Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đông sài gòn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển vững chắc của một nền kinh tế cần có sự phát triển mạnh mẽ của một hệ thống tài chính, một hệ thống tài chính phát triển đóng vai trò như mạch máu lưu thông trong nền kinh tế. Và ở Việt Nam, Ngân hàng thương mại được xem là một trung gian tài chính quan trọng trong việc luân chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế. Đặc biệt trong những năm gần đây, nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà ở và tiêu dùng của người dân dần cao hơn và có xu hướng sử dụng các hàng hóa có giá trị lớn hơn khả năng chi trả ở hiện tại. Đây chính là cơ hội cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ các ngân hàng. Sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng, đồng thời tập trung phát triển các hoạt động bán lẻ. Đây là một thị trường không phải mới nhưng trước đây ít được các ngân hàng thương mại chú trọng và quan tâm đến, tuy nhiên đây lại là thị trường mang lại nhiều lợi nhuận cũng như ít gặp phải nhiều rủi ro, chủ yếu là cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình dùng để sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng với các khoản vay có giá trị nhỏ nên từ đó rủi ro cũng được kiểm soát tốt hơn những khoản vay có giá trị lớn đối với doanh nghiệp.
Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng buộc phải tìm ra những hướng đi mới, những sản phẩm mới phục vụ tốt hơn khách hàng của mình, phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một trong số những hướng đi hiệu quả. Nhận thức được tầm quan trọng và tiềm năng phát triển của thị trường bán lẻ Ngân hàng TMCP Quân đội đã và đang nỗ lực không ngừng để khẳng định vị thế của mình trong các hoạt động tín dụng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Cùng chung mục tiêu đó, Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Đông Sài Gòn đã và đang tiếp tục phấn đấu nhằm nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động tín dụng của mình, đặc biệt là ở phân khúc tín dụng bán lẻ để góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Tuy nhiên, song hành cùng việc đẩy mạnh kinh doanh, các ngân hàng cũng cần phải có những biện pháp đảm bảo cho các khoản vay, như vậy mới có thể phát triển bền vững, lâu dài. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên cùng với sự mong muốn nghiên cứu về vấn đề này nên tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đông sài gòn” làm khóa luận tốt nghiệp.
Kết cấu nội dung chính của đề tài gồm:
- Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm tín dụng
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội – chi nhánh Đông sài gòn
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội – chi nhánh Đông sài gòn
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG
1.1 Khái quát về bảo đảm tín dụng và tài sản bảo đảm
Vấn đề đảm bảo an toàn trong kinh doanh của ngân hàng là một nội dung cực kỳ quan trọng cần phải được quan tâm trong kinh doanh ở bất kỳ một ngân hàng nào và bản thân nó quyết định đến vấn đề thu nhập lâu bền của ngân hàng, thậm chí tới sự tồn tại của ngân hàng. Trong quá trình nghiên cứu và đề ra chính sách ngân hàng có thể nói an toàn và thu nhập là sức hút của chính sách ngân hàng. Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn trong kinh doanh rất được coi trọng. Thông qua sự bảo đảm có thể hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra bởi lẽ với việc bảo đảm tạo cho ngân hàng thỏa mãn các yêu cầu nếu khách hàng không trả được nợ và các phí tổn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.1.1 Khái niệm bảo đảm tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng, mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. Vì vậy, khi phát sinh một khoản tín dụng ngân hàng luôn luôn đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng đó, tức là phải thu hồi được gốc và lãi. Về bản chất tín dụng là việc sử dụng vốn dựa trên độ tín nhiệm lẫn nhau. Nhưng nếu ngân hàng chưa đủ thông tin, chưa đủ sự tin tưởng vào khách hàng như khách hàng mới quan hệ lần đầu, khách hàng có uy tín chưa đủ cao để ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không có nguồn trả nợ bổ sung chắc chắn. Trong trường hợp này ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo trước khi ký kết hợp đồng và giải ngân. Tài sản này là nguồn thu nợ thứ 2, khi khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng.
Bảo đảm tín dụng là việc thiết lập một cơ sở pháp lý và kinh tế, tạo điều kiện để Ngân hàng có khả năng thu hồi đầy đủ khoản tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo quy định.
1.1.2 Đặc trưng bảo đảm tín dụng Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Tài sản đảm bảo phải thực hiện được chức năng là nguồn thu nợ thứ 2, tức nó phải có giá trị thị trường, nên TSĐB có đặc trưng sau:
Thứ nhất, giá trị TSĐB phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm.Vì BĐTD không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà có có ý nghĩa thúc giục người đi vay phải trả nợ nếu không họ sẽ bị mất tài sản. Vì vây, nếu giá trị tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ. Nghĩa vụ được bảo đảm bảo gồm vốn gốc, lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp các nên có thỏa thuận lãi và các loại phí không thuộc phạm vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ.
Thứ hai, TSĐB phải có tính thanh khoản. Tài sản phải sẵn có thị trường tiêu thụ do mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay. Mức độ thanh khoản thấp (hay tài sản khó bán) thường ngân hàng ít chấp nhận, mức độ thanh khoản trung bình có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý.
Thứ ba, có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản. Đặc trưng này thể hiện ở các mặt sau đây: tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sử pháp lý đề ngân hàng – chỉ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
Một TSĐB thỏa mãn được ba đặc trưng trên sẽ giúp ngân hàng phòng tránh, hạn chế được rủi ro tín dụng từ phía TSĐB . Tuy nhiên, loại TSĐB gì, đặc tính ra sao thì phải căn cứ vào đặc điểm của từng khoản tín dụng được cấp và ngân hàng cần vận dụng linh hoạt.
1.1.3 Vai trò của bảo đảm tín dụng
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Bảo đảm tín dụng thúc đẩy việc tạo lập quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, giúp khách hàng giải quyết được nhu cầu vốn và ngân hàng tìm kiếm được những phương án, dự án khả thi để đầu tư, đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội, tăng tốc độ chu chuyển vốn cho nền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy đất nước tăng trưởng và phát triển bền vững.
