Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động marketing trong Cho vay tiêu dùng tại ngân hàng VP Bank dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

I: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CVTD TẠI VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CVTD CỦA VPBANK GIAI ĐOẠN 2018-2028.

1.1 Triển vọng phát triển thị trường CVTD tại Việt Nam trong thời gian tới

Đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng là xu hướng tất yếu, là điều kiện khách quan của nền kinh tế thị trường. Với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong mấy năm gần đây (tính đến hết năm 2024), mức thu nhập bình quân của người dân đang dần dần được cải thiện đáng kể, đời sống được nâng cao, vì vậy mà có thể thấy tiềm năng về lĩnh vực CVTD mở ra cho các ngân hàng là rất rộng lớn. Cụ thể, ban lãnh đạo của VPBank đã đưa ra một số nhận định sau về triển vọng phát triển các sản phẩm CVTD trong thời gian tới:

Một là, cho vay mua, xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở. Các khoản cho vay để mua, xây dựng hoặc sửa chữa lớn về nhà ở trong thời gian vừa qua chủ yếu là triển khai thực hiện chính sách của nhà nước, riêng AgriBank đã chiếm khoảng 70% các khoản vay liên quan đến nhà ở. Vì vậy, thị trường cho vay có liên quan đến nhà ở còn rất tiềm năng, trong đó nhu cầu về nhà ở khu vực đô thị là rất cấp bách. Theo quy hoạch tổng thể định hướng cho phát triển đô thị đến năm 2020 thì dân số đô thị sẽ chiếm khoảng 45% dân số cả nước và cần thêm khoảng 50 triệu m2 nhà ở nữa. Như vậy sức ép về nhà ở rất lớn, nhất là 2 thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, nhà nước và các cơ quan hữu quan hiện cũng đang rất quan tâm đến những người dân có thu nhập thấp, đang phải sống trong những điều kiện không đảm bảo vệ sinh môi trường, diện tích sinh hoạt nhỏ hẹp…Và một hướng phát triển của ngân hàng là tập trung cho vay mua nhà ở các khu chung cư dành cho người có thu nhập thấp. Để làm tốt điều đó, các ngân hàng thương mại nói riêng và VPBank cần tổ chức các cuộc điều tra xã hội rộng rãi để nắm bắt nhu cầu thực sự của người dân, liên kết, hợp tác với các công ty xây dựng chung cư… từ đó xây dựng chiến lược khách hàng và đề ra các giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing cho vay về lĩnh vực nhà ở. Mặt khác, các sản phẩm này cũng cần phải được hoàn thiện, được bổ sung thêm nhiều tiện ích hơn nữa thì mới có khả năng tồn tại và cạnh tranh trên thị trường CVTD. Hiện tại, thị trường nhà đất có phần chững lại do lãi suất tăng cao, các ngân hàng bị khống chế lượng cho vay. Song, trong tương lai, đây vẫn là một sản phẩm có nhiều tiềm năng phát triển do nhu cầu của nhân dân là rất lớn. Mặt khác, sắp tới, các ngân hàng nước ngoài với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ sẽ “ồ ạt” vào Việt Nam. Nếu các NH trong nước không nỗ lực thì chắc chắn thị trường cho vay BĐS sẽ bị rơi vào tay của các NH nước ngoài. Vì vậy, các NH trong nước cần phải có định hướng cụ thể và lâu dài cho hoạt động kinh doanh của mình, trong đó có hoạt động cho vay mua nhà, sửa nhà.

Hai là, cho vay qua thẻ. Thị trường thẻ ở Việt Nam đang phát triển với tốc độ có thể nói là “chóng mặt” (150-300%) trong vài năm trở lại đây, song số lượng thẻ phát hành và tỷ trọng thanh toán qua thẻ (không dùng tiền mặt) hiện còn quá nhỏ bé (6%) so với tiềm năng và so với các nước trong khu vực cũng như quốc tế. Ngoài ra, là một nước đang phát triển, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về học tập, chữa bệnh, đi du lịch ở nước ngoài… ngày càng nhiều, đó là thị trường rất hấp dẫn để các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng bằng việc cho vay qua thẻ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Do vậy, ngay từ bây giờ các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải tận dụng triệt để các cơ hội, các điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ thẻ, đồng thời đẩy nhanh việc đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm cải thiện hệ thống ngân hàng điện tử, thu hút thêm nhiều khách hàng hơn nữa. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Ba là, nhu cầu vay du học. Với xu hướng hội nhập kinh tế, hội nhập văn hoá toàn cầu như hiện nay thì ngày càng có nhiều gia đình muốn cho con đi du học. Số lượng người được Nhà nước tài trợ hoặc xin được 100% học bổng là rất nhỏ, phần lớn là tự túc toàn phần hoặc một phần. Chính vì vậy, chắc chắn nhu cầu vay tiền ngân hàng phục vụ nhu cầu học tập sẽ còn tăng cao trong thời gian tới. Đặc biệt, hiện tại hình thức du học tại chỗ cũng đang dần dần phổ biến trong khi VPBank cũng như các ngân hàng khác chưa thực sự triển khai, phát triển được gói sản phẩm này. Điều này gợi mở thêm một hướng nữa để có thể giúp các ngân hàng đa dạng hoá danh mục sản phẩm tín dụng.

Bốn là, cho vay tiêu dùng thông thường như: mua phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại, mua tiện nghi sinh hoạt để cải thiện cuộc sống…Thực tế trong những năm qua cho thấy, khi các ngân hàng thương mại tiến hành triển khai cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng có nhu cầu đến ngân hàng để liên hệ vay đã vượt mức dự đoán, hầu hết các ngân hàng đều quá tải. Song số lượng khách hàng đó mới chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước có mức thu nhập tương đối cao (2-3 triệu/tháng). Các đối tượng khách hàng khác hầu như chưa tiếp cận được với vốn ngân hàng, vậy mà trong nhiều thời điểm (từ giữa tháng 2/2025), do thiếu tiền đồng, áp dụng các biện pháp kiềm chế lạm phát…mà ngân hàng phải tạm ngừng cho vay BĐS, hạn chế cho vay tiêu dùng. Qua đó cho thấy, xét về lâu dài, tiềm năng để phát triển loại hình tín dụng này trong tương lai là cực kỳ lớn vì đại bộ phận nhu cầu của nhân dân vẫn chưa được đáp ứng. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì chắc chắn CVTD sẽ còn có nhiều cơ hội tiến xa hơn nữa, thành công hơn nữa.

