Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Huyện Tiên Lãng Hải Phòng được thành lập theo quyết định thành lập số 66/QĐ – NH5 ngày 27/3/1993 của NHNo&PTNT Việt Nam. Trên cơ sở nâng cấp với chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và hoạt động dịch vụ nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, phục vụ khách hàng thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và đáp ứng nhu cầu toàn diện về các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tài chính; nhằm hỗ trợ tốt nhất cho khách hàng trong nước và quốc tế.

Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng có trụ sở chính tại Khu 2 Thị Trấn Tiên Lãng – Hải Phòng.

Đến nay tất cả các xã và thị trấn trong huyện đều có cán bộ ngân hàng trực tiếp cho vay, điều này giúp cho ngân hàng nắm được nhu cầu vay vốn của nhân dân cũng như tiềm năng phát triển kinh tế ở từng khu vực. Không chỉ nắm rõ nhu cầu vay vốn, các cán bộ tín dụng còn nắm rõ hoàn cảnh của dân cư, tận tình hướng dẫn về mọi mặt nên được dân quý dân tin…Với phương trâm huy động vốn để cho vay Ngân hàng đã tích cực thu hút nguồn vốn từ các sản phẩm khác nhau: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, tiền gửi tổ chức kinh tế và cá nhân. Đây là những nguồn huy động vốn có tính chất truyền thống của Ngân hàng, thông qua lượng vốn và cơ cấu của từng loại vốn huy động được trên địa bàn mà Ngân hàng biết được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư để có biện pháp huy động đạt kết quả cao nhất, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh của mình.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức:

Trên cơ sở định hướng, hoạch định chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam và NHNo&PTNT thành phố Hải Phòng, chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng :

Với mô hình hoạt động như trên, trước hết tạo điều kiện cho việc phân công trách nhiệm của từng cán bộ, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tới giao dịch tại Ngân hàng.

Đến ngày 30/06/2025 NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng có 30 cán bộ công nhân viên trong đó có 28 cán bộ có biên chế, 2 cán bộ hợp đồng ngắn hạn. Việc phân công sắp xếp lao động hợp lý cho từng phòng ban, từng cán bộ phù hợp với năng lực trình độ chuyên môn của từng cán bộ, tỷ lệ cán bộ tín dụng là 39%.

2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng giai đoạn 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

2.1.3.1. Công tác huy động vốn

Quán triệt phương trâm của Ngân hàng thương mại là “đi vay để cho vay” NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng coi chiến lược huy động vốn là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Đây là nhiệm vụ mang tính chất thường xuyên, liên tục của một Ngân hàng thương mại. Một Ngân hàng thương mại muốn hoạt động có kết quả và đứng vững trong cơ chế thị trường phải có những giải pháp hữu hiệu để thu hút lượng tiền nhàn dỗi trong các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư. Chính vì vậy, NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng đã tích cực thực hiện các biện pháp để huy động nguồn vốn như mở thêm phòng giao dịch để thuận tiện cho việc giao dich phục vụ khách hàng, tuyên truyền quảng cáo các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng ngày càng tăng trưởng ổn định vững chắc. Đặc biệt là mở rộng hoạt động tài khoản tiền gửi cá nhân thu hút ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về. Triển khai tốt dịch vụ thẻ ATM thu hút nguồn vốn từ ngân sách và cũng để đáp ứng nhu cầu không dùng tiền mặt của khách hàng.

Từ bảng số liệu 2.1, ta có thể nhận thấy nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng liên tục tăng trưởng mạnh trong 3 năm qua. Để làm được điều này không phải dễ trong điều kiện đua lãi suất giữa các ngân hàng, tình hình cạnh tranh thu hút khách hàng tiết kiệm cũng diễn ra gay gắt. Những kết quả khả quan trong công tác huy động vốn nói trên là nhờ vào chính sách lãi suất linh hoạt, phát triển nhiều sản phẩm mới, các sản phẩm tiết kiệm trên nền công nghệ tài khoản cũng như hoạt động PR, Marketing và định hướng khách hàng để tăng sự nhận biết, ưu chuộng của khách hàng với Ngân hàng.

Từ năm 2023 – 2025 tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh trong năm 2024 đạt tốc độ tăng trưởng 55,53% so với năm 2023. Năm 2025, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh Tiên lãng đạt tốc độ tăng trưởng 67,66% so với năm 2024. Đây là một kết quả rất khả quan trong điều kiện NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

  • Bảng 2.1: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH GIAI ĐOẠN 2023 – 2025

Xét về cơ cấu vốn huy động theo thời gian, ta thấy cơ cấu huy động vốn của Chi nhánh tăng trưởng theo chiều hướng tốt. Năm 2024 TGKKH đạt mức 48.734 triệu đồng tăng so với năm 2023 là 15.896 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ là 48,41%. Và trong năm 2025 là 81.584 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 32.850 triệu đồng tương ứng tỷ lệ là 67,41. Bên cạnh đó, TGCKH dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng lớn, tốc độ tăng khá nhanh. Năm 2024 đạt mức 136.295 triệu đồng tăng so với năm 2023 là 52.535 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ là 62,72%. Năm 2025 là 232.672 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 96.377 triệu đồng tương ứng tỷ lệ là 70,71%. Tuy nhiên, TGCKH từ 12 tháng trở lên chiếm tỷ trọng rất nhỏ, tăng trưởng khá đồng đều. Năm 2024 tăng so với năm 2023 là 26,67%, năm 2025 tăng so với năm 2024 là 42,68%.

