Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới và tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
1. Cơ sở hình thành và phát triển của marketing truyền thông xã hội
1.1. Vấn đề phát triển của khoa học công nghệ
Như đã đề cập đến ở trên, nền tảng khoa học công nghệ đóng một vai trò thiết yếu trong marketing truyền thông xã hội. Sẽ không sai khi nói rằng sự ra đời và phát triển của loại hình marketing này bắt nguồn từ các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, cụ thể là sự xuất hiện của công nghệ web 2.0 và các công cụ hiện đại có kết nối Internet không dây như điện thoại thông minh, thiết bị kĩ thuật số hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant – PDA),…
Công nghệ web 2.0 là gì và việc công nghệ này ra đời có ảnh hưởng như thế nào đến marketing truyền thông xã hội đã được trình này rõ ở phần 1.2.1 của chương I. Do mối liên hệ mật thiết giữa hai yếu tố này mà marketing truyền thông xã hội đôi khi còn được gọi là “marketing 2.0” và các chuyên gia marketing thời nay được coi là “marketer 2.0”.
Bên cạnh đó, cùng với sự ra đời của công nghệ web 2.0, lại có rất nhiều công cụ hiện đại khác xuất hiện cho phép người sử dụng có thể mang theo và truy cập Internet không dây thông qua công nghệ Wifi. Thói quen sử dụng Internet của con người vì thế cũng thay đổi theo. Giờ đây, việc sử dụng một chiếc máy tính PC để bàn với các dây cáp nối mạng cồng kềnh để truy cập Internet đã không còn phổ biến như xưa. Người ta chỉ cần có một chiếc iPhone, Blackberry hay Android là đã có thể lướt mạng một cách dễ dàng . Việc truy cập vào các mạng xã hội, mạng chia sẻ – những công cụ chính của marketing truyền thông xã hội từ các loại điện thoại thông minh cũng như các thiết bị hiện đại có chức năng tương tự khác cũng vì thế mà ngày càng phổ biến hơn. Tháng 11 năm 2023 vừa qua, công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu thế giới IDC (International Data Corporation) đã tiến hành một nghiên cứu về tình hình sử dụng mạng xã hội tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mang tên “Examining Usage, Perceptions, and Monetization: The Coming of Age for Social Network Sites in Asia/Pacific”. Nghiên cứu được tiến hành trên 1400 người sử dụng mạng xã hội tuổi từ 15 đến 35 tại Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippine, Singapore và Thái Lan. Theo nghiên cứu này, 50% số người được phỏng vấn tại Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Thái Lan có thói quen hàng tuần là truy cập vào các mạng xã hội thông qua điện thoại của mình. Con số này thậm chí còn cao hơn nếu tính riêng tại Trung Quốc (62%) và Thái Lan (65%) Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Như vậy, công nghệ web 2.0 cùng với việc các thiết bị kĩ thuật có khả năng kết nối Internet không dây như điện thoại thông minh, thiết bị kĩ thuật số hỗ trợ cá nhân PDA,… đang ngày càng hiện hữu nhiều hơn trong cuộc sống hiện đại. Trước hiện tượng này, marketing truyền thông xã hội được coi là một lựa chọn hợp lý cho các chiến dịch marketing thời kì web 2.0, giúp cho các chuyên gia marketing tiếp cận dễ dàng hơn các khách hàng tiềm năng của mình.
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing
1.2. Vấn đề nhận thức người tiêu dùng
1.2.1. Sự tin tưởng của người tiêu dùng vào hình thức marketing truyền miệng
Các nghiên cứu từ trước đến nay vẫn chỉ ra rằng người tiêu dùng khi đưa ra các quyết định mua sắm luôn có xu hướng bị ảnh hưởng từ lời khuyên của người thân và bạn bè nhiều hơn là quảng cáo. Chính vì thế marketing truyền miệng luôn được đánh giá là có hiệu quả to lớn nếu biết thực hiện đúng cách. Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, khái niệm “truyền miệng” ngày nay không chỉ bó hẹp ở việc giao tiếp bằng lời nói mà cả việc giao tiếp qua các phương tiện khác trong đó có mạng Internet. Tháng 4/2023 vừa qua, công ty nghiên cứu thị trường Nielsen đã công bố một bảng khảo sát về lòng tin của người sử dụng Internet với các hình thức quảng cáo trên mạng Internet. Theo đó, 90% số người được hỏi tin tưởng vào những lời giới thiệu từ bạn bè thông qua mạng Internet, trong đó 34% hoàn toàn tin tưởng, 56% tin tưởng ở một mức độ nào đó và chỉ có 9% không tin tưởng lắm, 1% còn lại hoàn toàn không tin tưởng
Trong khi đó, marketing truyền thông xã hội với các công cụ chủ yếu như mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog,… cho phép người dùng chia sẻ thông tin, tương tác với nhau nên thường mang lại hiệu quả truyền miệng mạnh mẽ. Đặc điểm về tính đối thoại đa chiều và tính lây lan nhanh trong cộng đồng của marketing truyền thông xã hội được trình bày trong phần 1.2 của chương I đã phần nào thể hiện điều này. Chính vì thế sự tin tưởng của người tiêu dùng vào hình thức marketing truyền miệng là một lợi thế tốt để phát triển marketing truyền thông xã hội.
1.2.2. Nhu cầu kết nối và chia sẻ thông tin trong cộng đồng
Trong xã hội ngày nay, nhu cầu kết nối và chia sẻ thông tin của con người đang ngày càng tăng cao. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu này được thỏa mãn một phần lớn qua mạng Internet, trong đó có các mạng xã hội, mạng chia sẻ đang rất phổ biến ngày nay. Với những công cụ này, con người có thể cập nhật thông tin cá nhân cho người khác biết bất kể thời gian hay kết nối với bạn bè của mình bất kể khoảng cách địa lý. Sự tăng trưởng nhanh chóng của Facebook hay Twitter là những ví dụ minh chứng rõ ràng cho nhận định này. Facebook hiện nay đã có hơn 400 triệu người sử dụng, Twitter cũng không chịu thua kém với con số tăng trưởng ngoạn mục 1,382% trong năm 2023. Bên cạnh đó, các mạng chia sẻ nổi tiếng trên thế giới cũng đang gặt hái được rất nhiều thành công. Hiện nay mỗi ngày có 100 triệu video clip được xem trên Youtube còn tổng số bức ảnh được đăng tải và chia sẻ trên Flickr đã lên tới 3,6 tỉ bức. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Tóm lại, nhu cầu kết nối và chia sẻ thông tin của con người ngày càng tăng cao. Những mạng xã hội hay các cộng đồng trực tuyến khác ngày nay mang tính chất “thật” hơn do các cuộc đối thoại và các mối quan hệ trên những trang web này đa phần cũng bước ra từ cuộc sống thật. Các chuyên gia marketing hơn ai hết phải là người nhận biết và quan sát được hiện tượng này để có thể tận dụng được nó trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của doanh nghiệp mình.
2. Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới
2.1. Đánh giá chung về hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới
Ngày nay, marketing truyền thông xã hội đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp trên thế giới, dù quy mô lớn hay nhỏ thì đa số đều đã nhận thức được tính hiệu quả của loại hình marketing này trong môi trường kinh doanh hiện nay.
Biểu hiện trước tiên là ngân sách dành cho marketing truyền thông xã hội của các doanh nghiệp đang tăng dần lên theo thời gian. Năm 2023 vừa qua, Cục quảng cáo Internet (Internet Advertising Bureau – IAB) đã tiến hành một nghiên cứu về truyền thông xã hội trên đối tượng là 80 chuyên gia marketing đến từ các tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngân sách dành cho truyền thông xã hội có thể tăng 43% trong năm 2024. Đồng thời khoảng 1/3 đối tượng nghiên cứu cho hay sẽ dành khoảng 6 đến 20% ngân sách marketing kĩ thuật số (digital marketing) của doanh nghiệp mình cho marketing truyền thông xã hội, so với con số 14% năm 2023.
Một biểu hiện nữa thể hiện hoạt động marketing truyền thông xã hội đang ngày càng khởi sắc trên thế giới là số lượng các doanh nghiệp tham gia các mạng xã hội, các diễn đàn hay sử dụng các công cụ khác của marketing truyền thông xã hội như website mở Wiki, ứng dụng Widget, chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số Podcast,…. đang tăng lên trông thấy trong thời gian qua. Cũng theo nghiên cứu của IAB được nhắc đến ở trên, 51% đối tượng được hỏi cho biết doanh nghiệp của họ có mặt trên Twitter, 47% sở hữu một tài khoản Facebook.
Trong số các doanh nghiệp sử dụng marketing truyền thông xã hội hiện nay đã có nhiều trường hợp gặt hái được thành công như Starbucks, Ford, Dell,…. Đây chủ yếu đều là những doanh nghiệp quy mô lớn trên thị trường với tiềm lực tài chính mạnh. Tất nhiên cũng không loại trừ nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã mạnh dạn bước vào và thành công trong sân chơi marketing truyền thông xã hội. Ngoài ra, việc sử dụng marketing truyền thông xã hội cũng phổ biến hơn cả ở các nền kinh tế lớn như Mỹ và Châu Âu trong khi tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc sử dụng loại hình marketing này còn chưa được phát triển bằng.
Bên cạnh đó, có một thực tế là khác với những doanh nghiệp đi tiên phong trong việc sử dụng marketing truyền thông xã hội, có không ít các doanh nghiệp hiện vẫn còn e ngại khi làm quen với loại hình marketing này. Những e ngại này chủ yếu vẫn xuất phát từ nhược điểm là tính khó kiểm soát thông tin và đo lường hiệu quả trong marketing truyền thông xã hội, đem lại những hoài nghi về hiệu quả thực sự. Một số doanh nghiệp còn từ chối sử dụng marketing truyền thông xã hội vì cho rằng đây chỉ là một xu hướng nhất thời, không có khả năng đem lại lợi ích lâu dài.
Tóm lại, tuy có những khác biệt nhất định về thực trạng hoạt động giữa các doanh nghiệp và giữa các khu vực kinh tế trên thế giới vẫn có thể khẳng định rằng marketing truyền thông xã hội là sân chơi mới, hứa hẹn nhiều cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp lớn trên thế giới hiện nay.