1.2 Định hướng phát triển CVTD của VPBank giai đoạn 2018-2028 Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Trong định hướng phát triển chung của VPBank giai đoạn 2018-2028 thì tín dụng vẫn sẽ là mảng hoạt động mang lại doanh thu và lợi nhuận chính, đồng thời là một bộ phận trong chiến lược đa dạng hoá nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Cụ thể, ngân hàng sẽ tập trung vào các sản phẩm bán lẻ, các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ, và đặc biệt là sản phẩm cho vay tiêu dùng.

Về quy mô, Ngân hàng sẽ chú trọng mở rộng đối tượng phục vụ, mở rộng thị trường, khai thác thị trường tiềm năng theo sát với các định hướng phát triển kinh tế vùng của Chính phủ như: mở thêm chi nhánh ở một số vùng kinh tế trọng điểm, khu đô thị mới như: Thái Bình, Quảng Ninh, Cần Thơ…Đối tượng khách hàng được mở rộng thêm sẽ thúc đẩy dư nợ tín dụng tiêu dùng, tăng thu ở hoạt động này. VPBank đặt ra chỉ tiêu là đến năm 2028 tổng doanh số CVTD sẽ tăng thêm 35% (chiếm 40% tổng dư nợ cho vay), trong đó: cho vay mua nhà tăng 25%, cho vay mua ô tô tăng 40%, cho vay du học tăng 30%, cho vay tiêu dùng khác tăng 35%. Và để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, thuận lợi, ngân hàng sẽ tiếp tục mở thêm các chi nhánh tại các khu vực có đông dân cư sinh sống, buôn bán đồng thời tăng cường quảng bá hình ảnh và tiếp thị đối với nhóm khách hàng tiềm năng.

Về chất lượng, ngân hàng sẽ đẩy nhanh việc cải tiến quy trình nghiệp vụ bằng công nghệ hiện đại, giảm thời gian,chi phí giao dịch cho vay, đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng cá nhân mà trọng tâm sẽ là hình thành hệ thống sản phẩm dịch vụ cung ứng liên kết giúp khách hàng có thể hưởng những lợi ích đầy đủ nhất từ các gói sản phẩm này.

II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG CVTD TẠI VPBANK Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

2.1 Thành lập bộ phận chuyên trách về marketing

Như đã phân tích rất kĩ ở chương II, việc chưa thành lập được một bộ phận chuyên trách về marketing nói chung và marketing trong CVTD nói riêng chính là một điểm hạn chế lớn của VPBank, khiến cho lĩnh vực tín dụng tiêu dùng chưa thể đạt được những “bước đột phá”. Trên thực tế, việc này là hoàn toàn nằm trong khả năng của ngân hàng. Việc không phân tách, chuyên môn hoá cụ thể bộ phận cán bộ trực tiếp làm marketing sản phẩm CVTD, thay vào đó để các nhân viên tín dụng “kiêm nhiệm” việc triển khai, thực hiện (phòng Tổng hợp và quản lý chi nhánh/phòng Phát triển sản phẩm chỉ hoạch định chiến lược) là một sai lầm. Không phải nhân viên tín dụng nào cũng có thể hiểu sâu về tất cả các sản phẩm tín dụng của ngân hàng, từ tín dụng doanh nghiệp, hộ gia đình đến tín dụng cá nhân…chứ huống chi là yêu cầu họ trực tiếp làm công việc của một nhân viên marketing. Chúng ta chỉ có thể khẳng định là họ có thể làm được nhưng chắc chắn sẽ không chuyên nghiệp, không có tính đồng nhất, từ đó hiệu quả marketing mang lại sẽ không cao. Chính vì vậy, để phát triển được hoạt động marketing trong CVTD thì trước hết, VPBank nên thành lập các phòng Marketing trên toàn hệ thống trong đó có thể chia nhỏ thành các bộ phận riêng như: chia theo lĩnh vực kinh doanh thì sẽ gồm có: một ban quản lý tổng hợp- xem xét và thống nhất chiến lược marketing tổng thể, một ban phụ trách về marketing trong huy động vốn, một ban phụ trách marketing tín dụng và một ban phụ trách về marketing các mảng kinh doanh khác. Hoặc có thể chia nhỏ theo nội dung của hoạt động marketing như: nhóm nghiên cứu thị trường, nhóm nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, nhóm quan hệ công chúng…Nói chung, ngân hàng càng cụ thể được nhiệm vụ của từng bộ phận marketing thì càng tốt, chỉ cần lưu ý là tránh chia nhỏ, dẫn đến lãng phí nhân lực, cồng kềnh cho bộ máy quản trị. Khi đã có một phòng ban chuyên trách về marketing rồi thì dựa trên mục tiêu cụ thể của ngân hàng trong từng thời kì, phòng này sẽ tập trung nguồn lực để xây dựng và trực tiếp thực hiện chiến lược marketing đó.

Ngoài ra, trong điều kiện ngân hàng còn khó khăn, việc học tập, kế thừa các hoạt động marketing chuyên nghiệp của các ngân hàng khác (đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài) là rất cần thiết. Ví dụ, VPBank có thể tham khảo chiến lược marketing của HSBC, ANZ, Techcombank, ACB…sau đó, tuỳ vào điều kiện cụ thể của ngân hàng mình mà áp dụng sao cho phù hợp, sáng tạo.