Xét về cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế, trong 3 năm qua tỷ trọng vốn huy động từ dân cư chiếm phần lớn trong cơ cấu huy động vốn của Chi nhánh, đây cũng là điều tất yếu vì lượng tiền nhàn rỗi chủ yếu nằm ở phần lớn đối tượng khách hàng này. Năm 2023 nguồn vốn này là 96.519 triệu đồng, chiếm 74,62% trên tổng nguồn vốn. Năm 2024 là 158.475 triệu đồng, tăng 61.956 triệu đồng so với năm 2023. Đến năm 2025 nguồn vốn này lên đến 279.163 triệu đồng, tăng lên 76,16% so với năm 2024. Tuy nhiên không vì thế mà Chi nhánh không chú trọng vào nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế. Nguồn vốn này tăng dần qua các năm,năm 2023 là 32.826 triệu đồng, sang năm 2024 tăng lên 42.701 triệu đồng, năm 2025 tăng lên 58.131 triệu đồng, chứng tỏ ngân hàng luôn có những chiến lược tiếp cận với nguồn vốn này nhằm tạo lập được các mối quan hệ lâu dài, uy tín với khách hàng.

2.1.3.2. Công tác sử dụng vốn

Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn là công việc nghiệp vụ có tính chất sống còn của Ngân hàng, vì một phần lợi nhuận mà Ngân hàng thu được đều dựa trên việc cho vay. Nếu sử dụng vốn có hiệu quả sẽ bù đắp được chi phí cho huy động vốn và thu được lợi nhuận. Nếu không sẽ gây hại cho nguồn vốn tự có của Ngân hàng. Vì thế NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng đã và đang thực hiện tốt công tác tín dụng đồng thời chú trọng đến công tác huy động vốn theo hướng “Đi vay để cho vay” đến mọi thành phần kinh tế.

Do nhu cầu tăng trưởng tín dụng hàng năm theo chỉ tiêu mà Ngân hàng đề ra, thêm vào đó nhu cầu tín dụng trong Huyện ngày càng tăng cao làm cho doanh số cho vay tăng cao, nhưng kỳ hạn của mỗi hợp đồng tín dụng là khác nhau nên kỳ hạn thu nợ cũng không giống nhau do đó dư nợ tín dụng tăng là điều tất yếu. Từ bảng 2.2 cho thấy, dư nợ trên địa bàn Huyện tăng qua các năm. Năm 2023 đạt 144.930 triệu đồng, năm 2024 tăng 36.693 triệu đồng hay 25,31% so với năm 2023. Năm 2025 đạt 246.795 triệu đồng, tốc độ tăng so với năm 2024 là 35,88%. Cụ thể từng chỉ tiêu như sau: dư nợ cho vay ngắn hạn trong năm 2023 đạt 123.653 triệu đồng, năm 2024 đạt 151.304 triệu đồng hay tăng 22,36% so với năm 2023. Năm 2025 đạt 201.874 triệu đồng tăng 33,42% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Sỡ dĩ tổng dư nợ ngắn hạn tăng đều qua các năm là do doanh số cho vay ngắn hạn qua các năm tăng để đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân, cũng như Ngân hàng đầu tư chủ yếu vào loại hình cho vay này.

Dư nợ trung và dài hạn cũng tăng đều qua các năm mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn dư nợ ngắn hạn. Mặc dù dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng không lớn nhưng có mức tăng trưởng đều qua các năm và có chiều hướng hoạt động tốt. Điều này cho thấy nguồn vốn của Ngân hàng ngày càng tiếp cận nhiều với người dân, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh trong mọi lĩnh vực trên địa bàn Huyện.

  • Bảng 2.2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN CỦA CHI NHÁNH GIAI ĐOẠN 2023 – 2025

2.1.3.3. Dịch vụ và các tiện ích

Để tiến tới một Ngân hàng hiện đại thì ngoài việc mở rộng hoạt động tín dụng, NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng còn chú trọng đến việc mở rộng kinh doanh đa năng nhằm đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ như: dịch vụ chuyển tiền điện tử đảm bảo chính xác và thu hút hầu hết các khoản chuyển tiền qua bưu điện trước đây, Ngân hàng đứng ra bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thanh toán cho nhiều doanh nghiệp. Năm 2004, Ngân hàng bước đầu áp dụng chuyển tiền nhanh Western Union. Ngoài ra còn thêm dịch vụ Mobile Banking, VNTOPUP…Các loại hình dịch vụ này đã thu hút được số lượng lớn các khách hàng tham gia không những tăng thu nhập mà còn giúp ngân hàng tăng uy tín trong việc đảm bảo an toàn.

2.1.3.4. Hoạt động ngân quỹ

NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng quan tâm đến công tác đảm bảo an toàn kho quỹ bằng các biện pháp cụ thể: tăng cường lực lượng bảo vệ có xe chuyên dụng điều chuyển tiền, trang bị thêm máy soi, đếm tiền, két sắt hiện đại. Thường xuyên kiểm tra quy trình niêm phong, bảo quản tiền và định mức tồn quỹ, bảo quản chìa khoá kho, két. Hệ thống sổ sách được ghi chép đầy đủ theo quy định. Hoạt động ngân quỹ được nâng cao về nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ. Cán bộ ngân hàng đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tạo được niềm tin cho khách hàng với Ngân hàng.

2.1.3.5. Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng.