2.2. Tìm hiểu hoạt động marketing truyền thông xã hội của một số nhãn hàng cụ thể trên thế giới Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
2.2.1. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng cà phê Starbucks
2.2.1.1. Giới thiệu chung về hãng cà phê Starbucks
Hãng cà phê Starbucks là một hệ thống các cửa hàng và quán cà phê có trụ sở đặt tại thành phố Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ. Hiện nay Starbucks đang nắm giữ vị trí số một trong số các chuỗi cửa hàng và quán cà phê trên thế giới với 16,635 quán trên 49 quốc gia, bao gồm 11,068 quán ở Mỹ, gần 1000 ở Canada và hơn 800 tại Nhật Bản.
Các sản phẩm chính của hãng là các loại cà phê đã pha chế sẵn, đồ uống khác, thức ăn nhanh và cả một số vật phẩm như ca, cốc, vại,…
Doanh thu của hãng năm 2023 là 9.77 tỷ USD với thu nhập ròng là 391 triệu USD, tổng tài sản là 5.58 tỷ USD và số nhân viên hiện nay 128,898 nhân viên. Năm 2023 vừa qua, Starbucks đứng ở vị trí 90 trong số 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới theo bảng đánh giá của hãng Interbrand.
2.2.1.2. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng cà phê Starbucks
a) Quan điểm chung của hãng Starbucks về việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing của hãng
Starbucks hiện nay được coi là một trong những doanh nghiệp thành công nhất trong việc sử dụng marketing truyền thông xã hội. Bí quyết thành công của Starbucks trước tiên nằm ở quan điểm nhất quán và rõ ràng của hãng về việc sử dụng truyền thông xã hội trong các hoạt động marketing của mình. Starbucks luôn xác định mục đích mà họ muốn đạt được trước, sau đó mới bắt đầu các bước đi cụ thể khác trong các chiến dịch marketing truyền thông xã hội của mình.
Cụ thể, bà Alexandra Wheeler, quản lý bộ phận marketing tương tác của Starbucks đã từng phát biểu với tạp chí Brandweek : “Một trong những ưu tiên hàng đầu trong việc sử dụng truyền thông xã hội của Starbucks là việc hãng phải kết nối được với khách hàng thông qua những phương thức hợp lý nhất. Trong các phương thức đó, thì chia sẻ thông tin được coi là một lựa chọn hoàn hảo. Facebook và Twitter cho phép hãng đăng tải được những câu chuyện thú vị đằng sau quá trình sản xuất ra mỗi tách cà phê của hãng và chia sẻ chúng với một lượng khách hàng lớn hơn nhiều so với các kênh truyền thông khác.”
Còn ông Chris Bruzzo, phó giám đốc thương hiệu và hoạt động online của Starbucks lại nhấn mạnh : “Chúng tôi không xây dựng một trang Fan Page trên Facebook, lôi kéo hàng triệu người hâm mộ để rồi từ đó chào mời họ mua hàng mà ngược lại, chúng tôi xây dựng nên một cộng đồng mạng nơi những khách hàng tham gia háo hức chia sẻ với Starbucks những suy nghĩ của họ về sản phẩm , thể hiện mong muốn được tương tác, liên hệ nhiều hơn với các hoạt động của hãng.” Như vậy, có thể thấy, Starbucks đã nắm rõ được điểm cốt lõi trong marketing truyền thông xã hội là làm thế nào để tăng tính tương tác giữa thương hiệu và khách hàng thông qua việc phát triển các cuộc đối thoại xây dựng trên các ứng dụng của công nghệ web 2.0. Đây là điểm quyết định đem lại thành công trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của Starbucks.
b) Các công cụ Starbucks sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội
Các công cụ Starbucks sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng khá đa dạng. Cụ thể như sau :
- Mạng xã hội (Social Networking Sites) Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Hiện nay Starbucks xuất hiện trên 3 mạng xã hội lớn là Facebook, Twitter và Myspace.
MySpace : MySpace đã từng là mạng xã hội số một tại Mỹ trước khi bị Facebook soán ngôi. Tuy không được phổ biến như trước kia song MySpace hiện vẫn đang hoạt động, đặc biệt là tại Mỹ.
Starbucks có 2 tài khoản trên MySpace, tuy nhiên chỉ một trong số đó là đang hoạt động. Tài khoản MySpace thứ nhất thu hút hơn gần 46,600 người tham gia (friends) song đã gần như ngừng hoạt động từ năm 2021. Tài khoản thứ hai hiện chỉ thu hút được 1613 người tham gia song nội dung thông tin phong phú và giao diện đẹp.
Twitter : Hiện có 850,905 người “theo sau” Starbucks trên Twitter . Những người này Tiếng Anh gọi là “follower”, hình thức như “friends” trên Facebook hay Myspace, là những người thêm Starbucks vào danh sách kết nối của họ trên Twitter để nhận thông tin cập nhật trên Twitter. Những thông tin này được gọi là Tweet, tối đa chỉ bao gồm 140 kí tự. Starbucks dùng chức năng Tweet – chức năng chính của Twitter để đối thoại với khách hàng.
Facebook : Trong số các mạng xã hội Starbucks tham gia thì Facebook được coi là thành công nhất. Hiện tại trang Fan Page của Starbucks đã thu hút được 6,923,445 người “thích” (like). Những người này trước đây đuợc gọi là người hâm mộ (fan). Người hâm mộ (Fan) trên Facebook cũng giống như người theo sau (follower) trên Twitter và bạn bè (friend) trên MySpace hay blog. Đây là những người kết nối với doanh nghiệp thông qua các cộng đồng mạng này để từ đó có thể nhanh chóng cập nhật thông tin về doanh nghiệp. Hiện trang Fan Page của Starbucks có số lượng người “thích” hay lượng người hâm mộ vượt qua cả Cocacola với khoảng hơn 5,400,000 người. Facebook cho phép khách hàng tương tác với Starbucks qua nhiều cách khác nhau như nhận xét (comment), thể hiện sự yêu thích (like) hay chia sẻ (share) những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp.
- Mạng chia sẻ (Sharing Websites)
Youtube : Xuất hiện trên mạng chia sẻ video lớn nhất thế giới này, Starbucks tạo cho mình một kênh (channel) riêng, hình thức giống như một tài khoản (account) trên Facebook hay Twitter. Hiện tại trên kênh này, Starbucks có 6,075 người đăng kí (subscriber) với 4,830,835 tổng lượt xem các video Starbucks đã tải (total upload view) và 324,492 tổng lượt xem kênh của Starbucks trên Youtube (channel views). Các video mà Starbucks đã tải lên Youtube có nội dung chủ yếu về cà phê nói chung và cà phê của Starbucks nói riêng cũng như một số clip về các hoạt động xã hội của hãng.
Flickr : Starbucks là một trong những thương hiệu đem lại rất nhiều nguồn cảm hứng cho các nhiếp ảnh gia cả không chuyên lẫn chuyên nghiệp trên mạng chia sẻ tranh ảnh Flickr. Trên Flickr hiện có rất nhiều các nhóm (group) lấy tên Starbucks và đăng tải các bức ảnh cửa hàng hay sản phẩm của hãng. Tuy nhiên hiện chỉ có một nhóm duy nhất được Starbucks chính thức bảo trợ với 3,640 thành viên và 4,157 bức ảnh. Những bức ảnh này trên Flickr đã góp phần đem lại cho khách hàng cơ hội khám phá nhiều hơn nữa những góc nhìn thú vị về thương hiệu Starbucks.
- Diễn đàn (Forum) Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Hiện có không ít doanh nghiệp trên thế giới thành lập một hay nhiều diễn đàn để liên kết với khách hàng tuy nhiên điểm độc đáo ở diễn đàn của Starbucks là mục đích của nó. Diễn đàn My Starbucks Idea http://mystarbucksidea.force.c/ được thành lập nhằm mục đích tạo một không gian trực tuyến cho các khách hàng của Starbucks chia sẻ các ý tưởng của chính họ nhằm nâng cấp chất lượng sản phẩm và dịch vụ của hãng. Về mặt kĩ thuật, My Starbucks Idea được xây dựng với các tính năng để người dùng có thể tương tác với nhau như nhận xét, bình chọn và chấm điểm các ý kiến,….
Mặc dù còn tồn tại một số tranh cãi về hiệu quả của My Starbucks Idea nhưng rõ ràng đây là một ý tưởng sáng tạo và là một nỗ lực đáng ghi nhận của Starbucks thể hiện mong muốn thật sự lắng nghe và xây dựng một nền tảng quan hệ lâu dài với khách hàng. Cho đến ngày 23/04/2024 đã có 89,380 ý kiến từ hơn 180,000 người đăng kí tài khoản ở My Starbucks Idea .Khoảng 50 trong số các ý kiến đó đã được đưa ra thực hiện tại các hệ thống cửa hàng của Starbucks.
Một cộng đồng trực tuyến khác cũng mới được Starbucks thành lập vào tháng 4 năm 2022 mang tên Starbucks V2V. Cộng đồng này được phối hợp xây dựng với tổ chức tình nguyện quốc tế V2V (Volunteer to Volunteer). Nhìn chung,
Starbucks V2V hoạt động như một diễn đàn nhằm mục đích kêu gọi các khách hàng của Starbucks đóng góp các ý tưởng nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Hiện Starbucks V2V có 23,849 thành viên và đã thu hút được 2,318 ý kiến đóng góp.
- Chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast)
Tháng 9/2020 Starbucks đưa ra loạt Podcast là các bài nói chuyện của các chuyên gia hay tâm sự của những người làm trong ngành cà phê tên gọi là Coffee Conversations. Loạt Podcast này được đưa ra giúp cho các khách hàng của Starbucks có cơ hội tìm hiểu thêm về quá trình sản xuất cà phê của hãng.