2.2 Tiếp tục nghiên cứu thị trường để mở rộng lĩnh vực và đối tượng CVTD Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Để có thể đưa ra các chính sách marketing CVTD phù hợp thì VPBank không thể không tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường. Chỉ nhờ có nghiên cứu thị trường thì ngân hàng mới có thể nắm bắt được những thông tin tổng hợp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động CVTD của ngân hàng như: các quyết định của Chính Phủ, động thái của đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng của người dân…Từ đó, ngân hàng chủ động điều chỉnh sao cho vừa tương thích với thị trường, vừa phù hợp với nguồn lực nội tại của mình. Những nhận định khái quát của ngân hàng về triển vọng của từng mảng thị trường CVTD như đã nêu ở phần I chính là nền móng đầu tiên định hướng cho hoạt động nghiên cứu thị trường của bộ phận marketing trong thời gian tới. Hoạt động nghiên cứu cần phải bám sát và kiểm nghiệm được tính đúng đắn của những đánh giá đó rồi chỉnh sửa, bổ sung cho sát với sự thay đổi của thực tế hơn. Cụ thể là có thể thu thập thông tin qua các cuộc điều tra, phỏng vấn chọn mẫu theo các đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả các khách hàng khách hàng đã và đang giao dịch với ngân hàng cũng như khách hàng tiềm năng, từ đó tìm hiểu, nghiên cứu và phân nhóm để có thể đề ra các chiến lược đáp ứng nhu cầu từng nhóm đối tượng (ví dụ: chiến lược giá phân biệt…), cũng như thu nhận phản hồi của họ về sản phẩm tín dụng tiêu dùng của NH.

Ngoài ra, như đã nói ở trên, bộ phận khách hàng ở các đô thị vệ tinh cũng là một thị trường tiềm năng về cho vay tiêu dùng mà hiện các ngân hàng chưa chú trọng phát triển. Vì vậy nhiệm vụ của bộ phận nghiên cứu thị trường của VPBank là xem xét cụ thể ý tưởng này và đầu tư vào việc phân tích, đánh giá, nếu thấy có thể thì nên triển khai kế hoạch dài hạn để có thể khai thác hết thị trường này, góp phần gia tăng thị phần, mở rộng thêm đối tượng cung cấp dịch vụ.

2.3 Hoàn thiện và đa dạng hoá danh mục sản phẩm CVTD

Sản phẩm tín dụng tiêu dùng nằm trong một hệ thống các sản phẩm phong phú và đa dạng của một ngân hàng vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện nó đòi hỏi phải phù hợp với chiến lược chung của toàn ngân hàng. Giống như các loại hình dịch vụ khác, sản phẩm tín dụng tiêu dùng không được bảo hộ nên việc tạo ra sự khác biệt trong cung ứng và phân phối là hết sức khó khăn. Việc đưa ra chính sách sản phẩm sáng tạo là hết sức cần thiết. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Để có thể làm tốt được điều đó, ngân hàng phải luôn bám sát nội dung cấu tạo của sản phẩm, tác động phù hợp vào từng bộ phận để có thể tạo nên các cấp độ cao hơn, nét đặc thù của sản phẩm. Thông thường người ta tác động vào phần sản phẩm cốt lõi, sản phẩm mong đợi để tạo ra sản phẩm tín dụng tiêu dùng mới, và tác động vào sản phẩm bổ sung, sản phẩm tiềm năng để nâng cao thêm giá trị sản phẩm sẵn có. Hiện tại, VPBank mới chỉ tập trung vào 3 gói sản phẩm chính là : cho vay mua ô tô, cho vay mua nhà, sửa chữa nhà, và cho vay du học. Với 3 sản phẩm này, VPBank cần tiếp tục tạo thêm nét “riêng” cho sản phẩm của mình, có thể là thông qua: tên gọi, nhãn hiệu, biểu tượng, các điều kiện sau bán, hay các tiện ích kèm theo như: tặng quà (tặng kèm thẻ visa debit, thẻ thanh toán, bảo hiểm…), rút thăm trúng thưởng, ưu đãi thời gian vay hay mức lãi suất vay đối với khách hàng quen thuộc, khách hàng giao dịch lần đầu…Còn đối với một số sản phẩm ngân hàng mới triển khai thì cần xác định cụ thể chiến lược lâu dài để mở rộng việc cung ứng. Cụ thể, sản phẩm tín chấp cho cán bộ quản lý, nhân viên: nới lỏng độ tuổi của khách hàng được phép vay (hiện tại là 22-55/60 tuổi (nữ/nam)), tăng số tiền và thời hạn vay (ví dụ: tăng lên 300 triệu, vay trong 5-7 năm đối với nhân viên, và 500 triệu-trong 5 năm đối với cán bộ…), rút gọn danh mục hồ sơ yêu cầu…

Đặc biệt, mảng sản phẩm cho vay thấu chi qua thẻ, vay tín chấp, vay trực tuyến cần được chú trọng đẩy mạnh bởi vì trong nền kinh tế càng phát triển, càng hiện đại thì chỉ có các giao dịch tiện lợi và nhanh gọn này mới có thể đáp ứng được nhịp sống khẩn trương, vội vã. Đây là một xu hướng có thể dự báo trước. Hiện tại, các ngân hàng thương mại đang chạy đua rất gay gắt để chiếm thị phần trong lĩnh vực sản phẩm tín dụng này. Ngoài ra, ngân hàng VPBank có thể cung cấp thêm các sản phẩm còn khá mới mẻ tại Việt Nam như: cho vay lãi cấn trừ, cho vay đi du lịch, cho vay hỗ trợ tìm việc làm, cho vay để đi xuất khẩu lao động…Tóm lại, VPBank có thể phát triển sản phẩm theo hai hướng: sản phẩm dịch vụ mới hoàn toàn, chưa hề có trên thị trường (ưu điểm: để không phải đối mặt với sự cạnh tranh, có thể đem về doanh số, lợi nhuận cao; nhược điểm: đầu tư vốn nhiều, cần có đội ngũ nhân viên marketing sáng tạo), hoặc sản phẩm dịch vụ mới về chủng loại (sản phẩm sao chép)– là sản phẩm chỉ mới so với ngân hàng, không mới với thị trường, từ đó VPBank có thể tận dụng được lợi thế của người đi sau, tránh những sai lầm, song việc tung sản phẩm ra sẽ gặp không ít khó khăn do các ngân hàng khác ít nhiều cũng đã có uy tín về việc cung ứng loại sản phẩm này rồi. VPBank cần cân nhắc và đưa ra chiến lược hoàn thiện & phát triến sản phẩm sao cho phù hợp với tiềm lực ngân hàng, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