Bảo đảm tín dụng là biện pháp để bảo toàn vốn trong kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tránh khỏi bị suy giảm nghiêm trọng về vốn tự có trong trường hợp gặp phải những rủi ro tín dụng không thể lường trước, do đó giúp ổn định môi trường vĩ mô và an toàn hệ thống ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Tóm lại, BĐTD đóng vai trò quan trọng đối với NHTM, khách hàng và toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, đây chỉ là một điều kiện bổ sung không phải là điều kiện tiên quyết trong việc cấp tín dụ Trên thực tế đã có nhiều trường hợp cán bộ tín dụng vì quá chú trọng đến BĐTD mà không chú ý đến hiệu quả và tính khả thi của phương án, dự án kinh doanh của khách hàng, nên BĐTD chưa phát huy được vai trò. Vì vậy, hiểu sâu sắc và toàn diện về BĐTD là đòi hỏi khách quan đối với cán bộ ngân hàng để tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển, nâng cao uy tín của ngân hàng và tăng cường sức cạnh tranh của NHTM.
1.1.3.2 Đối với ngân hàng thương mại
NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – một lĩnh vực đầy rủi ro, mà rủi ro chủ yếu lại tập trung vào danh mục tín dụng, chính vì vậy mà các ngân hàng luôn phải tìm ra các nguyên nhân và đề ra những giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụ Vì vậy, BĐTD ra đời là một tất yếu khách quan, việc hoàn thiện và áp dụng linh hoạt các hình thức BĐTD là một trong những rào chắn rủi ro hiệu quả vì:
Thứ nhất, BĐTD tạo cơ sở pháp lý để ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được. Mặc dù khi cấp tín dụng, ngân hàng đã xác định được nguồn thu nợ của mình. Trong hoạt động kinh doanh và đời sống có rất nhiều lý do dẫn đến nguồn thu nhập thứ nhất không thực hiện được, nếu không có nguồn thu nhập bổ sung tất yếu ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng. Vì vậy, để bảo đảm an toàn cho khoản tín dụng đã cấp, ngân hàng tự vảo vệ mình bằng việc yêu cầu khách hàng phải có những bảo đảm cần thiết, rủi ro thuộc về khách hàng, ngân hàng không chia sẻ rủi ro với khách hàng.
Thứ hai, BĐTD nâng cao trách nhiệm của người vay trong việc sử dụng khoản tín dụng, làm giảm rủi ro đạo đức của người vay cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của người vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Nhờ có BĐTD mà ngân hàng có thể kiểm soát được khách hàng của mình trong trường hợp khách hàng vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng như sử dụng vốn sai mục đích, ngân hàng có thể thu hồi nợ trước hạn và bảo đảm tín dụng là công cụ để ngân hàng thực hiện biện pháp cứng rắn đó. Vì vậy, BĐTD là biện pháp bảo vệ ngân hàng trước rủi ro tín dụng có hiệu quả nhất và là công cụ để ngân hàng quản trị khoản vay.
Thứ ba, BĐTD tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng tín dụng.
1.1.3.3 Đối với khách hàng
BĐTD tạo điều kiện cho các khách hàng mới quan hệ chưa đủ uy tín với ngân hàng có thể thiết lập quan hệ tín dụng, giải quyết được nhu cầu vốn bức thiết của mình, từ đó mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh, gia tăng doanh thu và lợi nhuận.
BĐTD giúp khách hàng nâng cao ý thức trả nợ, khách hàng thận trọng hơn trong kinh doanh, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận từ đó đem lại hiệu quả để có nguồn trả nợ đúng hạn, bảo toàn TSĐB đồng thời nâng cao uy tín, tạo điều kiện thiếp lập quan hệ tín dụng lâu dài với ngân hàng.
1.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tín dụng Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho vay này được Chính phủ xử lý.
Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn.
Tổ chức tín dụng có quyền xử lý Tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
1.1.5 Hình thức bảo đảm tín dụng
Trước đây do hạn chế về mặt pháp lý và hoạt động ngân hàng chưa mang tính cạnh tranh cao nên các hình thức BĐTD được các NHTM áp dụng chưa đa dạng, chưa linh hoạt mặc dù về mặt lý thuyết từ thế chấp, cấm cố đến bảo lãnh có thể phân chia thành nhiều loại hình bảo đảm khác nhau. Đến nay, các hình thức bảo đảm đã ngày càng đáp ứng được như cầu của các cá nhân tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố nhưng nhìn chung, hình thức bảo đảm được sử dụng nhiều nhất vẫn là thế chấp.
- BĐTD có các hình thức chính sau:
- Thế chấp
- Cầm cố
- Bảo lãnh
- Các hình thức bảo đảm khác
1.1.5.1 Bảo đảm tín dụng bằng tài sản
- Phân loại theo phương thức bảo đảm
Thứ nhất: Thế chấp Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Thế chấp là hình thức bảo đảm khá an toàn và thuận lợi cho ngân hàng. Với hình thức này, ngân hàng chỉ cần nắm giữ bản gốc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản mà không cần phải mất chi phí cho việc cất giữ, bảo quản TSĐB như hình thức cầm cố, hay phải có liên quan đến bên thứ 3 như hình thức bảo lãnh. Mặt khác TSĐB gắn liền với hình thức thế chấp là bất động sản được xem là loại tài sản ít chịu rủi ro về giảm hay mất giá trị trong tương lai so với các tài sản là động sản, đồng thời cũng dễ dàng hơn cho ngân hàng nếu phải xử lý tài sản đề thu hồi nợ vay.
Đối với loại hình thế chấp tài sản có nhiều cách phân loại:
- Thế chấp pháp lý và thế chấp công bằng
Thế chấp pháp lý: Là hình thức thế chấp mà trong đó người đi vay thỏa thuận chuyển quyền sử hữu cho ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Theo hình thức này, khi người đi vay không thanh toán được nợ, ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở hữu mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của tòa án.