Hiện nay, các NHTM đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do sự biến động phức tạp của thị trường trong nước và quốc tế. Song có thể nói rằng, NHNo&PTNT Huyện Tiên lãng là một trong những chi nhánh hoạt động hiệu qủa trong hệ thống chi nhánh của NHNo. Được như vậy có thể nói là do Chi nhánh đã nắm bắt kịp thời những cơ hội để phát triển trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó là sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Chi nhánh đã góp sức không nhỏ vào thành công của Ngân hàng. Điều đó đã mang lại thành tích đáng kể trong hoạt động kinh doanh, mang lại doanh thu lớn cho Ngân hàng, đồng thời góp một khoản không nhỏ vào Ngân sách nhà nước. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng được cũng cố, mở rộng quy mô và tăng cường hơn đối tượng cho vay. Do đó Ngân hàng đã thu được một số kết quả khá tốt, đây cũng là tiền đề cho sự phát triển trong thời gian sắp tới. Cụ thể đơn vị đạt được kết quả như sau:

  • Bảng 2.3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH GIAI ĐOẠN 2023 – 2025

Theo bảng 2.3, về tổng thu nhập hoạt động năm 2023 đạt 23.553 triệu đồng, năm 2024 tăng 21,39% đạt 28.592 triệu đồng, năm 2025 tăng 28,79% đạt 36.823 triệu đồng. Trong đó nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng là thu từ lãi cho vay và thu khác. Ngoài ra còn có các khoản thu từ hoạt động dịch vụ và thu lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng.

Về tổng chi phí hoạt động, năm 2023 tổng chi phí đạt 18.239 triệu đồng, năm 2024 tăng 13,68% đạt 20.734 triệu đồng, năm 2025 tăng 18,29% đạt 24.526 triệu đồng. Trong đó chi chủ yếu cho các hoạt động trả lãi huy động.

Về tổng lợi nhuận trước thuế, năm 2023 tổng lợi nhuận đạt 5.314 triệu đồng, năm 2024 tăng 47,87% đạt 7.858 triệu đồng, năm 2025 tăng 56,49% đạt 12.297 triệu đồng. Như vậy nhìn chung về tình hình kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm luôn có lời, kinh doanh có hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp phát triển CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn của Huyện nhà.

Đạt được hiệu quả như vậy chính là nhờ sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo và sự cố gắng, phấn đấu của toàn thể nhân viên Chi nhánh. Bên cạnh đó còn có sự hỗ trợ của các ngành, các cấp chính quyền địa phương trong việc đánh giá phân loại khách hàng giúp Ngân hàng đầu tư tín dụng đúng đối tượng qua từng ngành nghề thích hợp, tạo điều kiện đầu tư sản xuất cho nông dân, giúp họ cải thiện mức sống thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở địa phương.

2.2. Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tai NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng – Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

2.2.1. Thực trạng cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh Huyện Tiên Lãng

Ngân hàng luôn đóng vai trò trung gian tiền tệ. Ở NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế khác nhau, và được tập trung cho vay chủ yếu là hộ sản xuất bao gồm những hộ nông dân và những hộ kinh doanh buôn bán nhỏ. Trong những năm qua bằng hoạt động tín dụng của mình, NHNo&PTNT Chi nhánh Huyện Tiên Lãng đã có những có mức tăng trưởng cao và ổn định, đã thật sự cần thiết và là người bạn đồng hành của bà con nông dân. Bằng việc xem xét thực trạng hoạt động cho vay theo đối tượng khách hàng là hộ sản xuất với các chỉ tiêu như dư nợ, doanh số cho vay, doanh số thu nợ, nợ quá hạn … chúng ta sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Chi nhánh Huyện Tiên Lãng trong những năm gần đây.

2.2.1.1. Doanh số cho vay

2.2.1.1.1. Doanh số cho vay ngắn hạn hộ sản xuất nông nghiệp

Huyện Tiên Lãng có hơn 80% dân số là hộ sản xuất với ngành nghề truyền thống là trồng trọt và chăn nuôi nên đa số khách hàng của Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh ngắn hạn là: trồng trọt, chăn nuôi… Do đặc tính của ngành nông nghiệp có chu kỳ sản xuất ngắn, thường thiếu hụt vốn đầu tư vào mùa vụ và dư thừa vào mùa thu hoạch. Vì thế, người dân chỉ biết vay nơi cho vay nặng lãi hoặc không có vốn để đầu tư dẫn đến hiệu quả không cao, mùa màng thất thoát. Nắm được quy luật đó, Ngân hàng đã đầu tư cho vay với mức lãi suất phù hợp. Như thế các hộ sản xuất khi có nhu cầu vay vốn với mục đích chính đáng thì sẽ được Ngân hàng hỗ trợ với mức vay vừa phải. Cũng chính từ đó, hoạt động cho vay ngắn hạn cũng chính là hoạt động cho vay chủ yếu của đơn vị nhằm phục vụ nhu cầu cần thiết về vốn giúp đời sống của nông dân được ổn định nâng mức thu nhập cho hộ sản xuất.

Cho vay ngắn hạn bao gồm các đối tượng: Trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh. Tổng doanh số cho vay ngắn hạn trong năm 2023 là 104.017 triệu đồng, đến năm 2024 đạt 169.545 triệu đồng tăng 65.528 triệu đồng tương đương 62,99% so với năm trước. Trong năm 2025, tổng doanh số cho vay ngắn hạn là 289.837 triệu đồng tăng hơn năm 2024 là 70,95%.