2.4 Xây dựng chính sách giá hợp lý, linh hoạt

Giá cả của sản phẩm dịch vụ được coi là một bộ phận quan trọng của hoạt động Marketing ngân hàng, nó thể hiện chất lượng dịch vụ và quyết định một phần khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Đối với sản phẩm CVTD, mức giá của chúng phải nằm trong một khoảng xác định bởi mức giá cực tiểu chỉ bù đắp chi phí và không có lợi nhuận, còn mức giá cực đại thì lại quá cao, khiến cho khách hàng không muốn sử dụng sản phẩm. Hiện tại, chính sách giá trong CVTD của VPBank khá linh hoạt. Tuỳ thuộc vào quy mô khoản vay, đối tượng khách hàng và thời gian vay mà ngân hàng áp dụng các mức lãi suất, và cách tính lãi suât khác nhau (cố định hay thả nổi, có ưu đãi thêm về giá hay không…). Tuy nhiên, cũng phải chỉ rõ rằng: giá mà VPBank đưa ra cho sản phẩm CVTD của ngân hàng mình mới chỉ thuộc mức giá trung bình trên thị trường (xem phụ lục: Biểu lãi suất mới nhất của VPBank 21/05/2025), chưa có khả năng cạnh tranh lớn. Chính vì vậy, trong thời gian sắp tới, ngân hàng cần phải vận dụng các biện pháp để có thể giảm “giá thành” sản phẩm CVTD thấp hơn nữa. Ban đầu, có thể ngân hàng đưa ra chiến lược giá phân biệt một cách thật khéo léo (tức là áp dụng các mức giá khác nhau cho các đối tượng khác nhau), và tính về lâu dài thì nên tìm mọi cách để giảm lãi suất cho vay đồng loạt. Và để có thể giúp giảm lãi suất cho vay- cho vay tiêu dùng thì việc đẩy mạnh huy động vốn là một trong các giải pháp khá tốt. Tuy nhiên, thời điểm từ giữa tháng 2/08 đến nay, NHNN liên tục điều chỉnh lãi suất, các NHTM thì đua nhau huy động vốn. Kết quả là tính đến 11/06/2025 thì các NH đã thoát khỏi tình trạng thiếu tiền đồng nhưng lại đang lao đao vì không biết sẽ sử dụng nguồn vốn đó ra sao khi mà hạn mức tăng trưởng tín dụng chỉ được phép dao động ở mức 30%, chi phí khoản vay thì quá lớn khiến người dân phải e ngại. Lúc này, các NH nói chung và VPBank cần phải tính toán kĩ lưỡng để đưa ra một mức giá “mua-bán” tín dụng thật hài hoà, hoặc có chăng là tạm ngừng vay-cho vay một số lĩnh vực nhạy cảm, đợi đến khi thị trường bình ổn thì lại tiếp tục “cất bước” phát triển.

Thêm nữa, xu hướng trong tương lai gần đó là công khai cách tính lãi trên website để khách hàng có thể tự tính lãi phải trả hàng tháng, tổng tiền phải trả rồi cân nhắc các phương án vay cho phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng (techcombank đã bắt đầu triển khai cách tính này đối với sản phẩm vay trả góp tiêu dùng). Song, đồng thời với việc làm trên, ngân hàng không được quên việc luôn luôn duy trì, phát triển chính sách chăm sóc phục vụ khách hàng thật chu đáo. Chỉ bằng cách kết hợp hài hoà cả hai điều đó thì VPBank mới có thể phát huy được tác dụng của chính sách giá, mới tạo ra hiệu quả cao trong cạnh tranh.

2.5 Mở rộng thêm kênh phân phối Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Đối với mỗi ngân hàng nói chung và VPBank nói riêng, việc xây dựng được kênh phân phối rộng khắp, hiệu quả là một vấn đề vô cùng quan trọng và phức tạp, nhất là sau khi Việt Nam ra nhập WTO. Các ngân hàng trong nước sắp tới phải đối mặt cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài với mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch ở nhiều nơi, áp dụng công nghệ hiện đại cho phép quá trình cung ứng, sử dụng dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện. Và như em đã nêu trong phần đánh giá thực trạng hoạt động marketing trong cho vay tiêu dùng tại VPBank thì kênh phân phối của ngân hàng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là kênh phân phối hiện đại. Chính vì vậy, VPBank cần:

Nhanh chóng triển khai việc lắp đặt và sử dụng hệ thống máy rút tiền ATM (mà ngân hàng đã mua của Diebold), hệ thống máy POS… tại các chi nhánh, khu trung tâm thương mại, khu đông dân cư trên địa bàn. Khi việc thanh toán mua hàng không dùng tiền mặt giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian, được hưởng nhiều tiện ích thì người dân sẽ thấy được khuyến khích tiêu dùng, thích mua sắm nhiều hơn, từ đó gia tăng nhu cầu vay ngân hàng.

Đẩy mạnh dịch vụ homebanking, internetbanking, phonebanking…để khách hàng có thể đăng ký vay, kiểm tra tức thời hoạt động rút, trả nợ vay… ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, miễn là có một máy tính nối mạng hoặc một điện thoại di động thay vì phải trực tiếp đến Ngân hàng. Hiện tại, trong số các ngân hàng của Việt Nam thì chỉ có một số ít đã và đang triển khai tốt điều này như: ACB, vietcombank, techcombank…Song, tất cả cũng mới chỉ dừng lại ở việc áp dụng cho một số nhỏ các sản phẩm và khách hàng (Techcombank: chỉ cho vay qua mạng đối với sản phẩm CVTD “gia đình trẻ”, ACB: cho vay qua mạng ( chỉ dành cho khách hàng ở HCM), cho vay qua điện thoại: chỉ cho sản phẩm hỗ trợ tiêu dùng dành cho nhân viên công ty). Vì vậy, nếu VPBank có thể phát triển được mảng dịch vụ điện tử, trực tuyến này thì chắc chắn VPBank sẽ có một lợi thế lớn trong hoạt động kinh doanh nói chung, và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng.