Thế chấp công bằng: Là hình thức thế chấp mà trong đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay. Khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng, việc xử lý tài sản phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa người cho vay và người đi vay hoặc phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan chức năng, nếu có tranh chấp.
- Thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai
Thế chấp thứ nhất: Là việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho món nợ thứ nhất, nhưng không có nghĩa là lần đầu tiên đem tài sản đi thế chấp cho một khoản vay, mà thế chấp thứ nhất được xác định trong mối tương quan giữa các khoản vay có thế chấp, tức là việc sử dụng một tài sản làm bảo đảm cho nhiều khoản vay và thế chấp cho khoản vay đầu tiên đang tồn tại gọi là thế chấp thứ nhất.
Thế chấp thứ hai: Là hình thức thế chấp, trong đó người đi vay sử dụng phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp và khoản nợ thứ nhất được bảo đảm bằng tài sản đó để bảo đảm cho món nợ thứ hai.
- Thế chấp trực tiếp và thế chấp gián tiếp
Thế chấp trực tiếp (hay còn gọi là thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay): Là hình thức thế chấp mà tài sản thế chấp do vốn vay tạo nên.
Thế chấp gián tiếp: Là hình thức thế chấp mà trong đó tài sản thế chấp và tài sản dùng vốn vay để mua là hai tài sản khác nhau.
- Thế chấp một phần và thế chấp toàn bộ Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Theo qui định của pháp luật người đi vay có thể thế chấp toàn bộ bất động sản hoặc thế chấp một phần. Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản cũng thuộc tài sản thế chấp.
Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nến có thỏa thuận riêng. Riêng đối với thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng trồng vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có thỏa thuận.
- Thứ hai: Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể có thỏa thuận bên cầm có vẫn giữ tài sản cầm cố hoặc giao cho bên thứ ba nắm giữ.
Căn cứ vào tính chất quản lý, tài sản cầm cố được chia ra làm hai loại: có đăng ký quyền sở hữu và không có đăng ký quyền sở hữu. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, tài sản cầm cố phải được chuyển giao cho bên cho vay, và ngược lại đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể do bên cho vay, đi vay hoặc bên thứ ba giữ theo thỏa thuận của bên cho vay và bên đi vay.
- Tài sản dùng để cầm cố vay vốn các tổ chức tín dụng là các động sản có giá trị chuyển nhượng hoặc mua, bán được dễ dàng:
- Phương tiện vận tải, phương tiện đi lại, công cụ lao động, máy móc thiết bị, vật tư hàng hóa .
- Giấy tờ trị giá được bằng tiền đang có hiệu lực thanh toán: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, trái phiếu do các tổ chức phát hành…, cổ phiếu, thương phiếu.
- Các vật quý bằng vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
- Giá trị hợp đồng bảo hiểm
- Các tài sản khác nếu pháp luật quy định.
Tuỳ theo tính chất từng loại tài sản cầm cố mà bên cầm cố phải tổ chức đánh giá, kiểm định về số lượng và định giá tài sản trước khi ký hợp đồng cầm cố. Trong quá trình định giá kiểm định phải có đại diện hợp pháp của cả hai bên am hiểu về tính năng và tác dụng của tài sản hoặc có thể thuê chuyên gia kỹ thuật để đánh giá, kiểm định phù hợp thực tế. Khi vay bên cầm cố tài sản phải giao bản gốc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, các giấy tờ có liên quan khác và tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố. Bên nhận cầm cố phải bảo quản tài sản cầm cố và các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản cầm cố như quy định trong hợp đồng cầm cố tài sản.
Được quyền tổ chức đấu giá tài sản cầm cố để thu hồi nợ theo nguyên tắc đã thoả thuận trong hợp đồng và được thu nợ gốc, lãi và tiền phạt (nếu có) từ tiền thu bán đấu giá tài sản cầm cố nếu bên cầm cố không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ.
- Thứ ba: Bảo lãnh Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (còn gọi là bên bảo lãnh) cam kết với TCTD cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.
Như vậy, bên bảo lãnh chỉ được phép bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu của chính mình hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất kể cả đất thuê mà thời hạn thuê đã được trả tiền còn dư với 5 năm, còn đối với doanh nghiệp nhà nước thì tài sản thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp đó.
Về phần mình, TCTD sẽ tiến hành kiểm tra điều kiện của tài sản đảm bảo và bên bảo lãnh phải tự chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản bảo đảm này sau đó, TCTD và bên bảo lãnh sẽ thoả thuận sử dụng hình thức cầm cố hay thế chấp nào để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Song điều đáng lưu ý ở đây là khi xem xét và quyết định cho vay có bảo đảm của bên thứ ba, ngân hàng cần quan tâm tới 3 nguyên tắc sau:
- Thứ nhất: Bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình.
- Thứ hai: Trong mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh của mình.
- Thứ ba: Ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạng tài sản và uy tín của bên bảo lãnh.
Trong quá trình bảo lãnh bên thứ ba (tức người bảo lãnh) phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà họ không trả được nợ cho ngân hàng (nợ ở đây bao gồm cả gốc, lãi và chi phí khác nếu có) và bên bảo lãnh cũng phải đôn đốc người đi vay thanh toán nợ cho ngân hàng. Mặt khác, người bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu ngân hàng kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng khi cần thiết và khi bên bảo lãnh đã trả nợ cho con nợ thì có nghĩa là họ đã trở thành chủ nở trực tiếp, lúc này quan hệ giữa ngân hàng và bên bảo lãnh được chấm dứt.