Cho vay chăn nuôi: Lúc đầu người dân chỉ nuôi với quy mô nhỏ nhưng càng ngày số lượng vật nuôi càng được nâng lên và trở thành ngành tạo thu nhập chính cho những gia đình có ruộng đất ít. Doanh số cho vay chăn nuôi năm 2023 là 55.134 triệu đồng chiếm tỷ trọng 53,00%, năm 2024 tăng 40.504 triệu đồng tức tăng 73,46 % so với năm 2023. Đến năm 2025 thì cho vay chăn nuôi đã lên đến 169.912 triệu đồng. Nguyên nhân ngành chăn nuôi phát triển như vậy trong những năm gần đây giá cả sản phẩm chăn nuôi tăng vọt nên ngày càng có nhiều nông dân đầu tư vào lĩnh vực này, do đó họ cần nhiều vốn để chăn nuôi. Mặc khác, giá cả nguyên vật liệu đầu vào để chăn nuôi thì rất đắt từ con giống đến thức ăn làm cho người dân càng thiếu vốn nhiều hơn để mở rộng quy mô, từ đó làm cho nhu cầu vay vốn tăng cao. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Cho vay trồng trọt: ngành trồng trọt Huyện nhà phát triển cũng tương đối tốt. Cây trồng chủ yếu của Huyện là cây lúa, thuốc lào, hoa màu và một số nông sản khác như: cam, xoài… Năm 2023, cho vay trồng trọt chiếm 28,61% tương đương 29.758 triệu đồng, năm 2024 tăng 12.709 triệu đồng với tốc độ 42,71 % so với năm 2023. Sang năm 2025 cho vay trồng trọt đạt 67.487 triệu đồng, tăng 58,92% so năm 2024.

  • Bảng 2.4: DOANH SỐ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023-2025)

Cho vay kinh doanh: Phần lớn là hộ sản xuất kinh doanh cá thể: nhà máy xay lúa, buôn bán vật tư nông nghiệp, vật tư xây dựng, nơi cung cấp cây giống, vật nuôi, thu mua lúa cung cấp gạo cho thị trường. Ta thấy doanh số cho vay này tăng rất nhiều qua các năm. Cụ thể: năm 2023, doanh số cho vay đạt 19.125 triệu đồng, năm 2024 cho vay kinh doanh tăng 12.315 triệu đồng hay tăng 64,39% so với năm 2023. Sang năm 2025, doanh số cho vay đã lên đến 52.438 triệu đồng. Nguyên nhân cho vay kinh doanh ngày càng tăng là do số doanh nghiệp trên địa bàn được thành lập ngày càng nhiều nên cần nhiều vốn để hoạt động, mặc khác do việc làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp cũ nên họ muốn mở rộng quy mô làm cho nhu cầu vốn tăng cao.

2.2.1.1.2. Doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp

Cũng như doanh số cho vay ngắn hạn, doanh số cho vay chăn nuôi cũng chiếm tỷ trọng cao trong doanh số cho vay trung hạn ngành nông nghiệp. Doanh số cho vay trung hạn ngành chăn nuôi năm 2023 là 6.419 triệu đồng. Năm 2024, cho vay trung hạn chăn nuôi là 9.907 triệu đồng tăng 54,34% so với năm 2023. Sang năm 2025 doanh số cho vay ngành chăn nuôi lên đến 15.173 triệu đồng tăng 5.266 triệu đồng hay tăng 53,15% so với năm 2024. Nguyên nhân tỷ lệ tăng hàng năm như vậy là do Ngân hàng khuyến khích người dân vay trung hạn để nuôi heo nái, bò, dê giống vì hình thức chăn nuôi này có lợi nhuận cao hơn hình thức chăn nuôi heo, bò và dê thịt. Chính vì ưu điểm thuận lợi đó mà người dân đã gia tăng vốn trung hạn để mở rộng qui mô chuồng trại, tăng đàn heo, bò và dê kết hợp với chăn nuôi heo thịt nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cải thiện dần mức sống cho gia đình.

Năm 2023 doanh số cho vay trung hạn ngành trồng trọt là 3.571 triệu đồng. Năm 2024 tăng 22,93% so với năm 2023. Sang 2025, doanh số cho vay này đạt 6.082 triệu đồng, tăng 35,54% so với năm 2024.

  • Bảng 2.5: DOANH SỐ CHO VAY TRUNG HẠN HỘ SẢN XUẤT (2023-2025)

2.2.1.2. Tình hình thu nợ Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Trong hoạt động Ngân hàng để có thể duy trì, bảo toàn và mở rộng nguồn vốn cho vay thì bên cạnh công tác cho vay thì công việc hết sức quan trọng mà Ngân hàng quan tâm là công tác thu hồi nợ.

2.2.1.2.1 Doanh số thu nợ ngắn hạn HSX nông nghiệp

Thu nợ chăn nuôi: ngành chăn nuôi hiện nay là một ngành rất phát triển ở địa bàn Huyện và heo là vật nuôi được nuôi nhiều nhất. Từ năm 2023 trở lại đây giá thịt heo tăng nhanh, người dân bán heo được giá và trả nợ cho Ngân hàng. Mặc khác nhờ thú y và mô hình xây dựng chuồng trại được cải tiến nhờ đồng vốn của Ngân hàng, hiệu quả sử dụng vốn của người dân ngày càng cao và khả năng trả nợ Ngân hàng ngày càng lớn. Chính điều đó đã làm cho doanh số thu nợ Ngân hàng tăng liên tục trong ba năm, năm 2023 đạt 46.386 triệu đồng, năm 2024 đạt 89.927 triệu đồng, tăng 93,86 % so với năm 2023. Đến năm 2025 thu nợ chăn nuôi hộ sản xuất đạt 161.212 triệu đồng.

