Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng ngày càng phát triển hoạt động kinh doanh về cả chiều sâu và chiều rộng. Ngân hàng thương mại là một tổ chức gắn chặt với nền kinh tế thị trường, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Mặc dù các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng phát triển chiếm tỷ trọng tăng dần trong doanh thu nhưng hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại

thu nhập chính cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là tín dụng trung –dài hạn. Gắn với kinh tế thị trường, để tồn tại và không ngừng phát triển, hệ thống NHTM nói chung cũng như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng, tất yếu đòi hỏi công tác tín dụng trung và dài hạn phải được nâng cao chất lượng đầu tư, phát huy tối đa vai trò đòn bẩy của nó.

Nhận thức được tính cấp thiết ấy, sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tại cơ sở, em chọn đề tài:” Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng” làm nội dung nghiên cứu trong chuyên đề tốt nghiệp của mình .

Khoá luận tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới công tác tín dụng cũng như chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng. Từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

2. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về NHTM, tín dụng, chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

Khảo sát tình hình thực tế, phân tích, đánh giá về chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hải phòng, những kết quả đạt được, những yếu kém và tìm ra những nguyên nhân của những yếu kém đó.

Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank Hải phòng, đảm bảo an toàn phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Khóa luận nghiên cứu các vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng trung dài hạn và tình hình chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại, xem xét đánh giá về thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng trung dài hạn và chất lượng tín dụng trung dài hạn.

  • Phạm vi nghiên cứu:
  • Về không gian:
  • Đề tài chỉ khảo sát hoạt động của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng.
  • Địa chỉ số 11 đường Hoàng Diệu-Hồng Bàng-Hải Phòng.
  • Về thời gian :

Luận văn có sử dụng số liệu trong khoảng thời gian 3 năm gần nhất 2023, 2024, 2025 của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng.

Giới hạn nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về chất lượng hoạt động tín dụng cuả ngân hàng, cụ thể là tín dụng trung dài hạn. Từ đó nghiên cứu và đánh giá thực trạng hoạt động để đưa ra một số giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng trong thời gian tới.

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê do nền kinh tế biến động không ngừng và rất phức tạp. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng hệ thống các sơ đồ bảng biểu để minh họa, làm tăng tính thuyết phục.

5. Kết cấu của khóa luận Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Ngoài lời mở đầu, kết luận thì nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương I: Tổng quan về hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng thương mại.
  • Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng.
  • Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng.

Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự ủng hộ giúp đỡ của các thầy, cô giáo trường ĐHDL Hải Phòng và các anh, chị trong đơn vị thực tập.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trường ĐHDL Hải Phòng, đặc biệt là cô Cao Thị Thu đã truyền đạt cho em những phương pháp học tập, nghiên cứu kiến thức quý báu trong suốt quá trình em học tập tại trường và tạo điều kiện để em có thể thực hiện và hoàn thành bài luận văn của mình.

Em cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo, cùng toàn thể các cán bộ nhân viên trong Vietcombank Hải phòng đã giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện tôt nhất cho em trong quá trình thực tập tại ngân hàng.

Em xin chân thành cảm ơn và em xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất trong cuộc sống và trong công tác tới các thầy, cô cùng các cô, chú, anh, chị trong ngân hàng.

Do thời gian cũng như trình độ và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và bạn bè cùng các anh, chị trong Chi nhánh để luận văn của em được hoàn thiện và có chất lượng tốt hơn.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1. Các khái niệm.

1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Ngân hàng là loại hình tổ chức kinh doanh đã ra đời từ lâu và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Tuy nhiên, vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Để định nghĩa, người ta có thể căn cứ vào tính chất, mục đích hoạt động của các tổ chức trên thị trường, hay dựa vào sự kết hợp giữa tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động của các tổ chức này. Có thể định nghĩa về ngân hàng như sau: Theo luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 ở Việt Nam:” NHTM là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.”

Luật này cũng định nghĩa:” Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

1.1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng.

Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong xã hội loài người. Tín dụng theo nghĩa latinh là creditim, là sự tín nhiệm, tin tưởng, tên gọi này xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng, người cho vay sẽ cho người cần vay vốn theo các điều kiện đã được thỏa thuận trước như thời gian cho vay, thời hạn trả nợ, lãi suất cho vay…Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thỏa thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.

Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng các từ ngữ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi giữa người đi vay và người cho vay.

  • Như vậy có thể định nghĩa tín dụng như sau:

“Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay”.

Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh tế, và dân cư. Với tư cách là tổ chức huy động vốn để cho vay, ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình.

Có thể nói tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.

