu giá dễ dàng hơn, đề nghị Chính phủ:

  • Giảm lệ phí bán đấu giá tài sản thông qua Trung tâm bán đấu giá.
  • Đơn giản hoá các thủ tục hành chính, pháp lý không cần thiết khi bán đấu giá tài sản thông qua Trung tâm, tạo điều kiện cho tài sản được mua bán chuyển nhượng dễ dàng nhanh chóng.
  • Sớm thành lập thêm nhiều Trung tâm đấu giá mang tính chuyên nghiệp trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân với đầy đủ chức năng quyền hạn để giải quyết công vic nhm thc hin nhanh chóng thun tin cho các bên khi có tài sn phi x lý mà cn có s tham gia của Trung tâm bán đấu giá.

3.3.2 Kiến nghị về các bộ ngành có liên quan

Bộ tư pháp: Bộ tư pháp cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản liên quan tới vấn đề đất đai, đăng ký giao dịch bảo đảm, tạo điều kiện cho các ngân hàng thực hiện một cách đầy đủ, chính xác các quy định pháp luật. Bên cạnh đó cần có các biện pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để các tổ chức tín dụng, cá nhân có thể hiểu và thực hiện đúng theo qui định.

  • V phía Tòa án và các cơ quan công an, chính quyền địa phương:

Tòa án nên có những văn bảo hướng dẫn cụ thể về quy trình thụ lý vụ án kinh tế. Nên rút ngắn thời gian và thủ tục, giấy tờ tạo điều kiện cho các ben liên quan tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời đảm bảo khả năng thu nợ của bên nhận cầm cố, thế chấp. Khi các TCTD đã khởi kiện ra tòa án kinh tế thì đề nghị tòa án xử lý nhanh chóng và có biện pháp cưỡng chế thi hành án hiệu lực, đề nghị tòa án xử lý nhanh chóng và có biện pháp cưỡng chế thi hành án hiệu lự

Đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật hợp tác và hỗ trợ tích cực hơn với TCTD trong việc thực hiện quyền truy đòi tài sả

  • B Tài chính: Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Bộ cần có các qui định để đảm bảo tính minh bạch cho các báo cáo tài chính, tính chính xác trong việc công bố số liệu của các doanh nghiệp để ngân hàng có được thông tin chính xác và đưa ra quyết định cho vay và đầu tư an toàn hơn.

  • B Tài nguyên – Môi trường:

Bộ nên đưa ra những văn bản hướng dẫn riêng về việc chuyển nhượng tên tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất áp dụng đối với trường hợp người mua tài sản là tài sản phát mại của ngân hàng.

3.3.3 Kiến nghị về NHNN

Đề nghị NHNN tăng cường tiếp xúc và đệ trình những vướng mắc khó khăn lên Chính phủ, Quốc hội nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ. Ví dụ như tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến việc nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, quyền thuê đất đòi hỏi NHNN Việt Nam cần tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ đề xuất lại với Chính phủ, Quốc hội để có thể sửa đổi bổ sung Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất để có thể miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho các TCTD, thuế chuyển nhượng tài sản nói chung và quyền sử dụng đất nói riêng trong những trường hợp phải xử lý để thu hồi nợ. Nếu kiến nghị đó không được chấp nhận thì ít nhất nên giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp xuống dưới mức hợp lý.

NHNN cần chủ động phối hợp với các Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Tổng cục địa chính nhằm sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm hoàn thiện về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, về xác minh tính hợp pháp của tài sản, về quyền ưu tiên trong xử lý tài sản bảo đảm.

Nâng cao vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tăng cường quản lý chất lượng tín dụng, nhằm đảm bảo thị trường tài chính hoạt động và cạnh tranh lành mạnh, ngăn chặn việc hạ thấp tiêu chuẩn, nguyên tắc tín dụng để cạnh tranh thu hút khách hàng. Đồng thời nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện một cơ chế tín dụng thống nhất, một hệ thống các biện pháp bảo đảm tiền vay để đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động tín dụ Những sai sót, vi phạm phải được xử lý kịp thời và nghiêm túc đối với cá nhân, tập thể, cả TCTD trong và ngoài quốc doanh.

Ngân hàng nhà nước cần quan tâm quản lý, giảm sát hoạt động của thị trường bất động sản nhằm nâng cao tính minh bạch, tính ổn định của thị trường, tạo cơ sở cho việc định giá được chuẩn xác hơn, hạn chế rủi ro giá tăng cao. Tuy NHNN đã có quy định việc không áp dụng lãi suất thỏa thuận đối với người vay mua nhà, sửa chữa hà nhưng cần thiết hơn là quy định một giới hạn cho vay bất động sản chung cho ngân hàng thì sẽ thiết thực và hiệu quả hơn.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn gắn liền với đảm bảo tín dụng. Để có thể tồn tại, phát triển vừa có thể phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng thì mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình các kế hoạch và biện pháp riêng.

Đề tài khóa luận đã khái quát những vấn đề cơ bản nhất về đảm bảo tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trên cơ sở các nội dung đó, Báo cáo tiếp tục nghiên cứu thực trạng ĐBTD tại Ngân hàng Quân đội – Chi nhánh Đông Sài Gòn, đồng thời đánh giá các kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó trong công tác nâng cao chất lượng ĐBTD. Từ đó khóa luận cũng đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng ĐBTD, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB.

Do thời gian nghiên cứu còn ít, nhận thức của bản thân em còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp giúp đỡ của các thầy cô để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB

Khóa luận: Giải pháp bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x