  • Bảng 2.6: DOANH SỐ THU NỢ NGẮN HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023 – 2025)

Thu nợ trồng trọt: đóng góp trong cơ cấu thu nợ, doanh số thu nợ trồng trọt cũng tăng liên tục qua ba năm, cụ thể năm 2023 đạt 17.503 triệu đồng, năm 2024 tăng 14.997 triệu đồng so với năm 2023. Đến năm 2025 doanh số thu nợ đạt 59.764 triệu đồng. Nguyên nhân doanh số thu nợ tăng liên tục qua ba năm là do người dân tích cực tham gia sản xuất nên năng suất đạt rất cao cộng với giá lúa trong những năm gần đây tăng liên tục, vì vậy nông dân có điều kiện trả nợ Ngân hàng.

Thu nợ kinh doanh: Doanh số thu nợ ngắn hạn trong họat động kinh doanh qua các năm tăng dần, năm 2023 đạt 12.361 triệu đồng, năm 2024 tăng 10.324 triệu đồng so với năm 2023, năm 2025 thu nợ kinh doanh đạt 43.384 triệu đồng, điều này cho thấy người dân đã mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh trên địa bàn và thu được hiệu quả nên dễ dàng thu hồi vốn. Điều đó cho thấy Ngân hàng đã đầu tư đúng vào các phương án khả thi và giám sát vốn vay rất chặt chẽ.

Tóm lại doanh số thu nợ ngắn hạn tăng cho thấy khách hàng sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả đồng thời chi nhánh luôn có biện pháp hợp lý để thu hồi nợ nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh phát triển. Đạt được như vậy là nhờ vào Chi nhánh đã thực hiện tốt việc đôn đốc trả nợ của khách hàng như gửi giấy báo kịp thời đến với khách hàng khi đến hạn trả nợ. Mặc khác, Ngân hàng còn nhận được sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương nên việc thẩm định các món vay được chính xác hơn, hạn chế được việc cho vay sai đối tượng và việc kiểm tra sử dụng vốn được kịp thời hơn. Đồng thời ý thức trả nợ của khách hàng ngày càng cao cộng với việc khách hàng đã chọn được các phương án sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế tạo nguồn thu ổn định cho gia đình… Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

2.2.1.2.2. Doanh số thu nợ trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp

  • Bảng 2.7: DOANH SỐ THU NỢ TRUNG HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023 – 2025)

Việc mở rộng cho vay trung hạn qua các năm tuy không lớn so với doanh số cho vay ngắn hạn nhưng nó cũng làm cho nguồn thu của Ngân hàng từ vốn tín dụng tăng lên qua các năm.

Từ năm 2023 Ngân hàng đã chủ trương mở rộng cho vay trung hạn nhưng còn hạn chế về đối tượng cho vay nhưng đến đầu năm 2024 Ngân hàng mở rộng đối tượng cho vay của mình. Sang năm 2025, doanh số thu nợ trung hạn đạt 20.024 triệu đồng, tăng 8.097 triệu đồng so với năm 2024. Nguyên nhân doanh số thu nợ ngành trồng trọt và chăn nuôi năm 2025 tăng cao là do những hộ vay trung hạn để sản xuất nông nghiệp đầu tư sản xuất có hiệu quả đem lại lợi nhuận cao nên Ngân hàng thu được nợ từ những hộ vay này.

2.2.1.3. Tình hình dư nợ

Dư nợ tín dụng là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó Ngân hàng còn cho vay bao nhiêu, đồng thời cũng chính là khoản mà Ngân hàng cần phải thu về. Số dư nợ của loại này càng lớn chứng tỏ công tác cho vay của Ngân hàng đạt kết quả tốt, nguồn vốn của Ngân hàng dồi dào và vai trò cung cấp vốn của Ngân hàng cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh càng cao.Tuy nhiên tổng dư nợ còn có một khoản nữa đó là nợ quá hạn, đây là dạng dư nợ mà Ngân hàng cần phải hạn chế ở mức thấp nhất

2.2.1.3.1 Dư nợ ngắn hạn hộ sản xuất nông nghiệp

Dư nợ chăn nuôi: có thể nói rằng trong những năm gần đây, giá cả sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi luôn ủng hộ người dân làm cho nông dân phấn khởi làm ăn, mở rộng quy mô. Từ đó làm cho dư nợ ngành chăn nuôi tăng lên hàng năm, năm 2023 dư nợ đạt 60.642 triệu đồng chiếm 52,99% trong tổng dư nợ, năm 2024 tăng 5.711 triệu đồng so với năm 2023 tương ứng 9,42%. Sang năm 2025, dư nợ đạt 75.053 triệu đồng tăng 13,11% so với năm 2024.

  • Bảng 2.8: DƯ NỢ NGẮN HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023 – 2025)

Dư nợ trồng trọt: dư nợ trồng trọt tăng qua các năm, năm 2023 dư nợ đạt 32.780 triệu đồng, năm 2024 dư nợ tăng 9.967 triệu đồng so với năm 2023. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Đến năm 2025 dư nợ đã tăng đến 50.470 triệu đồng. Nguyên nhân dư nợ tăng là do doanh số cho vay tăng, nông dân đầu tư mạnh vào sản xuất. Mặc khác giá cả nông sản tăng nên giá cây giống cũng tăng, giá cả phân bón, thuốc trừ sâu tăng liên tục… nên nhu cầu vay vốn của nông dân ngày càng lớn hơn, vì vậy mà dư nợ ngày càng nhiều.

Dư nợ kinh doanh: tăng với tốc độ đáng kể, năm 2023 mới chỉ đạt 21.019 triệu đồng, năm 2024 tăng 8.755 triệu đồng tức 41,65 % so với năm 2023. Đến năm 2025 dư nợ kinh doanh đã đạt đến 38.828 triệu đồng. Sở dĩ dư nợ tăng nhanh như vậy là do hộ kinh doanh đã có nhiều phương án mở rộng sản xuất và được Ngân hàng đầu tư cho vay.