1.1.3. Khái niệm tín dụng trung- dài hạn của NHTM. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung dài hạn được hiểu là: ”hoạt động tài chính cho khách hàng vay vốn trung –dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”, là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống. Tín dụng trung hạn được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục, hoàn thiện, hợp lý hóa quy trình công nghệ, quy trình sản xuất. tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm, được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Hình thức tín dụng này được NHTM cấp cho khách hàng nhằm hổ trợ việc xây dựng mới, mở rộng hoặc hoàn thiện quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.

Đối với điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn trung-dài hạn rất lớn, trong khi các doanh nghiệp chưa có nhiều thời gian để tích lũy vốn và chưa tích lũy được nhiều. Đồng thời việc đầu tư trực tiếp của công chúng qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu do các doanh nghiệp phát hành còn là một vấn đề rất hạn chế. Cho nên trong thực tiễn nhu cầu về vốn trung –dài hạn của các doanh nghiệp chủ yếu đáp ứng bởi vốn tự có của doanh nghiệp và đa phần còn lại là bằng sự tài trợ của hệ thống ngân hàng thương mại thông qua hoạt động tín dụng trung –dài hạn.

1.1.4. Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

Độ rủi ro cao:Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro của tín dụng trung và dài hạn là cao. Kết quả của một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: những thay đổi về chính sách, thị trường, thiên tai, chiến tranh…Trong khi đó sự phân tích và nhận định của ngân hàng về các rủi ro này có hạn, do đó các ngân hàng cũng không thể khắc phục được hết. Điều này khiến dự án bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn.

Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn lớn: khi độ rủi ro của các dự án đầu tư càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư mong đợi càng lớn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thường mang lại những khoản lợi nhuận lớn. biểu hiện cụ thể đó là lãi suất tín dụng trung và dài hạn rất cao. Sở dĩ lãi suất cao như vậy là để bù đắp những chi phí trong việc huy động vốn cũng như bù đắp những rủi ro trong suốt thời gian dự án đầu tư.

Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm: Tín dụng trung và dài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, hay đổi mới công nghệ. Do đó, việc tài trợ đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài. Trong khi đó nguồn trả nợ chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư. Vì thế chỉ khi dự án được hoàn thành và đi vào hoạt động có hiệu quả thì ngân hàng mới có thể thu hồi nợ.

1.1.5. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

1.1.5.1.Đối với doanh nghiệp.

  • Tín dụng trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường.

Mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường luôn là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng thi trường hoạt động của mình, mà muốn vậy thì phải mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp luôn gặp phải một vấn đề là thiếu vốn, đặc biệt là thiếu vốn trung và dài hạn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, ngân hàng là nguồn tài trợ vốn trung dài hạn cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Khi vay vốn ngân hàng doanh nghiệp có thể vay với kì hạn phù hợp yêu cầu kinh doanh, thủ tục thì cũng ít phức tạp và nhanh chóng. Ngoài ra, vay vốn ngân hàng vừa giúp doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh đem lại lợi tức cho mình mà không gia tăng sự kiểm soát từ bên ngoài đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều lợi nhuận song lãi suất của tín dụng trung dài hạn là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc các doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt được không chỉ đủ trả vốn và lãi cho ngân hàng mà còn phải đem lại lợi tức cho mình. Do vậy lãi suất ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và cạnh tranh thắng lợi. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

  • Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất.

Đổi mới công nghệ sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất giúp doanh nghiệp thích nghi với tình hình thị trường cũng như của chính doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Đặc biệt trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn để xây dựng cơ bản là rất lớn vì trong lúc này các nhà kinh doanh chưa tích lũy được nhiều lợi nhuận, chưa có thời gian để tích lũy vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của dân cư vào các doanh nghiệp còn hạn chế. Việc vay vốn trung và dài hạn ở ngân hàng thương mại sẽ làm cho doanh nghiệp có thể tự chủ và có khả năng kiểm soát độc lập được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không phải phân chia quyền kiểm soát với các cổ đông nếu như huy động vốn băng phát hành cổ phiếu.

  • Tín dụng trung và dài hạn còn giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh.

Khi có cơ hội kinh doanh, các doanh nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường. Khi doanh nghiệp đi vay vốn trung –dài hạn tại ngân hàng có thể điều chỉnh kì hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đáo hạn nếu họ không cần sử dụng đến vốn trung –dài hạn nữa. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì có thể xin ngân hàng gia hạn nợ. Ngoài ra, tín dụng trung –dài hạn còn giúp doanh nghiệp tránh được các chi phí như: chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng kí…Việc trả nợ trung –dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn định và hợp lý, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dễ dàng hơn.

1.1.5.2. Đối với nền kinh tế.

  • Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng trung –dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, điều hòa lượng cung cầu về vốn cho nền kinh tế. Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế. Do tập trung được nguồn vốn và điều hòa cung cầu vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung –dài hạn góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ. Các khoản cho vay cung cấp vốn cho các ngành theo cả chiều sâu và chiều rộng, đầu tư trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững nếu các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh và có hiệu quả. Tín dụng trung và dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn lớn với thời hạn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả. Việc sử dụng có hiệu quả vốn trung dài hạn đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn.

  • Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của đất nước.

Trong hoạt động tín dụng trung dài hạn, NHTM có thể tăng cường đáp ứng nhu cầu vay vốn của ngành kinh tế này, cũng như hạn chế với ngành khác. Như vậy, NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

  • Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại.

Trong điều kiện kinh tế hiện nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với thị trường thế giới, nền kinh tế đóng trước đây đã nhường bước cho nền kinh tế mở phát triển. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau dưới các hình thức: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ….Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa với sự phát triển kinh tế. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết với thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay: nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa là rất lớn trong khi việc sử dụng vốn còn nhiều bất cập, hiệu quả sử dụng vốn không cao, còn thất thoát và gây lãng phí lớn.

1.1.5.3. Đối với ngân hàng.

Tín dụng trung và dài hạn tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho NHTM , đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Bởi lẽ đây là những khoản tín dụng có quy mô lớn, lãi suất cao, thời gian dài cho nên nếu hoạt động tín dụng có hiệu quả chúng sẽ mang lại lợi nhuận ổn định và lâu dài cho ngân hàng. Do vậy tín dụng trung dài hạn mang lại thu nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của ngân hàng từ trước đến nay.

  • Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai.

Khi ngân hàng không đa dạng hóa các hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách hàng, thời hạn tiền vay thì ngân hàng không thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Mặt khác, tín dụng trung dài hạn còn là công cụ cạnh tranh hiệu quả của ngân hàng nhằm thu hút khách hàng về phía mình. Khi có được mối quan hệ, ngân hàng có điều kiện thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ do mình cung cấp. Từ đó, tạo điều kiện mở rộng phạm vi hoạt động và khẳng định vai trò cũng như vị thế của mình trong nền kinh tế.

  • Tín dụng trung và dài hạn là cách thức để tài trợ vốn để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Thông qua tín dụng trung và dài hạn, NHTM đã thực hiện chức năng xã hội của mình. NHTM đã thể hiện vai trò là người tài trợ lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần mở rộng đầu tư, gia tăng sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.

1.1.6. Các hình thức tín dụng trung và dài hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Ngày nay, trong hoạt động của nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, do đó đòi hỏi nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn cũng phải phát triển theo góp phần quan trọng trong việc đổi mới hiện đại hóa trang thiết bị và công nghệ sản xuất cho các nghành kinh tế của mọi thành phần kinh tế. Nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn của các ngân hàng trong những năm gần đây đã triển khai theo các hình thức sau:

1.1.6.1. Cho vay theo dự án đầu tư.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư như: quan niệm về Ngân hàng Thế Giới, ISO 8402… Nhìn chung các quan niệm vay đều có những điểm khác nhau khi tếp cận dự án đầu tư. Nhưng khi xem xét một dự án đầu tư họ đều chú ý đặc trưng sau :

  • Dự án đầu tư có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới khi thực hiện.
  • Dự án đầu tư không phải là một nghiên cứu hay dự báo mà là một quá trình tác động để đạt đến mục tiêu mong đợi.
  • Dự án đầu tư là một hoạch định cho tương lai nên bao giờ cũng có bất ổn định và rủi ro nhất định.
  • Các hoạt động của dự án đầu tư theo một kế hoạch (trong một khoảng thời gian) và có giới hạn nhất định về nguồn lực.

Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là tập hồ sơ, tài liệu trình bầy một cách chi tiết và có hệ thống một chương trình hoạt động và các chi phí tương ứng để đạt mục tiêu nhất định trong tương lai. Các khoản cho vay dự án có thể được thế chấp trên cơ sở bảo lãnh theo đó người cho vay có thể khôi phục vốn từ những tổ chức thực hiện bảo lãnh nếu như dự án không trả nợ đúng kế hoạch đã định. Tuy nhiên, khoản vay cũng có thể cung cấp không dựa trên cơ sơ bảo lãnh, không có người đứng ra bảo lãnh, dự án tồn tại hay sụp đổ dưa trên chính giá trị của nó. Trong trường hợp này người cho vay đối mặt với rủi ro rất lớn và họ yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có đảm bảo. Các khoản vay như vậy ngân hàng thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ dự án phải thế chấp tài sản cho đến khi dự án hoàn tất.

