Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu/ tính cấp thiết của đề tài:
Khủng hoảng tài chính đang diễn ra ngày càng liên tục và diễn biến phức tạp, gây ra những hậu quả rất nặng nề đối với cả các quốc gia công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hệ thống tài chính quốc tế ngày càng mang tính toàn cầu nên sự “lây nhiễm” khủng hoảng tài chính – tiền tệ lan rất nhanh không chừa bất kỳ quốc gia nào.Trong thời gian gần đây, kinh tế thế giới đang hứng chịu một cuộc khủng hoảng tài chính lớn đang lan rộng ra toàn cầu. Người ta chưa biết cuộc khủng hoảng này sẽ gây ra những hậu quả lớn tới mức nào và khi nào sẽ dừng lại. Thậm chí Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF ) trong một phát biểu thời điểm đầu tháng 10-2025 đã bày tỏ lo ngại sẽ diễn ra đại suy thoái kinh tế toàn cầu. Một chấn động như vậy, một quả bom kinh tế nổ ra ở một loạt nước mà giới quản lý và khoa học về kinh tế khó có thể nhận biết một cách rõ ràng và dự báo được. Sự tàn phá dữ dội của cuộc khủng hoảng này đã khiến rất nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới gặp nhiều khó khăn. Và đương nhiên đó chính là các đối tác quan trọng của Việt Nam.Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng đang đứng trước khó khăn và những thách thức lớn lao gây ra bởi cuộc khủng hoảng. Một quốc gia mà đóng góp vào GDP chủ yếu là nhờ vào hoạt động xuất khẩu thì rõ ràng chúng ta phải nghiên cứu cũng như xem xét lại nghiêm túc khách quan chính sách kinh tế đối ngoại của mình, đặc biệt là cơ chế điều hành xuất nhập khẩu để từ đó tìm ra hướng đi đúng nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng đồng thời đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện mới có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở tham khảo mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế – tài chính”, của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân để hiểu rõ các yếu tố tiền đề của nguy cơ khủng hoảng. Và từ đó có thể phân tích nguyên nhân, tìm hiểu nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính lần này ở những nước bị khủng hoảng nặng nề và qua đó rút ra bài học quí giá cho Việt Nam.
Phân tích tác động và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm đề ra một số giải pháp đề phòng ảnh hưởng tiêu cực và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về khủng hoảng kinh tế tài chính trên thế giới nói chung và các khu vực nói riêng. Tuy nhiên có thể nói với cuộc khủng hoảng lần này với lí do xảy ra quá bất ngờ và chưa một tổ chức nào có thể dự đoán chính xác về thời điểm mà khủng hoảng có thể dừng lại, nên lượng công trình nghiên cứu trong nước không nhiều.Một số công trình đã đang được nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính:
- Giải pháp phòng ngừa khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Việt Nam của GS.TS Hồ Xuân Phương
- Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 2014-2016 của TS Nguyễn Thiện Nhân
- Khủng hoảng tài chính thế giới- Nhận định kinh tế Việt Nam năm 2025 và xu thế đầu tư 2025-2026 của Th.s Đinh Thế Hiển
- Thông tin chuyên đề khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó của Việt Nam của viện nghiên cứu kinh tế trung ương. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Tập trung nghiên cứu chủ yếu vào ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây và đề ra một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng đó.
Không gian: Bức tranh tổng thể về khủng hoảng trên phạm vi quốc tế bao gồm một số nền kinh tế lớn bao gồm Mỹ, Nhật Bản và châu Âu vì đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.
Thời gian:Khủng hoảng tài chính tiền tệ trên phạm vi thế giới ( nghiên cứu sâu và bắt nguồn từ Hoa Kỳ ) đến đầu năm 2026. Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam được nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ 2018 – 2026.Dự báo về tình hình của khủng hoảng và sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian tới ( năm 2026 và 2027)
5. Phương pháp nghiên cứu
Là phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu. Phân tích các quan hệ kinh tế vi mô và vĩ mô, đồng thời vận dụng phương pháp sơ đồ khối, mô phỏng của điều khiển học.Sự kết hợp này nhằm mục đích đơn giản và rõ ràng cho việc lý giải quá trình khủng hoảng bằng chữ công thức và bảng số liệu, đồ thị. Phương pháp lập giả định được sử dụng để xác định giới hạn và phạm vi nghiên cứu hỗ trợ cho việc hệ thống hóa những tác động cụ thế của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
6. Bố cục của nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu chi tiết:
Đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam” gồm có ba chương:
- Chương I: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới
- Chương II. Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
- Chương III: Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
CHƯƠNG I: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Mô hình kinh tế cơ bản phân tích quá trình khủng hoảng kinh tế – tài chính
Khủng hoảng tài chính đã xuất hiện từ rất lâu, gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống tài chính tư bản chủ nghĩa. Theo sự phát triển không ngừng của thế giới thì các cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ngày càng xảy ra nhiều hơn với xu hướng: Qui mô khủng hoảng ngày càng lớn, tốc độ lan truyền nhanh hơn và khó dự đoán trước.
Tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các quỹ tiền tệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng. Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển các luồng vốn tiền tệ và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính.
Có thể định nghĩa về khủng hoảng tài chính tiền tệ là tình trạng tài chính (quĩ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn tới sụp đổ quĩ. Nói cách khác, khủng hoảng tài chính- tiền tệ là sự thất bại của một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Như vậy, khủng hoảng tài chính – tiền tệ là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là khi nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Tham khảo mô hình mà GS.TS Nguyễn Thiện Nhân đã xây dựng về khủng hoảng kinh tế – tài chính chúng ta có thể tiếp cận một cách hợp lí và có được tầm nhìn bao quát, với phương pháp luận khoa học hiện đại.
Mô hình kinh tế mà cho phép mô phỏng quá trình khủng hoảng kinh tế – tài chính nói chung, trước tiên có được sự xây dựng mô hình cho quá trình tích lũy ba nguy cơ là:
- Nguy cơ đồng tiền bị phá giá
- Nguy cơ phá sản ngân hàng và công ty tài chính
- Nguy cơ phá sản doanh nghiệp
Ngoài ra còn có một vấn đề chi phối mạnh đến thời điểm nổ ra các cuộc khủng hoảng là: nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán, cũng cần phải được đề cập trước khi xem xét mô hình kinh tế để nghiên cứu khủng hoảng kinh tế – tài chính.
1.1.1. Mô hình “nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Nếu một quốc gia thực hiện chế độ tỉ giá cố định (theo một ngoại tệ hoặc một số ngoại tệ), thì sẽ xuất hiện nguy cơ đồng tiền bị phá giá, tức là không còn khả năng duy trì tỉ giá cố định nữa. Hai yếu tố trực tiếp liên quan đến quá trình này là:
- Cán cân thương mại (xuất khẩu – nhập khẩu)
- Dòng vốn vào và ra khỏi quốc gia
Hai vấn đề này lại do tỉ giá hối đoái và lãi suất tín dụng quyết định. Vì vậy, trước khi xem mô hình ”Nguy cơ đồng tiền bị phá giá” chúng ta sẽ xem xét vấn đề tỉ giá hối đoái và lãi suất tín dụng gắn với chu chuyển vốn.
- Tỉ giá hối đoái với xuất nhập khẩu hàng hóa và thị trường vốn
Trong thị trường ngoại tệ được hình thành qua việc cung cầu ngoại tệ do xuất nhập khẩu hàng hóa thì:
- Xuất khẩu tăng thì cung ngoại tệ tăng (và ngược lại)
- Nhập khẩu tăng thì cầu ngoại tệ tăng (và ngược lại)
Nhưng còn nhân tố khác cũng làm tăng hay giảm cung cầu ngoại tệ. Đó là dòng chu chuyển vốn quốc tế. Một quốc gia thu hút vốn từ bên ngoài sẽ làm tăng cung ngoại tệ và nhu cầu mang vốn ra ngoài sẽ làm tăng cầu ngoại tệ. Ngày nay việc chu chuyển vốn đóng góp một vai trò hết sức quan trọng, chi phối thị trường ngoại tệ của một quốc gia.