Ngoài ra, VPBank nên mở rộng kênh phân phối gián tiếp thông qua hình thức cho vay “tay ba”: ngân hàng- công ty/doanh nghiệp/đại lý khác- khách hàng. Trên thực tế, có nhiều khách hàng có nhu cầu mua sắm hàng hóa tiêu dùng nhưng họ lại không có quan hệ với ngân hàng, không được tiếp cận thông tin về CVTD của ngân hàng, hoặc do ngại phải đến ngân hàng. Việc hợp tác với các công ty/doanh nghiệp, đại lý cung cấp các sản phẩm tiêu dùng sẽ là một cách để giúp giải quyết vấn đề trên. Thông qua các trung gian trên, ngân hàng có thể tiếp thị và cung ứng sản phẩm cho vay tiêu dùng của mình một cách đơn giản, thuận lợi, tiết kiệm chi phí, đồng thời cũng là một cách để ngân hàng chuyên biệt hóa sản phẩm theo từng nhu cầu của khách hàng.. Ngược lại, các công ty, đại lý.., nhờ có hoạt động cho vay của các ngân hàng mà họ có thể bán được nhiều sản phẩm hơn. Người tiêu dùng cũng có thể mua hàng ngay để đáp ứng nhu cầu của mình ngay lập tức. Đây thực sự là một sự hợp tác đem lại lợi ích hài hoà cho cả ba bên. Hiện tại, VPBank mới chỉ có quan hệ với một số hãng xe như: Taxi Mai Linh, Ford Thăng Long, Iusuzu, .., một số nhà hàng, cửa hàng thời trang, khu spa.. Trong thời gian sắp tới, ngân hàng cần mở rộng hơn nữa sự hợp tác với: Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Các cơ quan quản lý nhà đất, uỷ ban nhân dân các thành phố: giúp cho ngân hàng có những hiểu biết về các định hướng quy hoạch trong tương lai, thị trường bất động sản, cung cầu của nó và những biến động sắp tới, từ đó đưa ra chính sách sản phẩm cho vay mua nhà, sửa chữa nhà sao cho phù hợp. Đôi khi, chính những cơ quan này sẽ lại giúp ngân hàng quảng bá, giới thiệu sản phẩm vay đến người dân.

Các siêu thị mua sắm: đồ điện tử, đồ nội thất, đồ dùng sinh hoạt…(ví dụ: Melinh plaza, nội thất Đài Loan, khu mua sắm Nguyễn Kim, Tràng Tiền plaza, Nhà Xinh, các cửa hàng phân phối sản phẩm của Nokia, Samsung, LG…); các khu vui chơi giải trí ( nhà hàng, khách sạn, khu spa…), các cửa hàng thời trang ( thời trang Nem, Vera, Uni…): đây là những nơi tập trung hoạt động mua bán tiêu dùng của người dân nên rất nhiều khả năng sẽ phát sinh nhu cầu vay từ ngân hàng. Vả lại, quảng cáo giới thiệu sản phẩm tại đó cũng sẽ hiệu quả vì nó tiếp cận được với một số lượng khách hàng tiêu dùng rất lớn. Hiện tại, techcombank là một trong những ngân hàng triên khai mạnh nhất hoạt động này. Truy cập vào website của ngân hàng này, chúng ta có thể thấy một danh sách dài các công ty, đại lý… mà Techcombank có quan hệ liên kết để cung ứng sản phẩm cho vay trả góp, hỗ trợ mua sắm với mức lãi suất 0%. VPBank có thể học tập một cách sáng tạo cách làm này của Techcombank.

Các hãng, các đại lý phân phối ô tô, xe máy như: General Motor, Huyndai, Ford, Yamaha, Honda, Piaggio, SYM… Đối với các hãng mà VPbank đã có thiết lập được mối quan hệ hỗ trợ thì ngân hàng cần phải tiếp tục duy trì và tăng cường nó. Hoặc, ngân hàng có thể phát triển lên thành quan hệ cao hơn (như HSBC đã từng làm) đó là: ngân hàng hợp tác trực tiếp với nhà sản xuất của hãng, tài trợ vốn sản xuất, tài trợ vốn bán hàng…Đối với những đại lý, hãng xe mà VPBank chưa liên kết thì nay ngân hàng cần xúc tiến ngay (nhất là những hãng lớn có uy tín, có đại lý khắp cả nước). Ngân hàng và các hãng bán lẻ này nên kí hợp đồng mua bán nợ, ở đó ngân hàng sẽ đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền được bán chịu tối đa…cùng với quy định cụ thể về phương thức tài trợ là: truy đòi toàn bộ, truy đòi hạn chế, miễn truy đòi hay có mua lại, để từ đó có thể hạn chế được phần nào rủi ro của hình thức cho vay gián tiếp này.

2.6 Đẩy mạnh các hoạt động giao tiếp-khuếch trương Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Đối với hoạt động marketing ngân hàng, marketing CVTD thì chính sách giao tiếp- khuếch trương là một bộ phận quan trọng, phức tạp bởi vì thực chất nó chính là một chiến lược xúc tiến hỗn hợp nhằm tạo ra sự hiểu biết từ phía khách hàng, gây sự chú ý của họ và khuyến khích họ lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những điểm mạnh và yếu trong quá trình triển khai chính sách này tại VPBank, em xin đề xuất một số giải pháp để có thể đẩy mạnh và phát huy tính hiệu quả của chính sách đó. Cụ thể:

Đối với hoạt động quảng cáo-tài trợ: Song song với việc tiếp tục xúc tiến quảng cáo trên các tờ báo chuyên ngành, tờ báo Trung ương, địa phương như: Tạp chí ngân hàng, tạp chí thị trường tài chính-tiền tệ, boá Hà Nội mới, Tạp chí tiêu dùng, Báo Gia đình và xã hội…thì VPBank cũng nên tập trung phát triển tờ báo riêng của ngân hàng và phát hành rộng rãi. Như em đã phân tích, vì lý do chi phí, giới hạn về số lượng trang báo, nội dung thông tin nên trên các tờ báo lớn của ngân hàng nhà nước, hiệp hội ngân hàng…thì VPBank không thể quảng cáo nhiều về sản phẩm cho vay tiêu dùng nếu như không muốn nói là: nó mới chỉ dừng lại ở việc quảng cáo chung chung về ngân hàng. Khi đó, tờ báo do chính ngân hàng biên soạn và phổ biến ra ngoài công chúng mới thực sự là giải quyết được vấn đề nêu trên. Chỉ trong tờ báo đó, ngân hàng mới có thể giới thiệu chi tiết về hoạt động, chính sách của ngân hàng, các sản phẩm của ngân hàng…Hiện tại, Vietcombank là một trong số ít những ngân hàng đã làm rất tốt điều này. VPBank nên học hỏi và tham khảo cách. Ngoài ra, Website cũng là một công cụ quảng cáo hữu hiệu và khá thịnh hành. VPBank cần tiếp tục nâng cao tốc độ truy cập vào trang web, thiết kế trang web một cách khoa học và “bắt mắt” hơn. Cụ thể: website của VPBank còn rất nhiều khoảng trống ở dưới, nên cho thêm các hình ảnh giới thiệu sản phẩm CVTD, tiết kiệm thật hấp dẫn vào đó. Cách bố trí các nội dung của website còn rất chồng chéo, không linh hoạt, làm cho việc truy cập rất mất thời Các thông tin về từng sản phẩm CVTD còn sơ sài, nên bổ sung hình ảnh minh hoạ cho sinh động, các thông tin liên hệ cụ thể hơn, đặc biệt là liên hệ trực tuyến ngay qua điện thoại, hộp thư thoại miễn phí…Thêm nữa, đối với việc quảng cáo- tài trợ trên truyền hình, VPBank đã ít nhiều thu được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, ngân hàng mới chỉ nâng cao được hình ảnh chung về ngân hàng, và một số hiểu biết về sản phẩm huy động tiền gửi còn sản phẩm CVTD thì chưa. Nên chăng ngân hàng cần phải tiếp tục quảng cáo những sản phẩm CVTD với nội dung sinh động, đầy đủ để tác động mạnh, kích thích nhu cầu của người xem, bởi thực tế thì người tiêu dùng luôn có nhu cầu nhưng không phải lúc nào họ cũng nhận biết được. Và nhiệm vụ của marketing là phải gợi mở nhu cầu đó và hướng họ sử dụng sản phẩm CVTD của ngân hàng. Hoặc ngân hàng có thể quảng cáo bằng các tờ rơi phát gián tiếp qua các hãng taxi, hay mở rộng đối tượng, phạm vi tài trợ: ví dụ tiến tới tài trợ cho các chương trình thể thao thu hút được đông đảo khán giả truyền hình, tài trợ học bổng cho các cấp trường trung học, đại học, đó cũng là một dịp tốt để các thông điệp và sản phẩm của ngân hàng đến được với nhiều nhiều đối tượng khác nhau.

Đối với hoạt động tuyên truyền-marketing trực tiếp: Tăng cường việc trao đổi trực tuyến giữa ngân hàng và khách hàng: có thể qua các buổi phỏng vấn trên truyền hình hoặc qua số điện thoại phục vụ khách hàng miễn phí, qua hòm thư trên website, qua các buổi toạ đàm do ngân hàng tổ chức thường niên…Ngân hàng cũng nên gửi thư thăm hỏi và giới thiệu các sản phẩm CVTD mới nhất của ngân hàng đến những khách hàng truyền thống để duy trì, củng cố mối quan hệ. Các cuộc hội nghị khách hàng nên được tổ chức thường xuyên hơn, quy mô hơn nữa để thu thập phản hồi của khách hàng sử dụng sản phẩm, từ đó có chiến lược điều chỉnh cho phù hợp. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Đối với giao dịch cá nhân: cần tiếp tục bồi dưỡng nghiệp vụ và kĩ năng giao tiếp cho nhân viên thông qua các chương trình đào tạo bổ ích để làm sao cho mỗi nhân viên trong ngân hàng nói chung, nhân viên marketing,nhân viên tín dụng tiêu dùng nói riêng thấm nhuần tư tưởng chủ đạo của lãnh đạo ngân hàng: “khách hàng là thượng đế”.

Đối với hoạt động xúc tiến bán hàng: VPBank cần đưa ra những chương trình khuyến mãi, tặng quà, miễn giảm…hấp dẫn và cạnh tranh hơn nữa mà cách gián tiếp là thông qua hoạt động huy động tiền gửi, và cách trực tiếp là áp dụng ngay đối với sản phẩm cho vay tiêu dùng. Thực chất đây là một nhiệm vụ được cụ thể hoá từ chính sách sản phẩm: tăng phần sản phẩm bổ sung, sản phẩm tiềm năng. Với những hoạt động xúc tiến bán hàng trên, khách hàng sẽ cảm thấy họ luôn được quan tâm, được dành nhiều lợi ích nhất.

2.7 Phát triển nguồn nhân lực đồng đều, cân đối gồm cả các cán bộ trẻ năng động và các cán bộ làm việc lâu năm, giàu kinh nghiệm

Như đã phân tích, hoạt động marketing không chỉ là nhiệm vụ của riêng bộ phận marketing, nó là nhiệm vụ của tất cả các thành viên trong ngân hàng. Muốn thực hiện thành công các chính sách marketing trong CVTD thì trước hết bản thân mỗi nhân viên của VPBank cần phải tạo được trong lòng khách hàng các hình ảnh, ấn tượng tốt về tổng thể ngân hàng- mỗi cá nhân cũng đồng thời là một nhân viên marketing. Trên cơ sở đó, việc marketing sản phẩm cho vay tiêu dùng cũng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Vì vậy, vấn đề tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực (trong đó có nhân viên marketing) là rất quan trọng.