Hiện nay các TCTD có quyền lựa chọn quyết định việc cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản với điều kiện phải tuân thủ các quy định của chính phủ, NHNN và các bộ ngành liên quan. Việc áp dụng hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tuy có nhiều rủi ro xong lại là phổ biến trong hoạt động tín dụng của các NHTM bởi sự đánh đổi giữa doanh thu, lợi nhuận và tính bấp bênh, mạo hiểm trong kinh doanh. Vả lại, khách hàng vay không có bảo đảm không có nghĩa là dự án đầu tư, dự án kinh doanh của họ không khả thi và hiệu quả, nên nếu chỉ vì lý do không có bảo đảm tiền vay bằng tài sản mà từ chối những khách hàng vay vốn thì đồng nghĩa với việc NHTM tự đặt dấu chấm hết cho hoạt động kinh của mình. Mặt khác, thực tế cho thấy cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh lại thường có hiệu quả và tính an toàn cao vì người bảo lãnh bao giờ cũng là những cá nhân, đơn vị có tiền lực tài chính và có uy tín cao, thêm vào đó cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh lại tiết kiệm được chi phí quản lý, linh hoạt và thích ứng với từng điều kiện, khách hàng cụ thể .
- Thứ tư : Các hình thức bảo đảm ký cược, ký quỹ,đặt cọc
Các biện pháp bảo đảm được ngân hàng sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ dân sự là: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấ Ngoài ra, trong quy định vẫn có một số biện pháp như: đặt cọc, ký cược, ký quỹ.
- Phân loại theo hình thức sở hữu tài sản đảm bảo
- Bảo đảm bằng tài sản của người đi vay
- Bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Khóa luận xin làm rõ hai hình thức bảo đảm: bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba là hình thức bảo đảm mà bên thứ ba cam kết với ngân hàng sẽ sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng.
Điều kiện đồi với bên bảo lãnh: Có năng lực pháp luật dân sự đối với bên bảo lãnh là cá nhân, và có năng lục về vốn, tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Việc bên thứ ba cầm cố hay thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là tùy thuộc theo yêu cầu của ngân hàng. Việc bảo đảm của bên thứ ba có cầm cố hoặc thế chấp tài sản là hình thức đảm bảo kép nhằm đề phòng khi người bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì ngân hàng có thể xử lý tài sản kèm theo.
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của Ngân hàng. Bảo đảm tín dụng bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng.
- Gồm 2 trường hợp:
Tài sản đã hình thành trước khi giải ngân vốn vay: trước khi giải ngân vốn vay, tài sản đã hình thành và thuộc quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng đối với đất đai) của khách hàng vay vốn. Khi đó vốn vay dùng để thanh toán nốt phần nghĩa vụ còn lại của khách hàng vay vốn trong việc mua sắm tài sản đó.
Tài sản chưa hình thành khi giải ngân vốn vay: trước khi giải ngân vốn vay, tài sản chưa hình thành hoặc chưa thuộc quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng đối với đất đai) của khách hàng vay vốn. Khi đó vốn vay được giải ngân để thanh toán trước hoặc đồng thời với việc xác lập quyền sở hữu của khách hàng vay vốn đối với tài sản.
Như vậy, khác với chế độ bảo đảm khác, bảo đảm tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay lại dùng chính tài sản hình thành (được mua sắm hoặc xây dựng lên) từ khoản vay mà khách hàng đã vay tại tổ chức tín dụng để đảm bảo cho chính khoản vay này. Do vậy xét về thời gian, tài sản đảm bảo chưa hình thành (chưa tồn tại) tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng và các bên chỉ ký kết hợp đồng bảo đảm khi tài sản bảo đảm được hình thành. Trong khi đó việc cho vay có bảo đảm bằng hình thức cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thông thường lại dùng tài sản đã hình thành, đã có tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
- Để bảo đảm việc thu hồi vốn và lãi, pháp luật quy định những điều kiện để đảm bảo tính an toàn.
Điều kiện đối với khách hàng vay: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng, cũng như tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay khách hàng phải đáp ứng được những điều kiện như là: có tín nhiệm đối với TCTD trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi; Có khả năng tài chính và có các khoản thu hợp pháp; Có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi; Có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư của dự án;…
Điều kiện đối với tài sản hình thành từ vốn vay: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng, cũng như tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay từ tài sản hình thành từ vốn vay phải đáp ứng được những điều kiện như là: Tài sản hình thành từ vốn vay phải xác định được Quyền sở hữu của khách hàng vay đối với tài sản: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất mà trên đó tài sản sẽ được hình thành và phải hoàn thành các thủ tục xây dựng theo quy định của pháp luật; Tài sản được phép dịch và không có tranh chấp;… Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
1.1.5.2 Bảo đảm không bằng tài sản
- Cho vay không có bảo đảm là hình thức mà các ngân hàng cho vay không dựa vào bảo đảm bằng tài sản mà bảo đảm dựa vào uy tín của người đi vay.
- Để được vay theo hình thức này khách hàng vay phải có đủ điều kiện sau:
Phải có tín nhiệm đối với ngân hàng. Dự án đầu tư, phương án kinh doanh, dịch vụ khả thi có hiệu quả đảm bảo nguồn trả nợ. Dự án phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với qui định của pháp luật đảm bảo nguồn trả nợ. Phải có đủ khả năng tài chính, các nguồn thu hợp pháp khác để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn cam kết. Đối với các doanh nghiệp phải có lãi hai năm liền kề tính đến thời điểm vay vốn. Riêng doanh nghiệp Nhà nước chỉ cần không trong diện sắp xếp lại là được vay vốn.
Tổ chức tín dụng Nhà nước cho vay không có đảm bảo theo chỉ định của Chính phủ: cho vay đối với khách hàng vay để thực hiện các chương trình kinh tế đặc biệt, trọng điểm của Nhà nước và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo qui định tại các văn bản qui phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra còn có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thề chính trị – xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.
Tóm lại bảo đảm tín dụng là một biện pháp hết sức cần thiết đối với hoạt động cho vay của các NHTM. Nó không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với ngân hàng (thu hồi vốn kịp thời đầy đủ, đảm bảo cho hoạt động ngân hàng có hiệu quả) đối với khách hàng vay vốn (khuyến khích tự chủ đạt hiệu quả kinh doanh) mà còn có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định của nền kinh tế.
1.1.6 Các loại tài sản đảm bảo Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
1.1.6.1 Tài sản bất động sản
Bất động sản là tài sản không di dời được: Nhà ở, các cơ sở sản xuất kinh doanh như nhà máy, khách sạn, của hàng, nhà kho…và các loại tài sản khác gắn liền với nhà ở, công trình xây dự Ngoài ra còn bao gồm cả hoa lợi, lợi tức, khoản tiền bảo hiểm và các quyền phát sinh từ bất động sản thế chấp.Tất cả các bất động sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp và cá nhân đều được thế chấp để vay vốn. Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước khi thế chấp toàn bộ dây chuyền công nghệ chính phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.
1.1.6.2 Tài sản là động sản
- TSĐB là động sản bao gồm máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa, phương tiện vận tải.
- Máy móc, thiết bị, và dây chuyền sản xuất của bên cầm cố thường đã qua quá trình sử dụng nên việc đánh giá, định giá những tài sản này khi nhận cầm cố là khá khó khăn.
Khi đã nhận cầm cố và đặc biệt phải bán thanh lý khi người vay không trả được nợ rất phức tạp và số tiền bán tài sản thường không thu hồi đủ gốc, lãi vay. Lý do, những máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất đều mang những bí quyết công nghệ riêng, thường bị lỗi thời, lạc hậu và nhanh chóng bị mất giá trị, bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hơn nữa là do quá trình cạnh tranh nên máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất phải thường xuyên được khách hàng nâng cấp, đổi mới liên tục để phù hợp với sự phát triển và hội nhập quốc tế. Vì thế những tài sản này khi thanh lý rất khó, do ít người có nhu cầu mua lại máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất đã qua sử dụng, thời gian bán kéo dài, làm cho tài sản hư hỏng, xuống cấp, mất giá trị.
1.1.6.3 Tài sản hình thành từ vốn vay
Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của Ngân hàng. TSĐB hình thành từ vốn vay là việc khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn đi vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng. Trong thời gian qua, hợp đồng bảo đảm với tài sản hình thành trong tương lai là một giao dịch được sử dụng nhiều trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mai.
Việc này rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ vừa, ít vốn hoặc các doanh nghiệp cần vay vốn trên cơ sở những TSĐB còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, việc nhận tài sản hình thành từ vốn vay hiện nay cũng còn khá nhiều vướng mắc, cụ thể như sau:
Vấn đề trong việc công chứng hợp đồng bảo đảm với tài sản hình thành trong tương lai. Theo quan điểm của các công chứng viên thì đối tượng của hợp đồng, giao dịch phải là „có thật”, nghĩa vụ được bảo đảm là “có thật” và phải được xác định cụ thể do vậy không thể công chứng với các hợp động, giao dịch bảo đảm với tài sản hình thành trong tương lai và không thể xác nhận cho hợp đồng, giao dịch bảo đảm với quy định sẽ bảo đảm cho tất cả các nghiệp vụ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng, giao dịch tiền vay được hình thành sau thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm đó.
Ngân hàng gặp khó khăn trong việc xử lý TSĐB để thu hồi nợ, luật có những quy định cụ thể về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai nhưng chưa có quy định về việc bán tài sản hình thành trong tương lai.
- Phát sinh nhiều chi phí: thế chấp tài sản trong tương lai phải thực hiện công chứng và đăng kí giao dịch bảo đảm đến 2 lầ
- Nguy cơ rủi ro cao: bên nhận bảo đảm chưa thể có được sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý khi nhận tài sản này.
1.1.7 Qui trình thực hiện nghiệp vụ bảo đảm tín dụng
- Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ bảo đảm Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Đây chính là bước mà Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ bảo đảm, xem xét nhu cầu của khách hàng và các điểu kiện đề ra, quyết định biện pháp bảo đảm tiền vay nào là phù hợp. Ngay trong bước đầu tiên của một quy trình tín dụng là lập hồ sơ thì tài liệu liên quan đến BĐTD cũng đã là một trong 5 tài liệu cần thiết, đóng một vai trò nhất định.
Thực tế cho thấy hoàn trả tín dụng mặc dù không phải là mục đích kinh doanh của NH song nó là nhiều cái quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu kinh doanh của NH. Vì vậy, trong quá trình hoạt động tín dụng, NH phải luôn xem xét một cách thận trọng từ hồ sơ, giấy tờ vay vốn hợp lệ đến uy tín và năng lực tài chính của khách hàng, từ đó áp dụng những phương pháp cho vay thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.
- Bước 2: Thẩm định tài sản bảo đảm
Đây là một bước rất quan trọng trong quy trình bảo đảm tiền vay vì thông qua việc thẩm định, đánh giá TSBĐ, ngân hàng sẽ xác định được giá trị của TSBĐ để làm cơ sở cho việc quyết định mức cho vay dựa trên giá trị của TSBĐ. Vì thế, khi tiến hành bước này, NH cần thực hiện một cách cẩn trọng và kỹ lưỡng.
- Bước 3: Xác định mức cho vay trên cơ sở giá trị TSBĐ
Khi đã hoàn tất việc định giá TSBĐ, NH cần xác định mức cho vay đối với khoản vay có TSBĐ đó. Thông thường, các NHTM có xu hướng cho vay ít hơn giá trị TSBĐ, phổ biến ở mức 50 – 70 . Tuy nhiên, để xác định mức cho vay tương đối an toàn, NH còn phải căn cứ vào nhiều khía cạnh như đặc điểm, tính chất của TSBĐ. Ví dụ như cầm cố bằng những tài sản có độ rủi ro thấp gần như bằng 0 như Trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi do chính NH phát hành… thì có thể cho vay tới 100 giá trị, còn những tài sản có biến động lớn về giá dẫn đến nguy cơ rủi ro cao, mức cho vay dao động bằng hay dưới 50 giá trị TSBĐ.