- Các chiến dịch marketing truyền thông xã hội tiêu biểu của Starbucks
Với những công cụ kể trên, Starbucks đã tiến hành nhiều chiến dịch marketing truyền thông xã hội cụ thể và gặt hái được nhiều thành công. Trong đó, nổi bật là 2 chiến dịch sau : Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Free Pastry Day : Ngày 21/07/2023 toàn bộ hệ thống của hàng Starbucks tại Mỹ tiến hành tặng miễn phí một món đồ ăn nhẹ (pastry) nếu khách hàng mua một đồ uống và đem theo “giấy mời” tới sự kiện này được in ra từ trang web của Starbucks. Điểm đáng nói là Starbucks đã tận dụng một chức năng rất cơ bản của Facebook là “tạo sự kiện” (create an event) để quảng bá cho Free Pastry Day. Theo đó, hãng đã cung cấp thông tin chi tiết về chương trình khuyến mãi này trên trang sự kiện lập ra trên Facebook. Nhờ đó, rất nhiều khách hàng của Starbucks đã biết đến sự kiện này mà hãng không cần tốn công sức và tiền bạc cho các tờ rơi, banner quảng cáo. Thống kê đến ngày 21/07/2023 đã có đến 600,000 người xác nhận tham gia trên Facebook. Các cửa hàng Starbucks hôm đó chật cứng người xếp hàng trên tay cầm giấy mời tới Free Pastry Day để lấy món đồ ăn nhẹ khuyến mãi cho mình. Đặc biệt, thông tin về sự kiện này được nhắc đến và chia sẻ không chỉ qua Facebook mà còn qua cả Twitter. Theo thống kê, trên Twitter hôm đó, lượng các câu Tweet có nhắc đến Starbucks tăng đột biến, cứ khoảng 1% câu Tweet là có sự xuất hiện của từ “Starbucks” tức là lớn hơn ngày thường gấp 10 lần. Nhìn chung, trong chiến dịch, Facebook đã được sử dụng như một kênh phân phối thông tin hiệu quả đến khách hàng. Chiến dịch này được đánh giá là một trong những chiến dịch marketing truyền thông xã hội đơn giản mà vẫn đảm bảo được thành công của Starbucks. Hình 4 ở trang bên là biểu đồ thống kê được về lượng câu Tweet có liên quan đến Starbucks trong vòng 1 tuần trước sự kiện. Có thể nhận thấy sự tăng đột biến lượng câu Tweet trong ngày 21/07/2023 – ngày sự kiện diễn ra, như đã đề cập đến ở trên.
Hình 4 : Biểu đồ thể hiện lượng câu Tweet có liên quan tới Starbucks từ ngày 36 15/07/2023 đến 21/07/2023 .
Cuộc thi đi tìm poster của Starbucks : trong chiến dịch này Starbucks tiến hành dán poster của chiến dịch quảng cáo mới lên các cửa hàng Starbucks tại 6 thành phố lớn của Mỹ. Nếu chỉ dừng lại ở mức độ như vậy thì đây vẫn chỉ là một hình thức marketing truyền thống. Điểm sáng tạo của Starbucks là nó thách thức các khách hàng của mình là người đầu tiên chụp được những bức ảnh các poster này và đăng tải chúng lên trang Twitter của họ. Giải thưởng của cuộc thi có thể không lớn nhưng nó lại đánh trúng tâm lý của khách hàng, đặc biệt là giới trẻ ngày nay : mong muốn được đánh giá cao trong cộng đồng mạng của mình. Cứ như vậy, những người sử dụng Twitter truyền bá cho nhau và nhiệt tình tham gia vào cuộc thi với vô số những bức ảnh về Starbucks. Hình ảnh thương hiệu được tăng lên nhanh chóng trong khi tập đoàn Starbucks lại không tốn quá nhiều công sức và chi phí. Tất cả những gì Starbucks phải làm là phát động cuộc thi, còn việc lôi kéo người tham gia thuộc về chính những khách hàng.
- Đánh giá hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng cà phê Starbucks
Hoạt động marketing truyền thông xã hội của Starbucks hiện nay có nhiều ưu điểm và cả những nhược điểm cùng song song tồn tại. Cụ thể, những ưu điểm trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng là :
Thứ nhất, Starbucks đã sử dụng hết sức linh hoạt một tập hợp nhiều công cụ trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình. Ví dụ, các câu cập nhật thông tin (Tweet) trên Twitter có đặc điểm là rất ngắn, giới hạn chỉ 40 kí tự nên đã được Starbucks dùng để đưa ra các thông báo ngắn gọn hay trả lời mọi thắc mắc của khách hàng, thường là về dịch vụ hay các chương trình khuyến mãi. Trong khi đó, Facebook là mạng xã hội tập hợp nhiều tính năng hơn đã trở thành nơi cho các khách hàng Starbucks chia sẻ mọi cảm nghĩ của mình với thương hiệu đồng thời cho phép Starbucks chia sẻ nhiều hơn với khách hàng thông qua các đường link, video, tranh ảnh,…. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Thứ hai, trên các cộng đồng mạng trực tuyến mà Starbucks tham gia hay tự xây dựng, hãng đã thành công trong việc xây dựng một “không gian online thân thiện”. Trên đó, mọi phản hồi của khách hàng đều có một đội ngũ nhân viên Starbucks trả lời nhanh chóng và tận tình. Nội dung thông tin hãng chia sẻ trên các cộng đồng mạng này cũng được xây dựng thú vị, nhiều khi đơn giản, thân thuộc như cuộc nói chuyện thường ngày, gây thiện cảm với khách hàng. Ngoài ra, trên các cộng đồng mạng khác nhau mà Starbucks tham gia đều có đường link dẫn tới trang web chủ của công ty hay các mạng khác, tạo nên tính tương tác cao giữa những trang này. Ví dụ ở trang Fan Page của Starbucks trên Facebook có thể tìm thấy link dẫn tới trang Twitter hay trang web chủ của công ty.
Thứ ba, các chiến dịch marketing truyền thông xã hội của Starbucks cũng đã tận dụng được những kinh nghiệm quý báu doanh nghiệp thu được trên môi trường mạng vào thực tế. Cụ thể, dựa vào những thông tin thu thập được từ phía khách hàng trên các mạng xã hội, diễn đàn,… Starbucks đã tiến hành cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như đưa ra các chiến dịch marketing cụ thể trong thực tế. Hay nói cách khác, Starbucks đã gặt hái được thành công với marketing truyền thông xã hội trên cả mặt “online” lẫn “offline”.
Thứ tư, Starbucks đã xây dựng được một đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp phụ trách hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng. Ví dụ, hiện Starbucks có riêng một đội làm việc chỉ chuyên cập nhật thông tin và trả lời khách hàng trên Twitter. Việc chuyên môn hoá công việc như vậy giúp Starbucks sử dụng được nhiều công cụ truyền thông xã hội cùng một lúc mà vẫn đảm bảo được hiệu quả.
Tất nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động marketing truyền thông xã hội của Starbucks cũng còn tồn tại một số nhược điểm cần khắc phục.
My Starbucks Idea là một ví dụ nổi bật. Đây là diễn đàn kêu gọi các ý kiến đóng góp nhằm cái tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của Starbucks. Song một phần không nhỏ các ý kiến của khách hàng trên trang này là không thể thực hiện được, trùng lặp hay tiêu cực hơn cả là chỉ trích chính Starbucks. Ngoài ra, theo một nghiên cứu năm 2022 của Forrester tiến hành trên người trưởng thành sử dụng Internet tại Mỹ thì khi sử dụng mạng, chỉ có 21% trong số đó có khả năng đưa ra các ý kiến đóng góp tích cực, 37% hay chỉ trích và 25% thụ động. Điều này đặt ra câu hỏi liệu các ý kiến Starbucks thu thập được từ My Starbucks Idea có thật sự đại diện cho số đông khách hàng của họ hay không ?
Ngoài ra một số công cụ truyền thông xã hội khác được Starbucks sử dụng cũng chưa thật hiệu quả. Ví dụ podcast Coffee Conversation của hãng được đánh giá là có nội dung chưa hấp dẫn.
Mặc dù còn tồn tại một số điểm yếu song Starbucks hiện nay vẫn được đánh giá là người khổng lồ trong việc áp dụng truyền thông xã hội vào hoạt động marketing của mình. Năm 2023 vừa qua, trong bảng xếp hạng của hãng ENGAGEMENTdb, Starbucks đã đạt được 127 điểm, xếp thứ 1 trong số 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới trong việc phát triển quan hệ với khách hàng. Có được thành công này một phần không nhỏ phải kể tới các nỗ lực marketing truyền thông xã hội của Starbucks.
2.2.2. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng Nokia
2.2.2.1. Giới thiệu chung về hãng Nokia Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Nokia là một công ty đa quốc gia có trụ sở tại Keilaniemi, Espoo, Phần Lan. Nokia tập trung vào các sản phẩm viễn thông không dây và cố định, với hơn 123,000 nhân viên làm việc ở 120 quốc gia, bán sản phẩm ở hơn 150 quốc gia trên toàn cầu. Trong năm 2023, doanh thu của hãng đạt 41 tỷ euro và lợi nhuận là 1.2 tỷ. Đây là nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới hiện nay với thị phần toàn cầu chiếm khoảng 40% trong năm 2023.
Trong những năm qua, Nokia luôn được bầu chọn vào danh sách những thương hiệu lớn nhất thế giới. Năm 2023, giá trị thương hiệu của Nokia là 34.9 tỷ USD, đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng toàn cầu các thương hiệu giá trị nhất của tạp chí Newsweek (dành cho các công ty ngoài nước Mỹ) và xếp hạng thứ 85 về doanh thu trong danh sách Fortune Global 500 cũng trong năm 2023.
2.2.2.2. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng Nokia
- Quan điểm chung của Nokia về việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing của hãng
Tất cả những khách hàng biết đến Nokia có lẽ đều quen thuộc với câu slogan quảng cáo “Connecting people – Kết nối con người”. Đây được coi là phương châm hoạt động của hãng từ bao lâu nay, thể hiện cho tham vọng của Nokia mong muốn kết nối mọi cá nhân bất kể khoảng cách địa lý thông qua các sản phẩm của mình. Marketing truyền thông xã hội với đặc tính đối thoại đa chiều đã cho phép Nokia tiếp cận gần hơn mục tiêu này và được coi là một trong những ưu tiên hãng đầu của hãng hiện nay.
Cụ thể, trong buổi hội thảo Blogwell (Hội thảo quy tụ những nhà quản lý cấp cao từ các công ty lớn trên thế giới đến chia sẻ kinh nghiệm trong việc sử dụng truyền thông xã hội) tại New York vào cuối tháng 4 năm 2023 vừa qua, bà Molly Schonthal, đại diện truyền thông xã hội của Nokia khu vực Bắc Mỹ đã thể hiện rõ quan điểm về việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing cũng như một số hoạt động khác của hãng. Theo đó, thông qua truyền thông xã hội, Nokia khuyến khích khách hàng tham gia vào các cuộc đối thoại do hãng khởi xướng dựa trên các tiêu chí “cởi mở, chân thực và tôn trọng lẫn nhau” (openly, honestly and with respect). Thông qua các cuộc đối thoại này, Nokia mong muốn được lắng nghe khách hàng chia sẻ mọi suy nghĩ về sản phẩm của hãng : điều gì họ hài lòng ? Điều gì họ chưa hài lòng ? Và hãng có thể làm gì để cải tiến các sản phẩm này đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng ? Bà Schonthal đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh, các doanh nghiệp lớn nói chung và Nokia nói riêng phải biết tận dụng những thông tin quý giá thu được từ khách hàng thông qua truyền thông xã hội để đưa ra và thực hiện được những hành động cụ thể trong thực tế chứ không chỉ dừng lại ở mức lắng nghe và phản hồi thông thường.