- Điều kiện duy trì được tỉ giá hối đoái cố định:
Xét về mặt cơ bản và lâu dài muốn duy trì được tỉ giá hối đoái cố định, chỉ có hai con đường:
- Phải cân bằng được xuất nhập khẩu Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Trong ngắn hạn, mặc dù có thâm hụt thương mại, song sử dụng vốn vay nước ngoài và vốn trong nước có hiệu quả cao, tăng nhanh được xuất khẩu, tạo điều kiện trả được vốn vay nước ngoài khi đến kì hạn, do đó mặc dù có thể tiếp tục vay nước ngoài trong tương lai song tổng nợ nước ngoài không vượt qua mức an toàn cho phép.
- Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Trên cơ sở mối quan hệ nhân quả tác động của tỉ giá hối đoái cố định và các quá trình tiếp diễn sau đó, ta có thể quan sát mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá” theo sơ đồ dưới đây:
Khi lạm phát trong nước cao hơn ở các nước có đồng tiền mạnh và tỉ giá hối đoái được giữ cố định thì hàng trong nước xuất khẩu sẽ bị khó khăn hơn, do trở nên đắt hơn ở nước nhập khẩu, và hàng nhập khẩu vào nước sở tại sẽ dễ hơn, vì trở nên rẻ hơn. Kết quả là cán cân thương mại sẽ có xu hướng xấu hơn, lâu dài có thể chuyển thành thâm hụt thương mại.
- Sơ đồ 1. Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
1.1.2. Mô hình “nguy cơ phá sản doanh nghiệp” Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại, phát triển hay phá sản doanh nghiệp là một điều hết sức bình thường. Lý thuyết kinh tế vi mô đã chỉ rõ: Cạnh tranh sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao và khuyến khích những doanh nghiệp có chi phí sản xuất thấp.
Chính từ nguyên tắc này mà xuất hiện áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm chi phí sản xuất, vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản doanh nghiệp. Ngoài những doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao hơn giá bán trên thị trường tất yếu phải phá sản còn có những doanh nghiệp có chi phí sản xuất cận biên gần bằng giá bán, cũng dễ bị loại khỏi thị trường do một số doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường với chí phí thấp hơn hay các doanh nghiệp đã có trên thị trường có mức chi phí thấp hơn sẽ tăng năng lực sản xuất đẩy doanh nghiệp có chi phí cao ra khỏi thị trường.
Như vậy quá trình cạnh tranh tất yếu sẽ làm cho các doanh nghiệp kém hiệu quả nhất bị phá sản và trong trường hợp này nguồn lực trong xã hội ngày càng được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ các doanh nghiệp kém hiệu quả (chi phí cao) thì có nghĩa là khuyến khích việc sử dụng tài nguyên một cách kém hiệu quả. Việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả có thể trở thành một căn bệnh chung trong xã hội và số doanh nghiệp kém hiệu quả (chi phí cao) gia tăng hay lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp giảm sút.
Quá trình này dẫn tới sự tích lũy, sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nếu vì một lí do nào đó mà chi phí đầu vào tăng lên hay giá cả đầu ra giảm xuống đột ngột sẽ dẫn đến hàng loạt doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả phải phá sản. Nhiều doanh nghiệp phá sản sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp gia tăng và như thế thì tổng cầu lại giảm, các đơn đặt hàng sẽ giảm và doanh nghiệp khác lại phá sản. Các doanh nghiệp phá sản sẽ không trả được nợ ngân hàng và có thể dẫn đến các ngân hàng phá sản.
Nguy cơ phá sản doanh nghiệp do sự kém hiệu quả của doanh nghiệp và các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp có thể được phân tích dưới sơ đồ sau:
- Sơ đồ 2. Mô hình “Nguy cơ phá sản doanh nghiệp”
1.1.3. Mô hình “Nguy cơ phá sản ngân hàng và các công ty tài chính”
Các ngân hàng kinh doanh và các Công ty Tài chính là những mắt xích quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia, và chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân và doanh nghiệp để sử dụng một cách có hiệu quả. Vì mục tiêu lợi nhuận, các Ngân hàng và các công ty Tài chính chỉ cho các tổ chức, cá nhân vay tiền khi họ có thể hoàn trả vốn vay với lãi suất nhất định.
Nếu một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, các ngân hàng và các công ty tài chính sẽ không cho nó vay, điều này thúc đẩy nó sớm đóng cửa. Ngược lại, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả sẽ được cho vay tiếp, giúp nó càng phát triển mạnh hơn.
Bằng cách này, hệ thống ngân hàng tài chính góp phần rất quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của cả xã hội. Khi Ngân hàng và các tổ chức tài chính hoạt động kém hiệu quả do cho các doanh nghiệp kém hiệu vay thị nguồn lực tài chính trong xã hội bị sử dụng lãng phí. Giống như đối với doanh nghiệp, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ những Ngân hàng kém hiệu quả trong nền kinh tế thì sẽ dẫn đến quá trình tích lũy sự kém hiệu quả trong nền kinh tế và là một nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế – tài chính. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Theo Wibert Obascom “hệ thống Ngân hàng được xem là đang ở trong tình trạng khủng hoảng tài chính khi ít nhất là 50% Ngân hàng và các tổ chức tài chính vỡ nợ”
Tuy nhiên trong thực tế thì có thể chỉ cần một vài ngân hàng vỡ nợ nhưng đã có tác động mang tính chất dây chuyền (do mất niềm tin) dẫn đến tình trạng sụp đổ hàng loạt các Ngân hàng, tổ chức tài chính. Các yếu tố dẫn đến nguy cơ phá sản của các Ngân hàng và tổ chức tài chính:
- Các doanh nghiệp – con nợ chính của Ngân hàng và các tổ chức tài chính
- kinh doanh thua lỗ và phá sản ngày càng gia tăng.
- Nhu cầu rút vốn tăng lên đột ngột
- Các ngân hàng tham gia đầu tư vào các dự án quá lạc
- Cơ chế giám sát của Ngân hàng Trung ương kém.
- Sự can thiệp của chính phủ.
- Luật pháp không cho phá sản
- Áp lực của hiện đại hóa và cạnh tranh toàn cầu trên lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng – Tài chính
- Sự quản lý yếu kém của bản thân các Ngân hàng, công ty tài chính Mô hình “ Nguy cơ phá sản Ngân hàng”
Sơ đồ 3. Mô hình “Nguy cơ phá sản Ngân hàng, Công ty Tài chính”
1.1.4. Mô hình “Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán” Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Đầu tư nước ngoài và đầu tư từ ngân sách quốc gia là các công cụ, tiền đề để phát triển. Song trong những điều kiện nhất định, các loại đầu tư này có thể tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán của một quốc gia.Nếu tỉ giá hối đoái gần như cố định, lãi suất tín dụng trong nước cao hơn đáng kể ở nước ngoài thì đầu tư tài chính vào nước chủ nhà sẽ có hiệu quả cao với các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, đầu tư tài chính của nước ngoài càng tăng thì số lãi suất phải trả và được chuyển qua ngoại tệ ra nước ngoài sẽ càng cao, có tác dụng làm giảm dự trữ ngoại tệ một quốc gia, đồng thời nợ quốc gia sẽ gia tăng. Điều này tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia.