1.1.6.2. Cho vay luân chuyển. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Một khoản tín dụng luân chuyển cho phép khách hàng kinh doanh có thể vay tới một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần khoản vay, và tiếp tục vay khi có nhu cầu cho đến khi hợp đồng tín dụng hết hạn. Là một trong những khoản cho vay kinh doanh linh hoạt nhất, yêu cầu tín dụng luân chuyển thường được ngân hàng chấp nhận mà không đòi hỏi bảo đảm bằng bất cứ tài sản nào. Các khoản cho vay như vậy có thể là ngắn hạn hoặc có thể kéo dài 3, 4 thậm chí 5 năm. Loại hình tín dụng này được áp dụng nhiều nhất khi khách hàng không chắc chắn về thời gian của các luồng tiền mặt hoặc về quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương lai. Tín dụng luân chuyển giúp hãng có thể giảm mức độ biến động trong chu kì kinh doanh, cho phép hãng vay thêm tiền mặt trong lúc khó khăn khi mà doanh số bán hàng giảm và cho phép hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền của hãng tăng lên. ở những nơi mà pháp luật quy định về việc ngân hàng phải chấp nhận mọi yêu cầu vay vốn trong thời hạn của hạn mức tín dụng thì ngân hàng thường sẽ tính phí cam kết vay vốn trên phần tín dụng không sử dụng hoặc trên toàn bộ giá trị hợp đồng cho vay luân chuyển.

  • Cam kết vay vốn thường có 2 loại:

Loại phổ biến nhất là cam kết vay vốn chính thức, là cam kết có tính chất hợp đồng trong đó ngân hàng đảm bảo sẽ cho khách hàng vay tới lượng vốn tối đa xác định trước với lãi suất đã ấn định hoặc với lãi xuất thay đổi trên cơ sở những lãi xuất cơ bản như LIBOR. Đối với loại cam kết này, ngân hàng có thể không thực hiện nghĩa vụ cho vay nếu như tình hình tài chính của người vay có những thay đổi bất lợi nghiêm trọng hoặc khi người vay không thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng với ngân hàng.

Loại thứ hai ít chặt chẽ hơn là hạn mức tín dụng bảo đảm, theo đó ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay trong trường hợp khẩn cấp. Mặc dù lãi suất không được ấn định trước và khách hàng ít khi có ý định vay tiền theo hình thức này nhưng họ vẫn kí hợp đồng với mục đích dùng nó như một vật bảo đảm để có thể vay vốn từ những nguồn khác. Ngân hàng chỉ dùng những cam kết nới lỏng cho các hãng có chất lượng tín dụng cao nhất và thường định giá thấp hơn nhiều so với lại cam kết cho vay chính thức. Cam kết tín dụng loại này cho phép khách hàng nhanh chóng nhận được tiền vay và đây là một ưu điểm quan trọng nếu như khách hàng muốn vay vốn từ một tổ chức khác.

Trong những năm gần đây một loại hình tín dụng luân chuyển mới đã xuất hiện thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng. Hiện nay, hơn 1/3 các doanh nghiệp sử dụng thẻ tín dụng như một nguồn vốn hoạt động hiệu quả và nhờ đó tránh việc phải thường xuyên lập các đơn xin vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, một vấn đề hạn chế đối với việc sử dụng loại vốn này là chi phí vay vốn thường rất cao. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

1.1.6.3. Cho thuê tài chính.

Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung –dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê được hai bên thỏa thuận. Cho thuê tài chính về bản chất là một hoạt động tín dụng trong đó mục đích của người cho thuê cũng giống mục đích của người cho vay là thu lãi tiền vốn đầu tư, còn mục đích của người đi thuê cũng giống mục đích của người đi vay vốn. Nhưng vẫn có đặc trưng riêng, cụ thể:

  • Hình thức cấp tín dụng của cho thuê tài chính là bằng tài sản, người đi thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản, định kỳ thanh toán tiền thuê theo thoả thuận.
  • Thời gian cho thuê thường chiếm phân lớn thời gian hoạt động của tài sản, trong thời gian này người đi thuê không được huỷ hợp đồng ngang. Hết thời hạn của hợp đồng thuê có thể được chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hay tiếp tục thuê theo thoả thuận hai bên.
  • Bên cho thuê dễ dàng kiểm tra việc sử dụng tài sản đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản thuê, phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn để có những biện pháp sử lý kịp thời.

Tất cả tài sản cho thuê phải được bảo hiểm trong suốt thời gian cho thuê, việc mua bảo hiểm phải được thưc hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm tại một công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam do bên cho thuê chỉ định.

Qui trình quản lý và theo dõi hồ sơ bảo hiểm tài sản cho thuê do giám đốc bên cho thuê quyết định.