Quan điểm trên của Nokia đã thể hiện đúng bản chất của việc sử dụng truyền thông xã hội trong marketing. Chính vì thế mà hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng cho đến nay đã gặt hái được những thành công đáng kể.
Các công cụ Nokia sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội Là một thương hiệu lớn có tiềm lực tài chính mạnh đồng thời lại hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Nokia có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng các công cụ truyền thông xã hội. Nhìn chung, các công cụ Nokia sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình lớn về số lượng và đa dạng về thể loại. Cụ thể như sau : Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
- Mạng xã hội (Social Networking Sites)
Giống như đa số các doanh nghiệp khác hiện nay, công cụ hàng đầu mà Nokia sử dụng cho hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình là các mạng xã hội. Điểm đáng lưu ý ở đây là số lượng các tài khoản mà Nokia sở hữu trên các mạng này. Thông thường một doanh nghiệp chỉ có 1 đến 2 tài khoản chính trên Facebook, Twitter hay các trang web truyền thông xã hội khác. Song trong trường hợp của Nokia, các tài khoản này được lập dưới tên cả các dòng sản phẩm, các phần mềm ứng dụng khác nhau mà hãng này sản xuất nên mật độ xuất hiện của Nokia trên các mạng xã hội này rất dày đặc. Hiện nay, Nokia chính thức sở hữu tới 61 tài khoản Twitter, 58 tài khoản, gồm các trang Fan Page hay nhóm (group) trên Facebook Con số này còn chưa kể đến những tài khoản do các khách hàng của Nokia tự nguyện lập ra cho hãng. Những tài khoản này thường không được sự bảo trợ của Nokia tuy nhiên lại thể hiện lòng trung thành và yêu mến sản phẩm mà khách hàng dành cho hãng. Hiện nay trên Facebook có tới hơn 1000 trang Fan Page hay nhóm (group) không chính thức của Nokia do các đối tượng khách hàng trên lập ra.
Việc sử dụng công cụ này của Nokia trong marketing truyền thông xã hội nhìn chung không khác nhiều so với các doanh nghiệp khác. Nokia tận dụng các chức năng của những mạng xã hội này để lắng nghe và đối thoại với khách hàng, giới thiệu cũng như hướng dẫn khách hàng sử dụng các phẩm, dịch vụ của mình. Một số ứng dụng trò chơi cũng được Nokia bổ sung vào trang Fan Page của mình trên Facebook nhằm thu hút sự tham gia tương tác của khách hàng với thương hiệu. Khách hàng nào tham gia chơi và chiến thắng có cơ hội trúng các giải thưởng là những sản phẩm công nghệ có giá trị cao của Nokia.
- Mạng chia sẻ (Sharing Websites)
Hiện tại Nokia xuất hiện tại một trong những mạng chia sẻ phổ biến nhất hiện nay : mạng chia sẻ video Youtube. Với 18 kênh (channel) tức 18 tài khoản được lập ra, Youtube là website lý tưởng cho Nokia đăng tải các video giới thiệu các sản phẩm công nghệ vốn rất được yêu thích của mình. Trong số 18 kênh này thì kênh www.youtube/nokia và www.youtube.nokiaconversations thu hút được nhiều lượt xem (gồm Total Upload Views và Channel Views) cũng như lượng người đăng kí (subscribers) nhất. Luợt xem kênh www.youtube.nokia đến cuối tháng 3 năm 2024 là hơn 6 triệu lượt trong khi con số này của www.youtube/nokiaconversations lên tới hơn 29 triệu lượt.
- Blog Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Blog là công cụ yêu thích của Nokia trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng. Hiện Nokia đang xây dựng và quản lý 23 blog khác nhau, mỗi một blog lại phục vụ cho một mục đích riêng. Ví dụ : Messaging Blog là blog dành riêng cho các bài viết về dịch vụ Nokia Messaging, Blog Ovi lại giới thiệu những bài viết về các ứng dụng hay cho những chiếc điện thoại cài đặt dịch vụ Ovi của Nokia. Đây là những ứng dụng đã được chính các nhân viên Nokia dùng thử và trải nghiệm sau đó sử dụng công cụ blog để chia sẻ cũng như thảo luận với khách hàng về những ứng dụng này.
Nhìn chung, nội dung các blog của Nokia đều do một nhóm người phát triển, khách hàng có thể vào đọc, bình luận hoặc chia sẻ bài viết blog mà họ tâm đắc trên cộng đồng mạng họ tham gia như Facebook, Twitter,… Trên các blog này, Nokia đều xây dựng các liên kết đến các trang web truyền thông xã hội khác khiến việc chia sẻ thông tin của người đọc trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn, thông tin cũng vì thế mà được lan toả với tốc độ nhanh hơn và tần suất cao hơn trong cộng đồng mạng.
Một số blog thành công nhất hiện nay của Nokia là Nokia Conversations, Nokia Blogs, Blog Ovi, Forum Nokia Blogs,…
- Mạng đánh dấu và lưu trữ đường link (Social Bookmarking Sites)
Nokia hiện nay cũng sở hữu một tài khoản Delicious. Trên trang web này, Nokia đã tập hợp và cung cấp các đường link của hãng cho người tìm kiếm. Một phần lớn trong số các đường link này lại dẫn đến những mạng xã hội, mạng chia sẻ hay cộng đồng trực tuyến khác tạo nên tính liên kết cao giữa các trang web truyền thông xã hội mà Nokia tham gia .
- Diễn đàn (Forum)
Diễn đàn lớn nhất hiện nay mà Nokia đang sử dụng để đối thoại với khách hàng là Forum Nokia www.forum.nokia Đây là diễn đàn được Nokia xây dựng kì công với nhiều nội dung và tính năng phong phú.
Bên cạnh đó, Nokia cũng xây dựng trang www.ideasproject. một cộng đồng trực tuyến nơi các thành viên có thể chia sẻ những ý tưởng lớn của mình về tương lai công nghệ thông tin. Ý tưởng về Ideas Project của Nokia khá tương đồng với Ideastorm của DELL và My Starbucks Ideas của Starbucks. Tuy không mới lạ song Ideas Project ghi nhận một nỗ lực của Nokia trong việc tạo dựng mối quan hệ khách hàng thông qua các cuộc đối thoại trong truyền thông xã hội. Với Ideas Project, Nokia đã đem đến cho khách hàng ấn tượng về một thương hiệu đi đầu trong lĩnh vực công nghệ song vẫn không ngừng tìm tòi và sáng tạo để phục vụ tốt hơn nhu cầu của con người. Hiện tại Ideas Project thu hút được 281 thành viên tham gia.
- Chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast) & ứng dụng Widget
Đây cũng là hai công cụ được Nokia sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình. Nhìn chung cũng như các doanh nghiệp khác, podcast & widget không được Nokia sử dụng nhiều mà chỉ sử dụng để hỗ trợ thêm cho các công cụ khác. Dưới đây là hình ảnh một trong những ứng dụng Widget của Nokia cho phép khách hàng có thể đăng nhập vào Twitter hay chia sẻ chính ứng dụng Widget này cho bạn bè của mình. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Hình 5 : Hình ảnh một ứng dụng Widget của Nokia.
- c) Các chiến dịch marketing truyền thông xã hội tiêu biểu của Nokia
Hiện tại, đã có rất nhiều chiến dịch marketing của Nokia sử dụng truyền thông xã hội. Tiêu biểu trong số đó là chiến dịch marketing cho chiếc điện thoại Nokia N95 nằm trong dòng sản phẩm điện thoại thông minh của Nokia được tích hợp nhiều tính năng ưu việt. Cụ thể chiến dịch này đã diễn ra như sau:
Trong giai đoạn đầu, thông qua diễn đàn www.forum.nokia, Nokia cố gắng tương tác với khách hàng nhằm lắng nghe những mong muốn, kì vọng của họ dành cho một dòng điện thoại mới trong tương lai. Đây là nguồn thông tin vô cùng quý giá đối với Nokia. Đặc biệt, bản thân khách hàng cũng có thể tìm thấy những thông tin về quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm thông qua 2 trang blog của Nokia. Đó là : www.myphonerocks và www.thenokiablog.
Sau khi chiếc điện thoại N95 chính thức ra mắt, một chiến dịch “viral” khác lại được các chuyên gia marketing của Nokia thực hiện thông qua các công cụ truyền thông xã hội mang tên “Jealousy Computer”. Chiến dịch bắt đầu từ việc Nokia tung ra các thông tin về những vụ việc con người bị máy tính tấn công. Thông tin này rõ ràng mang tính hư cấu song lại đánh vào tâm lý tò mò nói chung của con người. Nokia đã xây dựng một trang web http://www.jealouscomputers chỉ chuyên cung cấp các thông tin về vụ việc này. Thông qua trang web này, những khách hàng quan tâm và tò mò sẽ biết được nguyên nhân cho những vụ máy tính tấn công người này là do chủ nhân của những máy tính này cũng đồng thời sở hữu 1 chiếc điện thoại N95 với nhiều tính năng siêu việt. Điều này khiến những chiếc máy tính PC hay laptop khác phải “ghen tức” và “tấn công” chính chủ nhân của mình. Một ý tưởng marketing khá độc đáo và thú vị. Ứng dụng truyền thông xã hội trong chiến dịch này nằm ở việc trang web http://www.jealouscomputers tiến hành đăng tải nhiều video clip về việc máy tính tấn công người được dựng hư cấu, cho phép người dùng có thể chia sẻ trên blog của mình. Những clip này cũng được đưa lên Youtube nhằm tăng thêm độ lan truyền cho chiến dịch. Việc sử dụng các video clip với nội dung hấp dẫn, thú vị và tiến hành lan truyền trong môi trường mạng hiện đang khá phổ biến trong hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Bên cạnh đó, Nokia tiếp tục tận dụng các công cụ truyền thông xã hội phổ biến khác như Facebook, Twitter nhằm quảng bá cho sản phẩm N95 của mình, thu hút được sự chú ý của khách hàng.
