Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp phát triển hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

1. Các yếu tố tác động đến hoạt động truyền thông xã hội và marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam trong tương lai

1.1 Xu hướng tin tưởng vào hình thức marketing truyền miệng tiếp tục tăng cao

Từ khoảng đầu những năm 90 khi quảng cáo mới xuất hiện tại Việt Nam cho đến tận vài năm trở lại đây, có lẽ không sai khi nói rằng người Việt Nam vẫn tin tuởng “như đinh đóng cột” vào những gì xuất hiện trên quảng cáo. Thậm chí nhiều người còn thích thú chờ đón xem quảng cáo. Tuy nhiên, cùng với thời gian, cuộc sống của người dân ngày càng phát triển, cơ hội tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng cũng tăng lên. Hiện tượng quảng cáo xuất hiện với tần số ngày càng nhiều từ trên báo chí, truyền hình cho đến các banner, poster, tờ rơi ngập tràn đường phố đôi khi lại gây ác cảm cho người tiêu dùng. Trong khi đó những lời giới thiệu từ gia đình, bạn bè, người quen lại thường được người tiêu dùng đánh giá cao trong thời gian gần đây và hiện tượng này vẫn có xu hướng phát triển trong tương lai. Ngoài ra, cũng phải nhắc đến một đặc điểm quan trọng trong tính cách người Việt Nam đó là tâm lý đám đông. Khi mua sắm và tiêu dùng, người Việt thường dễ bị tác động bởi suy nghĩ : “Bạn bè dùng, đồng nghiệp dùng thì mình cũng dùng”. Lối suy nghĩ này đã tồn tại từ lâu và trong thời gian tới cũng không có xu hướng thay đổi. Kết quả từ bản khảo sát thực tế là minh chứng rõ ràng cho các nhận định trên. Cụ thể, trong số các đối tượng khảo sát trả lời là có tham gia các cộng đồng mạng trực tuyến, đa số (76%) cho biết họ đã từng nhận được những thông tin chia sẻ về các sản phẩm dịch vụ từ bạn bè và người quen của mình thông qua các cộng đồng mạng này, 55% cho biết các quyết định mua sắm của họ có bị ảnh hưởng bởi các thông tin chia sẻ nói trên.

Như vậy, rõ ràng trong tương lai, hình thức marketing truyền miệng đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn có được một chỗ đứng vững chắc, trong đó việc sử dụng truyền thông xã hội để tận dụng hiệu quả truyền miệng trong hoạt động marketing đang ngày càng chứng tỏ là một lựa chọn hợp lý. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

1.2 Xu hướng sử dụng mạng Internet nói chung và các cộng đồng trực tuyến như mạng xã hội, mạng chia sẻ của người dẫn tiếp tục phát triển

Theo thống kê của công ty nghiên cứu thị trường TNS, nếu như trong năm 2020, mỗi ngày người Việt Nam dành 295 phút để xem tivi và 22 phút đọc báo trên mạng thì đến năm 2023, thời lượng xem tivi của người Việt đã giảm đến 1 tiếng xuống còn 233 phút/ngày trong khi thời lượng đọc báo mạng lại tăng lên đến 43 phút/ngày. Còn theo biểu đồ thống kê tỷ lệ tăng trưởng Internet của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại Châu Á từ năm 2014 đến năm 2023 của trang web Internet World Stats trong hình 9 dưới đây, Việt Nam là một trong những quốc gia  có tỷ lệ tăng trưởng Internet ngoạn mục (10,882%).  Tất cả những con số thống kê này là minh chứng cho xu hướng sử dụng Internet ngày càng tăng cao của người dân Việt Nam trong tương lai.

Hình 9  : Biểu đồ tăng trưởng Internet tại một số nước Châu Á (2014 – 2023) Cũng không quá khó khăn trong việc lý giải xu hướng này khi mà Internet ngày nay đã len lỏi vào gần như mọi ngóc ngách của cuộc sống thường ngày. Đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh, với chất lượng cuộc sống ngày càng tăng cao, người dân không chỉ truy cập Internet qua những chiếc máy tính để bàn mà còn qua máy tính xách tay laptop hay qua các loại điện thoại thông minh như iPhone, Blackberry,…

Cùng với xu hướng sử dụng Internet tăng cao là xu hướng tham gia các cộng đồng trực tuyến như mạng xã hội, mạng chia sẻ của người dân cũng phát triển theo. Trong thời gian gần đây, sự xuất hiện ồ ạt của các mạng xã hội đã chứng tỏ nhu cầu được chia sẻ, được kết nối của người dân Việt Nam qua các cộng đồng mạng trực tuyến ngày càng tăng cao. Theo kết quả khảo sát thực tế, trong số các đối tượng hiện không tham gia cộng đồng mạng trực tuyến nào thì có tới 92% cho biết họ có dự định tham gia trong thời gian tới. Đặc biệt, người dân Việt Nam hiện cũng bắt đầu có xu hướng tham khảo các thông tin mua sắm thông qua các cộng đồng mạng trực tuyến này. Cụ thể, cũng theo kết quả khảo sát thực tế, trong khi hiện tại chỉ có 45% số người được hỏi cho biết một trong những mục đích họ tham gia mạng xã hội là để tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ thì có tới 71% trả lời là trong thời gian tới có dự định tham khảo thông tin từ các cộng  đồng mạng trực tuyến khi đưa ra các quyết định mua sắm.

Tóm lại, hai xu hướng phân tích ở trên được đánh giá là những lợi thế cho việc phát triển marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam. Trong tương lai, các doanh nghiệp tại Việt Nam nếu muốn thử sức với marketing truyền thông xã hội thì cần nhận thức rõ được ảnh hưởng của các xu hướng trên đối với loại hình marketing này và làm thế nào để tận dụng chúng trong các chiến dịch cụ thể cũng như trong chiến lược marketing truyền thông xã hội dài hạn của doanh nghiệp mình.

Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

2.1 Giải pháp từ phía doanh nghiệp

Việc sử dụng marketing truyền thông xã hội trong thực tiễn kinh doanh đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc cũng như khả năng học hỏi nhanh nhạy của doanh nghiệp để có thể vừa tận dụng được những ưu điểm vừa khắc phục được những nhược điểm của loại hình marketing này. Đến Việt Nam, thách thức đặt ra còn lớn hơn nữa khi đa số các doanh nghiệp còn rất bỡ ngỡ với khái niệm marketing truyền thông xã hội. Để vượt qua được thách thức này, các doanh nghiệp Việt Nam phải vừa tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu được những kiến thức chung nhất, cơ bản nhất của marketing truyền thông xã hội vừa có được những hiểu biết sâu sắc về thị trường Việt Nam để áp dụng thành công loại hình marketing này trong thực tiễn kinh doanh. Nói cách khác, các giải pháp chủ yếu phát triển hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam phải đảm bảo hướng đến việc giải quyết các vấn đề chung gặp phải khi áp dụng loại hình marketing này trên thế giới đồng thời giải quyết các vấn đề mang tính đặc thù, chỉ có tại thị trường Việt Nam. Cụ thể như sau :

2.1.1. Tìm hiểu và học tập kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng truyền thông xã hội vào hoạt động marketing của doanh nghiệp

Hiện nay đã có rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng thành công marketing truyền thông xã hội trong hoạt động kinh doanh của mình. So với các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp này rõ ràng có nhiều kinh nghiệm hơn về marketing nói chung và marketing truyền thông xã hội nói riêng. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải biết cách học tập và nghiên cứu kĩ càng kinh nghiệm của bạn bè thế giới thông qua các ví dụ cụ thể.