1.1.6.4. Cho vay tiêu dùng.

Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn vốn tài chính để trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình….Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay tiêu dùng, căn cứ vào cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm 3 loại sau:

  • Cho vay tiêu dùng trả một lần: Theo cách cho vay này, khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần cho đến khi đến hạn. Loại cho vay này thường áp dụng đối với khoản vay vó giá trị nhỏ, thời gian cho vay không dài.
  • Cho vay tiêu dùng trả góp: Loại cho vay thường áp dụng đối với các khoản vay có giá trị lớn hay thu nhập đinh kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.
  • Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là khoản cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng. Trong thời gian thoả thuận, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ, khách hàng thực hiện vay và trả nợ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng.

Hình thức cho vay này có rủi ro tương đối thấp nhưng có lãi suất cao, tuy nhiên ngân hàng chịu những chi phí cao về dịch vụ và quản lý. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

1.1.6.5. Cho vay hợp vốn.

Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ 2 hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hay phương án sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn. Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tín dụng cam kết với nhau để thực hiện hợp đồng tài trợ cho một dự án. Bên nhận tài trợ là pháp nhân hay tổ chức có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tín dụng để thực hiện dự án.

Điều kiện áp dụng cho vay hợp vốn:

  • Nhu cầu xin cấp tín dụng để thực hiện dự án của bên nhận tài trợ vượt quá giới hạn cho vay của một ngân hàng theo quy định hiện hành.
  • Khả năng tài chính và nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cấp tín dụng của dự án đầu tư.
  • Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng.
  • Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều ngân hàng.

Nguyên tắc tổ chức việc cho vay hợp vốn:

  • Các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện.
  • Các thành viên thống nhất lựa chọn một ngân hàng làm đầu mối.
  • Hình thức cấp tín dụng và phương thức giao dịch giữa các bên tham gia cho vay hợp vốn với bên nhận tài trợ phải được các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng cho vay hợp vốn.

Trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình hợp vốn, các bên tham gia cho vay hợp vốn cùng thỏa thuận và thống nhất với bên nhận tài trợ để xử lý theo hợp đồng. Mọi tranh chấp do vi phạm hợp đồng cho vay hợp vốn và hợp đồng tín dụng được các bên giải quyết trên cơ sở đàm phán thỏa thuận. Trường hợp không giải quyết được các bên có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.

1.2. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng.

Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu và nó chiếm phần lớn hoạt động trong các ngân hàng thương mại, song không phải tất cả các ngân hàng đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý và thu hồi nợ, một số khác lại gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp để cho vay hoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy, việc xem xét chất lượng hiệu quả hoạt động tín dụng, nhất là tín dụng trung- dài hạn là hết sức cần thiết. Nó giúp các Ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động tín dụng của mình. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tín dụng.

Chất lượng là “sự phù hợp với mục đích sử dụng”, là “một trình độ được dự kiến trước về độ đồng đều và sự tin cậy với chi phí thấp nhất và phù hợp với thị trường” hoặc” chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng”. Chất lượng tín dụng là” sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có lựa chọn, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội”.

Chất lượng tín dụng trung –dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, vừa bù đắp được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội.

Chất lượng, hiệu quả công tác tín dụng Ngân hàng được nhìn nhận từ 3 phía: các nhà Ngân hàng, các doanh nghiệp, và từ nền kinh tế. Nếu xét theo quan điểm của các nhà Ngân hàng thì hoạt động tín dụng trung –dài hạn được xem là có hiệu quả khi nó đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng sinh lời, khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn, và khả năng thanh khoản từ phía nguồn.

Từ khái niệm trên ta thấy rằng: khách hàng, NHTM, và bối cảnh kinh tế là 3 nhân tố được đề cập đến khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng trung-dài hạn. Việc xem xét chất lượng tín dụng trung-dài hạn mà thiếu đi một trong ba nhân tố đó là phiến diện vì ba nhân tố này tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa kiềm chế lẫn nhau.

Đối với ngân ngân hàng: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của ngân hàng và phải đảm bảo được khả năng cạnh tranh trên thị trường, làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển. Chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế.

Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn là sự thỏa mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng những quy định của tín dụng, góp phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.

Đối với nền kinh tế: khoản tín dụng trung dài hạn có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, vừa thúc đẩy tiêu dùng, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

  • Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn là cần thiết để phát triển kinh tế.

Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, hoạt động cho vay cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiện giao dịch để đáp ứng mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội. Trong điều kiện đó, chất lượng cho vay ngày càng được quan tâm, đặc biệt là chất lượng cho vay trung và dài hạn là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung gian thanh toán của mình. Khi chất lượng cho vay trung và dài hạn đảm bảo thì sẽ làm tăng vòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ nhưng có thể thực hiến số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền. Như vậy, đảm bảo chất lượng tín dụng trung và dài hạn tạo khả năng giảm bớt lượng tiền thừa trong lưu thông góp phần hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ. Cho vay trung và dài hạn còn là công cụ thực hiện chủ trương của nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Thông qua sự đánh giá, phân tích hiệu quả dự án đầu tư đã góp phần khai thác mọi tiềm năng về tài nguyên, lao động và vốn để tăng năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, tăng thu cho người cho người lao động…

  • Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM.

Chất lượng cho vay trung và dài hạn làm tăng vòng quay vốn cho vay, tăng khả năng cung cấp dịch vụ của ngân hàng có điều kiện thu hút nhiều khách hàng. Tạo ra hình ảnh đẹp về uy tín của ngân hàng, và sự gắn bó trung thành của khách hàng với ngân hàng. Chất lượng cho vay trung và dài hạn làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nghiệp vụ, quản lý và các chi phí khác. Chất lượng cho vay trung và dài hạn đảm bảo khả năng thanh toán, lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho phát triển bền vững của ngân hàng. Nhờ vậy mà có khách hàng trung thành, uy tín, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, từ đó đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Như vậy, chất lượng cho vay trung và dài hạn sẽ củng cố thêm mối quan hệ xã hội của ngân hàng.

Từ những ưu thế trên việc cho vay trung và dài hạn là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của ngân hàng.

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn.

Chất lượng tín dụng trung và dài hạn là một khái niệm tương đối, nó vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu tính toán như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…) lại vừa trừu tượng (thể hiện qua năng lực thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…).

Do đó để nhìn nhận đúng nhất về chất lượng tín dụng trung và dài hạn, ta sử dụng các chỉ tiêu phản ánh nó như sau:

1.2.3.1. Các chỉ tiêu định lượng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

  • Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ:

Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu. Chỉ tiêu Tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của ngân hàng đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta thấy được dư nợ cuả ngân hàng là cao hay thấp.

Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được ngân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu nguồn vốn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn:
  • Tỷ lệ nợ quá hạn =  Nợ quá hạn
  • Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng trung –dài hạn của ngân hàng. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ không nên vượt quá 2%. Tuy nhiên, với các ngân hàng ở Việt Nam thì chỉ số này thường ở mức 5-7%. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức chất lượng tín dụng càng thấp. Bởi vì, phần lớn những khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Tuy nhiên, để có thể đánh giá chính xác hơn chúng ta có thể chia nợ quá hạn thành 2 loại sau:

  • Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi được (nợ nhóm I, II, III)
  • = Nợ quá hạn có khả năng thu hồi 
  • Nợ quá hạn
  • Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (nợ nhóm IV, V)
  • = Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Nợ quá hạn

Hai chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Do vậy, sử dụng thêm hai chỉ tiêu này cho phép đáng giá chính xác hơn chất lượng tín dụng.

  • Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi =Nợ quá hạn khó đòi TD trung-dài hạn  x 100
  • Tổng dư nợ trung –dài hạn
  • Phản ánh tỉ lệ % nợ quá hạn khó đòi của toàn bộ hoạt động tín dụng trung- dài hạn. tỉ lệ này càng thấp càng tốt.
  • -Tỷ lệ nợ xấu TDH =  Nợ xấu TDH x 100%
  • Tổng dư nợ tín dụng TDH

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ đã quá thời hạn gia hạn nợ mà khách hàng vẫn còn nợ ngân hàng. Cùng với chỉ tiêu nợ quá hạn, chỉ tiêu này thể hiện chất lượng tín dụng tốt hay xấu. Tỷ lệ này cao biểu hiện cho dấu hiệu của một khoản tín dụng xấu và ngược lại. Tốt nhất nên hạn chế ỷ lệ này ở mức 5%.

  • Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:
  • Vòng quay vốn tín dụng =   Doanh số thu nợ
  • Dư nợ bình quân

Chỉ tiêu này thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa. Thông thường vòng quay lớn thể hiện việc thu hồi nợ tốt và ngược lại. Do đó, hệ số này càng tăng chứng tỏ tình hình quản lý tín dụng tốt, chất lượng tín dụng càng cao. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

  • Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng:
  • Thu nhập từ hoạt động tín dụng  = Thu nhập từ hoạt động tín dụng
  • Tổng thu nhập của ngân hàng

Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng để tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay. Có thể thấy rằng, nếu ngân hàng chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa gì. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào toàn bộ kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ này cao tức thu nhập tín dụng lớn, chất lượng cao.

  • Chỉ tiêu doanh số cho vay:

Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm. Khi doanh số cho vay lớn cho thấy ngân hàng có uy tín và cung cấp dịch vụ đa dạng, phong phú cho khách hàng. Chất lượng cho vay tốt là cơ sở để tăng doanh số cho vay, vì vậy chỉ tiêu này cho biết một phần về chất lượng tín dụng trung –dài hạn.

  • Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn:
  • Hiệu suất sử dụng vốn  Tổng dư nợ 
  • Tổng vốn huy động

Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét, đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như những đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lợi nhuận cao nhất có thể.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay:
  • Tỷ lệ TT nợ do bán TS của người vay = Thu nợ do bán TS thế chấp  *100%
  • Tổng Doanh số thu nợ

Về nguyên tắc, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là tiền bán hàng (với tín dụng ngắn hạn), là khấu hao tài sản cố định được đầu tư bằng nguồn vốn vay, lợi nhuận sau thuế có thể có từ tài sản hoặc tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh (đối với tín dụng trung và dài hạn). Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản…nên người vay phải bán tài sản thế chấp (có thể do tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ ngân hàng.

  • Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng:
  • Dư nợ TD TDH năm sau
  • Tốc độ tăng trưởng tín dụng TDH = (- 1 ) x 100 Dư nợ TD TDH năm trước

Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng dư nợ tín dụng trung –dài hạn của NHTM, chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ khả năng đầu tư vào tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng lớn. Mức tăng trưởng qua các kỳ, năm đều đặn và ổn định chứng tỏ chất lượng tín dụng trung –dài hạn của ngân hàng là rất tốt.

  • Lãi treo:

Lãi treo là lãi được tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hàng nhưng chưa thu hồi được.

Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt. Lãi treo càng cao càng phản ánh rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốn lẫn lãi. Từ đó, chất lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

  • Chỉ tiêu các thông số quy định:

Ngoài các chỉ tiêu trên thì chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua việc đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng như cho vay một khách hàng, hệ số an toàn vốn tối thiểu, cụ thể:

Hệ số an toàn vốn tối thiểu (không quá 9%).

Giới hạn cho vay một khách hàng: Để đảm bảo khả năng thanh toán, bất cứ một ngân hàng nào cũng chỉ được cấp tín dụng cho một khách hàng không quá 15% vốn tự có.

Dư nợ một khách hàng không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số Cook): Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn tự có bảo vệ cho bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của ngân hàng thương mại. Nó được tính bằng công thức sau:

  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =   Vốn tự có
  • Tài sản có rủi ro quy đổi

1.2.3.2. Các chỉ tiêu định tính. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Ngoài các chỉ tiêu định lượng, chất lượng tín dụng của ngân hàng còn được phản ánh thông qua các chỉ tiêu định tính, những chỉ tiêu hết sức quan trọng có tính chất quyết định đối với chất lượng và độ an toàn, hiệu quả của tín dụng ngân hàng.

  • Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong từng giai đoạn.
  • Hệ thống trang thiết bị, công nghệ hiện đại hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ một cách thuận lợi, hiệu quả.
  • Đội ngũ cán bộ nhân viên nghiệp vụ có trình độ chuyên môn, năng lực và đạo đức nghề nghiệp. đây là yếu tố quan trọng nhất trong mọi hoạt động của ngân hàng.
  • Quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế, đảm bảo quản lý chặt chẽ quá trình cấp tín dụng, vừa thuận tiện cho khách hàng, vừa đảm bảo uy tín cho ngân hàng.
  • Uy tín mà ngân hàng đã tạo dựng được trong nền kinh tế và các mối quan hệ với các khách hàng truyền thống.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

1.2.4.1 Các nhân tố thuộc về

  • Chính sách tín dụng.

Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều này có nghĩa chất lượng tín dụng tùy thuộc vào chính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn hay không.

  • Quy trình tín dụng.

Quy trình tín dụng bao gồm các quy định phải được thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng có được bảo đảm hay không phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở trong từng bước. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng đảm bảo vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, đúng kế hoạch. Ngoài ra, việc linh hoạt trong quy trình tín dụng sẽ gây cảm tình cho khách hàng và từ đó chất lượng tín dụng được nâng cao.

  • Chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

Ngân hàng thẩm định dự án đầu tư nhằm rút ra những kết luận chính xác về tính khả thi của dự án, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay. Thẩm định dự án là cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời hạn cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện cho dự án hoạt động có hiệu quả tối ưu. Do đó, công tác thẩm định dự án nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, cẩn thận với chất lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính xác và hạn chế được rủi ro, đảm bảo được khả năng thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận cho ngân hàng.

  • Thông tin tín dụng.

Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng, môi trường kinh doanh của khách hàng, rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải…Thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác bao nhiêu thì khả năng phòng ngừa rủi ro của ngân hàng càng lớn, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao. Mặt khác, một ngân hàng với lượng thông tin phong phú có thể đưa ra những tư vấn hữu ích cho khách hàng. Đây chính là yếu tố để nâng cao chất lượng tín dụng.