Nếu các doanh nghiệp vay ngoại tệ ngắn hạn, lại đầu tư vào các công trình xây dựng nhà ở, văn phòng, đường xá, viễn thông là các ngành chỉ đem lại doanh thu ngoại tệ rất ít, thì khi nợ tới hạn phải trả, sẽ không có nguồn ngoại tệ. Đây chính là nguy cơ mất khả năng thanh toán do cơ cấu đầu tư bằng vốn vay không hợp lý.
Nếu vay nước ngoài qua con đường chính thức (ODA) mà nước chủ nhà lựa chọn các dự án kém hiệu quả thì khả năng hoàn vốn sẽ kém. Đến hạn phải trả, Chính phủ phải xuất ngoại tệ để trả hoặc vay tiếp để trả nợ cũ. Kết quả là dự trữ ngoại tệ giảm hoặc nợ nước ngoài của Chính phủ sẽ tăng.
- Sơ đồ 4. Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
1.1.5. Mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế – tài chính”
Khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế quốc gia đã tích lũy bốn nguy cơ khủng hoảng là:
- Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
- Sự kém hiệu quả của các Ngân hàng, Công ty Tài chính
- Sự duy trì tỉ giá hối đoái gần như cố định
- Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán và khi bên ngoài có một số tác động quyết định là sự rút vốn tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài.
Sơ đồ 5. Mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tê
1.2. Diễn biến, tính chất, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện nay Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã đạt đến cao trào trong thời gian gần đây và đang có xu hướng ngày càng trầm trọng và lan rộng, hình thành cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu. Dự đoán kinh tế toàn cầu sẽ đi vào suy thoái kéo dài dưới tác động của khủng hoảng tài chính hiện tại. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể chỉ còn 2,5% trong năm 2026 so với 3,8% trong năm 2025.
Có thể nói cuộc khủng hoảng lần này là sự kết hợp của tất cả các mô hình ở trên, trước tiên chúng ta sẽ xem xét diễn biến của cuộc khủng hoảng.
1.2.1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ ”hàng trăm năm mới có một lần”, theo lời ông Alan Sreenspan, cựu chủ tịch Cục Dự Trữ Liên Bang (FED), đã được dự báo từ năm 2023. Tuy nhiên, dự đoán cũng như phân tích của nhiều nhà kinh tế đã không đủ sức thuyết phục để các cơ quan tài chính quyền lực nhất tại Mỹ và Châu Âu có biện pháp đề phòng. Nguyên nhân trực tiếp của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm. Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất. Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách hàng. Dư nợ trong lĩnh vực này tăng mạnh từ 160 tỷ USD năm 2018 lên 540 tỷ USD vào năm 2021 và bùng nổ thành 1.300 tỷ USD vào năm 2024. Theo ước tính vào cuối quí III năm 2025 hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản nợ là khó đòi. Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2021 lên 5,25% vào giữa năm 2023 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn đối với người mua nhà. Họ không thể trả được nợ vay và nhà thì bị tịch biên. Thị trường bất động sản bắt đầu đóng băng và giá nhà đất bị sụt giảm mạnh. Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản.
Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính là Country Financial, tập đoàn tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng, đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2024. Đến tháng 1/2025, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua lại Country Financial với giá 4 tỷ USD. Sau đó một tháng đến lượt Northern Rock, ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, sau khi mất thanh khoản nghiêm trọng do thua lỗ từ cho vay thế chấp bất động sản, đã phải cầu cứu ngân hàng trung ương Anh. Nhà đầu tư ùn ùn kéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộc phải tiếp quản tập đoàn ngân hàng này; và đến ngày 17/02/2025, Northern Rock chính thức bị quốc hữu hóa. Sự kiện Country Financial và Northern Rock là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàn cầu cũng như làn sóng sát nhập, phá sản, và bị chính phủ tiếp quản của các định chế tài chính. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Đến ngày 28/02/2025 Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ Euro. Chưa đầy một tháng sau, chính xác là ngày 17/3/2025, sự sụt giá không kiểm soát nổi của các khoản đầu tư tài chính- bất động sản đã buộc Tập đoàn môi giới chứng khoán Bear Stearns của Mỹ tê liệt và chấm dứt hoạt động sau 85 năm tồn tại. Bear Stearns phải chấp nhận bán lại cho đối thủ JP Morgan Chase với giá 240 triệu USD, bao gồm cả trụ sở của hãng này.
Chưa dừng lại ở đó, đến ngày 29/4/2025, Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp bất động sản. Đến ngày 31/7/008, ngân hàng này công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD, và Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu. Trước đó, ngày 11/7/2025, chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra ngày 7/9/2025 khi hai tập đoàn chuyên cho vay cầm cố khổng lồ Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được chính phủ tiếp quản để trán khỏi nguy cơ phá sản. Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ đổ vỡ với những tên tuổi lớn khác. Ngày 15/9/2025, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual Inc, một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ, đã tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng giá trị tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ USD. Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, Ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG, Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn.
Tháng 9 và 10/2025 trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow Jones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2025. Biến động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chục năm đã bị phá. Không chỉ ở phố Wall, tuần lễ từ 15 đến 21/9/2025 thị trường chứng khoán của cả thế giới chao đảo, từ Tokyo đến Thượng Hải, Seoul và Hồng Kông, các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh.Tại Châu Âu, các thị trường chứng khoán Paris, Luandon, Franfurt, Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường chứng khoán Matxcova cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Xen giữa nhứng sự kiện trên, 9 tháng đầu năm 2025 chứng kiến các cơn sốt giá dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt là giá dầu, từ mức 90 USD một thùng vào đầu năm 2025 đã leo lên trên 100 USD vào 20/2/2025 và lập kỷ lục trên 147 USD một thùng vào 11/7/2025. Giá dầu leo thang kéo giá hàng hóa cơ bản và lương thực lên theo. Trong đó, vàng lập kỷ lục trên 1000 USD một ounce vào ngày 17/3/2025. Còn giá lương thực đắt đỏ lại tạo ra căng thẳng thực sự tại nhiều nơi, thậm chí cả ở các quốc gia xuất khẩu lương thực. Nạn lạm phát từ đó cũng xảy ra tràn lan tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên sau khi đạt đỉnh vào tháng 7/2025, giá dầu bất ngờ lao dốc không phanh. Nguyên nhân của hiện tượng trên là nhu cầu sử dụng dầu tại nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, sụt giảm mạnh do khó khăn về kinh tế. Hiện giá nhiên liệu này chỉ còn khoảng 40 USD một thùng, mất hơn 100 USD, tương ứng gần 70% so với mức giá kỷ lục trước đó vài tháng, bất chấp những nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC.
Quay trở lại với diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ đã khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất, từ đó lãi suất cơ bản từ 5% đã xuống chỉ còn 0,25%. Không dừng lại ở điều chỉnh tài khóa, các quốc gia trên cũng tích cực bơm tiền nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích hoạt động tiêu dùng và cho vay. Trong đó, FED quyết định dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các ngân hàng. TRước khi được thông qua ngày 1/110/2025, kế hoạch hỗ trợ lớn chưa từng có trong lịch sử đã vấp phải không ít phản đối tại Quốc hội Mỹ. Đặc biệt tại vòng bỏ phiếu vào ngày 29/9/2025, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch trên tạo ra một cú sốc thực sự với phố Wall khiến chỉ số Dow Jones trải qua ngày giảm điểm tồi tệ nhất trong lịch sử. Không lâu sau khi kế hoạch trên được thông qua, vào các ngày 13-14/10/2025, các quốc gia châu Âu đã công bố gói giải pháp hỗ trợ kinh tế khổng lồ có trị giá lên tới 2.300 tỷ USD.
Bước vào quý IV/2025, suy thoái kinh tế toàn cầu biểu hiện rõ sau khi các trung tâm kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU cùng lần lượt rơi vào suy thoái. Kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh, khoảng âm 0,3% trong quý III/2025. Mức chi tiêu của người tiêu dùng, vốn đóng góp tới hai phần ba vào sự tăng trưởng kinh tế Mỹ, suy giảm mạnh nhất kể từ năm 1980. Thâm hụt ngân sách liên bang trong năm tài khóa 2025 tăng mạnh với mức kỷ lục 454,8 tỷ USD, cao gấp ba lần mức thâm hụt 161,5 tỷ USD trong tài khóa năm 2024, chủ yếu do chi phí quốc phòng tăng mạnh, nhất là phục vụ cho hai cuộc chiến tranh Iraq, Afghanistan. Dự báo thâm hụt ngân sách liên bang trong tại khóa năm 2026 có thể lên tới 1000 tỷ USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay của nước này lên đến 6,5% cao nhất trong 14 năm qua. Theo dự báo, kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái trong năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp có thể lên 8%, trong khi các khoản tiền dự trữ và giá trị bất động sản giảm mạnh, chỉ số lòng tin của người dân Mỹ giảm xuống tới mức kỷ lục. Điều này càng làm cho nền kinh tế số một thế giới lâm vào suy thoái trầm trọng hơn.
Tiếp theo Mỹ, nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật Bản đã chính thức công bố suy thoái kinh tế vào ngày 18-11-2025 sau khi tăng trưởng âm liên tiếp trong hai quý II và III/2025. Như vậy, đây là lần đầu tiên kể từ năm 2018, kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái. Trước đó, khu vực đồng tiền chung Euro cũng lần đầu tiên rơI vào suy thoái kể từ khi hình thành năm 2016. Số liệu thống kê cho thấy GDP của 15 nước sử dụng đồng tiền chung Euro đã tăng trưởng âm liên tiếp trong hai quý II và III/2025. Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu và đứng thứ ba thế giới chính thức rơi vào cuộc suy thoái lớn nhất trong vòng 12 năm qua, kinh tế Anh cũng lâm vào suy thoái, theo dự báo năm 2026 sẽ chịu mức giảm mạnh nhất kể từ gần hai thập niên qua, số người thất nghiệp có thể lên tới 3 triệu người vào năm 2027. Số liệu thống kê của Italia cho biết nền kinh tế nước này rơi vào cuộc suy thoái nặng nề nhất kể từ năm 1992. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng tài chính cũng tràn qua Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Braxin,… là những nơi được dự đoán là ít chịu tác động nhất. Kinh tế Trung Quốc vốn được coi là một động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới, sau nhiều năm tăng trưởng ở mức hai con số, đã giảm chỉ còn 9% trong quý III/2025 Ngân hàng thế giới cho biết tăng trưởng GDP của Trung Quốc chỉ đạt 7,5% trong năm 2025, mức thấp nhất trong vòng 19 năm qua. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng từ 16% trong tháng 6 xuống còn 8,2% trong tháng 10/2025, thấp nhất trong 7 năm qua.
Xuất khẩu suy giảm do khủng hoảng tài chính, theo dự báo sẽ còn có khó khăn hơn trong năm 2026, kéo theo sự sụt giảm nhiều ngành sản xuất khác và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Khủng hoảng tài chính tại Nga đang ngày càng trầm trọng khi đồng Rup mất giá mạnh, Chính phủ đã phải chi 58 tỷ USD để giữ giá đồng tiền này. Trong khi đó, nguy cơ thâm hụt ngân sách của Nga rất lớn và kinh tế khó khăn, bởi thời kỳ thịnh vượng nhờ giá dầu lửa cao đã chấm dứt. Nền kinh tế Nga vốn ổn định và mạnh lên trong thời gian khá dài nhờ xuất khẩu dầu lửa được giá, nhưng hiện đứng trước nhiều khó khăn do khủng hoảng tài chính và giá dầu thế giới giảm mạnh, xuống dưới 50USD/ thùng- đây là mức thấp nhất trong 4 năm qua. Nga đang thực hiện các giải pháp nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hiện nay. Chính phủ dự định chi khoảng 190 tỷ USD nhằm hỗ trợ hệ thống tài chính và ngân hàng, các ngành kinh tế then chốt cũng như cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hầu hết các nền kinh tế lớn như Đông- Nam á đều định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Do vậy, dù ở mức độ khác nhau các nước trong khu vực Đông- Nam á dễ bị tác động của xu hướng giảm sút thương mại và đầu tư trên thế giới hiện nay. Trước mắt, lĩnh vực xuất khẩu, thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ khu vực đang chịu ảnh hưởng mạnh của cuốc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông- Nam á rơi vào suy thoái năm 2025, ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế nước này là xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo, dịch vụ tài chính – ngân hàng và du lịch đều bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 3%. Chính phủ đã phải tạm thời đình chỉ kế hoạch từng bước tăng giá đồng nội tệ SGD. Các biện pháp kích thích cả gói có thể làm cho thâm hụt ngân sách năm 2025 tăng lên gấp ba lần. Kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi đồng Won mất giá hơn 40% kể từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2024. Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính. Thái Lan cũng có những biểu hiện của suy thoái kinh tế. Trong bối cảnh đó Pakistan là nước châu Á đầu tiên kêu gọi IMF trợ giúp 6,5 tỷ USD.
Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự giảm sút trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng như chi tiêu của người dân . Hệ quả của tình trạng trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng cao, chỉ số lòng tin của người tiêu dùng rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm. Trong 3 tháng, tính tới đầu quý IV/2025, đã có hơn 30000 doanh nghiệp Mỹ phá sản. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Chưa dừng lại ở đó, mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn nữa nếu ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu là Ford, General Motor và Chrysler phá sản. Kể từ đầu năm đến nay, ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ đã bị khủng hoảng tài chính “ quật” cho tơi tả. Với việc doanh số bán xe trong tháng 10/2025 của Mỹ tụt xuống mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua, và dự đoán sẽ tồi hơn do khủng hoáng tài chính, ba đại gia trên đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, mà trước mắt là cạn kiệt tiền mặt. Chrysler từ ngày 18/12/2025 đã ngưng hoàn toàn hoạt động sản xuất tại khu vực Bắc mỹ. Chính phủ Mỹ đang cân nhắc kế hoạch cho GM và Chrysler, hai tập đoàn nguy ngập nhất, vay gấp 14 tỷ USD trong thời gian ngắn, được trích từ nguồn hỗ trợ 700 tỷ USD dành cho việc mua nợ xấu của các ngân hàng. Tuy nhiên, khoản tiền trên có lẽ chỉ như một liều thuốc tạm thời, đủ để hai hãng sống sót đến hết quý I/2026. Các kế hoạch dài hơn nhàm giải quyết khó khăn của ngành công nghiệp xe hơn khi đó được chuyển giao cho Chính phủ mới của tổng thống Barack Obama. Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, nếu các công ty được coi là biểu tượng của nền công nghiệp xe hơi Mỹ phá sản, sẽ có thêm khoảng 2,5 triệu lao động bị mất việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ từ đó cũng sẽ leo thang với tốc độ chóng mặt.
1.2.2. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Bắt đầu từ đầu năm 2018 (12/01/2018), để giúp nền kinh tế thoát khỏi sự trì trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động bởi sự kiện 11/09/2018 nước Mỹ bị khủng bố và Mỹ tấn công Afghanistan, Iraq), nguyên Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Alan Green Span đã liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất Federal Funds từ 6% xuống còn 1% vào ngày 25/06/2020, từ đó dẫn đến các ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ 9-10%/năm xuống còn 4-5%/năm). Chính sách tiền tệ của NHTW được nới lỏng, dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM cũng được mở rộng theo, nhiều khoản vay mua nhà dưới chuẩn được thực hiện với sự tiếp sức của các môi giới tín dụng và môi giới bất động sản (BĐS).
Nhờ vậy thị trường bất động sản trở nên nhộn nhịp cũng giống như ở nước ta năm 2024 và bong bóng BĐS đã hình thành với sự giúp sức của những nhà đầu cơ chuyên nghiệp. Theo ước tính của các chuyên gia (trên Báo Thanh niên ngày 16/10/2025) thì dư nợ cho vay dưới chuẩn tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2018 lên 540 tỉ vào năm 2021 và trên 1.300 tỉ vào năm 2024. Điều đó cho chúng ta thấy rằng khoản cho vay dưới chuẩn đã tăng lên một cách nhanh chóng. Cũng theo ước tính của nhiều chuyên gia (Thời Báo Kinh tế VN ngày 03/10/2025) trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu. Điều lưu ý là phần lớn các hợp đồng vay dài hạn thường được tính theo lãi suất khả biến và điều chỉnh theo tín hiệu thị trường.
Và cũng bắt đầu từ ngày 30/06/2021 FED đã chính thức điều chỉnh tăng lãi suất để chống lại lạm phát đang có khuynh hướng gia tăng trước chính sách tiền tệ nới lỏng. FED đã liên tục điều chỉnh lãi suất FED FUNDS gia tăng từ 1% lên 1.25, 1.50, …và 5.25% vào ngày 30/06/2023, kéo theo lãi suất NHTM tăng từ 4% lên 8-9%/năm. Các khoản tiền lãi vay phải trả của những người mua nhà đã gia tăng mạnh và đe dọa khả năng trả nợ. Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị,..nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng và đó là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ hiện nay.
Mọi việc sẽ bớt phức tạp nếu dừng lại ở đó không “phái sinh” thêm nữa. Tại Mỹ, thị trường tài chính vốn dĩ là bà đỡ cho nền kinh tế nên nó đã bị lợi dụng trong ván bài này. Cụ thể là các khoản nợ dưới chuẩn này lại là cơ sở để hình thành các sản phẩm chứng khoán phái sinh. Các nhà đầu tư (các ngân hàng, công ty bảo hiểm…) mua lại các khoản thế chấp này (mortgages), sau đó các tổ chức tài chính đã biến các hợp đồng cho vay bất động sản này làm tài sản bảo đảm để phát hành trái phiếu ra thị trường với tên gọi là “Mortgage backed securities – MBS”. Các sản phẩm phái sinh này lại được các tổ chức định mức tín nhiệm (Credit rating agencies) đánh giá cao, nên dễ mua bán. Bên cạnh đó, các hợp đồng tín dụng dưới chuẩn này còn được các tổ chức bảo hiểm (AIG là một điển hình) bảo lãnh dưới những hợp đồng hoán đổi CDS-Credit Default Swap (giống như mua bảo hiểm rủi ro). Khi nợ không đòi được tổ chức bảo hiểm phải bồi hoàn cho ngưới mua bảo hiểm (người cho vay).
Điều lưu ý là cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại không đơn thuần chỉ là khủng hoảng tín dụng nhà đất mà nguyên do sâu xa hơn được tích lũy thời gian dài: do bùng nổ tín dụng, sự bùng nổ nợ tiêu dùng, nhận thức xu hướng phát triển tồn tại mãi, sự tôn sùng về thị trường tự do không kiểm soát, sự sùng bái thị trường tài chính, kinh tế thị trường…
1.2.2. Tính chất và đặc điểm của cuộc khủng hoảng Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
- Cần đặc biệt chú ý đến một điểm sau đây:
Thứ nhất, cuộc khủng hoảng lần này nổ ra tại nước Mỹ, đây là đầu tàu kinh tế thế giới, vì vậy rất dễ lan truyền ra toàn cầu. Khi nước Mỹ dùng tới cả tiền tiết kiệm của thế giới để giải quyết vấn đề khủng hoảng của mình, rõ ràng khủng hoảng sẽ lan rộng và tăng cấp.
Theo Joseph E.Stiglitz, nguyên kinh tế gia trưởng của WB và là người đã đạt giải Nobel kinh tế năm 2018, Mỹ đã xuất khẩu món nợ dưới chuẩn độc hại của mình đi khắp thế giới, dưới dạng các loại giấy tờ có giá được đảm bảo bằng tài sản. Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do ở mức mà ngay cả vị tu sỹ cao cấp nhất của trường phái đó là Alan Greenspan giờ cũng phải thừa nhận là sai lầm. Mỹ đã xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội mà rõ nhất là việc mua bán quyền chọn cổ phiếu một cách thiếu minh bạch, thứ văn hóa đã khiến người ta làm sai lệch sổ sách kế toán doanh nghiệp, mà đỉnh điểm là những vụ scandal như Enron hay Worldcom mấy năm trước đây. Và cuối cùng, Mỹ đã xuất khẩu cả sự suy thoái kinh tế đi bốn phương.
Cũng do nổ ra tại Mỹ, nên có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng này đánh dấu sự suy yếu vị thế kinh tế tài chính của Mỹ, cùng với những khó khăn và thách thức khác đang làm giảm vị thế và hình ảnh của Mỹ trên trường quốc tế. Điều này sẽ đẩy nhanh sự chuyển dịch kinh tế thế giới sang một hệ thống đa cực hơn, thúc đẩy xu hướng dần hình thành thế giới đa cực trong thời gian tới. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính lần này tiến triển bất ngờ, nhanh và không được dự báo trước. Trong thời gian hơn một năm vừa qua, tất cả các cơ quan dự báo uy tín trên thế giới cũng như các nước phát triển và đang phát triển, thậm chí là ở Mỹ một quốc gia được coi có thông tin tương đối công khai và chính xác, cũng dự báo sai về tiến triển và hậu quả của cuộc khủng hoảng. Cho đến nay, vẫn chưa có cơ quan nào có thể đưa ra dự báo tương đối chắc chắn về diễn biến của cuộc khủng hoảng trong tương lai, đặc biệt là khi nó kết thúc, khi nào đà suy thoái của nền kinh tế thế giới chấm dứt và bắt đầu hồi phục.
Thứ ba, cuộc khủng hoảng lần này cớ mức độ ảnh hưởng sâu và rộng. Không chỉ lan nhanh từ Mỹ ra toàn cầu, cuộc khủng hoảng còn lan mạnh sang nhiều lĩnh vực như: Từ tài chính sang kinh tế, từ kinh tế ảo sang kinh tế thực, từ kinh tế sang xã hội, từ thực tiễn sang chính sách, từ chính sách sang chủ thuyết… Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã dẫn đến thất nghiệp gia tăng ở khắp mọi nơi trên thế giới, gây bất ổn về mặt xã hội, thậm chí ở một số nơi còn xảy ra khủng hoảng chính trị.
Khủng hoảng tài chính không chỉ dẫn tới khủng hoảng về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội,…một số nhà kinh tế hàng đầu thế giới cho rằng nó còn dẫn tới sự phá sản của mô hình chủ nghĩa tư bản với kinh tế thị trường tự do mới mà định hướng chủ yếu là đẩy mạnh hoạt động của thị trường tự do, khuyến khích tư nhân hóa và hạn chế sự can thiệp kiểm soát của nhà nước. Quay trở lại quá khứ, cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã đánh dấu sự sụp đổ của tư tưởng tự do kinh tế, lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh với “bàn tay vô hình” là thị trường bị thất bại, dẫn đến sự ra đời của lý thuyết kinh tế “chủ nghĩa tư bản có điều tiết” của John Maynard Keynes năm 1936, với chủ trương nhà nước can thiệp, điều tiết nền kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974 – 1975, với những căn bệnh trầm trọng của chủ nghĩa tư bản như lạm phát gắn với suy thoái, khủng hoảng cơ cấu đã làm cho học thuyết của J.Keynes rơi vào khủng hoảng. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Suốt trong thời gian dài từ những năm 80 của thế kỉ 20 đến nay, lý thuyết chi phối sự vận hành của nền kinh tế Mỹ bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế thị trường tự do mới của Ronald Reagan và Magaret Thatcher. Cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng lần này tại chính nước Mỹ đã khiến ông Greenspan sau hơn 18 năm làm chủ tịch FED, một người vốn tin tưởng tuyệt đối vào điều tiết của thị trường tự do, đã thừa nhận sự thất bại của mô hình chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường tự do mới. Ông đề nghị chính phủ Mỹ xem xét ban hành các qui định quản lý kinh tế chặt chẽ hơn, để các định chế tài chính không thể mạo hiểm bỏ vốn vào các khoản đầu tư rủi ro, sau đó chính phủ lại phải đứng ra cứu trợ, thiếu sự kiểm soát của nhà nước trong hoạt động của thị trường tài chính sẽ tiềm ẩn nguy cơ và dẫn đến khủng hoảng.
Joseph E. Stiglitz cũng thừa nhận thực tế nêu trên khi phát biểu rằng: “Thế giới dường như đang tỏ ra không mặn mà với chủ nghĩa tự do mới, một chiếc túi chứa đầy những ý tưởng dựa trên nền tảng cơ bản là thị trường luôn luôn tự điều tiết, phân bổ hiệu quả các nguồn lực và phục vụ lợi ích chung”. Theo ông sau một phần tư thế kỉ thử nghiệm ở các nước đang phát triển, đã xuất hiện nhiều trường hợp thất bại: không chỉ các nước áp dụng chính sách tự do mới thất bại trong cuộc chạy đua thúc đẩy tăng trưởng, mà ngay cả khi đã đạt được tăng trưởng thì lợi ích từ kết quả này lại được phân chia một cách không công bằng, chủ yếu tập trung vào những người giàu. Trong một thế giới thừa thãi, vẫn có hàng triệu người ở các nước đang phát triển không được hưởng khẩu phần dinh dưỡng tối thiểu. Đang tồn tại một khoảng cách rất lớn giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Nếu hai lợi ích này không hài hòa, kinh tế thị trường không thể phát triển. Và ông nhận định thêm: “Tư tưởng tự do mới là một học thuyết chính trị phục vụ cho lợi ích cá nhân, nó không dựa trên nền tảng của một học thuyết kinh tế. Nó cũng không dựa trên một kinh nghiệm lịch sử nào. Đây là bài học duy nhất cần rút ra từ mối đe dọa đang đè nặng lên nền kinh tế thế giới hiện nay”. Và đây chính là sự cáo chung của chủ nghĩa tự do mới.
Thứ tư, đúng như lời của ông Alan Greenspan nhận định, đây là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ “hàng trăm năm mới có một lần”, với hậu quả thực sự nặng nề thậm chí có thể tương đương với qui mô so với đại khủng hoảng 1929-1933 đã kéo lùi nền kinh tế thế giới thụt lùi khoảng 40 năm. Tính sơ bộ từ mùa hè năm 2024 đến cuối năm 2025, cuộc khủng hoảng đã thiêu rụi khoảng 35.000 tỷ USD vốn liếng của loài người. Xem xét giải pháp của các nước đưa ra ta thấy qui mô cũng chưa từng có. Chẳng hạn Mỹ cho đến nay đã chi 1.300 tỷ USD (9,3%GDP), EU chi số tiền 200 tỷ Euro (chiếm 1,5%GDP), Trung Quốc bỏ ra 585 tỷ USD (chiếm 20%GDP)…để cứu vãn tình hình kinh tế. Tuy nhiên, những số tiền này cũng chỉ như “muối bỏ biển” vì tỉ lệ nợ xấu của thế giới có thể lên tới hàng trăm nghìn tỷ USD. Các gói giải pháp cứu hộ nêu trên thực tế cũng chưa đụng đến được nguyên nhân sâu sa của khủng hoảng là vấn đề thể chế (tài chính, tiền tệ…) và kết cấu kinh tế… Với ảnh hưởng sâu, rộng và đang diễn biến hết sức phức tạp, chưa có dấu hiệu cho thấy sự chấm dứt, chắc chắn cuộc khủng hoảng còn gây những tác động mạnh mang tính tàn phá đối với nền kinh tế thế giới và xã hội loài người.
1.3. Cơ chế tác động của khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu: Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Để phân tích cơ chế ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tới xuất khẩu trước hết chúng ta hãy xem xét 2 vấn đề đó là chu kỳ kinh tế và các yếu tố tác động tới xuất khẩu:
- Chu kỳ kinh tế bao gồm 3 giai đoạn : suy thoái. phục hồi, hưng thịnh
Hình 1: Chu kì kinh tế
- Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
- Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái. Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Trước đây, theo lý thuyết của Mác, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v… không xảy ra nữa. Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Ở Việt Nam cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này là khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Nay không còn thấy cách gọi này nữa.
- Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế. Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn. Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn…thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội.
- Nguyên nhân
Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vực tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Đặc biệt là trong những pha suy thoái, nền kinh tế và xã hội phải gánh chịu những tổn thất, chi phí khổng lồ. Vì thế, chống chu kỳ là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp chống chu kỳ mà họ đề xuất cũng khác nhau. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Chủ nghĩa Keynes cho rằng chu kỳ kinh tế hình thành do thị trường không hoàn hảo, khiến cho tổng cầu biến động mà thành. Do đó, biện pháp chống chu kỳ là sử dụng chính sách quản lý tổng cầu. Khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt. Hình 2 minh họa một sự suy thoái do tổng cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sang AD’ khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q’ và giá cả giảm từ P đến P’ (lạm phát giảm).
Các trường phái theo chủ nghĩa kinh tế tự do mới thì cho rằng sở dĩ có chu kỳ là do sự can thiệp của chính phủ hoặc do những cú sốc cung ngoài dự tính. Vì thế, để không xảy ra chu kỳ hoặc để nền kinh tế nhanh chóng điều chỉnh sau các cú sốc cung, chính phủ không nên can thiệp gì cả. Hình 3 minh họa một trường hợp suy thoái do tổng cung giảm: vì lý do nào đó (ví dụ giá đầu vào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống AS’ khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q’ nhưng giá cả lại tăng từ P lên P’ (lạm phát tăng).
- Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế là:
Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của chính sách tiền tệ và tín dụng. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton Friedman. Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ 1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa tới 18% để chống lạm phát.
- Mô hình gia tốc – số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kỳ của
- Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michal Kalecki,… Lý thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử.
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, , Robert Barro, Thomas Sargent…phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm. Một trong những phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ. Những người ủng hộ lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2021 Edward Prescott, Charles Prosser,…
Tuy vậy, cho dù mỗi lý thuyết trên đây đều có tính hiện thực, không có lý thuyết nào tỏ ra đúng đắn ở mọi lúc, mọi nơi.
Ngày nay, quan sát các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển, người ta phát hiện ra hiện tượng pha suy thoái càng ngày càng ngắn về thời gian và nhẹ về mức độ thu hẹp của GDP thực tế. Một trong những nguyên nhân quan trọng là chính phủ các nước này đã hiểu biết và vận dụng tốt hơn những hiểu biết về kinh tế vĩ mô. Bằng cách kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nhà nước có thể ngăn chặn một cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng. Chu kỳ kinh doanh khốc liệt tàn phá chủ nghĩa tư bản trong những thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản đã được chế ngự
- Hình 2- Kinh tế suy thoái do giảm tổng cầu
- Hình 3: Kinh tế suy thoái do giảm tổng cung
Các yếu tố tác động tới xuất khẩu: có 4 yếu tố chính tác động tới xuất khẩu đó là:
- Tỉ giá hối đoái
- Yếu tố cung cầu
- Hàng rào thuế quan, phi thuế quan
- Cạnh tranh trên thị trường quốc tế (dựa vào lợi thế so sánh tương đối, chất lượng hàng hóa…)
Xét về yếu tố cung cầu thì lại chia ra nhiều tác nhân nhỏ hơn, đó là Về phía cung (người xuất khẩu)
- Giá cả hàng xuất khẩu
- Chất lượng hàng xuất khẩu
Ngoài ra còn có những yếu tố khác như các ưu đãi thương mại mà người xuất khẩu dành cho người nhập khẩu, mối quan hệ đối tác lâu dài, hiệp định thương mại tự do kí kết giữa các chính phủ … Tuy nhiên giá cả và chất lượng hàng hóa vẫn là những nhân tố chủ đạo. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Về phía cầu (người nhập khẩu)
- Thu nhập và xu hướng nhập khẩu cận biên MPM (MPM cho biết khi tăng thêm một đồng thu nhập thì người tiêu dùng dành bao nhiêu trong đó để mua hàng nhập khẩu)
- Giá cả hàng hóa trong nước
- Thị hiếu của người tiêu dùng
Ngoài ra còn có những yếu tố khác như vị trí địa lý, ưu đãi thương mại nhân được từ phía người xuất khẩu, các quy định quản lý ngoại hối, tác động phi kinh tế (vì sức khỏe thế giới tẩy chay không dùng đồ Trung Quốc)…
Như đã trình bày ở trên về đặc điểm của pha suy thoái (GDP giảm) và những nhân tố tác động đến xuất khẩu, ta có thể thấy cơ chế tác động của suy thoái lên xuất khẩu như sau:
- Suy thoái kinh tế GDP nước nhập khẩu giảm → Thu nhập người dân nước nhập khẩu giảm (MPM có thể giảm đi) → lượng cầu hàng nhập khẩu giảm →giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
- Suy thoái kinh tế → giá cả trong nước giảm → giá hàng nhập khẩu cao tương đối so với giá hàng hóa trong nước → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
- Suy thoái kinh tế → thu nhập của người dân giảm →chuyển chi tiêu sang loại hàng nhập khẩu cùng chủng loại nhưng giá cả cạnh tranh hơn → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
- Suy thoái kinh tế → bảo hộ sản xuất trong nước dựng lên hàng rào thuế quan phi thuế quan cản trở nhập khẩu → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu.
(Với việc hầu hết các nước đều là thành viên của tổ chức WTO thì việc dựng hàng rào thương mại tức là vi phạm cam kết của WTO đi ngược lại xu hướng tự do hóa thương mại trên toàn thế giới. Tuy nhiên vẫn có các ngoại lệ và chỉ xuất hiện ở các nước lớn như Mĩ, Nhật, EU…)
Suy thoái kinh tế→nền kinh tế của các nước chịu ảnh hưởng từ suy thoái (các quốc gia phát triển) bị ngừng trệ →nhu cầu đầu tư ra nước ngoài (tại các nước kém và đang phát triển) sẽ giảm đi→thu hút đầu tư nước ngoài tại các quốc gia nhận đầu tư sẽ giảm đi→ giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Các nhân tố khác như tỉ giá hối đoái cũng như giá cả chất lượng hàng hóa của người xuất khẩu ít có tác động tới lượng xuất khẩu trong thời gian này bởi với một chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát như hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới thì chính phủ luôn cố gắng duy trì một tỉ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu, còn về mặt chất lượng giá cả hàng hóa xuất khẩu nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề kỹ thuật, công nghệ (chất lượng) và các yếu tố thị trường thế giới (đầu cơ, quy định của hiệp hội cartel…) là các yếu tố hoặc dài hạn hoặc nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
1.4 Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới xuất nhập khẩu của một số nền kinh tế lớn trên thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2024 đã nhanh chóng lan rộng ra các nền kinh tế lớn, trở thành cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu và hiện đang diễn biến rất phức tạp.
Nhiều quốc gia đã phải bơm vào nền kinh tế hàng trăm cho đến hàng nghìn tỷ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế. Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn đang chờ phía trước. Cho đến nay, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu. Sự sụp đổ của những ngân hàng lớn đã gây nên những lo ngại và mất niềm tin của dân chúng. Ngay cả các quỹ đầu tư tiền tệ, vốn được coi là góc an toàn bậc nhất trong hệ thống tài chính Mỹ, là nền tảng cho hoạt động đầu tư của nước này, cũng gặp khó khăn khi người dân ồ ạt rút tiền do những quan ngại về sự đổ vỡ tiếp theo.
Trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, tháng 10, công bố ngày 6-11-2025, IMF dự đoán nền kinh tế Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ giảm 0,7% trong năm 2026 thay vì mức dự báo tăng 0,1% trước đây. Tăng trưởng kinh tế ở khu vực sử dụng đồng Euro được dự báo sẽ giảm 0,5% trong năm 2026 so với tăng 0,2% theo dự báo hồi tháng 10. Nền kinh tế Nhật Bản dự kiến sẽ giảm 0,2% trong năm 2026, giảm mạnh so với mức dự báo tăng 0,5% hồi tháng trước.
Cũng trong báo cáo này, IMF đã hạ mức dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2026 của các nước đang phát triển từ 6,1% (đưa ra hồi tháng 10-08) xuống còn 5,1%. Đối với các nước đang phát triển ở châu Á, IMF dự báo tăng trưởng năm 2026 sẽ là 7,1%, thấp hơn 0,6% so với dự đoán trước đó.
1.4.1 Mỹ Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Thâm hụt thương mại của Mỹ tháng 12/2025 giảm 4% xuống 39,9 tỷ USD%, so với mức thâm hụt 41,6 tỷ USD tháng 11/2025. Đây là con số đã được điều chỉnh, trước đó mức thâm hụt tháng 11 được công bố là 40,6 tỷ USD.
- Tính cả năm 2025, thâm hụt thương mại của Mỹ đã giảm xuống 677,1 tỷ USD từ mức 700,3 tỷ USD năm 2024.
- Đây là tháng thứ 5 liên tiếp xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ đều giảm.
- Tháng 12/2025, giá trị nhập khẩu giảm 5,5% từ 183,9 tỷ USD xuống 173,7 tỷ USD, thấp nhất từ tháng 9/2022, chủ yếu là do nhu cầu mua ô tô của người Mỹ sụt giảm và giá dầu xuống thấp.
- Giá dầu nhập khẩu trung bình tháng 12 của Mỹ đã giảm xuống 49,93 USD/thùng, thấp nhất trong vòng 3 năm.
- Nhập khẩu các mặt hàng quần áo, nội thất và đồ tiêu dùng cũng giảm.
- Sức nhập khẩu của Mỹ giảm đã tác động mạnh đến nhiều nước khác. Cán cân thương mại của Canada, vốn là nước chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường nhập khẩu dầu và khí đốt của Mỹ, đã thâm hụt lần đầu tiên trong 3 thập kỷ.
- Tháng 12/2025 xuất khẩu giảm 6% xuống 133,8 tỷ USD. Doanh số tại thị trường quốc tế của các mặt hàng ô tô, các phụ kiện và động cơ của Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất từ tháng 11/2021.
- Cán cân thương mại của Mỹ với Trung Quốc, Canada và EU đã giảm xuống lần lượt là 19,9 tỷ USD, 2,8 tỷ USD và 7 tỷ USD.
- GDP của Mỹ được dự báo là sẽ tiếp tục giảm trong quý này. Quý 4/2025, kinh tế đã giảm 3,8% so với cùng kỳ 2024, nhiều nhất từ 1982.
Nhiều nhà kinh tế đã chỉ trích những điều khoản “Buy American” trong kế hoạch kích thích kinh tế của Tổng thống Obama sẽ khơi mào cho sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ. Điều khoản này bắt buộc các doanh nghiệp Mỹ phải sử dụng các nguồn nguyên liệu chính sản xuất trong nước trong các dự án của họ.
Tuy nhiên, xuất khẩu của Mỹ đã phải chịu tác động ngược. Do các nước khác đã có những hành động đáp trả để bảo vệ các doanh nghiệp của mình.
1.4.2. Nhật bản
Bộ Kinh tế Nhật Bản cho biết, xuất khẩu nước này trong tháng 12/2025 đã sụt giảm với tốc độ kỷ lục 35% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi đã giảm 26,7% trong tháng 11. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ, Trung Quốc và châu Âu – các thị trường chính đối với những mặt hàng chủ lực của Nhật như xe hơi và hàng điện tử – giảm mạnh chưa từng có. Trong đó, xuất khẩu của Nhật sang Trung Quốc giảm 35,5%; xuất khẩu sang Mỹ giảm 36,9% và xuất khẩu sang châu Âu giảm 41,8%.
Xuất khẩu của Nhật sang châu Á, thị trường chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, đã giảm tới 36,4%.
Nhập khẩu của Nhật trong quý 4 cũng giảm 21,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trong quý này, Nhật Bản vẫn chịu thâm hụt quý thứ ba liên tiếp, ở mức 320,7 tỷ Yên (3,6 tỷ USD).
Tình trạng doanh thu và lợi nhuận lao dốc đang khiến nhiều công ty lớn của Nhật như Toyota, Sony, Honda… tiến hành cắt giảm hàng ngàn việc làm và đóng cửa nhiều dây chuyền sản xuất. Hiện hãng Toyota đang dự định cắt giảm 4.500 việc làm tạm thời. Hãng Honda thì cho biết, từ nay tới tháng 4 sẽ sa thải toàn bộ 3.100 công nhân làm việc tạm thời tại hãng.
Kinh tế Nhật hiện đang ở trong một giai đoạn khó khăn hiếm gặp. Thủ tướng nước này Taro Aso từng nhận xét, cuộc khủng hoảng đang diễn ra là cuộc khủng hoảng “trăm năm có một”. Các số liệu thống kê đã công bố cho thấy, sản lượng của các nhà máy ở Nhật trong tháng 11 đã giảm tới 8,5%, mạnh nhất trong vòng hơn một nửa thế kỷ qua.
Các nhà phân tích của Barclays Capital đã dự báo, trong quý 4/2025 vừa qua, kinh tế Nhật có thể đã tăng trưởng âm 12% so với cùng kỳ năm ngoái, quý sụt giảm mạnh nhất từ năm 1974 tới nay.
Ngoài những khó khăn chung của kinh tế thế giới, các nhà xuất khẩu của Nhật Bản còn phải vật lộn với sự lên giá của đồng Yên so với các đồng tiền mạnh khác khiến hàng hóa của Nhật trở nên đắt đỏ hơn ở thị trường nước ngoài.
Ước tính, cứ mỗi Yên giảm đi trong tỷ giá USD so với đồng tiền này sẽ khiến lợi nhuận hoạt động của hãng Honda giảm mất 18 tỷ Yên. Hiện tỷ giá USD so với Yên Nhật là khoảng 90 Yên ăn 1 USD. Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, cán cân tài khoản vãng lai của nước này bị thâm hụt là do ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản giảm tới 46,3% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 3.282,2 tỷ Yên, trong khi kim ngạch xuất khẩu giảm 31,7% xuống 4.126,6 tỷ Yên.
Trong số các thị trường xuất khẩu chủ chốt, xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ giảm tới 52,9% và sang châu Á giảm 46,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Trong tháng 1, cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ của Nhật Bản thâm hụt tới 1.100,2 tỷ Yên, tăng 180,3 tỷ Yên so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó thâm hụt thương mại hàng hóa là 844,4 tỷ Yên và thâm hụt thương mại dịch vụ là 255,8 tỷ Yên. Đây là tháng thứ 4 liên tiếp cán cân thương mại của Nhật Bản bị thâm hụt.
Cùng ngày 9/3, tổ chức xếp hạng tín dụng tư nhân “Tokyo Shoko Research” công bố báo cáo cho biết trong tháng 2/2026, có 1.318 doanh nghiệp Nhật Bản tuyên bố phá sản, tăng 10,38% so với cùng kỳ năm ngoái.
1.4.3. EU- Các nước châu Âu
Trong năm 2025, chỉ số tin tưởng đã rơi từ 75 xuống còn 67 điểm. Theo giới chuyên gia, Châu Âu cần khẩn cấp có một giải pháp gây sốc trong lĩnh vực tiền tệ và ngân sách, để ngăn cản các nền kinh tế trong khu vực đồng Euro lún sâu vào suy thoái
Cuộc khủng hoảng thế giới gây ra những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế Hoa Kỳ và Anh Quốc và giờ đây, các nước trong khu vực đồng Euro cũng đang hứng chịu những tác động ngày càng lớn. Các chỉ số vừa công bố cho thấy tình hình kinh tế tại châu Âu xấu đi một cách nhanh chóng.
Theo thông báo ngày 08/01 vừa qua của Ủy ban châu Âu, trong khu vực đồng Euro, chỉ số tin tưởng của giới chủ doanh nghiệp và người tiêu dùng đã tụt giảm nhanh trong năm 2025, mất đi 8 điểm, chỉ còn 67,1 điểm. Đây là mức tồi tệ nhất kể từ năm 1985, khi châu Âu tiến hành điều tra trong lĩnh vực này.
Vào giữa tháng 12, Ngân Hàng Thế Giới cho rằng trong năm 2026, tổng sản phẩm quốc nội PIB của khu vực đồng Euro sẽ giảm khoảng 0,6%. Nhìn vào thực trạng kinh tế hiện nay, giới chuyên gia khẳng định, đó là một dự báo lạc quan lỗi thời. Nền kinh tế châu Âu đang rơi vào một vòng xoáy luẩn quẩn mà không ai biết là đến khi nào thì lục địa già cỗi này nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng.
Vào lúc mà kinh tế Ai Len, Tây Ban Nha đang gây lo ngại do thị trường tài chính, tín dụng và địa ốc bị đình đốn, không ít chuyên gia trông đợi vào nước Đức như một con đê, ngăn cản cơn lũ khủng hoảng. Thế nhưng, con đê Đức đang có nguy cơ bị vỡ, với nhiều chỉ số cho thấy nền kinh tế nước này bị hụt hơi : Trong tháng 10 năm 2025, xuất khẩu giảm 10,6%, dư thừa cán cân thương mại không ngừng co lại, chỉ còn khoảng 9,7 tỷ Euro trong tháng 11 so với 16,4 tỷ của tháng trước.
Cuối năm 2025, lần đầu tiên kể từ 3 năm qua, thất nghiệp tại Đức đã vượt qua ngưỡng 3 triệu người. Còn hệ thống ngân hàng, vốn vẫn được coi là vững chắc, thì đang trong trạng thái nguy ngập. Điều chưa từng thấy là ngày 08/01/2026, Berlin đã phải quốc hữu hóa một phần ngân hàng thương mại đứng hàng thứ hai, Commerzbank, nhắm cứu cơ sở này khỏi bị phá sản. Trưởng nhóm kinh tế gia của ngân hàng Deutsche Bank, ông Norbert Walter, dự báo là trong năm nay, 2026, tổng sản phẩm quốc nội của Đức có thể sẽ mất tới 4%. Khóa luận: Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính.
Giới chuyên gia nhấn mạnh là châu Âu cần khẩn cấp có một giải pháp mạnh, gây sốc, trong lĩnh vực tiền tệ và ngân sách, để ngăn cản các nền kinh tế trong khu vực đồng Euro lún sâu vào một cuộc suy thoái trầm trọng hơn.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com