2.2.1.3.1 Dư nợ trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp

  • Bảng 2.9: DƯ NỢ TRUNG HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023 – 2025)

Qua bảng số liệu ta thấy tình hình dư nợ trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp tăng liên tục qua các năm. Cụ thể: năm 2023 dư nợ đạt 12.068 triệu đồng, trong đó dư nợ chăn nuôi chiếm 61,19%, còn lại là dư nợ trồng trọt. Năm 2024, cả dư nợ trồng trọt và chăn nuôi đều tăng đưa tổng dư nợ năm 2024 đạt 14.428 triệu đồng tăng 19,55% so với năm 2023. Đến năm 2025 tình hình dư nợ tiếp tục tăng, tổng dư nợ đạt 16.359 triệu đồng, tăng 13,38% so với năm 2024. Mặc dù dư nợ trung hạn tăng qua các năm nhưng ta thấy rằng nó vẫn còn thấp. Nguyên nhân tình hình dư nợ trung hạn còn ở mức thấp là do doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cho vay hộ sản xuất. Mặc khác giá cả sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao nên tạo điều kiện cho người dân trả nợ Ngân hàng dễ dàng cộng thêm vào đó là lãi xuất vay trung hạn cao hơn ngắn hạn nên người dân còn e dè khi vay.

2.2.1.4. Tình hình nợ quá hạn

  • Bảng 2.10: NỢ QUÁ HẠN HỘ SẢN XUẤT QUA 3 NĂM (2023 – 2025)

Qua bảng số liệu 2.10 ta thấy nợ quá hạn ngắn hạn các năm giảm đi đáng kể. Năm 2023, nợ quá hạn là 1.237 triệu đồng. Năm 2024, nợ quá hạn ngắn hạn hộ sản xuất là 955 triệu đồng giảm đi 282 triệu đồng tương đương giảm 22,79% so với năm 2023. Năm 2025, nợ quá hạn ngắn hạn hộ sản xuất tiếp tục giảm xuống còn 697 triệu đồng giảm đi 27,02%.

Cũng như nợ quá hạn ngắn hạn, nhìn chung nợ quá hạn trung hạn đối với hộ sản xuất cũng giảm trong những năm trở lại đây. Cụ thể, năm 2023 nợ quá hạn trung hạn là 793 triệu đồng thì sang năm 2024 nợ quá hạn giảm 175 triệu đồng so với năm 2023. Đến năm 2025, nợ quá hạn giảm xuống đến mức chỉ còn 435 triệu đồng. Điều này chứng tỏ nếu thời gian vay nợ 3 năm người dân có thể xoay chuyển vốn vay và thu nhập từ nhiều nguồn để đảm bảo trả nợ đúng hạn, nếu như năm đầu nông dân bị mất mùa qua năm sau có thể cải thiện kịp thời cho nên nợ quá hạn trung hạn giảm liên tục qua các năm.

Chúng ta thấy rằng, nợ quá hạn luôn giảm đáng kể qua 3 năm, ngoài những nguyên nhân trên còn một nguyên nhân rất quan trọng không không kể đến đó là Ngân hàng có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và thâm niên cao, kinh nghiệm làm việc nhiều năm. Ngoài ra, Ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, công tác thẩm định phương án, dự án, tư cách khách hàng trước khi cho vay được quan tâm đúng mức vì đây là bước quan trọng nhất trong quá trình cho vay. Mỗi cán bộ tín dụng đã đến từng hộ dân để xem xét tình hình thực tế sau đó mới quyết định cho vay. Công tác kiểm tra sau khi cho vay được thực hiện thường xuyên, liên tục, nên việc xử lý nợ đến hạn nhanh chóng.

2.2.2. Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng qua 3 năm 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

  • Bảng 2.11: CÁC TỶ SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2023-2025)

Vòng quay vốn tín dụng: phản ánh tình hình luân chuyển vốn của ngân hàng trong một kỳ nhất định. Trong năm 2023 vòng quay vốn tín dụng là 1,02 vòng và tăng lên ở năm 2024 là 1,25 vòng sang năm 2025 đạt 1,66 vòng. Tuy chỉ số này đạt chưa cao nhưng có chiều hướng tăng dần qua các năm. Như vậy đồng vốn của Ngân hàng được thu hồi và luân chuyển tốt qua ba năm, điều này làm cho quy mô hoạt động tín dụng của chi nhánh càng được mở rộng. Mặc khác, chúng ta thấy được công tác chỉ đạo thu hồi nợ của Ngân hàng tốt, khách hàng vay vốn làm ăn có hiệu quả, Ngân hàng đầu tư đúng hướng giúp khách hàng vay vốn trả được gốc và lãi tiền vay nên góp phần giữ vững, ổn định vòng quay vốn tín dụng.

Hệ số thu nợ: đánh giá khả năng thu hồi nợ từ đồng vốn Ngân hàng cho vay ra. Hệ số thu nợ của đơn vị đạt 73,01% trong năm 2023, sang năm 2024 là 85,43%, tăng hơn năm trước 12,42% và đến năm 2025 hệ số này tăng lên đạt 91,41%. Nhìn chung hệ số thu nợ của chi nhánh đạt khá. Điều này chứng tỏ công tác thu hồi nợ hộ sản xuất của Ngân hàng đạt hiệu quả, rủi ro trong hoạt động tín dụng thấp.