  • Công tác tổ chức của ngân hàng.

Tổ chức ngân hàng cần cụ thể hóa và sắp xếp có tính khoa học, tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định.

Ngân hàng tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống ngân hàng cũng như với các cơ quan liên quan khác. Qua đó, tạo điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

  • Chất lượng nhân sự.

Chất lượng nhân sự chính là trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, marketing của người cán bộ ngân hàng. Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thu hút khách hàng của ngân hàng. Đặc biệt đối với đối tượng khách hàng là khu vực kinh tế, khả năng tiếp xúc khách hàng của cán bộ công nhân viên là yếu tố quyết định đến mở rộng quy mô tín dụng. Ngoài ra, trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của khoản vay.

  • Công nghệ ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật.

Đây cũng là một nhân tố tác động tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn. Đó là tiền đề để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

1.2.4.2. Các nhân tố về phía khách hàng.

  • Năng lực của doanh nghiệp.

Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn, họ không thực hiện được các mục tiêu của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng.

  • Trình độ khả năng của cán bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp.

Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đạo đức tốt sẽ có khả năng đưa ra chiến lược kinh doanh, cạnh tranh phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Doanh nghiệp làm ăn tốt là điều kiện để họ bù đắp chi phí kinh doanh và trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn, qua đó giảm rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Trình độ năng lực cán bộ của doanh nghiệp là điều kiện quan trọng và được ngân hàng xem xét kĩ trước khi cấp tín dụng.

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Việc xây dựng những kế hoạch kinh doanh đúng đắn quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, do đó cũng ảnh hưởng tới chất lượng khoản vay.

  • Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không đúng với phương án sản xuất kinh doanh đã đề ra.

Nhiều khách hàng dùng tiền vay được đầu tư vào những kế hoạch sản xuất có rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận, sử dụng vốn của ngân hàng để vui chơi, dùng vốn của ngân hàng đầu tư vào tài sản cố định, kinh doanh bất động sản nên không trả được nợ cho ngân hàng. Trong thực tế, hoạt động thẩm định đã xuất hiện nhiều trường hợp khách hàng lập phương án kinh doanh (thực chất là phương án kinh doanh giả, thậm chí nhờ tư vấn lập phương án kinh doanh chỉ để rút được tiền của ngân hàng) có vẻ rất hiệu quả, ký kết hợp đồng kinh tế chứng minh đầu vào, đầu ra rất khả thi, tài sản thế chấp rất cụ thể nhưng đến khi vay được vốn ngân hàng lại không kinh doanh lại cho vay lại hoặc bỏ chốn để chiếm số tiền vay, vật tư hàng hóa thế chấp là hàng chậm luân chuyển, ứ đọng hoặc bất động sản rất khó chuyển thành tiền để thu nợ.

  • Khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Khả năng tài chính tốt là điều kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, sản phẩm có chất lượng cao, chiếm lĩnh được thị trường và đem lại lợi nhuận. Do đó, doanh nghiệp có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

  • Tư cách, đạo đức của người vay.

Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý muốn hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này gây ra những rủi ro không nhỏ cho ngân hàng.

1.2.4.3. Các nhân tố khách quan khác.

Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tác động của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng.

  • Môi trường kinh tế.

Đây là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn ảnh hưởng đến thời gian trả nợ và khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của khoản tín dụng đó. Về tổng thể, nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Khi đó các quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng sẽ phát triển lành mạnh. Do đó chất lượng tín dụng được nâng cao. Ngược lại, một khi môi trường kinh tế không ổn định, môi trường kinh doanh biến động sẽ gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

  • Môi trường chính trị – xã hội.

Môi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn. một môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ là cơ hội rất tốt cho những dự án lớn mang tính dài hạn, lúc đó nguồn vốn trung –dài hạn của ngân hàng sẽ trở nên rất quan trọng. Ngược lại, sự mất ổn định về chính trị xã hội sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp và nếu doanh nghiệp đang vay vốn ngân hàng thì rõ ràng việc thu hồi nợ của ngân hàng cũng gặp khó khăn. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

  • Môi trường pháp lý.

Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất cuả các văn bản dưới luật. Đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí. Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp. Vì vậy nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả 2 phía, chất lượng hoạt động tín dụng mới được đảm bảo và nâng cao. Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

3 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank

Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank

trackback
Khóa luận: Giải pháp tín dụng trung dài hạn tại Vietcombank
9 tháng trước

[…] ===>> Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank […]

Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank

Khóa luận: Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Vietcombank

Contact Me on Zalo
0877682993
3
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x