- Bước 4: Ký hợp đồng và quản lý TSBĐ
Sau khi NH và bến đi vay đã thỏa thuận được các điều kiện về tín dụng, bên vay vốn phải lập giấy cầm cố, thế chấp tài sản. Tùy theo từng hình thức và loại TSBĐ mà hợp đồng đảm bảo có thể nằm trong hợp đồng tín dụng hay có thể lập thành văn bản riêng. Nhưng điều đặc biệt lưu ý là hợp đồng đảm bảo chỉ có ý nghĩa pháp lý khi và chỉ khi nó đi kèm với hợp đồng tín dụng (hợp đồng gốc). Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
- Theo đó, việc công chứng hoặc chứng thực giao dịch bảo đảm là do các bên thỏa thuận, trong trường hợp pháp luật có quy định thì giao dịch bảo đảm phải được công chứng hoặc chứng thực.
- Việc giữ tài sản và giấy tờ của tài sản bảo đảm tiền vay:
- Khi cầm cố tài sản, bảo lãnh bằng động sản, khách hàng vay, bên bảo lãnh có nghĩa vụ giao tài sản cầm cố cho bên ngân hàng nắm giữ.
Khi thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng bất động sản thì tài sản thế chấp, bảo lãnh do khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh giữ, trừ trường hợp các bên thỏa thuận giao cho ngân hàng hoặc bên thứ ba giữ. Nếu thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản có đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì ngân hàng phải giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc quản lý TSBĐ bao gồm cả việc bảo quản, đánh giá lại tài sản và xử lý sau khi đáng giá. Hiệu quả của việc quản lý này còn phụ thuộc vào cơ sở vật chất (như kho bãi để bảo quản tài sản), trình độ của cán bộ ngân hàng trong việc định giá tài sản và đưa ra được những biện pháp xử lý thỏa đáng, đảm bảo an toàn vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
- Bước 5: Giải chấp
Khi đến hạn thanh toán, nếu khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ngân hàng sẽ tiến hành giải chấp, hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm được thanh lý hoàn toàn, ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc trả lại TSBĐ cho người đi vay. Còn trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ, lơ là nghĩa vụ trả nợ hoặc có hành vi bất hợp tác trong việc thanh toán nợ thì ngân hàng buộc phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ.
- Việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Trong trường hợp tài sản bảo đảm được dùng để thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên, nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý TSBĐ phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Người xử lý TSBĐ là bên nhận bảo đảm (hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền)
1.2 Chất lượng bảo đảm tín dụng Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
1.2.1 Khái niệm về chất lượng bảo đảm tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất và mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong ngân hàng nhưng lại chịu rủi ro cao nhất. Do vậy, để giảm bớt rủi ro thì một trong các biện pháp mà ngân hàng hay áp dụng đó là nâng cao chất lượng BĐTD. Chất lượng của công tác BĐTD chính là tính hiệu quả của các hình thức mà ngân hàng áp dụng để đảm bảo nguồn thu nợ thứ hai trong trường hợp khách hàng không trả được nợ.
Chất lượng bảo đảm tín dụng không chỉ phản ánh về tài sản bảo đảm mà còn thể hiện ở thành quả thu được khi các khoản cho vay được bảo đảm bằng các hình thức thích hợ Chất lượng bảo đảm tiền vay càng cao thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng được đảm bảo, từ đó giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro tín dụng xảy ra. Có thể nói, chất lượng bảo đảm tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nếu các khoản cho vay có chất lượng không tốt sẽ là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ dẫn đến khả năng mất vốn, với mức độ lớn hơn có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng với khách hàng, làm giảm uy tín của ngân hàng dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt và đẩy ngân hàng đến nguy cơ phá sản. Vì vậy, các ngân hàng phải thường xuyên quan tâm và nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững cho ngân hàng.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tin dụng của NHTM Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính
- Danh mục tài sản đảm bảo
Tưng ứng với mỗi hình thức bảo đảm là các loại hình tài sản đảm bảo, tài sản đảm bảo có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Khi yếu tố thị trường thay đổi thì giá trị của từng loại tài sản khác nhau, quản lý danh mục tài sản đảm bảo tốt tức là ngân hàng phải duy trì giá trị danh mục luôn tương ứng với giá trị khoản vay, ít chịu tác động khi các yếu tố các thay đổi. Các loại hình tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng được ngân hàng chấp nhận ngày càng đa dạng nhằm tạo sự hài hòa giứa loại hình tín dụng và tài sản đảm bảo hữu hình như phương tiện giao thông, đất đai, nhà cửa, máy móc….và cả những tài sản vô hình như các quyền tài sản. Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ít chịu rủi ro về giảm hay mất giá trị trong tương lai so với động sản, vì vậy, ngân hàng thường dễ dàng chấp nhận loại hình này nên tỷ trọng loại hình này rất cao trong danh mục tài sản đảm bảo. Đối với tài sản là động sản như phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị, hàng hóa…có rủi ro cao về giảm giá trị tài sản, gây khó khăn trong việc xử lý tài sản này nên tỷ trọng tài sản này chiếm thấp nhất. Đối với giấy tờ có giá như sổ tiết kiệm, trái phiếu, cổ phiếu… Trong đó, sổ tiết kiệm có tính ưu việt hơn hẳn, tỷ lệ cho vay có thể lên tới 100% giá trị sổ. Cổ phiếu cũng được chấp nhận trong thời gian gần đây, tuy nhiên giá trị cổ phiểu thay đổi thường xuyên và không ổn định tùy vào diễn biến thị trường chứng khoán nên ngân hàng cũng thận trọng với việc bảo đảm bằng tài sản này, vì vậy, tỷ trọng của tài sản thường thấp hơn so với sổ tiết kiệm.
Dựa vào yếu tố rủi ro và giá trị của tài sản đảm bảo ngân hàng tạo lập danh mục đa dạng, phù hợp và phương thức bảo đảm tốt sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro.