Tỷ lệ nợ quá hạn: phản ánh hiệu quả của nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng. Trong năm 2023 có tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất là 2,09%, đến năm 2024 là 1,03% giảm 1,06% so với năm trước và tỷ lệ nợ quá hạn năm 2025 là 0,59% giảm hơn năm 2024 là 0,44%. Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thể hiện Ngân hàng hoạt động có hiệu quả và ngược lại tỷ lệ này cao thể hiện mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng cao.

Trong ba năm tỷ lệ nợ quá hạn giảm liên tục cho thấy công tác thu nợ của đơn vị đạt hiệu quả rất khả quan, hoạt động tín dụng của chi nhánh ngày càng hiệu quả, công tác thu hồi nợ trong hoạt động tín dụng hộ sản xuất đạt hiệu quả cao, có được kết quả này là nhờ vào sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng đã cho vay đúng người, đúng đối tượng, làm tốt khâu thẩm định trước khi cho vay, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay nên kết quả thu hồi nợ mới tốt như vậy. Điều kiện tự nhiên – xã hội cũng có vai trò quyết định không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh của nông hộ, cho thấy đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và ngành nghề khác phục vụ cho nông hộ là một giải pháp đúng của NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng. Trong những năm vừa qua, giá lúa và các mặt hàng nông sản khác tăng cao và ổn định giúp cho hộ nông dân trả nợ tốt cho Ngân hàng.

Hệ số sử dụng vốn: cho biết vốn huy động tham gia vào việc đầu tư tín dụng và khả năng huy động vốn tại địa phương. Từ chỉ số trên cho hệ số sử dụng vốn đối với HSX qua 3 năm là chưa cao, có thể vì các HSX vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu khi vay vốn Ngân hàng, chưa tạo dựng được niềm tin tối đa nên việc vay vốn còn khó khăn. Mặc dù dư nợ cho vay HSX đang tăng nhưng tốc độ tăng vẫn nhỏ so với tổng nguồn vốn huy động.

2.3. Đánh giá hiệu quả cho vay phát triển kinh tế hộ sản xuất. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

2.3.1. Những kết quả đạt được.

Kể từ khi NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng được thành lập và nhất là những năm gần đây NHNo Huyện Tiên Lãng đã góp 1 phần công sức của mình trong sự nghiệp CNH – HĐH nông thôn (nhất là từ khi có Quyết định 67/1999/QĐ – TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng chính phủ “về một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”)l, cải thiện dần bộ mặt nông thôn của Huyện qua việc hỗ trợ vốn cho người dân thiếu vốn sản xuất, kinh doanh. Trong đó Ngân hàng đặc biệt chú trọng đầu tư cho hộ nông dân sản xuất nông, lâm nghiệp, vì đây là ngành kinh tế trọng tâm của Huyện.

Kết quả nổi bật nhất là dư nợ cho vay hộ sản xuất ngày càng tăng và duy trì ở mức cao, giúp cho hàng ngàn hộ sản xuất có đủ vốn đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh, nhờ có đồng vốn của Ngân hàng cho vay nên nông dân có điều kiện mở mang diện tích cây trồng, vật nuôi, mua giống, phân bón có điều kiện đầu tư áp dụng kỹ thuật, các cây công nghiệp lâu năm … là đối tượng đầu tư lớn và lâu dài của Ngân hàng, giải quyết việc làm góp phần thực hiện quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chính sách “Xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn”.

Hình thức cho vay qua nhóm như: Hội phụ nữ, hội nông dân, thông qua các tổ tín chấp được lập ra đã tập trung đầu mối khách hàng, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn cao.

Ngành kinh tế nông, lâm nghiệp được coi là ngành kinh tế trọng tâm hàng đầu của tỉnh và đây cũng là ngành kinh tế được NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng chú trọng đầu tư. Trong đó ngành kinh tế chăn nuôi tập trung phần lớn vốn đầu tư của Ngân hàng chiếm khoảng 60% tổng số vốn đầu tư vào khu vực kinh tế nông thôn. Các hộ nông dân dùng vốn vay của Ngân hàng mua con giống, thức ăn gia súc, gia cầm, xây dựng chuồng trại vv… đến nay hàng năm các hộ nông dân cung cấp cho thị trường gần 10.000 tấn thịt, trong đó thịt lợn, gà là chủ yếu. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Đa dạng hoá các hình thức cho vay nhưng đảm bảo chất lượng tín dụng, Ngân hàng phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội nhất là Hội phụ nữ, Hội nông dân, khuyến nông, khuyến lâm giúp người nghèo và tạo điều kiện cho họ biết sử dụng đồng vốn của Ngân hàng có hiệu quả.

Đến nay vốn tín dụng của Ngân hàng đã phát huy hiệu quả góp phần đẩy mạnh sức sản xuất nông nghiệp của huyện, tỉnh. Nhờ đồng vốn của Ngân hàng mà nhiều hộ nông dân “ăn lên, làm ra” cải thiện được mức sống, hộ nghèo khấm khá dần lên, không còn lo đói mỗi khi vào vụ giáp hạt. Từ khi có vốn tín dụng tính đến cuối năm 2025 đã có nhiều hộ kinh tế khó khăn thoát khỏi đói nghèo, đời sống của người nông dân ở nông thôn Huyện Tiên Lãng từng bước được nâng lên, nhiều hộ nông dân nhờ vốn vay của Ngân hàng làm kinh tế giỏi trả được nợ ngân hàng và đã mua được nhiều thứ đắt tiền trong sinh hoạt gia đình như : xe máy, ti vi, tủ lạnh, sửa sang và xây dựng được nhiều nhà ở khang trang, mở mang sản xuất, có điều kiện giúp đỡ các hộ khác cùng vươn lên.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của ban Giám đốc NHNo&PTNT tỉnh Hải Phòng, ban giám đốc NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng, Huyện uỷ, uỷ ban nhân dân Huyện, NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng đã đạt được kết quả trên, đó là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên chức NHNo&PTNT Huyện Tiên Lãng nói chung và của những cán bộ làm công tác tín dụng nói riêng.