Không dừng lại ở đó, Nokia còn sử dụng Paul Whitaker, một chuyên gia về Nokia để gián tiếp quảng bá cho N95 thông qua các trang web truyền thông xã hội. Nhân vật này đã liên tục xuất hiện trên Youtube, Flickr – những mạng chia sẻ lớn có nhiều thành viên tham gia và trên các trang blog để viết và kể về chuyến đi quanh nước Mỹ của ông với các bức ảnh hay đoạn phim ngắn đều được chụp hay quay từ chiếc điện thoại Nokia N95. Những hoạt động này đã thu hút được ít nhiều sự chú ý của dư luận nói chung và những người quan tâm tới sản phẩm N95 nói riêng trên các cộng đồng mạng này.
Như vậy, có thể thấy chiến dịch marketing truyền thông xã hội của Nokia cho sản phẩm điện thoại Nokia N95 là một chiến dịch đồng bộ từ khi sản phẩm chưa ra đời cho đến khi sản phẩm có mặt trên thị trường. Chiến dịch này đã sử dụng kết hợp nhiều công cụ marketing truyền thông xã hội như diễn đàn, blog, mạng xã hội, mạng chia sẻ song song với một số ý tưởng marketing khá độc đáo (ý tưởng Jealousy Computer) và đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công của Nokia N95.
- d) Đánh giá hoạt động marketing truyền thông xã hội của hãng Nokia
Nokia hiện nay được coi là một trong những thương hiệu lớn trên thế giới đã sử dụng tốt marketing truyền thông xã hội. Việc hiểu rõ bản chất của loại hình marketing này đã đem lại nhiều thành công cho Nokia trong thực tế hoạt động marketing của hãng. Cụ thể : Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Các công cụ truyền thông xã hội Nokia sử dụng vừa lớn về số lượng vừa đa dạng về thể loại cho phép hãng có thể tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau trên nhiều trang web truyền thông xã hội cùng một lúc. Như đã đề cập đến ở trên, Nokia hiện sở hữu một lượng lớn các tài khoản khác nhau trên các mạng xã hội, mạng chia sẻ cũng như xây dựng rất nhiều blog và diễn đàn. Một số công cụ ít phổ biến hơn như chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast) và ứng dụng Widget cũng được Nokia sử dụng hiệu quả.
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, hoạt động marketing truyền thông xã hội của Nokia vẫn còn có những nhược điểm cần khắc phục. Việc sở hữu nhiều tài khoản trên các mạng xã hội, mạng chia sẻ và xây dựng nhiều blog và diễn đàn cùng một lúc vừa là một ưu điểm vừa là một nhược điểm trong hoạt động marketing truyền thông xã hội của Nokia. Lý do là đầu tư nhiều vào số lượng tất yếu dẫn đến sự yếu kém về chất lượng. Bên cạnh những những tài khoản trên Facebook, Twitter hay blog, diễn đàn của Nokia hoạt động thành công vẫn còn tồn tại một số trang web loại này hoạt động kém hiệu quả, không thu hút được sự tham gia của khách hàng, gây lãng phí thời gian, tiền bạc cũng như nhân lực vận hành và quản lý.
3. Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
3.1. Một số đánh giá chung về khả năng áp dụng marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam
Việc tiến hành đánh giá chung về khả năng áp dụng marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam được thực hiện dựa vào thông tin tìm kiếm được từ các nguồn tài liệu khác nhau kết hợp với kết quả điều tra khảo sát thực tế. Bản khảo sát tình hình sử dụng các cộng đồng mạng trực tuyến và một số công cụ truyền thông xã hội khác tại Việt Nam được thực hiện từ ngày 5 đến ngày 18 tháng 4 năm 2024 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đối tượng điều tra là các học sinh, sinh viên và cán bộ, viên chức có độ tuổi dưới 35. Tổng số mẫu điều tra là 100 người. Kết quả của bản điều tra được trình bày cụ thể trong phần phụ lục của khoá luận này.
3.1.1. Những điều kiện thuận lợi
3.1.1.1. Nhu cầu sử dụng Internet và tham gia các cộng đồng mạng trực tuyến của người dân tăng cao trong thời gian gần đây
Trong một vài năm trở lại đây, chất lượng đời sống của người dân Việt Nam ngày càng tăng cao. Người dân có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với các xu thế phát triển mới trên thế giới, làm nảy sinh thêm nhiều nhu cầu đa dạng, trong đó có nhu cầu sử dụng Internet và tham gia các cộng đồng mạng trực tuyến như mạng xã hội, mạng chia sẻ. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) thuộc Bộ Thông tin & Truyền thông, tính đến tháng 2/2024 ở Việt Nam có khoảng hơn 23 triệu người sử dụng Internet, chiếm khoảng 27.18% dân số. So với cùng kì năm 2022, con số này đã tăng khoảng 4 triệu người và với năm 2023 là tăng khoảng 2 triệu người. Biểu đồ dưới đây đã thể hiện rõ xu hướng tăng đều đặn qua các năm của tỷ lệ % số dân sử dụng intenet tại Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2023. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Hình 6 : Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số dân sử dụng Internet tại Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2023
Như vậy có thể thấy rõ nhu cầu sử dụng Internet ngày càng tăng cao tại Việt Nam. Cùng với thực tế đó là sự bùng nổ của hiện tượng tham gia các cộng đồng trực tuyến, đặc biệt là các mạng xã hội hay mạng chia sẻ của người dân. Hiện tại Việt Nam đã ghi nhận sự có mặt của nhiều mạng xã hội “ngoại”, điển hình là Facebook, Twitter. Bên cạnh đó cũng xuất hiện các mạng xã hội “thuần Việt” như Zing Me, Yume, Caravat.com, Cyvee.com, Truongton.,… cho đến các mạng chia sẻ như Clip.vn (chia sẻ video), Anhso.net, I-Pro (chia sẻ ảnh),… mạng đánh dấu và lưu trữ đường link như Linkhay., Tag.,…. các diễn đàn như Trái Tim Việt Nam, Hihi Hehe,… thế giới ảo như Cyworld, YouSecond,…. Với nhiều lựa chọn đặt ra như vậy, việc tham gia một cộng đồng mạng trực tuyến đã không còn quá xa lạ với nhiều người dân Việt Nam nữa. Theo kết quả thu được từ cuộc khảo sát thực tế nêu trên, có tới 87% số người được hỏi cho biết hiện tại họ có tham gia các cộng đồng mạng trực tuyến. Tần suất sử dụng cũng khá cao.Cụ thể, trong số những người tham gia các mạng trực tuyến nêu trên thì có tới 51% đăng nhập vào các mạng này hàng ngày và 37% đăng nhập từ 3-5 lần/tuần. Đồng thời, tháng 3 năm
2024 vừa qua, công ty nghiên cứu thị trường Cimigo Việt Nam đã công bố một bản báo cáo rất công phu về tình hình sử dụng và phát triển Internet tại Việt Nam. Đối tượng điều tra là 2940 người sử dụng Internet đến từ 6 thành phố của Việt Nam. Theo đó, một lượng không nhỏ trong số này cho biết họ có tham gia các hoạt động trên các trang web truyền thông xã hội. Cụ thể 46% cho biết họ đã từng ghé thăm các diễn đàn. Con số này là 40% với blog và 39% với mạng xã hội
Tóm lại, nhu cầu sử dụng Internet và tham gia các cộng đồng trực tuyến như mạng xã hội, mạng chia sẻ tăng cao ở Việt Nam là yếu tố vô cùng thuận lợi cho marketing truyền thông xã hội phát triển. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam cần phải nắm được lợi thế này nhằm tận dụng tốt các công cụ truyền thông xã hội khác nhau trong hoạt động marketing của doanh nghiệp mình.
3.1.1.2. Việt Nam là đất nước có dân số tương đối trẻ so với thế giới
Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện một số nhận định cho rằng dân số Việt Nam đang già dần đi. Tuy nhiên, so với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia phát triển như Nhật Bản hay các nước Tây Âu thì Việt Nam vẫn là một quốc gia có dân số tương đối trẻ. Nhìn chung, dân số trẻ được coi là điều kiện thuận lợi để phát triển marketing truyền thông xã hội vì giới trẻ thường có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ, có nhu cầu giao tiếp và kết nối cao cũng như dễ dàng tiếp thu những xu thế mới trên thế giới. Các số liệu thu nhận được từ báo cáo nói trên của công ty Cimigo Việt Nam cũng thể hiện rõ nhận định này. Báo cáo đã khẳng định blog và mạng xã hội là hoạt động dành cho giới trẻ. Cụ thể, một số lượng lớn người sử dụng Internet ở độ tuổi dưới 25 đã từng viếng thăm blog, diễn đàn hay mạng xã hội, tỷ lệ sử dụng là 50%, cao hơn so với tất cả các nhóm tuổi lớn hơn. Sự khác biệt lớn nhất có thể nhìn thấy giữa các nhóm tuổi khác nhau là mức độ đóng góp tích cực về nội dung trên Internet : số lượng người sử dụng dưới 25 tuổi đăng bài lên blog và diễn đàn cao gấp khoảng 3 lần so với người sử dụng ở độ tuổi từ 25 – 65.
Có thể nói, số lượng người trẻ tuổi này ở Việt Nam là đối tượng tiềm năng để các chuyên gia marketing nhắm tới trong các chiến dịch marketing truyền thông xã hội của mình.
3.1.2. Những điều kiện không thuận lợi Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
3.1.2.1. Trở ngại pháp lý vẫn còn tồn tại
Hệ thống pháp lý từ lâu đã luôn là một trở ngại trong nhiều hoạt động kinh tế xã hội tại Việt Nam. Truyền thông xã hội nói chung và marketing truyền thông xã hội nói riêng là những vấn đề còn rất mới mẻ, không chỉ với Việt Nam mà ngay cả trên thế giới. Chính vì thế mà những trở ngại đến từ một hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh và đồng bộ là một điều khó tránh khỏi. Đặc biệt, bản thân truyền thông xã hội và marketing truyền thông xã hội lại mang nhiều đặc điểm nhạy cảm nên nếu doanh nghiệp nói riêng và người dùng nói chung không biết cách sử dụng có thể gặp phải những sự cố đáng tiếc. Ví dụ, thông tin trong hoạt động truyền thông xã hội thường khó kiểm soát, mang tính chất đa nguồn tin và nghiệp dư nhưng lại có sức lan toả nhanh chóng trong cộng đồng mạng. Vậy xét về khía cạnh pháp luật, doanh nghiệp sẽ phải xử lý ra sao nếu xuất hiện những tin đồn thất thiệt về mình trong các cộng đồng mạng ? Lời giải cho câu hỏi này ở Việt Nam hiện vẫn còn chưa rõ ràng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn thận trọng trong việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing của mình.