Hiện tại, nhân viên của ngân hàng nói chung đa số là những người trẻ tuổi. Điều này có ưu điểm ở chỗ: họ rất năng động, nhiệt huyết. Song, ngược lại, họ thiếu những trải nghiệm thực tế trên “thương trường”. Vì vậy, cùng với việc tuyển dụng đội ngũ nhân viên trẻ mới ra trường để đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động của mình thì VPBank cần có chiến lược phù hợp để “chiêu dụ” nhân tài, những người có kinh nghiệm làm việc lâu năm-đặc biệt là trong lĩnh vực marketing. Họ sẽ giúp ngân hàng đưa ra những đánh giá-nhận định sâu sắc về thị trường, các “quyết sách” có tầm nhìn khái quát và là những tấm gương sáng, xứng đáng để dẫn dắt đội ngũ nhân viên trẻ kế cận. Và để làm tốt hai điều trên, VPBank có thể:

Đầu tư, cấp học bổng cho sinh viên xuất sắc tại các trường Đại học kinh tế- tài chính-ngân hàng (nếu là những sinh viên có chuyên ngành học là marketing thì càng tốt), sau đó đào tạo những sinh viên này thành đội ngũ nhân viên giỏi cho ngân hàng trong tương lai. Tuỳ vào tiềm lực ngân hàng mà có thể cấp học bổng và đào tạo ngay từ những sinh viên năm thứ nhất hay chỉ những sinh viên năm cuối. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Tổ chức tuyển dụng công bằng, công khai rộng rãi để tìm kiếm được những người thực sự có năng lực, có kỹ năng giao tiếp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao…Đặc biệt nên tuyển dụng cán bộ vào vị trí mang tính chuyên môn hoá cao hơn nữa: ví dụ: cán bộ quản lý và phát triển tiêu dùng ô tô, chuyên viên cao cấp phát triển dòng sản phẩm mới và gói sản phẩm, chuyên viên quản lý tiêu dùng cá nhân….

  • Tổ chức các chương trình đào tạo-đào tạo lại cho toàn bộ nhân viên, cụ thể là các khoá học làm marketing do những giáo viên, chuyên gia giỏi giảng dạy. Cử nhân viên xuất sắc đi học tập tại nước ngoài.
  • Đưa ra môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ hấp dẫn để thu hút được nhân tài, nhất là những nhân viên có kinh nghiệm.
  • Thường xuyên, kịp thời khen thưởng, khích lệ các cán bộ làm việc tốt, hiệu quả, xử phạt đúng mức, nghiêm túc các cán bộ mắc sai phạm, đặc biệt là sai phạm trong cách hành xử với khách hàng.

2.8 Các biện pháp bổ trợ khác

Bên cạnh các biện pháp trực tiếp nêu trên thì VPBank nên quan tâm đến cả những biện pháp bổ trợ khác để góp phần thúc đẩy và làm tăng tính hiệu quả của hoạt động marketing trong CVTD.

2.8.1 Đơn giản hoá các quy trình nghiệp vụ CVTD

Hiện nay, phần lớn các giao dịch CVTD của ngân hàng vẫn được thực hiện trên giấy tờ, phải qua nhiều phòng ban. Sắp tới, VPBank nên áp dụng chính sách “một cửa”, cho phép đăng ký vay qua mạng để có thể rút ngắn thời gian cho khách hàng. Các thủ tục vay của ngân hàng cũng cần đơn giản, gọn nhẹ hơn (ví dụ: khi vay mua ô tô hay mua nhà: không cần trình bày phương án trả nợ, giấy chứng minh mục đích sử dụng vốn vay…(các ngân hàng nước ngoài như HSBC, ANZ… không bao giờ yêu cầu những giấy tờ đó cả)). Ngoài ra ngân hàng cũng cần đa dạng hoá hơn các loại tài sản đảm bảo cho các khoản vay để thu hút được nhiều khách hàng hơn. Tuy nhiên, song song với việc đó thì ngân hàng cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định thông tin khách hàng đề đảm bảo tránh được các rủi ro có thể phát sinh khi thủ tục vay được đơn giản hoá.

2.8.2 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

Để có thể thực hiện tốt việc mở rộng kênh phân phối hiện đại, tiết kiệm thời gian giao dịch cho khách hàng…một yếu tố mà ngân hàng không thể không quan tâm đó là ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh sản phẩm CVTD nói riêng. Ngân hàng nên đầu tư mua hệ thống máy ATM, POS có chất lượng tốt, sử dụng công nghệ cao trong sản xuất thẻ để tăng tính bảo mật, độ an toàn, khai thác triệt để tiện ích của phần mềm quản trị ngân hàng lõi T24 để phát triển các sản phẩm mới, dịch vụ homebanking, internetbanking,…

III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG CVTD TẠI VPBANK NÓI RIÊNG VÀ NHTM NÓI CHUNG.

3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

  • Kiến nghị 1: Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô của nền kinh tế

Mọi hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Khi nền kinh tế phát triển ổn định, triển vọng kinh tế sáng sủa thì tâm lý của người dân sẽ tốt, họ trông đợi vào một thu nhập lớn hơn trong tương lai, sự cải thiện chất lượng cuộc sống, từ đó họ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn. Và tất yếu là lúc đó, các chiến lược marketing CVTD của ngân hàng sẽ dễ dàng phát huy hiệu quả cao, số lượng sản phẩm được tiêu thụ sẽ ngày càng tăng. Ngược lại, khi người dân hoang mang và không kì vọng vào nền kinh tế thì họ có xu hướng tăng tiết kiệm, giảm tiêu dùng. Và góp phần không nhỏ trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô chính vai trò, chức năng quan trọng là Nhà nước và Chính phủ. Vì vậy, Nhà nước cần đưa ra chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo đúng định hướng, củng cố cơ cấu ngành, ưu tiên phát triển ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ, có biện pháp kiềm chế lạm phát hiệu quả để tránh gây tâm lý hoang mang cho người dân.

  • Kiến nghị 2: Giảm sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt là giữa khu vực thành thị và nông thôn.

Đây là một vấn đề không chỉ mang tính chính trị mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay tiêu dùng. Trong thời gian sắp tới, các ngân hàng sẽ không chỉ tập trung vào đối tượng khách hàng là những người có thu nhập trung bình và cao mà còn phải mở rộng đối tượng phục vụ là những người dân có thu nhập thấp, sống tại các đô thị vệ tinh, thậm chí là tại nông thôn. Trong khi đó, hiện nay, khả năng chi trả của tầng lớp dân cư này là rất hạn chế, họ không thể đến ngân hàng vay vì không có tài sản thế chấp. Vì vậy, nhà nước cần có đầu tư hợp lý vào các khu vực này bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống, có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn trên nhằm tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân… Chỉ khi họ có thu nhập khá thì họ mới bắt đầu nghĩ đến việc đi vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sản phẩm CVTD của ngân hàng cho phân đoạn thị trường này. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

  • Kiến nghị 3: Cần tiếp tục đầu tư cho hệ thống giáo dục

Đó không chỉ là chiến lược chung của quốc gia mà còn liên quan trực tiếp đến nguồn nhân lực của ngân hàng. Nhà nước và Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ giáo dục, mà cụ thể trong trường hợp này là hỗ trợ cho các trưòng đại học khối kinh tế-tài chính-ngân hàng, ví dụ: thông qua hình thức miễn giảm hoặc cho vay ưu đãi để đóng học phí cho các sinh viên nghèo học giỏi, cấp học bổng- cử đi du học nước ngoài cho các sinh viên xuất sắc, tài trợ thiết bị giảng dạy tiên tiến, hiện đại cho các trường đại học….

  • Kiến nghị 4: Các cơ quan chức năng cũng cần chấn chỉnh hoạt động của mình theo hướng “một cửa”, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong phạm vi có liên quan.

Cụ thể là việc cấp sổ đỏ, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản…cần được giải quyết nhanh gọn, chính xác, hợp lệ. Có như vậy thì việc cầm cố, thế chấp tài sản của người dân để vay tiêu dùng mới được thuận lợi, suôn sẻ, lợi ích của các ngân hàng được đảm bảo, hạn chế các rủi ro.

3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

  • Kiến nghị 1: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay- cho vay tiêu dùng của các ngân hàng.

Như đã từng đề cập, trong hai ngày 7 và 8/03/2025, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 2 cuộc họp nhằm lấy ý kiến và chỉnh sửa trực tiếp dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức Tín dụng và dự thảo các tờ trình Thủ tướng Chính phủ. Các buổi họp có sự tham gia của các thành viên Ban soạn thảo hai Luật, đại diện Văn phòng Chính phủ, đại diện các Bộ, ngành có liên quan dưới sự chủ trì của Phó Thống đốc Đặng Thanh Bình.Tất cả các ý kiến hay đóng góp tại cuộc họp sẽ được chỉnh sửa, bổ sung trực tiếp vào dự thảo hai Luật. Các buổi hội thảo cũng đã đưa ra tranh luận rất nhiều về vấn đề: cần phải xây dựng các luật riêng đối với mỗi đối tượng cho vay, khi thị trường trở nên phức tạp hơn, hay việc làm thế nào để quản lý hoạt động cho vay của ngân hàng…Tuy nhiên, cho đến nay, dự thảo luật vẫn chưa được thống nhất và chúng ta cũng chưa biết kết quả sẽ ra sao. Vì vậy, trong thời gian sắp tới, Ngân hàng nhà nước cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong việc thu thập ý kiến nhằm soạn thảo ra Luật các tổ chức tín dụng trong thời gian sớm nhất, làm sao cho luật này vừa giúp ngân hàng nhà nước quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay của các NHTM, vừa có hành lang thông thoáng giúp thúc đẩy sự hơn nữa sự phát triển của thị trường tín dụng- tín dụng tiêu dùng. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Kiến nghị 2: Hoạch định chiến lược phát triển chung về cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại nhằm tạo ra sự thống nhất về quản lý, bình đẳng, lành mạnh trong cạnh tranh giữa các ngân hàng. Hơn nữa Ngân hàng Nhà nước cũng cần phối hợp hoạt động đồng bộ giữa các ngân hàng thương mại, tạo điều kiện cho các ngân hàng cùng nhau hợp tác phát triển.

Kiến nghị 3: Củng cố và phát triển trung tâm thông tin tín dụng (CIC), xây dựng các hiệp hội Ngân hàng

Hai nhiệm vụ trên cũng có liên quan mật thiết đến việc tăng cường hợp tác giữa các ngân hàng (như đã đề cập ở kiến nghị 2). Trong thời gian tới, Ngân hàng nhà nước nên cùng với các ngân hàng thương mại xây dựng và tham gia vào hệ thống nối mạng thông tin liên ngân hàng, để từ đó cho phép các ngân hàng truy cập tìm kiếm các thông tin kinh tế- xã hội có liên quan hay các thông tin về khách hàng một cách nhanh chóng.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

Lĩnh vực cho vay tiêu dùng mặc dù là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng triển vọng phát triển của nó trong tương lai thì bất kỳ một tổ chức tín dụng nào, kể cả các NHTMCP cũng có thể nhìn thấy trước, dự đoán trước được. Tuy nhiên, cũng chính vì sự kỳ vọng ấy mà thị trường tín dụng tiêu dùng trong thời gian sắp tới hứa hẹn một sự cạnh tranh rất khốc liệt, đặc biệt là sau khi Việt Nam mở cửa lĩnh vực ngân hàng. Và một trong những công cụ hữu hiệu giúp các tổ chức tín dụng nói chung và NHTMCP nói riêng có thể tồn tại và phát triển chính là marketing, mà cụ thể trong trường hợp này chính là marketing trong CVTD.

Với mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2028: Trở thành NH hàng đầu khu vực phía Bắc, NH trong top 5 của cả nước, một ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng, hiệu quả, độ tin cậy”, VPBank đã và đang tích cực triển khai nhiều chiến lược, đặc biệt là chiến lược marketing trong hoạt động CVTD: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách giao tiếp- khuếch trương… Trong quá trình thực hiện, NH đã ít nhiều thu được những kết quả đáng khích lệ như: chiếm được lòng tin của khách hàng, mở rộng được thị phần…Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng hoạt động marketing trong CVTD của NH còn tồn tại một số các hạn chế nhất định. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm ra những thiếu sót đó để khắc phục và xác định một hướng đi hiệu quả là điểu rất cần thiết. Bài viết của em không nằm ngoài mục đích đó.

Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo cũng như kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tế nên có nhiều vấn đề em phân tích chưa được rõ ràng, sâu sắc, giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa thực sự hiệu quả. Chính vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của thầy cô giáo và các bạn để bài khoá luận của em ngày càng hoàn thiện hơn. Khóa luận: Giải pháp marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Phát triển marketing cho vay tiêu dùng tại VPBank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993