2.3.2. Một số tồn tại.

Mặc dù tình hình cho vay hộ sản xuất ở Huyện Tiên Lãng trong thời gian qua có thu được kết quả đáng kể nhưng vẫn còn những tồn tại vướng mắc cần được tháo gỡ:

  • Tiềm ẩn rủi ro do việc thẩm định cho vay chưa đảm bảo phù hợp.
  • Thời hạn cho vay và kỳ hạn nợ chưa hợp lý, chưa căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh.
  • Quá trình thẩm định chưa được cán bộ tín dụng làm tốt, nhiều khách hàng không sử dụng số tiền vay theo đúng mục đích.
  • Đầu tư cho vay hộ sản xuất trên địa bàn các xã chưa đồng đều có xã dư nợ còn thấp, đầu tư nhỏ lẻ, hiệu quả của đồng vốn chưa cao.
  • Suất đầu tư cho mỗi hộ sản xuất trên địa bàn thấp, ảnh hưởng hiệu quả đầu tư của hộ nông dân, trong việc trồng cây gì? con gì? và trồng như thế nào?.

2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến tồn tại. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

  • Nguyên nhân về phía Ngân hàng.
  • Một là: Về công tác chỉ đạo điều hành:

Chủ trương cho vay hộ nông dân là đúng quan điểm trong toàn hệ thống nhất quán, nhưng việc điều hành cụ thể nhất là ở cấp lãnh đạo Ngân hàng cơ sở còn thiếu năng động, thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể … nên chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nông dân.

  • Hai là: Về trình độ năng lực của cán bộ tín dụng:

Hộ nông dân không những họ thiếu về vốn sản xuất mà họ còn thiếu cả về trình độ quản lý, kỹ thuật … nhưng năng lực cán bộ Ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nối riêng chưa đáp ứng được nhu cầu của họ. Đáng chú ý nhất là một bộ phận không nhỏ cán bộ làm nhiệm vụ cho vay hộ nông dân rất ít hiểu biết về nông nghiệp nông thôn nên việc xác định mức vốn vay, định kỳ hạn nợ, tính hiệu quả kinh tế, mức sinh lời của đối tượng vay … thiếu cơ sở khoa học, thiếu thực tiễn thêm vào đó chưa thường xuyên thực hiện nguyên tắc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay nên hiệu quả vốn vay còn thấp.

 Ba là: Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của 1 Ngân hàng thương mại còn phải thực hiện các chương trình, dự án chỉ định của Chính phủ, của tỉnh …đối với các chương trình này tỷ lệ thu nợ, thu lãi đạt thấp.

Bốn là: Địa bàn hoạt động của NHNo&PTNT rộng, khách hàng chủ yếu là nông dân nông thôn, làm ăn manh mún, suất đầu tư thấp, thời hạn cho vay theo chu kỳ sản xuất, 1 cán bộ tín dụng quản lý nhiều món vay, nhiều khách hàng, nên có hiện tượng quá tải nhưng lại không có chính sách thoả đáng đảm bảo quyền lợi cho họ, nhất là các CBTD phụ trách các xã vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh đó giữa NHNo&PTNT và các tổ chức đoàn thể xã hội chưa thực sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau để quản lý, chuyển tải vốn và hướng dẫn các hộ sử dụng vốn vay nhằm mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn vay có hiệu quả, một số tổ chức đoàn thể xã hội, cơ quan chức năng cho việc cho vay, thu nợ đó là việc của Ngân hàng.

Ngoài những kết quả đạt được thì những tồn tại trên đây cộng với khí hậu, thời tiết khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều gây cản trở đối với quá trình mở rộng khả năng tiếp cận đồng vốn của Ngân hàng đến người sản xuất, hạn chế khả năng phát huy hiệu quả sử dụng vốn ở khu vực kinh tế nông thôn. Đòi hỏi cần có 1 hệ thống chính sách điều chỉnh từ TW đến địa phương, hàng loạt các biện pháp giải quyết của NHNo&PTNT, đồng thời cần phối kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội phụ nữ, Hội nông dân, khuyến nông, khuyến lâm … để đưa ra những cách thức giải quyết tốt nhất nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay.

  • Nguyên nhân về phía hộ nông dân

Một là: Nền kinh tế Việt nam chuyển sang cơ chế thị trường mới được một thời gian ngắn, nhiều hộ nông dân không bắt kịp với những thay đổi của các chính sách kinh tế vĩ mô cũng như đòi hỏi ngày càng cao và luôn thay đổi của thị trường nhất là về chất lượng, chủng loại, giá cả, sản phẩm hàng hoá. Phần lớn các hộ nông dân vẫn còn ở tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tự cung, tự cấp, nên các hộ có nhu cầu vay vốn và mức vay vốn của mỗi hộ còn rất thấp.

Hai là: Do nhiều khách hàng còn bị hạn chế về trình độ, thiếu những kỹ năng, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất. Vì vậy mà tiền vay không được sử dụng đúng mục đích, dẫn đến khả năng khách hàng không trả được nợ cao, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank.

Ba là: Đa số các hộ sản xuất nằm xa trụ sở Ngân hàng, điều kiện đi lại không thuận tiện, các nhân viên Ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp cận sâu sát với đối tượng vay vốn và quản lý vốn vay.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại Agribank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x