Ngoài ra, việc các mạng xã hội phát triển nở rộ tại Việt Nam trong thời kì vừa qua đã bị một số phần tử xấu lợi dụng, đưa lên những thông tin nhạy cảm về chính trị – xã hội. Vào tháng 11 năm 2023, mạng Facebook đã bị chặn ở Việt Nam. Cho đến nay, việc truy cập vào mạng xã hội lớn nhất thế giới này đã bắt đầu trở lại bình thường. Nguyên nhân cho hiện tượng Facebook bị chặn không được đưa ra rõ ràng và không biết có liên quan đến lý do chính trị nêu ra ở trên hay không. Song một hệ quả tất yếu xuất hiện là nó đã gây ra tâm lý e dè cho người sử dụng, trong đó có đối tượng các doanh nghiệp.
3.1.2.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin chưa đồng bộ và hiện đại
Mặc dù nhu cầu sử dụng Internet ở Việt Nam đang ngày càng tăng cao như đã phân tích ở trên song cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin của Việt Nam vẫn còn yếu kém, nhất là khi so với thế giới và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân. Trong năm 2022, tỷ lệ số dân sử dụng Internet ở Việt Nam là 22.47% cao hơn mức trung bình tại Châu Á (17.26%) và trên thế giới (21.88%). Tuy nhiên nếu so với một số nước trong khu vực thì Việt Nam vẫn còn thua kém nhiều. Cụ thể, ở Brunei tỷ lệ này là 55.64%, ở Malaysia là 62.57% và Singapore là 72.94% Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Ngoài ra hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin này còn không đồng bộ giữa miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn tiến hành hoạt động marketing truyền thông xã hội nhắm đến nhiều đối tượng. Tại nhiều khu vực vùng sâu vùng xa ở nước ta, ngay cả việc tiếp cận với một chiếc tivi còn khó, chưa kể đên việc sử dụng máy tính. Đáng lo hơn khi các em nhỏ ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có cơ hội tiếp xúc với công nghệ thông tin từ rất sớm thì rất nhiều em nhỏ ở các vùng quê xa lại không có được cơ hội này, gây ra sự chênh lệch trình độ lớn về sau.
3.2. Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam
3.2.1. Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội nói chung của các doanh nghiệp tại Việt Nam
So với thế giới, hoạt động marketing truyền thông xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam mới ở giai đoạn chập chững bắt đầu. Nguyên nhân chủ yếu là do mặc dù nhu cầu sử dụng các công cụ truyền thông xã hội nói chung và mạng xã hội nói riêng tăng cao song đa số những khái niệm này vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam nếu so sánh với thế giới. Hệ quả tất yếu là việc sử dụng marketing truyền thông xã hội cũng theo đó mà chưa được phổ biến. Trong năm 2023 quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,4% tổng ngân sách quảng cáo. Con số 0.4% nhỏ bé này lại tiếp tục được chia ra cho các hình thức quảng cáo trực tuyến khác, đồng nghĩa với việc số tiền doanh nghiệp chi cho một kênh quảng cáo mới mẻ trên các mạng xã hội như Facebook còn khiêm tốn hơn nữa.
Hiện những doanh nghiệp đã và đang sử dụng marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam thuộc nhiều đối tượng đa dạng : từ những doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước cho đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhắc đến các doanh nghiệp lớn có thể kể đến các tên tuổi như Honda, Nokia, Nescafé, Omo, Olay, Close Up, Vfresh, Vinamilk café, sữa XO, Friso, ABBank,…. Xét về các chiến dịch cụ thể có thể điểm mặt chiến dịch Be U-nik của Honda với cuộc thi Âm nhạc và Vũ đạo, Chụp ảnh và Thiết kế. Cuộc thi đã lập nên một diễn đàn riêng và sau 4 tuần triển khai, số lượng chủ đề được tranh luận trên diễn đàn đã lên đến 84 chủ đề, với 1,133 bài viết và phản hồi, 18,917 lượt xem các cuộc tranh luận. Hay chiến dịch “Giải cứu Mai Phương Thuý” của Nokia quảng cáo cho chiếc điện thoại N97 của hãng thông qua công cụ là một microsite và lập nhóm (group) trên Facebook. Ngoài ra còn có thể kể đến diễn đàn Cùng trò chuyện của Nescafé hay “Thử tài mẹ siêu phàm” với Omo Matic quảng bá cho sản phẩm mới Omo Matic đậm đặc 2X. Chiến dịch này đã sử dụng công cụ Fan Page và lập Quizz (một hình thức trò chơi đố vui) của Facebook đồng thời tiến hành lan truyền video clip trên các mạng chia sẻ video như Youtube, Clip.vn, Bamboo.com,…
Ngoài ra, có không ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng bắt đầu thử sức với marketing truyền thông xã hội. Ví dụ, hiện nay trên Facebook có thể bắt gặp không ít các mẩu quảng cáo hay các trang Fan Page của các doanh nghiệp loại này, chủ yếu là các quán phục vụ cà phê, đồ ăn uống dành cho tầng lớp thanh thiếu niên hay các hãng du lịch, trung tâm đào tạo , tư vấn du học,….Ví dụ trang Fan Page của quán cà phê Le Petit, quán Tzo, cửa hàng bánh Doco,…
Nhìn chung, trong số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có một tên tuổi nào thật sự nổi bật trong “sân chơi” marketing truyền thông xã hội. Theo kết quả khảo sát thực tế, mức độ hài lòng của khách hàng dành cho những hoạt động của doanh nghiệp trên các cộng đồng mạng trực tuyến còn chưa thật cao. Chỉ có 22% số người được hỏi cho biết họ hài lòng hoặc rất hài lòng với các hoạt động này của doanh nghiệp, trong khi đa số (71%) đánh giá mức độ hài lòng của họ chỉ nằm ở mức trung bình. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của các nhãn hàng lớn mới chỉ dừng lại ở quy mô khiêm tốn, chủ yếu như một hình thức bổ sung thêm cho các chiến dịch lớn. Hay nói cách khác, chưa một doanh nghiệp nào trong số này tiến hành đầu tư cho một chiến dịch marketing truyền thông xã hội dài hơi và hoàn thiện cả. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Trong khi đó, với các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động marketing truyền thông xã hội mới chỉ dừng ở mức cơ bản. Nhiều doanh nghiệp chỉ ý thức được việc phải tạo cho mình một tài khoản trên Facebook hay Twitter mà không hiểu được rằng đó chỉ là công cụ, không hiểu rõ bản chất của marketing truyền thông xã hội, dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả các công cụ này.
Ngoài ra, các công cụ sử dụng trong hoạt động marketing truyền thông xã hội ở Việt Nam cũng chưa đa dạng, chủ yếu là các mạng xã hội, blog và diễn đàn. Các công cụ như ứng dụng Widget, chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast), thế giới ảo (Virtual World), webiste mở (Wiki) hay thậm chí các mạng đánh dấu và lưu trữ đường link (Social Bookmarking Site) không được các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng. Hiện tượng này xuất phát từ nguyên nhân khách quan là các công cụ nêu trên hiện vẫn còn rất xa lạ với đa số người Việt Nam. Thống kê từ cuộc khảo sát thực tế cho thấy chỉ có 13% số người được hỏi từng sử dụng ứng dụng Widget, 10% hiện đang tham gia các mạng đánh dấu và lưu trữ đường link như Delicious, Linkhay.vn và Tag.vn. Con số này đối với chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast) cũng chỉ là 10%.
Mặc dù còn có nhiều yếu điểm cần khắc phục song không thể phủ nhận một thực tế là việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing đang ngày càng phổ biến trên thế giới và Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng đó. Các doanh nghiệp tại Việt Nam, dù lớn hay nhỏ, trong nước hay ngoài nuớc, nếu đủ nhanh nhạy và hiểu biết sâu sắc về truyền thông xã hội cũng như thị trường Việt Nam thì hoàn toàn có thể thành công trong việc áp dụng loại hình marketing mới mẻ này vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của mình.
3.2.2. Tìm hiểu hoạt động marketing truyền thông xã hội của một số nhãn hàng tại Việt Nam
3.2.2.1. Hoạt động marketing truyền thông xã hội của nhãn hàng mỹ phẩm
Olay cho sản phẩm Olay Natural White Cream tại Việt Nam
- Giới thiệu chung về nhãn hàng mỹ phẩm Olay và sản phẩm Olay Natural White Cream
Olay là một trong những nhãn hàng mỹ phẩm thuộc tập đoàn đa quốc gia Procter & Gamble (P&G) có mặt tại Việt Nam từ năm 1995. Olay nhắm đến sự tán dương “vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi nguời phụ nữ”, qua khẩu hiệu “Hãy luôn yêu quý làn da của bạn”. Nhãn hàng Olay tập trung vào các sản phẩm kem dưỡng da bôi mặt đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới và thống trị thị trường của nhiều quốc gia đó, ví dụ như Mỹ, Anh, Trung Quốc,….Các dòng sản phẩm của Olay rất đa dạng, bao gồm Complete, Total Effects, Professional, Regenerist, Quench (Bắc Mỹ), White Radiance (Châu Á) and Olay Vitamins (Mỹ). Kem dưỡng trắng da Olay Natural White Cream cũng nằm trong số các dòng sản phẩm trên, được giới thiệu vào thị trường Việt Nam vào khoảng cuối năm 2023 Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
- Hoạt động marketing truyền thông xã hội của nhãn hàng mỹ phẩm Olay cho sản phẩm Olay Natural White Cream tại Việt Nam
Các công cụ được sử dụng
Trong hoạt động marketing truyền thông xã hội cho sản phẩm Olay Natural White Cream, Olay chỉ sử dụng một công cụ duy nhất đó là mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là Olay đã biết tận dụng gần như mọi tính năng và ứng dụng của Facebook để khai thác triệt để lợi thế của mạng xã hội này, phục vụ cho hoạt động marketing truyền thông xã hội của mình. Cụ thể như sau :
Trên Facebook, Olay đã lập một trang Fan Page : Olay Natural White Fan Page http://www.facebook.olaynaturalwhite/. Đây là ứng dụng phổ biến của Facebook được nhiều doanh nghiệp lựa chọn trong các chiến dịch marketing truyền thông xã hội của mình. Cụ thể, hoạt động marketing truyền thông xã hội của Olay Natural White Cream thông qua trang Fan Page của mình được thực hiện như sau :
Thông qua chức năng Wall – một hình thức để cập nhật thông tin cho bạn bè trên Facebook, Olay đã tích cực đối thoại với khách hàng của mình. Nắm bắt được đối tượng khách hàng của dòng sản phẩm Olay Natural White Cream là các phụ nữ trẻ nên nội dung các cuộc đối thoại của Olay cũng rất đa dạng và phong phú. Theo đó, trên trang Fan Page của mình Olay thường xuyên cập nhật thông tin (update status) về phim ảnh, âm nhạc, thời trang hay đặc biệt là các mẹo trang điểm, chăm sóc da cho khách hàng. Ngoài ra, chức năng Wall này cũng được Olay tận dụng khá tốt như một hình thức giải đáp thắc mắc với khách hàng. Rất nhiều bạn nữ băn khoăn về sản phẩm đã tìm đến trang Fan Page của Olay, đưa ra câu hỏi và được Olay tận tình trả lời. Thậm chí, Olay còn cập nhật những thông tin rất đơn giản, mang hình thức như một cuộc tán gẫu với khách hàng hay đưa ra các câu đố vui về sản phẩm, thương hiệu và trao quà cho người đầu tiên trả lời đúng trên Facebook. Bằng việc này, Olay bước đầu đã xây dựng được những cuộc đối thoại được khách hàng khá quan tâm, tạo nên tính tương tác 2 chiều giữa thương hiệu và khách hàng.