Việc tìm hiểu và học tập ở đây bao gồm quá trình nghiên cứu cũng như cập nhật thông tin một cách kịp thời. Các doanh nghiệp Việt Nam trước tiên cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về marketing truyền thông xã hội : định nghĩa, đặc điểm và các công cụ sử dụng. Ngoài ra khi nghiên cứu các ví dụ thực tế trên thế giới các doanh nghiệp này cũng phải biết đặt ra những câu hỏi hợp lý như : Doanh nghiệp mình đang nghiên cứu đã thành công hay thất bại như thế nào trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của họ ? Họ đã sử dụng những công cụ gì, đã đo lường hiệu quả chiến dịch ra sao ? ..v..v.. Đặc biệt, hoạt động marketing truyền thông xã hội phụ thuộc rất lớn vào công nghệ web 2.0 hiện đại, mà công nghệ lại thay đổi liên tục từng ngày từng giờ, do đó quá trình nghiên cứu, học tập của các doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi việc nhanh nhạy cập nhật thông tin về hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới để kịp thời nắm bắt được những kinh nghiệm cần có. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Ngoài ra, trong quá trình học tập cũng cần có sự chọn lọc cho phù hợp với bản thân doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế Việt Nam. Việc sử dụng marketing truyền thông xã hội ra sao còn phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp là B2B hay B2C, quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ, sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp là gì,…. Ví dụ, khách hàng của các doanh nghiệp B2B (busines-tobusiness) là các doanh nghiệp khác trong khi khách hàng của các doanh nghiệp B2C (business-to- customer) là người tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình. Sự khác nhau cơ bản này giữa 2 loại hình doanh nghiệp dẫn đến những khác biệt khác trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của từng loại. Cụ thể, khi sử dụng công cụ mạng xã hội, các doanh nghiệp B2B thường lựa chọn những mạng thu hút sự tham gia đông đảo của nhiều doanh nhân khác, nhằm dễ dàng tiếp cận hơn đối tượng khách hàng mục tiêu của mình, ví dụ mạng LinkedIn. Những mạng xã hội mang tính chất cá nhân và riêng tư như Facebook thường không được coi là ưu tiên lựa chọn hàng đầu. Trong khi đó, tại Việt Nam những mạng xã hội định hướng kinh doanh như LinkedIn còn chưa phổ biến, gây khó khăn cho các doanh nghiệp B2B trong việc tạo dựng các mối quan hệ công việc thông qua mạng xã hội. Giải pháp tốt nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề này là tự bản thân doanh nghiệp phải thay đổi nhận thức của mình, nhìn nhận việc tham gia và kết nối với đối tác kinh doanh qua các mạng này là một việc làm chuyên nghiệp. Càng nhiều doanh nghiệp thay đổi nhận thức và tham gia thì cộng đồng doanh nhân trên những mạng này sẽ ngày càng đông đảo, cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu về nhau sẽ tăng lên giữa các doanh nghiệp. Gần đây, tại Việt Nam xuất hiện mạng xã hội Caravat. dành cho giới doanh nhân, lãnh đạo và các chuyên gia hay Cyvee dành cho giới trí thức, chủ yếu là nhân viên văn phòng. Đây cũng có thể là những lựa chọn tốt bên cạnh LikedIn. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam cũng nên động viên, khuyến khích các nhân viên của mình tham gia các mạng xã hội loại này dưới tư cách cá nhân bởi thành công trong marketing truyền thông xã hội không chỉ đòi hỏi nỗ lực chung của toàn doanh nghiệp mà còn của riêng mỗi nhân viên trong đó. Tại các doanh nghiệp ở những nền kinh tế phát triển như Mỹ và Châu Âu, việc các nhân viên, bất kể chức vụ cao thấp, lập tài khoản riêng trên các mạng xã hội như LinkedIn là rất phổ biến, tạo nên một mạng lưới doanh nhân dày đặc trên cộng đồng mạng. Mạng lưới này cho phép doanh nghiệp có thể tìm kiếm được dễ dàng hơn các đối tác cũng như tận dụng được hiệu quả của tính tương tác và liên kết cao trên các trang web truyền thông xã hội này.

Tóm lại, khi tìm hiểu và học tập kinh nghiệm thế giới, doanh nghiệp Việt Nam nên tiến hành nghiên cứu hoạt động marketing truyền thông xã hội của những doanh nghiệp nước ngoài có nhiều điểm tương đồng với mình trước rồi mới đến các doanh nghiệp thuộc loại hình khác.

2.1.2. Xây dựng một chiến lược marketing truyền thông xã hội dài hạn cho doanh nghiệp Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Như đã đề cập qua trong phần 3.2.1 của chương II, hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ vẫn còn có cái nhìn phiến diện và chưa sâu sắc về marketing truyền thông xã hội. Các doanh nghiệp này thường có xu hướng đánh đồng loại hình marketing này với các công cụ mà nó sử dụng dẫn đến cái nhìn thiếu bản chất. Thực tế này đã khiến hoạt động marketing truyền thông xã hội của nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn chưa hiệu quả. Giải pháp chung cho vấn đề này chính là một chiến lược marketing truyền thông xã hội dài hạn cho doanh nghiệp.

Cụ thể, trong chiến lược này, doanh nghiệp cần xác định rõ mục đích cũng như kết quả họ mong đợi đạt được từ việc sử dụng marketing truyền thông xã hội.  Việc xây dựng chiến lược yêu cầu doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu 3 loại đối tượng : khách hàng, đối thủ cạnh tranh và các nhân vật có khả năng gây ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của khách hàng.

Thứ nhất, nghiên cứu khách hàng ở đây chính là nghiên cứu thói quen sử dụng các công cụ truyền thông xã hội của họ. Nghiên cứu này phải trả lời được các câu hỏi như : Khách hàng có đang sử dụng công cụ truyền thông xã hội nào không, ví dụ mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog, diễn đàn,…? Nếu có thì họ sử dụng với mục đích gì ? Tần suất sử dụng ra sao ? Khách hàng có sử dụng truyền thông xã hội như một kênh tìm hiểu và đưa ra quyết định mua sắm hay không ? Nếu chưa thì lý do tại sao và liệu trong tương lai, khách hàng có nhu cầu sử dụng không ? Việc nghiên cứu này giúp doanh nghiệp đề ra được hướng đi trong chiến lược của mình, cho biết họ phải hướng hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình đến các mạng xã hội, blog, diễn đàn hay sử dụng các công cụ như widget, podcast,…để có thể nhắm trúng đối tượng khách hàng mục tiêu của mình. Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tự tiến hành nghiên cứu khách hàng của mình hoặc thuê các công ty nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp. Dù lựa chọn hình thức gì thì quá trình nghiên cứu của doanh nghiệp phải đảm bảo nắm bắt được những đặc điểm tâm lý và thói quen đặc thù của người Việt Nam nói chung và đối tượng khách hàng mục tiêu nói riêng khi sử dụng các công cụ truyền thông xã hội.

Thứ hai, để xây dựng một chiến lược marketing truyền thông xã hội hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải tiến hành nghiên cứu kĩ các đối thủ cạnh tranh của mình. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu này là doanh nghiệp phải tìm hiểu được đối thủ của mình có sử dụng marketing truyền thông xã hội không và nếu có thì đang sử dụng như thế nào. Ví dụ doanh nghiệp cần biết đối thủ đang có mặt trên những mạng xã hội nào ? Mức độ gắn bó và tương tác với khách hàng thông qua các mạng xã hội này của đối thủ ra sao ? ….

Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tiến hành nghiên cứu về những cá nhân, tổ chức có ảnh hưởng đến khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường mạng. Đây thường là những người nổi tiếng trong các lĩnh vực ca nhạc, điện ảnh hay các “hot blogger” hiện nay. Thuật ngữ tiếng Anh gọi những nhân vật này là các “influencer”. Những “influencer” này có khả năng tác động đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó việc họ xuất hiện trên các mạng xã hội hay blog gián tiếp quảng bá cho một sản phẩm được coi là một “chiêu” marketing rất hiệu quả. Nếu doanh nghiệp có ý định sử dụng những “influencer” này trong chiến lược dài hạn của mình thì cũng cần có sự đầu tư nghiên cứu cẩn thận những đối tượng này : Mức độ ảnh hưởng của họ đến người tiêu dùng qua các phương tiện truyền thông xã hội có lớn không ? Nếu có thì nên sử dụng họ như thế nào cho hiệu quả ?… Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Nói chung, hoạt động marketing truyền thông xã hội đòi hỏi một sự đầu tư đáng kể thời gian và công sức. Các doanh nghiệp Việt Nam, dù quy mô lớn hay nhỏ, chỉ có thể thành công nếu xây dựng được một chiến lược “dài hơi” với mục đích và hướng đi rõ ràng trước khi bắt tay vào các công việc cụ thể hơn. Việc tiến hành nghiên cứu khách hàng, đối thủ cạnh tranh và nhân vật có khả năng gây ảnh hưởng kể trên sẽ mang đến cho doanh nghiệp cái nhìn toàn diện về những đối tượng liên quan đến hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình, từ đó giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược hiệu quả hơn.