- Định giá tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định mức cho vay. Xác định chính xác giá trị tài sản đảm bảo là yếu tố hết sức quan trọng giúp ngân hàng đảm bảo được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho khách hàng. Tuy nhiên, công tác thẩm định là rất khó khăn vào phức tạp nên nguy cơ xảy ra là điều khó tránh khỏ Tùy theo từng điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà việc thẩm định tài sản đảm bảo do một bộ phận chuyên trách hay do chính cán bộ tín dụng phụ trách hồ sơ chịu trách nhiệm thẩm định. Trong khâu thẩm định có thể chia ra làm hai mảng như sau:
Thẩm định tính pháp lý của tài sản chủ yếu vẫn dựa trên những kê khai của khách hàng và các loại giấy tờ chứng nhận do khách hàng cung cấp. Các loại giấy tờ hay văn bản chứng minh này phải là bản gốc và phù hợp với quy định chung của ngân hàng.
Định giá tài sản do ngân hàng tự tiến hành định giá hoặc thuê tổ chức khác định giá. Mỗi ngân hàng đều xây dựng quy trình định giá dựa trên những tiêu chí và phương pháp định giá riêng nhưng vẫn tuân theo nguyên tắc giá thị trường của tài sản, mức giá chuyển nhượng thực tế tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đả Việc định giá có thể do một hoặc một nhóm cán bộ tham gia định giá và được lập thành văn bản lưu hồ sơ. Kết quả định giá có thể nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào loại hình tài sản và các loại giấy tờ có liên quan mà ngân hàng yêu cầu.
Mỗi ngân hàng đều có quy định cụ thể về mức tỷ lệ này. Bên cạnh việc định giá tại thời điểm ký kết hợp động bảo đảm, ngân hàng còn quy định về việc định kỳ đánh giá lại tài sản bảo đảm quyền lợi cho ngân hàng và cả khách hàng.
- Đăng ký giao dịch bảo đảm Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Để đảm bảo quyền lợi, sau khi thực hiện công chứng hợp đồng bảo đảm, ngân hàng còn đi đăng ký giao dịch bảo đả Mặc dù, ngân hàng đang nắm giữ bản chính giấy tờ chứng nhận sở hữu hay quyền sử dụng tài sản nhưng không có gì chắc chắn rằng các loại giấ tờ này không bị thất lạc ra ngoài hoặc không có gì sai sót trong khâu công chứng hợp đồng bảo đảm. Nếu có xảy ra tranh chấp trong quá trình xử lý tài sản, ngân hàng nào đăng ký giao dịch bảo đảm trước sẽ có quyền ưu tiên thanh toán trước.
- Quản lý tài sản đảm bảo
Ngân hàng nắm giữ chủ yếu là các loại giấy chứng nhận quyền sử hữu, quyền sử dụng hay giấy tờ có giá nên việc quản lý, giám sát cũng không có gì trở ngại nhưng cũng rất cần thiết để tránh trường hợp mất mát hoặc thiếu sót do khách hàng chưa kịp bổ Đối với tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông, hàng hóa… phục vụ cho quá trình sản xuất – kinh doanh thì đòi hỏi cán bộ tín dụng phải tự mình xuống cơ sở xem xét. Nhờ vậy, cán bộ tín dụng có thể kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, kiểm tra số lượng hàng hóa tồn kho và đối chiếu với sổ sách, kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng bảo đảm như đầu tư cải tạo, nâng cấp, điều kiện bảo quản tài sản…và quan trọng hơn hết là kiểm tra xem có còn tài sản hay không. Đồng thời, cán bộ tín dụng cũng thực hiện luôn việc đánh giá lại tài sản bảo đảm. Tùy theo tình hình cụ thể mà ngân hàng kịp thời có phương án đối phó nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế rủi ro.
- Xử lý tài sản đảm bảo
Khả năng xử lý tài sản đảm bảo với chi phí thấp, thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng. Việc xử lý tài sản đảm bảo phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạ
Trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo, việc thu hồi tài sản để xử lý sẽ rất khó khăn nếu như chủ sở hữu không có thiện chí giao tài sản. Trong trường hợp này ngân hàng phải nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan chức năng. Thông thường, việc thu hồi tài sản là trách nhiệm của cán bộ tín dụng, nhưng để thuận tiện cho việc xử lý tài sản bảo đảm,, một số ngân hàng lớn đã thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sả
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng
- Dựa vào số liệu của từng ngân hàng có thể tính toán một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng bảo đảm tín dụng tại ngân hàng đó.
- Chỉ tiêu về dư nợ cho vay có TSĐB
- Chỉ tiêu về mức độ bảo đảm của TSĐB
- Chỉ tiêu về dư nợ phải xử lý TSĐB
- Chỉ tiêu về xử lý TSĐB
1.2.3 Các nhân tổ ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tín dụng.
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp chịu sự giám sát chặt chẽ nhất trong các loại hình doanh nghiệp, bởi tình trạng hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung. Chính vì vậy, các hoạt động của ngân hàng chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt các quy định về BĐTD. Nếu hệ thống văn bản quy định đầy đủ và phù hợp với thực tiễn hoạt động của ngân hàng thì không những đảm bảo an toàn cho ngân hàng mà còn thỏa mãn được nhu cầu vốn của các chủ thể trong xã hội, qua đó có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược lại, các quy định BĐTD quá chặt chẽ sẽ gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của nền kinh tế.
Ngoài ra, sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát, chính sách thuế, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, lãi suất….cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng. Một khoản vay dường như rất tốt trên giấy tờ nhưng có thể giá trị của nó bị sụt giảm do doanh thu hay thu nhập của khách hàng giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc do lãi suất tăng cao trước sức ép của lạm phát, và vì vậy hoạt động BĐTD cũng bị ảnh hưởng.
1.2.3.2 Các nhân tố thuộc về ngân hàng.
- Chất lượng thẩm định của ngân hàng
Khả năng thu thập thông tin, thẩm định khách hàng, việc đánh giá khách hàng dựa trên khả năng thu thập và xử lý thông tin liên quan đến khách hàng vay vố Kết quả thẩm định chỉ có ý nghĩa khi các thông tin về tư cách pháp lý, tình hình tài chính , nhu cầu sử dụng vốn vay, là đáng tin cậy, đầu đủ, chính xác. Bởi vậy, đa dạng hóa các kênh thông tin về khách hàng, các quy định pháp lý liên quan đến cung cấp thông tin, kiểm toán ảnh hưởng lớn đến hình thức BĐTD.
Khả năng đánh giá chất lượng dự án đầu tư và môi trường kinh doanh của người vay, hiệu quả hoạt động của dự án quyết định đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn. Một dự án có khả thi trong thực tế, có dòng tiền đủ đảm bảo khả năng thanh toán là một đảm bảo vững chắc để ngân hàng có thể thu hồi vốn vay, vì vậy kết quả và chất lượng của việc thẩm định dự án vay vốn là cơ sở quyết định hình thức BĐTD của ngân hàng. Nếu ngân cho vay không có TSĐB mà chỉ dựa trên uy tín của khách hàng thì công tác thẩm định lại càng mang ý nghĩa quan trọng hơn.
- Chất lượng công tác định giá tài sản bảo đảm của ngân hàng.
Các NHTM nước ngoài khi xem xét cho vay đối với khách hàng, điều họ quan tâm hàng đầu là hiệu quả của dự án đầu tư, tiếp đến là năng lực quản lý và khả năng tài chính của chủ dự án. Nhưng đối với NHTM Việt Nam thì do sự thiếu thông tin và thông tin từ chủ đầu tư không chính xác nên TSBĐ được xem như là yếu tố hàng đầu dẫn đến quyết định cho vay hay không. Nên công tác thẩm định TSĐB mang nghĩa rất quan trọng trong khâu thẩm định trước khi có quyết định cho vay. Việc thẩm định có thể do nhân viên ngân hàng tự thẩm đinh hoặc do thuê ngoài. Việc định giá phải dựa trên cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế đảm bảo tính khách quan, minh bạch và chính xác. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
- Chất lượng công tác xử lý TSĐB
Xử lý TSĐ là trường hợp bất khả kháng. Căn cứ vào điều khoản xử lý TSĐB đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngân hàng và khách hàng sẽ tiến hành xử lý theo đúng quy định của pháp luậ Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nhất là việc thu hồi tài sản nếu như khách hàng không có thiện chí. Hoặc nếu như TSĐB không được thẩm định kỹ, giá trị bị giảm so với giá trị thị trường, khả năng thanh khoản thấp thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong vấn đề thu hồi hết số nợ và thời gian thu nợ.
- Chất lượng nhân viên ngân hàng
Yếu tố con người là yếu tố căn bản tạo nên hiệu quả hoạt động, tạo nên sự thành công hay thất bạ Với đội ngũ con người có đủ trình độ và phẩm chất đạo đức, NHTM có thể kịp thời nắm bắt những tình huống không thuận lợi phát sinh, dự trù giải pháp đối phó với những rủi ro tiềm ẩn để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng.
Chất lượng của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng lớn đến công tác thẩm định, định giá, quản lý và xử lý TSĐB . Một ngân hàng nếu có đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn, có kiến thức và kinh nghiệm, am hiểu pháp luật thì sẽ cso khả năng phân tích, đánh giá về TSĐB chính xác hơn và không bị khách hàng đánh lừa. Ngoài ra cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên nắm bắt tình hình thị trường nhằm giúp cho việc định giá TSĐB cũng như việc xử lý tài sản, không làm cho ngân hàng bị thua thiệt. Do đặc thù có hoạt động tín dụng liên quan đến mọi ngành nghề nên trình độ cán bộ tín dụng phải được hiểu là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ hiểu biết về chính trị, kinh tế, xã hội.
Ngoài kiến thức và năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công tác BĐTD. Nếu nhân viên có gian lận trong việc cho vay thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay từ đó làm xấu đi hình ảnh của ngân hàng.
1.2.3.3 Các nhân tố đến từ khách hàng. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
Tính trung thực, chính xác của những thông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng. Tính trung thực, tư cách đạo đức của khách hàng vay cũng có tác động đến hiệu quả của BĐTD. Trong nhiều trường hợp khách hàng lập hộ sơ giả đề lừa đảo ngân hàng như: Báo các tài chính không trung thực, giả mạo chứng từ liên quan, đặc biệt đối với khách hàng có kinh nghiệm làm hồ sơ vay thì ngân hàng gặp rủi ro cao và làm cho vấn đề BĐTD không còn ý nghĩa nữ Vì vậy đề đạt hiệu quả của công tác BĐTD thì ngân hàng phải lựa chọn để tìm được những khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có đủ năng lực tài chính, có uy tín, có hoạt động sản xuất đạt kết quả tốt.
Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích. Một trong những nguyên tắc tín dụng là khách hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích và ngân hàng nào cũng có những biện pháp để giám sát mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp sử dụng vốn sai mục đích như khách hàng sử dụng vốn không đúng với phương án vay, không đúng đối tượng… Nguyên nhân dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ hay trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng quyết định đến khả năng trả nợ của khách hàng. Muốn nâng cao chất lượng BĐTD, việc tìm hiểu xử lý khó khăn trước, trong và sau quá trình cho vay luôn được đặt ra cho ngân hàng. Các ngân hàng cần phải phối hợp thực hiện với khách hàng một cách chặt chẽ để tìm hiểu những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó đưa ra biện pháp cho vay tiếp để thoát khỏi khó khăn hay ngừng việc cho vay.
- Công việc trên sẽ giúp cả ngân hàng và khách hàng thuận lợi.
Vì vậy, việc lưa chọn và tìm ra khách hàng có khả năng tài chính thật sự, năng lực pháp lý, đạo đức tốt giúp ngân hàng đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng bảo đảm tín dụng tại ngân hàng MB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB […]
[…] ===>> Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB […]
Khóa luận: Chất lượng đảm bảo tín dụng tại ngân hàng MB