Ngoài ra, Olay cũng tận dụng chức năng viết note (một hình thức gần như viết blog trên Facebook) để đăng tải các bài viết nội dung tương tự như trên song có độ dài hơn so với các thông tin cập nhật qua chức năng wall.
Các video giới thiệu sản phẩm, các đường link hay, các bức ảnh về sản phẩm và cuộc sống thường ngày đều được Olay đều đặn đăng tải lên trang Fan Page nhằm khuyến khích khách hàng tương tác thông qua việc nhận xét (comment), bày tỏ sự yêu thích (like) hay chia sẻ (share) với bạn bè của họ trên Facebook.
Không chỉ dừng lại ở việc sử dụng những ứng dụng cơ bản nhất trên trang Fan Page của Facebook, Olay đã tích cực tương tác với khách hàng thông qua các hình thức khác như tạo quizz. Quizz là ứng dụng có hình thức như trắc nghiệm vui, mang tính giải trí cao trên Facebook. Các quizz Olay tạo ra đa số có nội dung phục vụ chị em phụ nữ trẻ tuổi – đối tượng khách hàng chính của sản phẩm. Có thể kể một số quizz như : “Bạn có xem trọng ngoại hình?”; “Bạn có tự tin vào nhan sắc của mình không?”, “Màu sắc nào phản ánh đúng tính cách của bạn?”,… Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Bên cạnh đó, chức năng Poll – là những câu hỏi điều tra ngắn có thể gặp trên Facebook hay trên các blog/microblog,… cũng được Olay sử dụng như một công cụ điều tra khách hàng.
- Chiến dịch marketing tiêu biểu sử dụng truyền thông xã hội của Olay cho sản phẩm Olay Natural White Cream
Tháng 12 năm 2023 vừa qua, Olay đã tổ chức cuộc thi ảnh “Trắng hồng với Olay Natural White”. Cụ thể, Olay xây dựng một ứng dụng trên Facebook cho phép người thi (ở đây là các bạn nữ từ 14 tuổi trở lên, quốc tịch Việt Nam) đăng tải (upload) ảnh trực tiếp kèm theo các thông tin cá nhân cần thiết lên trang ứng dụng này của Facebook. Đây là những bức ảnh chụp các bạn nữ sở hữu một làn da trắng đẹp. Khán giả sẽ đăng nhập vào Facebook để bình chọn, chấm điểm, nhận xét các bức ảnh. Bức ảnh nào điểm số cao nhất sẽ giành giải nhất là một chiếc Sony Walkman NWZ-W202 (2GB) (trị giá khoảng 1,600,000 VND) và 1 bộ 5 sản phẩm làm đẹp Olay Natural White. Trong 1 tháng diễn ra, cuộc thi đã thu hút được 142 bức ảnh cùng một số lượng đáng kể các bạn trẻ tham gia bình chọn
Việc quảng bá cho cuộc thi được tiến hành chủ yếu qua trang Fan Page của Olay Natural White Cream đã nhắc đến ở trên và trên một số diễn đàn như Gamevui.com, Lamchame.com, Ketnoi247.com,…..
- Đánh giá hoạt động marketing truyền thông xã hội của nhãn hàng mỹ phẩm Olay cho sản phẩm Olay Natural White Cream tại Việt Nam
Nhìn chung, hoạt động marketing truyền thông xã hội cho sản phẩm Olay Natural White Cream đã đạt được những thành quả nhất định. Tính đến ngày 23/04/2024, trang Fan Page của Olay Natural White Cream trên Facebook đã thu hút được 7,616 người “thích” (like) hay hâm mộ sản phẩm này. Ứng dụng để đăng tải ảnh lên cho cuộc thi “Trắng hồng cùng Olay Natural White” được người dùng trên Facebook đánh giá 4.5/5 điểm
Olay cũng đã khá thành công trong việc đối thoại với khách hàng thông qua trang Fan Page của mình khi thường xuyên cập nhật và chia sẻ thông tin đa dạng và thú vị, phản hồi khách hàng một cách kịp thời và nhanh chóng. Ngôn ngữ lựa chọn để sử dụng trên trang Fan Page cũng mang tính trẻ trung, nhí nhảnh phù hợp với đối tượng khách hàng trẻ tuổi. Đặc biệt thông tin trên trang Fan Page này nhiều và đa dạng nhưng không quảng cáo lộ liễu cho sản phẩm. Các thông tin về sản phẩm chủ yếu được lồng vào một cách hợp lý theo nhiều hướng khác nhau. Hình 7 dưới đây là một phần giao diện trang Fan Page của Olay với những lời hỏi thăm và chúc mừng Olay dành cho các khách hàng nữ của mình nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3.
Hình 7 : Một phần giao diện trang Fan Page của Olay Natural White trên Facebook
Một điểm thành công nữa của Olay là việc sử dụng hình ảnh người nổi tiếng quảng bá gián tiếp cho thương hiệu thông qua Facebook. Olay đã lựa chọn Đại sứ cho sản phẩm Olay Natural White là ca sĩ – diễn viên Bảo Thy được nhiều bạn trẻ độ tuổi teen Việt Nam yêu thích. Nếu ghé qua trang Fan Page của Olay Natural White sẽ thấy sự xuất hiện của Bảo Thy quảng bá “khéo léo” cho sản phẩm. Hình 8 là một phần giao diện trang Fan Page của Olay Natural White trên Facebook với những lời bình luận, nhận xét về sản phẩm của Bảo Thy. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Hình 8 : Sự xuất hiện của Bảo Thy trên trang Fan Page của Olay Natural White
Ngoài ra, Olay cũng nắm bắt được tâm lý của người Việt Nam khi sử dụng các mạng xã hội, cụ thể ở đây là Facebook, rất thích các ứng dụng mang tính giải trí cao như làm quizz, trả lời câu hỏi dạng poll,…nên đã nỗ lực mang đến nhiều ứng dụng loại này cho người sử dụng trên Fan Page của mình.
Bên cạnh những điểm được, hoạt động marketing truyền thông xã hội của Olay Natural White Cream vẫn còn nhiều nhược điểm cần khắc phục.
Trước tiên, việc chỉ chọn một mạng xã hội Facebook để thực hiện các hoạt động marketing truyền thông xã hội là quá ít ỏi. Ở Việt Nam thói quen sử dụng mạng xã hội khá đa dạng. Người dân không chỉ dùng Facebook mà họ dùng cả Zingme, Yahoo!Plus,….Nếu Olay muốn thành công hơn nữa thì nên xuất hiện thêm trên một số mạng xã hội phổ biến khác ở Việt Nam.
Thứ hai, nội dung của các ứng dụng Olay sử dụng trên Facebook vẫn chưa thật đặc sắc để thu hút một lượng lớn người tham gia. Có những câu hỏi dạng poll Olay đưa ra nhưng không nhận được câu trả lời nào từ phía khách hàng. Số lượng hơn 7,600 người hâm mộ của Olay Natural White trên Facebook cũng không có gì quá ấn tượng, đặc biệt với một sản phẩm thuộc một nhãn hàng nổi tiếng như Olay. Có thể làm rõ điều này hơn khi so sánh trang Fan Page của Olay với trang Fan Page của OMIO – một hãng mỹ phẩm khác khá phổ biến ở Việt Nam – có lượng người hâm mộ lên tới hơn 14,111 người, tức là gấp Olay Natural White gần 2 lần. Nhìn chung, tại Việt Nam hiện nay, Olay đã là một trong số những nhãn hàng nhanh nhạy trong việc sử dụng marketing truyền thông xã hội với những nỗ lực và thành công nhất định. Song để thật sự thu được hiệu quả Olay phải đầu tư nhiều hơn nữa thời gian và công sức vào loại hình marketing này.
3.2.2.2. Hoạt động marketing truyền thông xã hội cho nhãn hàng Nestcafé của công ty Nestlé tại Việt Nam
- a) Giới thiệu chung về công ty Nestlé Việt Nam và nhãn hàng Nestcafé
Nestlé là công ty hàng đầu thế giới về thực phẩm dinh dưỡng. Vào năm 1995, Công ty TNHH Nestlé Việt Nam (100% vốn đầu tư nước ngoài) được thành lập, trực thuộc tập đoàn Nestlé S.A. Cũng vào năm 1995, Nestlé được cấp giấy phép thành lập Nhà máy Đồng Nai, chuyên sản xuất cà phê hoà tan Nescafé, trà hoà tan Nestea và đóng gói thức uống Milo, bột ngũ cốc dinh dưỡng Nestlé, bột nêm và nước chấm Maggi, bột kem Coffee-Mate. Công ty Nestlé Việt Nam có trụ sở chính tại TP. Hồ Chí Minh và văn phòng kinh doanh tại Hà Nội. Nestlé có nhà máy Đồng Nai tại phía Nam. Hiện nay tổng số nhân viên của Nestlé Việt Nam lên đến 1000 người. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Các sản phẩm của Nestlé rất đa dạng, từ sữa, trà cho đến cà phê và dành cho nhiều loại đối tượng ở nhiều độ tuổi khác nhau. Trong số đó có sản phẩm cà phê Nestcafé. Đây là nhãn hiệu cà phê hòa tan hàng đầu trên thế giới với bề dày lịch sử 70 năm và được nhiều người Việt Nam yêu thích.