2.1.3. Sáng tạo trong việc sử dụng các công cụ của marketing truyền thông xã hội

Trong marketing truyền thông xã hội, các chuyên gia marketing có thể lựa chọn rất nhiều công cụ để sử dụng. Việc lựa chọn ra được những công cụ thích hợp cho từng chiến dịch cụ thể phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu khách hàng, đối thủ cạnh tranh hay nhân vật có khả năng gây ảnh hưởng đã trình bày ở trên. Ngoài ra, để thu được hiệu quả cao hơn, các chuyên gia marketing cũng cần sáng tạo trong việc sử dụng những công cụ này. Trên thực tế, yếu tố sáng tạo là cần thiết trong mọi loại hình marketing, không riêng gì marketing truyền thông xã hội. Đề cập đến vấn đề này, tổ chức marketing chuyên nghiệp PepperGroup của Mỹ đã từng dùng hình ảnh so sánh các công cụ truyền thông xã hội như những chiếc bút chì màu. Điều quan trọng nhất không phải là số lượng hay tần suất những chiếc bút chì màu này được sử dụng mà là các chuyên gia marketing có thể sử dụng chúng như thế nào để tạo nên bức tranh đẹp và ấn tượng. Trường hợp hãng đồ nội thất IKEA tận dụng chức năng tag ảnh trên Facebook đã phân tích ở chương I là một ví dụ điển hình. IKEA đã thu được thành công lớn trong chiến dịch tag ảnh này chỉ dựa trên một ý tưởng đơn giản mà sáng tạo trong marketing truyền thông xã hội.

Tất nhiên không dễ dàng gì để có thể đưa ra ngay một ý tưởng sáng tạo và có tính khả thi. Để làm được điều đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải hiểu rõ những công cụ truyền thông xã hội mà mình đang sử dụng, nắm được những chức năng, ưu điểm, nhược điểm của các công cụ đó. Chỉ khi dựa trên một nền tảng vững chắc những kiến thức cơ bản thì doanh nghiệp mới có khả năng đưa ra được những ý tưởng mới mẻ, sáng tạo và thật sự có giá trị trong thực tiễn hoạt động marketing truyền thông xã hội.

2.1.4. Kết hợp hoạt động marketing truyền thông xã hội trong môi trường mạng và môi trường thực tế 

Mặc dù marketing truyền thông xã hội phụ thuộc rất lớn vào công nghệ web 2.0 song không thể vì thế mà tách rời hoạt động này ra khỏi môi trường thực tế. Tất cả các mối quan hệ doanh nghiệp xây dựng với khách hàng thông qua các cộng đồng trực tuyến đều có xuất phát điểm từ những quan hệ thật và nhắm đến những mục tiêu cụ thể trong thực tiễn hoạt động marketing nói riêng và kinh doanh nói chung. Chính vì những lý do đó, doanh nghiệp cần thiết phải kết hợp được hoạt động marketing truyền thông xã hội trong môi trường mạng và môi trường thực tế. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Một số biện pháp cụ thể để thực hiện được điều này là :

Doanh nghiệp nên tiến hành tổ chức các sự kiện khách hàng, các chương trình tư vấn,… trong thực tế và quảng bá thông qua các công cụ truyền thông xã hội. Ngoài mục đích quảng bá, những công cụ này còn có thể sử dụng để thu thập ý kiến đóng góp cũng như cảm nhận của khách hàng trước và sau các chương trình hay sự kiện được tổ chức. Doanh nghiệp cũng nên mời các nhân vật có khả năng gây ảnh hưởng trong các cộng đồng mạng trực tuyến tới tham gia các chương trình, sự kiện đó để thông qua họ tác động gián tiếp đến đối tượng khách hàng của mình. Trong tiếng Anh, biện pháp này được gọi bằng thuật ngữ “Social Media Meetup”. Nhìn chung, “Social Media Meetup” đã được nhiều doanh nghiệp nước ngoài sử dụng và hoàn toàn có thể áp dụng tại Việt Nam.

Ngoài ra, thông qua quá trình lắng nghe và đối thoại với khách hàng trên các cộng đồng mạng trực tuyến, doanh nghiệp có thể thu thập được rất nhiều ý kiến phản hồi của khách hàng mong muốn được cung cấp những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn, hoàn hảo hơn. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải nhìn nhận những ý kiến này một cách nghiêm túc, từ đó nhanh chóng đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Thực tế hoạt động marketing truyền thông xã hội của những thương hiệu lớn trên thế giới như Starbucks, Nokia (trình bày trong chương II) đã chứng minh rằng để gặt hái được thành công với loại hình marketing này thì việc doanh nghiệp chỉ lắng nghe và tương tác với khách hàng thông qua môi trường mạng thôi là chưa đủ. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải thể hiện được tính cam kết và nghiêm túc của mình trong mối quan hệ với khách hàng thông qua các hành động cụ thể trong môi trường thực tế.

2.1.5. Thực hiện các biện pháp đo lường hiệu quả khi sử dụng marketing truyền thông xã hội  Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Đo lường hiệu quả của một chiến dịch marketing là việc làm tối quan trọng mà không doanh nghiệp nào có thể bỏ qua được. Trong khi đó, các chiến dịch marketing truyền thông xã hội lại rất khó đo lường hiệu quả. Đây là vấn đề chung đối với các doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để khắc phục vấn đề này, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp đo lường hiệu quả khi sử dụng marketing truyền thông xã hội. Cụ thể như sau :

Đầu tiên, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm rõ được các thông số thường được sử dụng để đo lường hiệu quả của marketing truyền thông xã hội. Dựa vào bản chất của các thông số này có thể phân chúng thành 2 loại lớn :

Thứ nhất là các thông số truyền thông (media metrics). Đo đạc các thông số loại này giúp các chuyên gia marketing đánh giá được công cụ truyền thông xã hội mà họ đang sử dụng có thu hút được sự quan tâm của khách hàng trên các cộng đồng mạng hay không. Có rất nhiều thông số truyền thông khác nhau song tựu chung lại có thể phân thành các nhóm lớn sau :

  • Thông số đo lường về lượng truy cập (Traffic)

Điển hình trong các thông số loại này là là số lượng người truy cập (unique view), số lần trang web được xem (page view), ở đây là trang mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog hay diễn đàn của doanh nghiệp. Đây là những thông số cơ bản nhất. Với mỗi trang web truyền thông xã hội khác nhau có thể lại có những thông số đo lường về lượng truy cập cụ thể khác. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp muốn đo lường lượng truy cập tài khoản (được gọi là “channel” trên Youtube) có thể sử dụng 2 thông số : số lần tài khoản hay “channel” của doanh nghiệp được xem (Channel View) và tổng số lượt xem các video mà doanh nghiệp đã đăng tải lên Youtube (Total Upload View). Các doanh nghiệp Việt Nam nếu sử dụng mạng chia sẻ video Clip cũng có thể sử dụng thông số “Số lượt xem” để biết về lượng truy cập.

  • Thông số đo lường về mức độ gắn bó của người xem (Return On Engagement – ROE)

Các thông số thuộc loại này rất đa dạng. Có thể kể ra một số ví dụ như :  thời gian người xem lưu lại trên trang web truyền thông xã hội của doanh nghiệp, lượng người click vào bài viết đăng tải trên blog, lượng người phản hồi lại thông tin cập nhật (tweet) của doanh nghiệp trên Twitter bằng hình thức hồi đáp (reply), lượng người nhận xét (comment) hay thể hiện sự thích thú (like) trên Facebook, lượng người tải xuống các ứng dụng Widget hay chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast),….

Mặc dù có thể mang các tên gọi và hình thức khác nhau tùy thuộc vào từng công cụ cụ thể nhưng nhìn chung các thông số loại này rất quan trọng. Chúng cho biết mức độ tương tác và gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp thông qua các công cụ truyền thông xã hội doanh nghiệp đang sử dụng. Đặc biệt, khi đo lường một số thông số loại này, doanh nghiệp phải chú ý đến không chỉ mặt “định lượng” mà cả mặt “định tính” của thông số đó. Ví dụ, chỉ đo lường lượng người tham gia nhận xét, thảo luận các thông tin doanh nghiệp cung cấp trên mạng xã hội là chưa đủ, doanh nghiệp còn phải phân tích xem bao nhiêu phần trăm trong số các nhận xét đo là tích cực, bao nhiêu phần trăm là tiêu cực.

  • Thông số đo lường về mức độ đề xướng (Recommandation)

Các thông số chủ yếu thuộc loại này là lượng người cập nhật lại thông tin (retweet) trên Twitter, lượng người chia sẻ (share) các thông tin hay các đường link doanh nghiệp cung cấp thông qua các mạng quản lý và chia sẻ đường link (bookmark).

  • Thông số đo lường về khả năng liên kết (Connection)

Có thể kể tên một số thông số loại này như lượng người hâm mộ (fan) trên các trang Fan Page của Facebook, lượng người theo sau (follower) trên Twitter, lượng người kết nối (connection) trên LinkedIn,…

  • Một số thông số khác Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.
  • Tương quan truyền thông (Share of Voice) : giúp so sánh tất cả các bài báo, bài viết, tin nhắn, hình ảnh, video,… nói về doanh nghiệp trên các trang web truyền thông xã hội  với các đối thủ cạnh trạnh.
  • Tương quan hội thoại (Share of Conversation) : giúp so sánh tất cả các bài báo, bài viết, tin nhắn, hình ảnh, video,… nói về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp với tổng số các trên bài báo, bài viết, tin nhắn, hình ảnh, video khác cũng nói về sản phẩm, dịch cụ loại đó trên các trang web truyền thông xã hội.

Có thể hình dung về tương quan hội thoại thông qua ví dụ về thương hiệu kem dưỡng da X dành cho da khô như sau:

Tương quan hội thoại của thương hiệu X = Tổng số các bài báo, bài viết, tin nhắn, hình ảnh, video,… nói về thương hiệu kem dưỡng da X / Tổng số các bài báo, bài viết, tin nhắn, hình ảnh, video,… nói về tất cả các sản phẩm kem dưỡng da dành cho da khô.

Thứ hai là các thông số kinh tế thông thường (business metrics) như lợi nhuận, doanh thu bán hàng, số lượng giao dịch,…và quan trọng nhất là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ROI.

Việc đo lường 2 loại thông số này đều khả thi tuy nhiên đó mới là bước đầu trong việc đo lường hiệu quả của marketing truyền thông xã hội. Bước tiếp theo mà mỗi doanh nghiệp cần thực hiện là tìm ra sự liên hệ giữa hai loại thông số này, có như vậy mới khẳng định được chính xác là hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp mình có hiệu quả hay không. Ví dụ, nếu trang Fan Page của doanh nghiệp có hàng triệu người hâm mộ mà lợi nhuận sau 6 tháng, 1 năm vẫn không tăng thì việc đặt câu hỏi cho tính hiệu quả các chiến dịch marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp đó là cần thiết.

Để giải quyết vấn đề này doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến hành đo lường kĩ các thông số kinh tế ở các mốc cụ thể : trước và sau một thời gian sử dụng marketing truyền thông xã hội và quan sát sự thay đổi của các thông số kinh tế này qua các mốc cụ thể đó. Từ những thay đổi ghi nhận được, doanh nghiệp tiến hành phân tích mối liên hệ giữa 2 loại thông số. Một lưu ý khi sử dụng phương pháp này là doanh nghiệp phải xác định trước rằng marketing truyền thông xã hội cần có thời gian để phát huy hiệu quả. Số lượng người xem, thời gian khách lưu lại trên trang web có thể thay đổi từng ngày song lợi nhuận của doanh nghiệp thì cần có thời gian để quan sát được rõ rệt xu hướng tăng hay giảm.

Đặc biệt, hiện có rất nhiều công cụ đắc lực hỗ trợ việc đo lường các thông số truyền thông. Đó là các trang web chuyên nghiệp dành cho việc đo lường hiệu quả khi sử dụng marketing truyền thông xã hội (có thể phải trả phí hoặc được sử dụng miễn phí) hoặc là các dịch vụ đo lường thông số bổ sung do các mạng xã hội lớn cung cấp cho khách hàng của mình. Biện pháp này đã được rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài sử dụng và hoàn toàn có thể áp dụng tại Việt Nam.

Một lưu ý nhỏ là tại Việt Nam nếu doanh nghiệp lựa chọn công cụ là các mạng xã hội hay mạng chia sẻ “thuần Việt” thì việc đo lường các thông số truyền thông có khó khăn hơn do các mạng này đều chưa cung cấp được các dịch vụ đo lường thông số bổ sung như Facebook hay Twitter. Giải pháp đối với các doanh nghiệp Việt Nam là ưu tiên sử dụng những trang web độc lập và phổ biến khác như www.google./alerts; www.google/analytics; www.socialmeter. http://bit.ly để thực hiện việc đo lường của mình.

Bên cạnh đó, trước khi tiến hành đo lường hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam cần xác định rõ mục đích cụ thể của chiến dịch marketing truyền thông xã hội mà mình đang thực hiện. Các mục đích này có thể là tăng doanh số bán hàng, nâng cao nhận thức thương hiệu,… Với mỗi mục đích khác nhau sẽ có những tập trung khác nhau vào một số thông số nhất định. Ví dụ nếu mục đích của doanh nghiệp là nâng cao nhận thức thương hiệu thì việc đo lường những thông số truyền thông về mức độ gắn bó hay đề xướng của khách hàng là quan trọng hơn cả. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Dưới đây là bảng giới thiệu một số trang web chuyên nghiệp đo lường hiệu quả của marketing truyền thông xã hội.

Một số trang web  chuyên đo lường hiệu quả của  marketing truyền thông xã hội

2.1.6. Chuẩn bị các biện pháp phòng tránh và xử lý khủng hoảng trong marketing truyền thông xã hội

Thông tin trong truyền thông xã hội rất khó kiểm soát và có khả năng lây lan rất nhanh trong môi trường mạng, kể cả các thông tin tích cực cũng như tiêu cực. Chính vì lẽ đó, khủng hoảng là điều mà mọi doanh nghiệp sử dụng marketing truyền thông xã hội phải luôn sẵn sàng đối mặt.

Ví dụ, ở Việt Nam, chiến dịch “Giải cứu Mai Phương Thuý” trên Facebook của Nokia được coi là một thất bại về marketing truyền thông xã hội. Nhóm (group) mà Nokia lập ra trên Facebook cho chiến dịch này chỉ thu hút được hơn 1000 người tham gia đồng thời xuất hiện một lượng không nhỏ những bình luận tiêu cực từ phía khách hàng. Dưới đây là hình ảnh một phần giao diện của nhóm này trên Facebook với những nhận xét tiêu cực nêu trên.

Hình 10: Những phản ứng tiêu cực từ phía khách hàng trên Facebook dành cho chiến dịch “Giải cứu Mai Phương Thuý” của Nokia

Như vậy, khủng hoảng trong marketing truyền thông xã hội một khi đã xảy ra có khả năng gây những tổn hại to lớn đến danh tiếng của doanh nghiệp do tính lây lan nhanh chóng của nó trong cộng đồng mạng.

Trước vấn đề này, các doanh nghiệp Việt Nam cần tỉnh táo áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng và tránh khủng hoảng trong marketing truyền thông xã hội. Cụ thể như sau :

  • Vạch rõ các biện pháp phòng tránh cũng như khắc phục khủng hoảng ngay từ khi lập ra chiến lược marketing truyền thông xã hội của mình.
  • Xây dựng một bộ phận chuyên trách nắm bắt tình hình các tin xấu hay những phản hồi tiêu cực của khách hàng đối với doanh nghiệp trên các trang web truyền thông xã hội.
  • Sử dụng các dịch vụ quản lý thông tin trên mạng.

Những dịch vụ loại này cho phép doanh nghiệp có thể tìm kiếm các thông tin về mình được đăng tải trên các trang web khác nhau trong đó điển hình là mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog, diễn đàn và mạng đánh dấu và lưu trữ đường link.  Thông thường dịch vụ quản lý thông tin loại này do các công ty chuyên nghiệp cung cấp. Doanh nghiệp muốn sử dụng phải trả một khoản phí nhất định. Bên cạnh đó cũng có một số dịch vụ miễn phí. Có thể kể ra những tên tuổi quen thuộc như :

Trackur : Công cụ này cho phép doanh nghiệp nhập một hay nhiều từ khóa liên quan đến sản phẩm, dịch vụ của mình, từ đó Trackur sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm, sàng lọc theo ý muốn các thông tin chứa từ khóa đó trên mạng Internet. Các trang web chính mà trên đó Trackur tiến hành tìm kiếm là blog, mạng xã hội. Để sử dụng Trackur, doanh nghiệp phải đóng phí sử dụng hàng tháng. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Google Alert : Khác với Trackur, Google Alert là một công cụ miễn phí được cung cấp bởi Google. Công cụ này cũng cho phép doanh nghiệp tìm kiếm từ khoá liên quan đến mình. Các kết quả tìm kiếm có thể được gửi thường xuyên cho doanh nghiệp ngay khi có thông tin mới hay gửi định kì theo ngày, theo tuần. – Technorati : Công cụ quản lý thông tin online này lại cho phép doanh nghiệp “theo dấu” các thông tin liên quan đến mình được đăng tải trên các blog.

Ngoài 3 ví dụ kể trên còn có rất nhiều các công cụ tương tự như Rapleaf, Keotag, MonitorThis, Naymz,… Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu muốn sử dụng các công cụ này thì cần nghiên cứu kĩ càng ưu và nhược điểm của mỗi loại. Nếu kinh phí không nhiều thì việc lựa chọn các công cụ miễn phí như Google Alert hay Technorati được coi là một giải pháp hợp lý. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có đủ khả năng có thể chọn các công cụ khác như Trackur. Hiện tại gói cước tối thiểu cho việc sử dụng công cụ quản lý thông tin online Trackur là 88USD/1 tháng đối với đối tượng doanh nghiệp, tức là khoảng hơn 1,700,000 VNĐ – một con số có thể chấp nhận được với nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Trong trường hợp khủng hoảng xảy ra, doanh nghiệp cần bĩnh tĩnh giải quyết và không bao giờ được né tránh vấn đề. Né tránh vấn đề có thể nói là hành vi tối kị trong việc giải quyết khủng hoảng. Doanh nghiệp càng im lặng thì người tiêu dùng càng có bằng chứng tin rằng những thông tin tiêu cực về doanh nghiệp mà họ biết là có cơ sở.

Gần đây, Nestlé là một ví dụ thất bại điển hình trong việc giải quyết khủng hoảng truyền thông xã hội. Vụ việc bắt đầu từ khoảng cuối tháng 3 năm 2024 khi tổ chức Hòa Bình Xanh “Green Peace” lên tiếng chỉ trích Nestlé khi hãng này vẫn tiếp tục thu mua dầu cọ (nguyên liệu sản xuất loại kẹo Kit Kat của hãng) từ Sinar Mas – một công ty Indonesia đã bị cáo buộc về tội chặt phá rừng bất hợp pháp. Vụ việc đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhiều người thông qua các trang web truyền thông xã hội với các đoạn băng video, hình ảnh, khẩu ngữ chống đối Nestlé xuất hiện khắp nơi nơi từ Facebook cho đến Twitter. Tuy nhiên trong suốt một khoảng thời gian khá dài, thay vì lên tiếng trấn an dư luận thì Nestlé lại chọn cách giữ im lặng. Kết quả là vấn đề không những không được giải quyết mà Nestlé lại phải tiếp tục hứng chịu thêm nhiều lời chỉ trích của khách hàng hơn nữa. Hình ảnh logo của loại kẹo này với cái tên “Kit Kat” đã bị đổi thành “Killer” tức “Kẻ sát nhân”, ám chỉ việc Nestlé gián tiếp phá hoại môi trường sống của nhiều loại động vật quý hiếm tại Indonesia hiện nay. Trong suốt thời gian khủng hoảng xảy ra, logo “cải biên” với dòng chữ “Killer” này đã xuất hiện trên vô số các cộng đồng mạng trực tuyến, đặt Nestlé vào một tình huống vô cùng khó khăn. Hình 11 trang bên là so sánh tương quan 2 logo : logo chính thức và logo chống đối Nestlé.

Hình 11 : Logo chính thức của sản phẩm kẹo Kit Kat và logo chống đối  sản phẩm xuất hiện trên các trang web truyền thông xã hội.

Ngoài ra, một khi khủng hoảng xảy ra, bộ phận marketing truyền thông xã hội phải làm việc với bộ phận PR để cùng nhau giải quyết hậu quả. Sự phối hợp đồng bộ giữa 2 bộ phận này sẽ giúp khủng hoảng được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn.

2.1.7. Nắm vững kiến thức pháp luật có liên quan đến hoạt động marketing truyền thông xã hội Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Một nền tảng kiến thức pháp luật vững chắc sẽ có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp rất nhiều trong việc tiến hành hoạt động marketing truyền thông xã hội nói chung và trong việc giải quyết khủng hoảng nói riêng.

Bản thân doanh nghiệp khi đăng tải các thông tin lên các trang web truyền thông xã hội nhằm tiếp cận khách hàng phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về việc làm này. Cụ thể, khoản 1 điều 19 Nghị đinh 97/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/08/2022 về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet đã quy định rõ: “Việc thiết lập trang thông tin điện tử, việc cung cấp, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin điện tử trên Internet phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí, pháp luật về xuất bản, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về bản quyền, pháp luật về quảng cáo và các quy định quản lý thông tin điện tử trên Internet. ” Như vậy, nhằm đảm bảo việc cung cấp và sử dụng thông tin trên mạng Internet trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp được thực hiện đúng pháp luật thì doanh nghiệp phải nắm rõ được Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Công nghệ thông tin, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Báo chí,…. sau đó là các văn bản dưới luật như Thông tư, Nghị định và văn bản pháp luật khác điều chỉnh việc sử dụng mạng Internet cũng như hoạt động truyền thông và quảng cáo. Có thể kể tên một số văn bản dưới Luật đó như Nghị định số 97/2022/NĐ-CP ngày 28/08/2022 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet; Thông tư số 05/2022/TT-BTTTT ngày 12/11/2022 của Bộ TT&TT về hướng dẫn một số điều của Nghị định số 97/2022/NĐ-CP ngày 28/08/2022 của Chính phủ; Nghị định số 28/2023/NĐ-CP ngày 20/03/2023 của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

Nhìn chung, những kiến thức về pháp luật này sẽ cực kì hữu ích đối với doanh nghiệp nếu không may khủng hoảng xảy ra. Với những kiến thức này, doanh nghiệp có thể tự bảo vệ và biện hộ cho mình trong những trường hợp là nạn nhân của các tin đồn thất thiệt – hiện tượng đang ngày càng phổ biến hiện nay trên các trang web truyền thông xã hội.

2.1.8. Xây dựng nguồn nhân lực cho hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp

Nhìn chung hiện nay trên cả thế giới lẫn Việt Nam nếu một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động marketing truyền thông xã hội thì có 2 lựa chọn trong tay. Thứ nhất là tự doanh nghiệp thực hiện và thứ hai là đi thuê các agency chuyên nghiệp về lập và thực hiện kế hoạch cho mình. Nếu như doanh nghiệp tạm thời chưa có đủ nguồn nhân lực thì lựa chọn thứ hai tỏ ra là một lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, hoạt động marketing truyền thông xã hội lại tốn nhiều công sức thực hiện cũng như việc thu nhận được kết quả rõ rệt đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Do vậy doanh nghiệp không thể hết năm này đến năm khác đi thuê agency cho mình được.   Do đó, một yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là tiến hành xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình. Nếu như hiểu mục đích của marekting truyền thông xã hội là xây dựng, phát triển và duy trì đối thoại với khách hàng, tăng thêm lòng trung thành của đối tượng này đối với sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh thì rõ ràng việc sử dụng chính nguồn nhân lực trong nội bộ công ty có nhiều lợi thế to lớn do họ đã có sẵn kiến thức về doanh nghiệp mình, về đối tượng khách hàng mà mình phục vụ. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Nói đến nguồn nhân lực cho hoạt động marketing truyền thông xã hội ở đây cũng phải nhắc đến hai khía cạnh. Thứ nhất là đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp. Đó là những chuyên gia marketing của doanh nghiệp trực tiếp tham gia lập và triển khai các chiến dịch marketing truyền thông xã hội. Thứ hai là toàn thể đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp nói chung. Đây chính là một trong những khác biệt của marketing truyền thông xã hội với các loại hình marketing khác.  Nếu như những hình thức marketing truyền thống như email marketing, đặt quảng cáo trên tivi, đài phát thanh,… chỉ do những nhân viên phòng marketing đảm nhiệm thì ngày nay, bất kì nhân viên nào, không quan trọng phòng ban cũng có thể lập blog, có thể có tài khoản trên các diễn đàn hay mạng xã hội do đó họ có thể đóng góp rất nhiều vào hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp mình trên cộng đồng mạng mà họ tham gia. Hãng máy tính IBM là một trong những ví dụ thành công điển hình trong việc kêu gọi nhân viên của mình tham gia vào việc sử dụng truyền thông xã hội để tương tác với nhau trong nội bộ và với khách hàng. Hiện nay, IBM có đến  hơn 100 blog do chính các nhân viên của hãng (gọi là các IBMer) lập nên.

Trên các blog này, việc những IBMer kể về mọi khía cạnh trong cuộc sống, bao gồm cả công việc của họ tại IBM đã góp phần đem lại một góc nhìn mới hơn, chân thực hơn từ phía khách hàng dành cho một thương hiệu.

Bên cạnh đó, tại Việt Nam, mặt bằng kinh nghiệm cũng như hiểu biết nói chung về marketing truyền thông xã hội của cả các chuyên gia marketing hay các nhân viên bình thường đều không được cao như nhiều nước khác. Chính vì thế các doanh nghiệp cần chủ động trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên của mình những kiến thức cần có cũng như xây dựng một nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và xu thế phát triển mạnh mẽ của hoạt động marketing truyền thông xã hội trong tương lai.

Ngoài ra, nếu doanh nghiệp Việt Nam có dự định tận dụng mọi nguồn nhân lực của mình, không chỉ nhân sự từ phòng marketing tham gia hỗ trợ hoạt động marketing truyền thông xã hội thì yêu cầu đặt ra là doanh nghiệp phải có được những biện pháp cụ thể đảm bảo động viên, khuyến khích được nhân viên. Ví dụ, doanh nghiệp có thể có hình thức khen thưởng định kì hàng tháng cho những nhân viên có đóng góp tích cực trên mạng xã hội, diễn đàn hay blog của doanh nghiệp. Đặc biệt, việc thành lập các chính sách quy định chặt chẽ về việc sử dụng truyền thông xã hội của nhân viên cũng hết sức quan trọng. Các nhân viên của hãng máy tính IBM trong ví dụ kể trên khi lập blog dưới danh nghĩa là một IBMer đều phải nắm rõ chính sách của hãng về việc lập và quản lý blog. Một trong số các quy định nghiêm ngặt của chính sách đó là các nhân viên IBM không được phép tiết lộ bất cứ thông tin nhạy cảm nào về hãng trên blog của mình. Nhìn chung một chính sách truyền thông xã hội rõ ràng từ phía lãnh đạo doanh nghiệp sẽ giúp các nhân viên có định hướng tốt hơn trong việc họ tham gia hỗ trợ hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp mình và phòng tránh được những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra ví dụ như rò rỉ thông tin.

2.2. Giải pháp từ phía Nhà nước Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Bên cạnh một số giải pháp từ phía các doanh nghiệp, để phát triển hoạt động marketing truyền thông xã hội trong tương lai, các giải pháp đưa ra từ phía Nhà nước cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Đây chủ yếu là những giải pháp vĩ mô mang tầm chiến lược được hoạch định cho một khoảng thời gian dài. Cụ thể như sau:

2.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp lý

Hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa tồn tại một bộ Luật cụ thể nào điều chỉnh hoạt động marketing trên mạng Internet nói chung, chưa nói đến hoạt động marketing truyền thông xã hội nói riêng. Trong khi đó, một hệ thống pháp lý đồng bộ và hoàn chỉnh sẽ có tác động tích cực đến các doanh nghiệp trong việc học tập, áp dụng những xu thế mới trên thế giới vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của mình. Hệ thống pháp lý được xây dựng càng chặt chẽ và hoàn thiện thì càng tạo được tâm lý yên tâm cho các doanh nghiệp. Chính vì thế với một hoạt động mới mẻ như truyền thông xã hội và marketing truyền thông xã hội, Nhà nước cần nhanh chóng xây dựng được một hệ thống luật cụ thể điều chỉnh các hoạt động này nhằm tạo một hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.  Cụ thể như sau :

Do bản thân marketing truyền thông xã hội liên quan đến nhiều khái niệm khác nhau và mang nhiều đặc điểm đa dạng nên để có thể xây dựng được những quy định pháp luật chặt chẽ và hợp lý, các nhà lập pháp ở Việt Nam cần nghiên cứu kĩ cũng như đưa ra những quy chuẩn pháp lý phù hợp cho những khái niệm liên quan đó, trong đó quan trọng nhất là khái niệm truyền thông xã hội và các công cụ như mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog và diễn đàn. Hiện tại mới chỉ có Nghị định số 97/2022/NĐ-CP ban hành ngày 28/08/2022 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet có đề cập đến khái niệm “dịch vụ mạng xã hội trực tuyến”. Theo đó, điều 3 khoản 12 của Nghị định đã quy định : “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác.” Việc bổ sung thêm các điều khoản có nội dung về dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là một điểm mới của Nghị định 97 so với Nghị định 55/2015/NĐ-CP ban hành ngày 23/08/2015 cũng về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet. Tuy nhiên, nhìn chung khái niệm trên vẫn chưa thể hiện đúng và toàn diện các khía cạnh liên quan đến dịch vụ mạng xã hội trực tuyến. Việc gộp các dịch vụ tạo blog, diễn đàn và trò chuyện trực tuyến vào khái niệm “dịch vụ mạng xã hội trực tuyến ” như trên là chưa thỏa đáng và hợp lý. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Việc xây dựng một chế tài xử phạt nghiêm minh các hình thức tội phạm trên mạng Internet nói chung và trên các trang web truyền thông xã hội nói riêng cũng rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này. Hiện nay, chế tài cho các loại tội phạm này còn được quy định sơ sài và chưa cụ thể. Ví dụ :

Điều 6 khoản 5 mục b Nghị định 63/2021/NĐ-CP về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin do Chính Phủ ban hành ngày 10/04/2021 quy định phạt tiền từ 10,000,000 đồng đến 20,000,000 đồng đối với hành vi “cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.”

Điều 19 Nghị định 28/2023/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet do Chính phủ ban hành ngày 20/03/2023 quy định mức phạt tối đa về việc cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là 50,000,000 đồng đến 70,000,000 đồng đối với hành vi “không thực hiện việc ngăn chặn và loại bỏ các nội dung thông tin vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.”

Thực tế này đặt ra yêu cầu Nhà nước cần bắt tay ngay vào việc xây dựng một chế tài xử phạt hợp lý, đảm bảo tính răn đe cần thiết trong hoạt động marketing truyền thông xã hội.

Ngoài ra, khi xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan, Nhà nước phải đảm bảo được các quy định này đã nhắm đến đầy đủ các đối tượng liên quan trong hoạt động marketing truyền thông xã hội, bao gồm : (a) doanh nghiệp cung cấp các công cụ truyền thông xã hội cho đối tượng khác sử dụng (chính là các nhà cung cấp những dịch vụ như mạng xã hội, mạng chia sẻ, mạng đánh dấu và lưu trữ đường link,..), (b) doanh nghiệp sử dụng trực tiếp các công cụ truyền thông xã hội trong hoạt động marketing của mình (c) các đối tượng cá nhân, tổ chức khác cũng tham gia sử dụng các công cụ truyền thông xã hội được cung cấp.

Cuối cùng, Nhà nước cần lưu tâm đến sự thống nhất giữa tất cả các văn bản pháp luật có liên quan đến truyền thông xã hội nói chung và marketing truyền thông xã hội nói riêng như các văn bản pháp luật về vấn đề truyền thông, báo chí, quảng cáo, khai thác và sử dụng mạng Internet,… nhằm đảm bảo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.

2.2.2. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Như đa số các nước đang phát triển khác, hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin của Việt Nam hiện nay còn chưa được hoàn thiện, chất lượng chưa cao. Một tỷ lệ không nhỏ các công trình hay hệ thống công nghệ thông tin phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay đời sống xã hội ở nước ta còn lạc hậu nhiều so với thế giới. Đối với một doanh nghiệp, điều này đã gây ra không ít khó khăn cho nhiều hoạt động, trong đó có việc sử dụng marketing truyền thông xã hội. Loại hình marketing này sẽ không thể phát huy hiệu quả được nếu thiếu vắng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Nói một cách khác, trong bối cảnh hiện nay khi mà marketing truyền thông xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới thì việc Nhà nước đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng  có ý nghĩa to lớn với các doanh nghiệp Việt Nam, giúp các doanh nghiệp bắt nhịp được với những xu thế mới trên thế giới và có được những thuận lợi mang tính chất nền tảng trong việc bước đầu áp dụng loại hình marketing này. Cụ thể hơn, việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin có thể tác động tích cực đến sự phát triển của marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam theo hai hướng.

Thứ nhất là những tác động trực tiếp đến doanh nghiệp. Tác động này có thể dễ dàng nhận thấy bởi một hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin đồng bộ và hiện đại sẽ có khả năng đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội được tiếp cận và sử dụng những công cụ truyền thông xã hội mới nhất trong hoạt động marketing của mình.

Thứ hai là những tác động gián tiếp đến doanh nghiệp thông qua khách hàng. Tác động này diễn ra cụ thể như sau : việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin của Nhà nước đã giúp người dân có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với các ứng dụng công nghệ thông tin, cụ thể ở đây là các công cụ truyền thông xã hội. Một bộ phận trong số những người dân này lại đóng vai trò là khách hàng tiềm năng của các doanh nghiệp. Thực tế này đem lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội hơn trong việc sử dụng marketing truyền thông xã hội do bản thân đối tượng khách hàng tiềm năng của họ lúc này cũng có mặt nhiều hơn trên các mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog, diễn đàn,…

Bên cạnh đó, do trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của nước ta còn kém nhiều so với thế giới nên một mặt Nhà nước cần tiến hành đầu tư nâng cấp những yếu tố nền tảng như hệ thống máy tính, đường truyền Internet,…một mặt cần không ngừng học hỏi kinh nghiệm, nhạy bén trong việc áp dụng công nghệ mới từ các nước bạn, đặc biệt là các nước phát triển để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách công nghệ, tránh tình trạng tốc độ phát triển qua các năm vẫn tăng đều trong khi thực tế so với thế giới Việt Nam lại vẫn bị tụt hậu. Việc công nghệ 3G xuất hiện tại Việt Nam với cột mốc quan trọng khi Vinaphone chính thức trở thành nhà cung cấp dịch vụ này đầu tiên vào ngày 12/10/2023 vừa qua là một tín hiệu đáng mừng cho những nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình bắt nhịp cùng đà phát triển công nghệ thông tin mạnh mẽ trên toàn thế giới hiện nay . Công nghệ 3G là công nghệ di độ ng băng rộng đa phương tiện, cho phép cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích với tốc độ cao, chất lượng tốt, trong đó nổi bật là dịch vụ điện thoại truyền hình và Internet di động được đánh giá là có nhiều triển vọng phát triển tại thị trường Việt Nam. Riêng đối với các hoạt động marketing truyền thông xã hội, công nghệ 3G sẽ đóng vai trò là một trợ thủ đắc lực có khả năng hỗ trợ cao cho hoạt động này xét ở khía cạnh công nghệ thông tin. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin ở Việt Nam cũng cần được thực hiện sao cho đồng đều giữa các vùng miền, khu vực. Nhà nước có thể tiến hành ưu tiên đầu tư nhiều hơn vào những khu vực mà trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế bao gồm nông thôn, miền núi, hải đảo, ví dụ như  khu vực miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên,….

Ngoài ra, cần tránh tình trạng đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin một cách tràn lan gây lãng phí của công. Hiện nay đã có nhiều trường hợp các thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa được đầu tư mua sắm, nâng cấp hệ thống máy tính, công nghệ thông tin song do quá trình đầu tư thiếu tính quy hoạch, tổ chức mà hiệu quả đạt được vẫn không cao. Nói một cách khác, việc đầu tư một lượng vốn lớn cho cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin rõ ràng là quan trọng nhưng quan trọng hơn thế là phải đầu tư làm sao để nguồn vốn đó phát huy được hiệu quả ở cả mặt “chất” và mặt “lượng”.

Tóm lại, để có thể hoàn thiện cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin ở Việt Nam nhằm phát triển kinh tế – xã hội nói chung cũng như hỗ trợ cho nhiều hoạt động kinh doanh cụ thể khác trong đó có hoạt động marketing truyền thông xã hội nói riêng, Nhà nước cần có sự đầu tư lớn với những định hướng rõ ràng. Hiện nay, định hướng phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam được thể hiện ở “Chiến lược phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt Nam giai đoạn 2025 – 2035” ( gọi tắt là “Chiến lược cất cánh” ). Chiến lược đã thể hiện rõ 3 quan điểm cơ bản :

  • Chuyển mạnh từ phát triển chiều rộng sang chiều sâu; từ số lượng sang chất lượng; tăng cường hiệu quả, năng suất.
  • Tận dụng hiệu quả ngoại lực để tăng cường nội lực. Nội lực phải trở thành nòng cốt và chủ yếu, ngoại lực giữ vai trò quan trọng.
  • Phát huy tính chủ động và sáng tạo trong mọi hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực cạnh tranh toàn ngành.

Với những nội dung định hướng như trên, hy vọng trong thời gian tới hệ thống cơ sở hạ tầng – công nghệ thông tin ở Việt Nam sẽ được nâng cấp trở nên đồng bộ hơn, hiện đại hơn đúng như các kế hoạch, chỉ tiêu đã đề ra.

2.2.3. Tăng cường đảm bảo an ninh thông tin trên mạng Internet

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog, diễn đàn cũng như các trang web truyền thông xã hội khác, tại Việt Nam trong thời gian gần đây bắt đầu xuất hiện những lo ngại về vấn đề xâm phạm tự do cá nhân qua các trang web này. Nhiều trường hợp người sử dụng đã bị đánh cắp thông tin cá nhân hay là nạn nhân của các lời đồn đại vô căn cứ. Thực tế này đã gây tâm lý e ngại cho không ít đối tượng trong đó có các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sự phát triển của marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam hiện nay. Chính vì lẽ đó, Nhà nước cần thiết phải tiến hành các biện pháp tăng cường đảm bảo an ninh thông tin trên mạng Internet. Hiện các cơ quan Nhà nước trực tiếp đảm nhận trách nhiệm này là Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam VNCERT, Trung tâm Internet Việt Nam VNNIC cùng các đơn vị, các sở trực thuộc Bộ Bưu chính Viễn thông. Cụ thể, nhiệm vụ của từng cơ quan cụ thể này là như sau :

Trung tâm VNCERT nhanh chóng triển khai hệ thống thu thập thông tin và tư vấn qua mạng Internet; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ an toàn thông tin đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp; tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm đảm bảo an ninh thông tin trong các hoạt động viễn thông và Internet.

Trung tâm VNNIC có trách nhiệm tăng cường quản lý tên miền quốc gia “.vn”, địa chỉ IP theo quy định; tăng cường bảo đảm an toàn an ninh cho hệ thống máy chủ tên miền quốc gia; phối hợp với các đơn vị chức năng cung cấp các thông tin về tên miền địa chỉ theo yêu cầu Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Các đơn vị trực thuộc Bộ Bộ Bưu chính Viễn thông theo chức năng và nhiệm vụ có trách nhiệm cử cán bộ có năng lực phối hợp với VNCERT trong việc đấu tranh phòng chống tấn công trên mạng; tiến hành huấn luyện nghiệp vụ, đào tạo cập nhật về an ninh thông tin cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhu cầu.

Các Sở Bưu chính Viễn thông tăng cường công tác quản lý nhà nước về đảm bảo an ninh thông tin trong hoạt động Internet theo thẩm quyền được giao; hướng dẫn các doanh nghiệp viễn thông và internet, các đại lý internet trên địa bàn thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về Bưu chính Viễn thông và internet; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời, kiên quyết các vi phạm về an ninh thông tin; kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực cán bộ đáp ứng yêu cầu thực hiện

2.2.4. Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực luôn là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định đến quá trình phát triển của một đất nước. Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn chưa cao. Thực tế này đã gây ra không ít khó khăn cho việc nắm bắt và ứng dụng các thành tựu, xu thế mới trên thế giới vào thực tiến hoạt động sản xuất – kinh doanh ở nước ta. Marketing truyền thông xã hội cũng không phải là một ngoại lệ. Để sử dụng thành công loại hình marketing này, đòi hỏi đội ngũ nhân lực tham gia phải có một kiến thức vững chắc, trước tiên là về marketing nói chung, sau đó mới đến marketing truyền thông xã hội. Ngoài ra, trình độ về công nghệ thông tin cũng là một trong những yêu cầu cần có của người làm trong lĩnh vực marketing truyền thông xã hội. Trong khi đó, nhiều chuyên gia marketing ở nước ta hiện nay vẫn còn tỏ ra lạ lẫm với khái niệm này hay tồn tại những cách hiểu sai lệch về marketing truyền thông xã hội. Khả năng về công nghệ thông tin của một số không nhỏ trong đội ngũ nhân lực Việt Nam cũng mới chỉ dừng lại ở mức hạn chế.

Trước tình hình đó, Nhà nước, với vai trò quản lý vĩ mô của mình phải có nhiệm vụ phải xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và trong hoạt động marketing truyền thông xã hội nói riêng. Đây sẽ là đội ngũ lao động đi tiên phong trong việc đón nhận cái mới trên thế giới và áp dụng vào thực tiễn Việt Nam.

Tất nhiên cần nhìn nhận rằng marketing truyền thông xã hội cũng chỉ là một nội dung nhỏ trong marketing nên việc xây dựng một chương trình đào tạo về loại hình này để đưa vào giảng dạy tại các trường Đại học là không khả thi và chưa cần thiết. Nhìn chung, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp chủ yếu sau để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam ở tầm vĩ mô: đa dạng hoá các hình thức đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học, cải cách chương trình giáo dục ở các bậc học khác nhau hay thông qua các bộ ban ngành có liên quan, tiến hành tổ chức các buổi hội thảo, lớp chuyên đề cho mọi tầng lớp, đặc biệt là đội ngũ doanh nghiệp, tạo điều kiện cho chính những doanh nghiệp này đào tạo nguồn nhân lực của riêng mình,…

Cũng giống như việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin, việc đầu tư để xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng phải đảm bảo cả mặt chất và mặt lượng, đảm bảo nguồn nhân lực được phát triển ở cả chiều rộng và chiều sâu.

Như vậy, việc xây dựng và nâng cao trình độ của đội ngũ nhân lực ở Việt Nam hiện nay cho có chất lượng và đáp ứng các nhu cầu của thị trưòng là một đòi hỏi cấp bách. Nhà nước với vài trò xây dựng chính sách, vạch ra phương hướng hoạt động có một tác động mạnh mẽ đến việc tạo dựng và phát triển nguồn nhân lực này.

Trong tương lai, xu hướng tin tưởng vào hình thức marketing truyền miệng cũng như xu hướng sử dụng mạng Internet nói chung và các cộng đồng trực tuyến như mạng xã hội, mạng chia sẻ của người dẫn vẫn tiếp tục phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

Bên cạnh đó, hiện nay do doanh nghiệp Việt Nam còn ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này nên để marketing truyền thông xã hội có thể áp dụng thành công tại Việt Nam đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết đưa ra những giải pháp cụ thể cho từng vấn đề và thực hiện nghiêm túc trong thực tế. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần hỗ trợ các doanh nghiệp bằng việc đưa ra và thực hiện các giải pháp mang tính vĩ mô. Chỉ khi có sự kết hợp ăn ý từ phía Nhà nước và từ phía doanh nghiệp thì marketing truyền thông xã hội mới có thể thật sự phát triển tại Việt Nam.

KẾT LUẬN

Ngay từ khi xuất hiện, marketing truyền thông xã hội đã thu hút được rất nhiều sự chú ý, quan tâm của những người am hiểu và làm việc trong lĩnh vực marketing. Thực tế cho thấy nhiều tranh cãi vẫn còn xoay quanh sự nở rộ của loại hình marketing này trong những năm gần đây. Nhiều chuyên gia marketing theo quan điểm cũ cho rằng  marketing truyền thông xã hội chỉ là một xu hướng nhất thời xuất hiện đình đám nhưng cũng có nhiều khả năng lụi tàn sớm cùng với các mạng xã hội hay mạng chia sẻ thịnh hành hiện nay, vốn là công cụ chủ yếu của loại hình marketing này. Đồng thời các chuyên gia này còn cho rằng marketing truyền thông xã hội thực chất cũng không hề rẻ như nhiều người lầm tưởng, do công sức bỏ ra để thường xuyên cập nhật thông tin, chăm sóc khách hàng trên các mạng xã hội là rất lớn. Mặc dù vậy, những người lạc quan thì lại tin tưởng rằng marketing truyền thông xã hội thực sự đã mở ra một chương mới cho tương lai của marketing, là một xu thế không một doanh nghịêp nào có thể đứng ngoài. Tranh cãi này chắc chắn vẫn còn tiếp tục trong thời gian tới và chỉ có thực tế mới là câu trả lời chính xác nhất. Điều quan trọng là hiện nay, vẫn đang có ngày càng nhiều doanh nghiệp tìm đến với marketing truyền thông xã hội. Nhìn chung, để có thể thành công với loại hình marketing mới mẻ này, các doanh nghịêp cần chú ý các vấn đề sau :

Thứ nhất, cần hiểu rõ bản chất của marketing truyền thông xã hội trước khi tiến hành bắt đầu. Đó chính là tạo dựng được các cuộc đối thoại với khách hàng để qua đó xây dựng một mối quan hệ khách hàng bền vững. Công cụ để thực hiện điều này là các mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog, diễn đàn,…Việc sử dụng đơn thuần những công cụ này sẽ không hiệu quả nếu qua đó doanh nghiệp không tích cực lắng nghe hay tương tác với khách hàng của mình. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

 Thứ hai, các doanh nghiệp cần ý thức được cả ưu nhược điểm của việc sử dụng truyền thông xã hội trong marketing, cũng như xác định được rằng truyền thông xã hội có thể trao cho khách hàng một quyền lực rất lớn đối với các thông tin doanh nghiệp đưa ra. Chỉ khi nào doanh nghiệp hiểu rõ vấn đề này, chấp nhận những rủi ro, khủng hoảng có khả năng xảy ra và sẵn sàng tham gia vào sân chơi truyền thông xã hội thì khi đó những nỗ lực của doanh nghiệp trong hoạt động này mới đem lại kết quả.

Thứ ba, để đạt được thành công trong marketing truyền thông xã hội, còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tính kiên nhẫn và sự sáng tạo. Hoạt động marketing truyền thông xã hội là một quá trình cần sự đầu tư công sức và thời gian rất lớn từ phía doanh nghiệp. Lợi ích thu được không thể mong đợi trông thấy rõ ràng trong một sớm một chiều nên các doanh nghiệp phải biết kiên nhẫn, tránh quan điểm nóng vội. Đồng thời, sự sáng tạo cũng là một trong những nhân tố đem lại thành công trong hoạt động marketing truyền thông xã hội. Sự sáng tạo ở đây nằm trong cách doanh nghiệp sử dụng các công cụ cũng như đưa ra các chiến dịch marketing truyền thông xã hội mới mẻ và độc đáo nhằm tiếp cận khách hàng, giành lấy lợi thế cạnh tranh so với đối thủ và đạt được các mục tiêu đề ra.

Thứ tư, dù có nhiều ưu điểm song marketing truyền thông xã hội không thể thay thế được tất cả các loại hình marketing khác. Trên thực tế, hoạt động marketing của doanh nghiệp đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn và hỗ trợ lẫn nhau giữa nhiều loại hình marketing cùng một lúc. Các doanh nghiệp cần tránh việc phụ thuộc hoàn toàn vào marketing truyền thông xã hội, chỉ nên coi đây là một phần trong những nỗ lực marketing mang tính tồng thể và dài hạn của doanh nghiệp mình.

Philip Kotler đã từng nhấn mạnh rất nhiều lần trong cuốn sách kinh điển “The principles of marketing“ của mình rằng điều quan trọng không phải là thu được lợi ích ngắn hạn trong những giao dịch đơn lẻ với khách hàng mà là xây dựng được một mối quan hệ dài hạn với khách hàng, để họ trở nên gắn bó và trung thành với thương hiệu sản phẩm. Marketing truyền thông xã hội ra đời trong một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của những ứng dụng hiện đại trong đó có sự xuất hiện công nghệ web 2.0 đã đem lại cơ hội lớn cho các chuyên gia marketing thực hiện điều này, được thử sức mình trong công cuộc chinh phục trái tim khách hàng. Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Hoạt động phát triển marketing truyền thông xã hội

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993