- b) Hoạt động marketing truyền thông xã hội cho nhãn hàng Nestcafé của công ty Nestlé Việt Nam
Hoạt động marketing truyền thông xã hội của Nestcafé hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào chiến dịch xây dựng diễn đàn Cùng Trò Chuyện – một diễn đàn chủ yếu dành cho các bạn trẻ bàn luận, bày tỏ tư tưởng cá nhân về các vấn đề như hôn nhân, tình yêu, giải trí, xã hội,…
Có thể nhận thấy ngay từ tên gọi của của chiến dịch, công cụ truyền thông xã hội chính mà Nestcafé sử dụng đó là diễn đàn (forum) – một ứng dụng công nghệ tuy không mang tính kết nối và tương tác cao như các mạng cộng đồng song vẫn khá phổ biến hiện nay. Diễn đàn Cùng trò chuyện do Nestcafé xây dựng bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2023. Cùng Trò Chuyện được xây dựng với mục đích tạo nên một diễn đàn, sân chơi lành mạnh và sáng tạo cho tất cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước. Nestcafé có tham vọng biến Cùng Trò Chuyện thành một cộng đồng chung nơi mọi người có thể bàn luận, chia sẻ mọi suy nghĩ, quan điểm về cuộc sống, con người nhằm giúp mỗi cá nhân mở rộng hiểu biết, có điều kiện giao lưu, kết nối và cùng nhau xây dựng cuộc sống, cộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn. Các chuyên mục chính trên diễn đàn Cùng Trò Chuyện là về Bạn bè, Tình yêu, Công sở, Nghề nghiệp, Học vấn, Hôn nhân – Gia đình, Giải trí, Xã hội và chủ đề mới được bổ sung là Hà Nội 1000 năm. Ngoài ra, đến với diễn đàn, các thành viên còn có cơ hội trò chuyện, thảo luận, giao lưu trực tuyến cùng với một số nhân vật nổi tiếng như Hồ Hoài Anh, Hiền Thục cùng 1 số Hot Bloggers hiện nay ở Việt Nam như Môi Đỏ, Giầy Đỏ, Dementor, Trang Hạ, Yến Điệu….
Nhìn chung, các tính năng của Cùng Trò Chuyện cũng không khác biệt so với các diễn đàn khác. Để tham gia diễn đàn, thành viên cần tiến hành đăng kí cung cấp một số thông tin cơ bản. Sau khi đăng kí, thành viên đã trở thành một phần của cộng đồng Cùng Trò Chuyện. Họ có thể tham gia bày tỏ suy nghĩ, bình chọn cho chủ đề mình yêu thích hay thậm chí tự tạo lập các chủ đề mà họ quan tâm. Ngoài ra, trên diễn đàn, thành viên cũng có thể tham gia vào các cuộc khảo sát ý kiến nhỏ dạng poll tương tự như hình thức đã đề cập đến trong ví dụ về hoạt động marketing truyền thông xã hội cho sản phẩm Olay Natural White Cream ở trên.
Để hỗ trợ thêm cho diễn đàn nay, Nestcafé còn sử dụng thêm Facebook, lập ra một nhóm (group) trên mạng xã hội này cũng lấy tên gọi là Cùng Trò Chuyện. Người sử dụng Facebook tham gia nhóm này cũng có thể thảo luận về các chủ đề tương tự như trên diễn đàn. Thực chất, nhóm này được lập ra trên Facebook chủ yếu để quảng bá thêm về diễn đàn Cùng Trò Chuyện của Nestcafé cho cộng đồng người sử dụng Facebook.
- c) Đánh giá hoạt động marketing truyền thông xã hội cho nhãn hàng Nestcafé của công ty Nestlé Việt Nam
Nhìn chung, diễn đàn Cùng Trò Chuyện với những ưu điểm nhất định đã ghi nhận nỗ lực của Nestcafe trong việc tiếp cận khách hàng của mình, cụ thể ở đây là đối tượng khách hàng trẻ tuổi.
Trước tiên, nội dung của diễn đàn bước đầu thu hút được sự tham gia của các thành viên. Những chủ đề hot nhất có đến hàng nghìn lượt xem và bàn luận. Ví dụ, chủ đề sôi nổi nhất trên diễn đàn là “Đại học là con đường duy nhất để thành công?” thu hút được đến 15,366 lượt xem và 1,090 lượt bàn luận. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Giao diện của diễn đàn cũng là ưu điểm được nhiều bạn trẻ công nhận. Cùng Trò Chuyện được xây dựng với giao diện mang màu đỏ chủ đạo của Nestcafe rất nổi bật và bắt mắt.
Đặc biệt, Nestcafe còn tiến hành hợp tác với các “sao Việt” như đã đề cập ở trên. Đây cũng là một lợi thế rất lớn thu hút người tham gia diễn đàn.
Một ưu điểm nữa của Cùng Trò Chuyện là diễn đàn đã tổ chức nhiều hoạt động thực tế (offline) nhằm góp phần đưa các hoạt động marketing truyền thông xã hội từ mảng trực tuyến (online) vào cuộc sống thật. Ví dụ cuộc thi viết “Cùng trò chuyện với Nestcafé”, các buổi nói chuyện với các nhân vật nổi tiếng như: cố vấn tâm lý Đinh Đoàn, Nguyễn Công Vinh, Lý Thị Mai, nhà thiết kế Hà Linh Thư và Ngô Thái Uyên, … Các buổi nói chuyện được tổ chức lần lượt tại các trường đại học, khu công nghiệp và nhà văn hóa trên tòa quốc đã tạo ra cho các bạn trẻ một sân chơi bổ ích và cơ hội giao lưu cùng các nhân vật nổi tiếng.
Với những ưu điểm trên, kết quả là sau gần 8 tháng hoạt động, tính đến ngày 23/04/2024, diễn đàn đã thu hút được 14,332 thành viên, trong đó có 13,861 thành viên hoạt động chiếm khoảng 97%. Với 9 chuyên đề cố định, hiện đã có 28,165 chủ đề nhỏ được tạo bởi ban quản lý cũng như thành viên tham gia. Như vậy, từ ngày đầu đi vào hoạt động là tháng 8 năm 2023, tính trung bình, một ngày diễn đàn có thêm khoảng 60 thành viên mới và 117 chủ đề mới được khởi tạo. Đây là những con số thống kê đáng khích lệ đối với Cùng Trò Chuyện.
Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, diễn đàn Cùng Trò Chuyện của Nestcafé hiện vẫn còn tồn tại nhiều yếu điểm. Cụ thể như sau :
Trước tiên, ở vị trí như một diễn đàn trực tuyến dành cho giới trẻ, Cùng Trò Chuyện theo thời gian có nguy cơ bị nhàm chán về mặt nội dung. Một số chủ đề trên diễn đàn hiện nay bị coi là loãng và nhạt, thậm chí khá vô bổ như “Có nên yêu bạn của bạn thân?”; “Có nên yêu chị của bạn thân?” rồi “Theo bạn cô đơn và cô độc có giống nhau không?”… Xét về mặt ngắn hạn, những nội dung như trên vẫn có thể thu hút được sự chú ý của một lượng thành viên nhất định, nhưng nếu về mặt dài hạn, diễn đàn vẫn chỉ tràn ngập những nội dung như vậy thì Cùng Trò Chuyện rất có khả năng bị quên lãng.
Thời gian gần đây còn xuất hiện những bình luận chỉ trích chính diễn đàn với ngôn ngữ, lời lẽ không đúng với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam hoặc việc một số thành viên lợi dụng diễn đàn để quảng cáo sản phẩm, dịch vụ mà mình kinh doanh. Những hiện tượng này đã gây không ít phản cảm cho nhiều thành viên.
Ngoài ra, xét về mặt công nghệ, Cùng Trò Chuyện mới chỉ dừng ở mức độ quá đơn giản. Tính tương tác giữa các thành viên chỉ dừng lại trong phạm vi nội bộ diễn đàn. Trong khi đó, một trong những ưu điểm lớn của các công cụ truyền thông xã hội là tính tương tác cao giữa người sử dụng, nhiều khi không chỉ trong một cộng đồng trực tuyến mà là giữa nhiều cộng đồng trực tuyến khác nhau. Nestcafé lập một nhóm (Group) trên Facebook để hỗ trợ cho Cùng Trò Chuyện song bản thân trên diễn đàn lại không có đường link nào liên kết với nhóm này. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Để thấy rõ hơn những điểm yếu trên, có thể so sánh Cùng Trò Chuyện với Pepsi We Inspire – một cộng đồng mạng trực tuyến do hãng Pepsi mới thành lập và đưa vào hoạt động trong năm 2024 và có khá nhiều điểm tương đồng với Cùng Trò Chuyện. Pepsi We Inspire là nơi để các phụ nữ gốc Phi chia sẻ những câu chuyện đã truyền cảm hứng cho họ trong cuộc sống. Mặc dù chỉ nhắm đến một phân đoạn khách hàng nhỏ song Pepsi đã xây dựng cộng đồng mạng này rất cẩn thận, nội dung sâu sắc, dễ dàng sử dụng và khả năng kết nối cao với Facebook. Người dùng chỉ cần có tài khoản Facebook là có thể sử dụng được Pepsi We Inspire. Để quảng bá cho trang web này, các chuyên gia marketing của Pepsi còn lập thêm các tài khoản trên Facebook, Twitter & Youtube dưới tên Pepsi We Inspire. Đây đều là những kinh nghiệm mà Nestlé Việt Nam cần học tập từ Pepsi nếu muốn Cùng Trò Chuyện thành công hơn nữa.
Sự xuất hiện của công nghệ web 2.0 và các công cụ hiện đại có khả năng kết nối Internet không dây cũng như sự tin tưởng vào hình thức marketing truyền miệng và nhu cầu kết nối, chia sẻ thông tin trong cộng đồng của người tiêu dùng chính là cơ sở hình thành và phát triển của marketing truyền thông xã hội. Hiện nay, ngày càng có nhiều chuyên gia tin tưởng lựa chọn loại hình marketing này hơn. Do đó, có thể tìm thấy rất nhiều các ví dụ thú vị về việc sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động marketing trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Tại Việt Nam, marketing truyền thông xã hội mới được du nhập vào một thời gian ngắn. Bên cạnh những khó khăn gặp phải từ hệ thống pháp lý và cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin, nhìn chung loại hình marketing này đang dần tìm được chỗ đứng cho mình. Những yếu tố như nhu cầu sử dụng Internet và tham gia các cộng đồng mạng trực tuyến của người dân tăng cao cũng như cơ cấu dân số trẻ đã đem lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển của marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing truyền thông xã hội

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội […]