Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel tại công ty Cổ phần Việt Hà – Hà Tĩnh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề.

Nâng cao năng lực cạnh tranh để giữ vững và pháp triển thị phần, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh là giải pháp để khắc phục và phát triển doanh nghiệp hậu suy thoái kinh tế. Nhìn chung điểm yếu của các công ty Việt Nam là quy mô nhỏ, nguồn vốn không nhiều, cơ sở vật chất không hiện đại, mạng lưới phân phối chưa rộng khắp, nguồn nhân lực có trình độ thấp. Vì thế yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam là phải giữ vững được thị phần của mình và phát triển những thị phần đó. Các biện pháp về sản phẩm, quảng cáo, PR, khuyến mãi, chỉ là giải pháp tạm thời vì các doanh nghiệp khác cũng có thể triển khai các phương pháp trên. Thay vào đó các doanh nghiệp cần tập trung vào mở rộng hệ thống kênh phân phối để tiêu thụ tốt sản phẩm giúp duy trì và có lợi thế cạnh tranh trong dài hạn.

Mảng thị trường sản xuất gạch tuynel phục vụ cho ngành xây dựng vừa được Công ty Việt Hà chú trọng thâm nhập và pháp triển trong thời gian gần đây, từ năm 2023. Sự ra đời muộn của nhà máy gạch là một hạn chế vô cùng to lớn cho công ty. Ra đời trong bối cảnh thị trường gặp nhiều khó khăn và đặc biệt thị trường gạch đã được phân bổ cho những nhà máy gạch ra đời trước, có nhiều kinh nghiệm. Nhưng ngược lại, công ty lại có lợi thế về dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân có tay nghề cao. Điều đó dẫn đến công ty được hưởng lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm. Nhưng trong các năm vừa qua thị phần của công ty chưa đạt được cải thiện nhiều, số lượng khách hàng tìm đến với công ty còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến điều này là do sự phân bổ các đại lý gạch của công ty chưa đều. Hậu quả dẫn đến kênh phân phối của công ty hoạt động không hiệu quả. Vì lý do trên em đã chọn vấn đề: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel tại công ty Cổ phần Việt Hà – Hà Tĩnh” làm nội dung nghiên cứu.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

Đi sâu vào nghiên cứu hệ thống kênh phân phối sản phẩm gạch tuynel tại công ty cổ phần Việt Hà – Hà Tĩnh tại thị trường miền Trung, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống kênh phân phối cho dòng sản phẩm gạch của công ty Cổ phần  Việt Hà – Hà Tĩnh.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kênh phân phối và quản trị kênh phân phối.
  • Đánh giá thực trạng các kênh phân phối sản phẩm gạch tuynel của công ty cổ phần Việt Hà tại thị trường miền Trung.
  • Phân tích các kênh phân phối có liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty.
  • Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kênh phân phối nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho công ty.
  • Đánh giá sự hiệu quả của các kênh mang lại, từ đây nhận biết điểm mạnh và điểm yếu của từng kênh.
  • Định hướng phương thức áp dụng để nâng cao và đạt hiệu quả tốt nhất cho các kênh phân phối.

1.3. Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kênh phân phối gạch tuynel của công ty cổ phần Việt Hà tại thị trường miền Trung.

1.4. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Dựa trên đánh giá thực trạng kênh phân phối của công ty để đưa ra các nhận xét, những mặt hạn chế của công ty, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kênh phân phối của công ty.
  • Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình của hệ thống kênh phân phối gạch ở công ty cổ phần Việt Hà – Hà Tĩnh và thị trường gạch miền Trung
  • Phạm vi thời gian: Số liệu phục vụ nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel tại công ty Cổ phần Việt Hà – Hà Tĩnh” được thu thập từ năm 2023-2025

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan tài liệu

2.1.1. Khái niệm kênh phân phối và hệ thống kênh phân phối.

Có rất nhiều khái niệm về kênh phân phối, tùy theo từng góc độ nghiên cứu khách nhau mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau. Đôi khi kênh phân phối sản phẩm được coi là con đường của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Một số người định nghĩa nó như một dãy quyền sở hữu các hàng hóa khi chúng chuyển qua các tổ chức khác nhau. Một số lại mô tả kênh phân phối sản phẩm là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện một mục đích thương mại.

Có nhiều định nghĩa khác nhau như vậy là xuất phát từ sự khác nhau về quan điểm sử dụng. Quan điểm của nhà sản xuất là muốn nhấn mạnh vào các trung gian khác nhau cần sử dụng để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Vì vậy, họ có thể định nghĩa kênh phân phối sản phẩm như các hình thức di chuyển sản phẩm qua các trung gian khác nhau. Người trung gian có thể quan niệm dòng chảy quyền sở hữu hàng hóa như là cách mô tả tốt nhất về kênh phân phối sản phẩm. Còn người tiêu dùng lại có thể quan niệm kênh phân phối sản phẩm như là “Có nhiều trung gian” đứng giữa họ và người sản xuất sản phẩm.

Theo ông Philip Kotler: “Kênh phân phối là tập hợp các cá nhân hay công ty tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với hàng hóa cụ thể hay một dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng”. Hiện nay nền kinh tế thị trường có sự tham gia của rất nhiều các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp không thể bán hoặc khó có thể bán trực tiếp các sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng cuối cùng mà họ phải thông qua các khâu trung gian. Thông qua các khâu trung gian này hàng hóa được phân phối đến tay người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất, thỏa mãn các tốt hơn mục tiêu của doanh nghiệp và nhu cầu của khách hàng. Chính khâu trung gian này đã tạo nên hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp.

2.1.2. Vai trò, chức năng của hệ thống kênh phân phối. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Kênh phân phối sản phẩm nối liền giữa cung và cầu. Kênh nào càng an toàn vững chắc thì chuyển tải được càng nhiều hàng hóa phù hợp với kế hoạch kinh doanh, càng có tính chất quyết định trong quá trình bán hàng, đảm bảo tốt việc thu tiền, tạo điều kiện tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sự an toàn của các kênh tiêu thụ không như nhau. Việc chọn kênh phân phối phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh doanh. Khênh phân phối sản phẩm là chiến lược khách hàng. Vậy kênh nào giúp khách hàng yên tâm và thị trường tiêu thụ ổn định cũng như tăng thêm thị phần thì kênh đó thể hiện tính trung tâm của chiến lược khách hàng.

Kênh phân phối sản phẩm có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như giá cả, thương mại, sản phẩm nhất là sản phẩm mới. Giá cả biến động theo hướng có lợi khi tiêu thụ có quan hệ cùng chiều và ngược lại là quan hệ âm. Phương thức bán hàng phải phú hợp với từng thị trường. Tiêu thụ sản phẩm mới phải có cách xâm nhập thị trường, không đưa ngay vào kênh bền vừng. Bên cạnh đó kênh phân phối sản phẩm còn có vai trò đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Chọn kênh phân phối thích hợp sẽ giảm được chi phí tiếp thị qua đó góp phần tăng lợi nhuận, thuận lợi cho cạnh tranh và tăng khối lượng bán ra trên thị trường. Kênh phân phối sản phẩm còn có tác dụng thu hút lao động và tạo việc làm. Kênh phân phối hình thành sẽ tạo điều kiện cho giới trung gian phát triển qua đó mà thu hút lao động và tạo việc làm, tạo điều kiện chuyển một phần lao động nông nghiệp sang dịch vụ thực hiện phân công lại lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Sự ra đời kênh phân phối sản phẩm còn có tác dụng thúc đẩy hệ thống thông tin phát triển, đóng góp vào sự hình thành hệ thống thông tin thị trường. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Kênh phân phối sản phẩm là sản phẩm của yêu cầu trao đổi sản phẩm. Lúc đầu mới có trao đổi sản phẩm, kênh phân phối còn đơn giản, khi sản xuất hàng hóa phát triển thì kênh tiêu thụ sản phẩm ngày càng đa dạng và là sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa. Nên kinh tế càng phát triển thì yêu cầu dịch vụ càng lớn và qua đó càng tạo nên sự đa dạng của kênh phân phối sản phẩm, do vậy trong hoạt động kinh doanh phải tính đến kênh nào có hiệu quả.

Trong doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm là hoạt động có định hướng cụ thể, trong đó kênh phân phối có ảnh hưởng đến thu tiền và chu kỳ kinh doanh sau. Kênh phân phối sản phẩm là vấn đề có tính chất kinh tế và khoa học, rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải nghiên cứu, lựa chọn cho thích hợp với từng loại sản phẩm cụ thể và trong điều kiện nhất định.

2.1.3 Cấu trúc kênh phân phối

Nội dung của cấu trúc kênh là một trong những vấn đề thường được định nghĩa trong các tài liệu Marketing. Các tác giả thường nhấn mạnh vào kích thước cụ thể của cấu trúc kênh và sau đó tiền hành thảo luận chi tiết mà không định nghĩa nó là cái gì bởi chính cấu trúc kênh. Có thể phần lớn các kích thước điển hình được thảo luận là số lượng các loại trung gian của kênh. Khi cấu trúc kênh được thỏa luận chúng ta thường thấy sơ đồ biểu diễn như sơ đồ 2.1

  • Sơ đồ 2.1. Các loại kênh phân phối sản phẩm

Trong khi các cách tiếp cận này thể hiện tư tưởng chung về các loại thành viên tham gia vào kênh phân phối và mức độ xuất hiện của chúng thì chúng không định nghĩa cụ thể cấu trúc kênh. Hơn nữa, chúng không phân biệt quan hệ giữa cấu trúc kênh và quản lí kênh.

Từ đây đưa ra định nghĩa về cấu trúc kênh như là một nhánh các thành viên của kênh mà tập hợp các công việc phân phối được phân bổ cho họ. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Định nghĩa này đề nghị rằng trong sự phát triển của cấu trúc kênh, người quản lí kênh đối mặt với quyết định phân công. Đó là tập hợp các công việc phân phối cần phải được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu phân phối của một công ty mà người quản lý đã phân bổ các công việc này như thế nào giữa các thành viên của kênh. Ví dụ: Nếu sau khi quyết định phân bổ cấu trúc kênh xuất hiện: Người sản xuất đến người bán buôn đến người bán lẻ và người tiêu dùng. Điều này có nghĩa là người quản lí kênh đã chọn phân chia công việc cho công ty của mình cũng như cho người bán buôn, bản lẻ và người tiêu dùng. Sơ đồ cấu trúc kênh không có gì khác hơn là biểu hiện địa điểm của các công việc phân phối.

Một kênh phân phối có thể đơn giản hoặc phức tạp, kênh phân phối có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau nhưng nhìn chung có thể đưa ra 3 dạng sau đây:

a/ Kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng

  • Sơ đồ 2.2. Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng.

Kênh trực tiếp (1) không thông qua trung gian phân phối, kênh này chỉ có nhà sản xuất bán thẳng cho người tiêu dùng cuối cùng. Cấu trúc kênh này được áp dụng chủ yếu là bán hàng đến tận hộ gia đình, bán qua đơn đặt hàng, bán qua hệ thống cửa hàng của nhà sản xuất.

Với loại kênh này, nó đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với khách hàng, tăng cường trách nhiệm trên thị trường, đảm bảo tính chủ đạo của nhà sản xuất trong phân phối. Thông tin mà nhà sản xuất thu được sẽ thiết thực và hữu ích hơn, nhà sản xuất được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nắm bắt được nhu cầu của họ một cách dễ dàng hơn là thông qua các trung gian phân phối, lợi nhuận nhà sản xuất thu được sẽ cao hơn.

Việc quản lý kênh phân phối trực tiếp phức tạp, phải đầu tư vốn và nhân lực. Khối lượng hàng hóa tiêu thụ phụ thuộc vào trình độ của lực lượn bán hàng. Kênh phân phối này phù hợp với nhà sản xuất có quy mô và thị trường hẹp.

Kênh 1 cấp (2) hay còn gọi là kênh phân phối gián tiếp. Ở đây, để hàng hóa đến tay người tiêu dùng, nhà sản xuất thông qua nhà bán lẻ. Với loại kênh này, một mặt vẫn phát huy được lợi thế của kênh phân phối trực tiếp, mặt khác làm tăng chức năng chuyên môn hóa, phát huy năng lực sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, sự đòi hỏi khắt khe của khách hàng là đảm bảo hàng hóa phải có mặt khắp nơi, tạo điều kiện cho việc mua bán được dễ dàng thì cấu trúc kênh phân phối này vẫn chưa phải là tối ưu. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Kênh 2 cấp (3) có 2 trung gian Marketing trong kênh, ngoài người bán lẻ còn có thêm người bán buôn, cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến cho những loại hàng hóa có giá trị thấp, được mua thường xuyên. Kênh 3 cấp (4) được gọi là kênh dài, kênh đầy đủ. Kênh này thường được các nhà sản xuất có quy mô lớn sử dụng.

Kênh phân phối này có ưu điểm mang tính chuyên môn hóa cao. Nhà sản xuất được tách rời khỏi hoạt động phân phối do đó có thể đầu tư mọi nguồn lực vào trong quá trình sản xuất và nghiên cứu phát triển thị trường . Hoạt động lưu thông hàng hóa trên thị trường linh hoạt, dự trữ hàng hóa và điều chỉnh lượng hàng lưu thông hợp lý. Khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường lớn do chuyên môn hóa cao của nhà sản xuất và nhà phân phối.

Tuy nhiên, khi sử dụng kênh phân phối dài, nhà sản xuất không có mối quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng do đó thông tin thu được không kịp thời và kém chính xác.

Trong kênh phân phối mỗi một trung gian được gọi là một cấp của kênh phân phối. Số cấp cải kênh càng cao thì kênh phân phối càng dài, với một sản phẩm tùy theo đặc điểm, điều kiện thực tế trên thị trường để lựa chọn kênh và số cấp trong kênh phân phối. Một kênh phân phối càng ngắn thì thông tin phản hồi càng kịp thời, chính xác, độ an toàn cao, còn kênh phân phối càng dài thì thông tin thu thập được càng khó khăn, hoạt động quản lý càng phức tạp, lượn dự trữ hàng hóa trên kênh phân phối càng lơn và độ rủi ro gia tăng.

  • b/ Kênh phân phối sản phẩm công nghiệp Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Các kênh phân phối hàng công nghiệp thường ngắn hơn kênh phân phối hàng tiêu dùng. Những nhà sử dụng công nghiệp thường ít về số lượng, nhưng mua với số lượng lớn

Sơ đồ 2.3. Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm công nghiệp

  • Kênh 1 là kênh trực tiếp do nhà sản xuất trực tiếp bán sản phẩm qua lực lượng bán hàng của mình và thực hiện toàn bộ chức năng của kênh.
  • Kênh 2 là kênh gián tiếp gồm một số trung gian phân phối công nghiệp để tiếp cận với những người tiêu dùng công nghiệp.
  • Kênh 3 là kênh gián tiếp gồm một số đại lý hoạt động như là lực lượng bán độc lập của nhà sản xuất và giới thiệu nhà sản xuất cho người tiêu dùng cuối cùng.
  • Kênh 4 là kênh gián tiếp gồm cả đại lý và nhà phân phối công nghiệp

c/ Kênh phân phối theo mức độ liên kết.

  • Sơ đồ 2.4. Kênh Marketing theo mức độ liên kết

Kênh thông thường: kênh liên kết thông thường là một hệ thống kênh bào gồm một mạng lưới các nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ, hoạt động tương đối độc lập, những thương vụ bán buôn hình thành một cách đơn lẻ hoặc ngẫu nhiên giữa các bên mà không có sự ràng buộc lẫn nhau lâu dài. Vì vậy họ luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình cho dù có làm giảm lợi ích của toàn bộ hệ thống kênh phân phối.

Không có một thành viên nào trong kênh có sức mạnh kiểm soát đối với các thành viên còn lại. Trong kênh không có sự thống nhất dẫn đến sự cạnh tranh về giá giữa các thành viên trong kênh. Các thành viên tham gia vào hệ thống này rất đơn giản bởi nó đảm bảo sự tự do cho các bên tham gia. Tuy nhiên do tính không bền vững nên các thành viên thường xuyên phải xây dựng mối quan hệ mới và gây ra sự tốn kém chi phí. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Hệ thống kênh liên kết dọc (VMS): Đây là những kênh đã được tổ chức, thiết kế theo những tính toán từ trước để đảm bảo sự ràng buộc về quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong kênh với nhau. Mục tiêu của từng thành viên được đặt trong mục tiêu chung của cả hệ thống. Nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoạt động như một thể thống nhất. Một thành viên có kênh có thể được hưởng ưu đãi trong bán buôn, vì vậy giữa các thành viên trong kênh được phân chia công việc một cách phù hợp, đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất cho cả hệ thống. Với kênh liên kết dọc, quá trình đàm phán diễn ra một cách dễ dàng bởi lợi ích của từng thành viên được đặt trong lợi ích của toàn hệ thống.

  • Có 3 loại kênh VMS:

Kênh VMS có quản lý: đây là kênh liên kết dọc mà ở đó thành viên có những cơ sở sức mạnh tự nhiên vốn có của họ. Vì vậy họ trở thành người lãnh đạo trong kênh, các thành viên khác tự nguyện đi theo chấp nhận những yêu cầu và chiến lược mà họ đưa ra.

Kênh VMS tập đoàn: đây là kênh liên kết dọc mà mỗi thành viên trong kênh đều thuộc quyền sở hữu của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân. Thực chất quan hệ giữa các thành viên trong kênh giờ trở thành quan hệ của một tổ chức. Đây là kiểu kênh có khả năng điều khiển giữa các thành viên là cao nhất vì kiểu kênh này có thể điều khiển bằng các biện pháp hành chính mệnh lệnh.

Với hệ thống VMS tập đoàn, nó sẽ phát huy được hiệu quả kinh tế theo quy mô phân phối. Nó cho phép chủ động phân chia các công việc phân phối một cách tốt nhất. Đồng thời VMS tập đoàn có khả năng điều hòa cung cầu thị trường một cách chủ động. Tuy nhiên nó cũng có hai mặt, kênh VMS tập đoàn dễ dẫn đến độc quyền trong sản xuất và phân phối, như thế lợi ích của xã hội sẽ không được tối đa hóa. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Kênh VMS hợp đồng: các thành viên trong kênh được liên kết với nhau bằng bản hợp đồng. Các thành viên trong kênh có sức mạnh ngang nhau, trách nhiệm công việc, quyền lợi của các bên được ghi trong hợp đồng.

Kênh VMS hợp đồng theo kiểu hợp tác bán lẻ: là những hệ thống trong đó những người bán lẻ cùng nhau tổ chức thành lập một doanh nghiệp mới, đồng sở hữu để tiến hành việc mua sỉ và bán lẻ các sản phẩm.

Chuỗi liên kết tự nguyện do người bán hàng đảm bảo: Đây là kênh VMS theo kiểu hợp đồng, có người bán buôn đứng ra ký hợp đồng để chịu trách nhiệm cung cấp hàng cho một số người bán lẻ. Họ cũng hợp đồng với nhau về hoạt động bán sản phẩm cho thị trường như quảng cáo cho chuỗi hội viên cùng một mức giá. Như vậy những người bán buôn đã tổ chức trên cơ sở tự nguyện giúp đỡ nhau đứng vững trong cuộc cạnh tranh với những mạng lưới phân phối lớn này.

Độc quyền kênh tiêu là hệ thống phân phối có mối liên hệ kinh doanh chặt chẽ giữa người chủ quyền, người sở hữu hàng hóa dịch vụ với người nhận quyền, người được sử dụng những thứ mà họ sở hữu trong quá trình  kinh doanh. Người nhận quyền trả cho người chủ quyền phí độc quyền.

2.1.4 Các thành viên trong kênh phân phối Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • a/ Những người trung gian bán buôn

Người bán buôn hàng hóa là một cấp độ phân phối trong kênh Marketing, bỏi vì họ là các chuyên gia trong thực hiện các công việc phân phối nên có thể hoạt động ở mức khối lượng bán có hiệu quả cao. Người bán buôn hàng hóa cung cấp khả năng bao phủ thị trường cho người sản xuất bởi vì các thị trường sản phẩm của phần lớn người sản xuất bao gồm vô số người tiêu dùng trải ra trên các khu vực địa lí rộng lớn, vì vậy người sản xuất phải dựa ngày càng nhiều vào người bán buôn hàng hóa để thực hiện bao phủ thị trường cần thiết ở chi phí hợp lí.

Bán buôn hàng hóa: Bao gồm các doanh nghiệp thương mại mua, sở hữu hàng hóa, dự trữ và quản lí vật chất sản phẩm với số lượn tương đối lớn và bán lại sản phẩm với số lượn nhỏ cho người bán buôn khác. Họ tồn tại dưới một số tên khác nhau: Người bán buôn, người phân phối, nhà sản xuất…

Đại lí, môi giới và bán hàng hóa: Họ là các trung gian độc lập, đảm nhiệm tất cả hoặc phân lớn các công việc kinh doanh của họ. Họ không sở hữu hoàng hóa mà họ phân phối nhưng họ có liên quan thật sự đến các chức năng đàm phán về mua bán trong khi hoạt động thay mặt cho các khách hàng của họ. Họ thường nhận được thu nhập dưới hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hoặc khoản lệ phí nhất định. Một số loại hoạt động dưới tên gọi đại lí của người sản xuất, người bán buôn hàng hóa hưởng hoa hồng, môi giới, đại lí bán, đại lí và nhập khẩu.

 Các chi nhánh và đại diện bán của người sản xuất. Họ thường được sử dụng ban đầu cho mục đích phân phối các sản phẩm của người sản xuất cho người bán buôn. Một số thực hiện chức năng dự trữ ở những nơi cần tồn kho trong khi một số khác lại là đại diện bán thuần túy. Một số chi nhánh đại diện bán của người sản xuất cũng hoạt động như người bán buôn và cung cấp các sản phẩm được đặt hàng từ những người sản xuất khác. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • b/Các trung gian bán lẻ

Vai trò của người bán lẻ trong các kênh phân phối hay các kênh marketing liên quan đến quy mô và loại hình bán lẻ. Mức độ người bán lẻ thực hiện các công việc phân phối ở trên là rất khác nhau. Thực chất, người bán lẻ đóng vai trò hai mặt. Một mặt, những người cung cấp (Bao gồm người sản xuất và người bán buôn) hi vọng người bán lẻ hoạt động như đại lí bán của họ. Họ hi vọng người bán lẻ dự trữ hàng và thực hiện các xúc tiến bán để mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng về hàng hóa của họ hơn các doanh nghiệp khác. Trong vai trò này, người bán lẻ hiểu nhu cầu của khách hàng, tìm kiếm và mua chỉ từ những người cung cấp có loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu tốt nhất của họ.

Căn cứ vào những mặt hàng mà nhà bán lẻ bán, người ta chia thành cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa, siêu thị, cửa hàng tiện dụng và cửa hàng cao cấp. Dựa vào giá bán của nhà bán lẻ, người ta chia ra cửa hàng chiết khấu, cửa hàng kho. Từ phương pháp hoạt động của nhà bán lẻ, người ta chia thành: bán lẻ qua cửa hàng và bán lẻ không qua cửa hàng. Bán hàng không qua cửa hàng có nhiều hình thức như đặt hàng qua thư, máy bán hàng, mua hàng qua máy tính, qua điện thoại và bán lẻ tại nhà. Căn cứ vào hình thức sở hữu, chia ra thành của hàng bán lẻ độc lập, chuỗi tập đoàn, hợp tác xã bán lẻ và các đại lí độc quyền. Các cửa hàng độc lập do một cá nhân làm chủ và quản lí. Chuỗi tập đoàn thường nhiều cửa hàng bán lẻ thuộc cùng một chủ sở hữu, bán những mặt hàng tương tự như nhau và việc mua bán có sự điều hành tập trung. Dựa trên đại điểm quy tụ cửa hàng, người ta chia ra thành khu tinh doanh trung tâm, trung tâm mua bán vùng, trung tâm mua bán địa phương, trung tâm mua bán lân cận.

Một bộ phận lớn những người bán lẻ ở nước ta là những người bán lẻ quy mô nhỏ, doanh số bán thấp với số vốn ít. Tuy nhiên có xu hướng phát triển lớn hơn. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • c/ Các đại lí bổ trợ.

Các đại lí bổ trợ là các công ty kinh doanh trợ giúp cho việc thực hiện các công việc phân phối khác ngoài mua, bán và chuyển quyền sở hữu. Bằng việc phân chia hợp lí các công việc phân phối cho các tổ chức bổ trợ, người quản lí kênh sẽ cố một cấu trúc bổ sung như một cơ chế hiệu quả nhằm đặt các mục tiêu phân phối của công ty. Các tổ chức bổ trợ bao gồm:

Các tổ chức vận tải: Bao gồm tất cả các công ty thực hiện các dịch vụ vận tải nói chung. Các loại vận tải chính là đường sắt, ô tô, đường biển, đường hàng không…

Các công ty kho hàng: bao gồm các công ty kho công cộng, chuyên môn hóa trong việc lưu kho hàng hóa trên cơ sở thu phí lưu kho, các công ty này còn trợ giúp kỹ thuật bảo quản và quản lí hàng.

Các địa lí quảng cáo: Các đại lí này cung cấp cho các thành viên kênh dịch vụ phát triển các chiến lược xúc tiến và thực hiện toàn bộ một số chiến dịch quảng cáo.

Các tổ chức tài chính: Bao gồm các công ty tài chính, các tổ chức tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng và các tổ chức chuyên môn hóa trong thanh toán. Hỗ trợ giúp cho các thành viên của kênh về vốn để hoạt động hoặc các kinh nghiệm quản lí tài chính cũng như giúp thực hiện quá trình thanh toán trong kênh được dễ dàng, thông suốt.

Các tổ chức bảo hiểm: Các tổ chức này cung cấp cho người quản lí kênh và tất cả các thành viên kênh dịch vụ giảm bớt rủi ro trong kinh doanh.

2.1.5. Các dòng chảy trong kênh phân phối Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Một hệ thống kênh hoạt động có hiệu quả khi tất cả các dòng chảy trong kênh hoạt động thông suốt. Vì vậy, trọng tâm quản lý kênh là hoàn thiện quản lý các dòng chảy của nó, và sau đây là những dòng chảy quan trọng nhất:

Dòng thông tin: Đảm bảo thông tin thông suốt từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, doanh nghiệp phải xác định rõ các thông tin cần trao đổi giữa các thành viên trong kênh và nhanh chóng sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại trong quản lý các dòng chảy của kênh phân phối. Những phương tiện thông tin này sẽ làm giảm chi phí của các dòng chảy, xác định lại phạm vi thị trường, thay đổi những nguyên tắc và cơ sở cạnh tranh, xác định lại phạm vi kinh doanh và tạo ra các công cụ cạnh tranh mới. Mỗi thành viên của kênh có thể liên hệ mật thiết với các nhà cung ứng ở phía trên hoặc khách hàng ở phía dưới. Hoàn thiện dòng thông tin trong kênh tác động  lớn đến sự phối hợp trong kênh và chi phí điều hành kênh, và là cơ sở để hoàn thiện dòng chảy khác. Để thực hiện tốt hoạt động phân phối hàng ngày, các doanh nghiệp cần phải xây dựng được quy trình thu thập, tập hợp, giải quyết đơn đặt hàng tối ưu. Vận dụng công nghệ thông tin tiên tiến sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng các hệ thống đặt hàng tự động và quản lý tồn kho bằng máy tính, phần mềm, thời gian đặt hàng, chờ đợi và giao hàng cần được rút ngắn.

Dòng phân phối vật chất: Dựa trên dòng thông tin tiên tiến và các phương tiện vận tải, lưu kho hiện đại. Doanh nghiệp cần chuyển dần sang sử dụng các phương tiện vận tải có năng suất cao, chi phí thấp và tính toán phối hợp giữa vận tải và lưu kho sao cho có tổng chi phí phân phối vật chất tối ưu. Hiện tại, các doanh nghiệp thường áp dụng phương thức dự báo trong phân phối: sản xuất sản phẩm trên cơ sở dự tính nhu cầu sau đó chuyển hàng trước đến các thị trường để chờ tiêu thụ. Phương thức phân phối này chứa đựng nhiều rủi ro, dễ gây tổn thất chi phí. Doanh nghiệp có 2 cách để chủ động phân phối sau khi xác định nhu cầu:

Chuyển một phần công việc sản xuất cho các thành viên kênh, khi đó trong kênh đã có sự phân chia các công việc phân phối dựa trên nguyên tắc phân công lao động mới. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Không chuyển sản phẩm trước đến các điểm bán mà dự trữ ở các kho trung tâm, việc phân phối chỉ được thực hiện khi biết chắc về nhu cầu thị trường. Hệ thông tin trong kênh tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện dự trữ trong kênh. Các phương thức phân phối ngay lập tức đáp ứng khách hàng hiệu quả, có thể làm giảm dự trữ tồn kho, giảm chi phí đặt hàng, và tránh được những rủi ro, tổn thất cho doanh nghiệp.

Dòng xúc tiến: Doanh nghiệp cần xác định hoạt động  xúc tiến thương mại không chỉ là hoạt động của bộ phận quả trị kênh phân phối mà là trách nhiệm chung của mọi thành viên trong kênh. Các doanh nghiệp sản xuất nên phân phối hợp với thành viên kênh để xây dựng chương trình hợp tác xúc tiến, nâng cao hiệu quả xúc tiến qua kênh phân phối.

Dòng thanh toán: mô tả sự vận động của tiền và chứng từ thanh toán. Tiền di chuyển từ người mua cuối cùng đến nhà sản xuất, chứng từ thanh toán chảy từ người sản xuất đến người mua cuối cùng.

Dòng chuyển quyền sở hữu: Trên cơ sở đánh giá các thành viên hiện tại trong kênh, doanh nghiệp cần điều khiển được quá trình mua và bán mặt hàng của mình trên thị trường, tránh bán buôn lòng vòng.

Dòng đàm phán: Do sử dụng các kỹ thuật thông tin khác nhau nên đàm phán giữa các thành viên trong kênh cần có sự thay đổi. Để thiết lập các quan hệ hợp tác hiệu quả, các thành viên trong kênh phải nâng cao năng lực đàm phán để phân chia công việc phân phối hợp lý, tiến đến chuyển từ đàm phán theo từng thương vụ buôn bán sang đàm phán nhằm đảm bảo quan hệ kinh doanh lặp lại của cả hệ thống.

2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng quyết định lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm.

  • Sơ đồ 2.5. Những yếu tố ảnh hưởng việc lựa chọn kênh phân phối.

Mục tiêu của kênh: Mục tiêu của kênh phân phối sẽ định rõ kênh sẽ vươn tới thị trường nào? Những mục tiêu khác nhau đòi hỏi kênh phân phối khác nhau cả về cấu trúc lẫn cách quản lý. Những mục tiêu có thể là mức dịch vụ khách hàng, yêu cầu mức độ hoạt động của các trung gian, phạm vi bao phủ thị trường. Các mục tiêu được xác định phụ thuộc mục tiêu của marketing và mục tiêu chiến lược tổng thể của công ty. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Đặc điểm của khách hàng mục tiêu: Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc lựa chọn kênh. Những yếu tố quan trọng cần xem xét về đặc điểm khách hàng là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi khách hàng. Khách hàng càng phân tán về địa lý thì kênh càng dài. Khách hàng mua thường xuyên từng lượng nhỏ cũng cần kênh dài. Mật độ khách hàng trên một đơn vị diện tích càng cao càng nên sử dụng kênh phân phối trực tiếp. Nguyên nhân làm cho các sản phẩm tiêu dùng công nghiệp thường được bán trực tiếp là các khách hàng công nghiệp có số  lượng  ít nhưng qui mô của mỗi khách hàng lớn và tập trung về mặt địa lý.

Đặc điểm của sản phẩm: Một yếu tố chi phối đến việc lựa chọn kênh đó là đặc điểm của sản phẩm. Những sản phẩm dễ hư hỏng thời gian từ sản xuất đến tiêu dùng ngắn cần kênh trực tiếp, những sản phẩm cồng kềnh, nặng nề, đòi hỏi kênh phân phối ngắn để giảm tối đa quãng đường vận chuyển và số lần bốc dỡ. Hàng hóa không tiêu chuẩn hóa cần bán trực tiếp, sản phẩm có giá trị cao thường do lực lượng bán của công ty bán chứ không qua trung gian.

Đặc điểm của trung gian thương mại: Các trung gian thương mại sẽ tham gia vào kênh có vai trò quan trọng trong lựa chọn kênh phân phối. Người quản lý kênh phải xem xét có những loại trung gian thương mại nào trên thị trường, khả năng, mặt mạnh, mặt yếu của các trung gian trong việc thực hiện nhiệm vụ. Các trung gian thương mại có khả năng khác nhau trong việc thực hiện quảng cáo, lưu kho, khai thác khách hàng và cung cấp tín dụng. Vì vậy, doanh nghiệp phải phân tích để lựa chọn trung gian thích hợp cho kênh phân phối sản phẩm của mình.

Kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh: Việc lựa chọn kênh phân phối có cùng đầu ra bán lẻ với các nhà cạnh tranh hay những kênh hoàn toàn khác với kênh của họ. Doanh nghiệp phải lựa chọn kênh phân phối có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với kênh của các đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung, cạnh tranh càng mạnh, nhà sản xuất càng cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.

Đặc điểm chính của doanh nghiệp: Là căn cứ quan trọng khi lựa chọn  kênh phân phối, qui mô của doanh nghiệp sẽ quyết định qui mô thị trường và khả năng của doanh nghiệp tìm được các trung gian thương mại thích hợp. Nguồn lực của doanh nghiệp sẽ quyết định có thể thực hiện các chức năng phân phối nào và phải nhường cho các thành viên kênh khác những chức năng nào. Dòng sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến kiểu kênh. Lực lượng marketing của doanh nghiệp khác nhau thì kiểu kênh sử dụng cũng khác nhau. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Đặc điểm môi trường marketing: Khi nền kinh tế suy thoái, nhà sản xuất thường sử dụng các kênh ngắn và bỏ bớt các dịch vụ không cần thiết để giảm giá bán sản phẩm. Những quy định và ràng buộc pháp lý cũng ảnh hưởng đến kiểu kênh, luật pháp ngăn cản những kiểu kênh có xu hướng triệt tiêu cạnh tranh và tạo độc quyền.

Yêu cầu về mức độ bao phủ thị trường: Do các đặc tính của sản phẩm, môi trường marketing ảnh hưởng đến bán hàng, nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng, tiềm năng mà yêu cầu về mức độ bao phủ thị trường trong phân phối sản phẩm sẽ thay đổi. Sự bao phủ của thị trường, của hệ thống kênh phân phối từ phân phối rộng rãi đến phân phối độc quyền.

Yêu cầu về mức độ điều khiển kênh: Trong khi lựa chọn kênh phân phối, doanh nghiệp phải dựa trên nhu cầu về mức độ điều khiển kênh mong muốn. Mức độ điều khiển kênh tỉ lệ thuận với tính trực tiếp của kênh. Khi sử dụng các kênh gián tiếp, nhà sản xuất phải từ bỏ một số yêu cầu điều khiển việc tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường.

Quy mô của tổng chi phí phân phối: Khi lựa chọn kênh phải tính đến tổng chi phí phân phối của cả hệ thống kênh, bởi vì đây là một hệ thống tổng thể phụ thuộc vào nhau. Mục tiêu của doanh nghiệp phải tối ưu hóa hoạt động của cả hệ thống, phải lựa chọn được kênh phân phối có tổng chi phí phân phối thấp nhất.

Mức độ linh hoạt của kênh: Xuất phát từ nhà sản xuất cần phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường đang diễn ra nhanh chóng. Tương lai không chắc chắn thì càng không nên chọn các kênh có cam kết lâu dài.

2.1.7. Nội dung quản trị hệ thống kênh phân phối Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Quản trị kênh phân phối là một trong những vấn đề hết sức quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm chú ý cẩn thận. Xuất phát từ tình hình thị trường và nhu cầu người tiêu dùng mà vấn đề quản trị kênh phân phối cần phải đảm bảo các yêu cầu: Đảm bảo cho quá trình vận chuyển hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng nhanh chóng nhằm đáp ứng và thoả mãn tốt nhu cầu dịch vụ cho khách hàng ở thị trường mục tiêu. Góp phần điều tiết quan hệ cung cầu trên thị trường, điều tiết hiệu quả của hoạt động kinh doanh, giảm chi phí hoạt động, đồng thời thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Đảm bảo khả năng bao quát của thị trường phân phối. Muốn đạt được những yêu cầu trên công ty cần có một chiến lược cụ thể nhằm nâng cao và phát huy tối đa các thành viên trong kênh.

Sơ đồ 2.6. Quá trình quản trị kênh phân phối

  • Tuyển chọn các thành viên của kênh.

DN phải lựa chọn và thu hút những trung gian tốt tham gia vào kênh phân phối của mình.

Một trung gian tốt phải được xem xét trên các mặt:

  • Thâm niên trong nghề, sự am hiểu về sản phẩm, về thị trường.
  • Có khả năng hợp tác trong phân phối và xúc tiến.
  • Có uy tín , có khả năng tiếp cận với thị trường mục tiêu.
  • Khả năng tài chính và điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật.
  • Quy mô và chất lượng đội ngũ bán hàng.
  • Lợi nhuận và khả năng phát triển doanh số.
  • Khuyến khích các thành viên trong kênh

Để các thành viên trong kênh thật sự nỗ lực hơn cho việc đạt mục tiêu chung của kênh, họ phải được động viên khuyến khích một cách thỏa đáng. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • Hợp tác: tạo mức lợi nhuận cao, chiết khấu bán lẻ cao, các điều kiện ưu đãi trong hợp đồng, trợ cấp quảng cáo, thi đua doanh số, phần thưởng vật chất và tinh thần cho các thành viên bán hàng giỏi. Các biện pháp phạt cũng được thực hiện đối với các thành viên hoạt động kém.
  • Thiết lập quan hệ thành viên lâu dài, ổn định với các thành viên trong kênh.
  • Xây dựng chương trình phân phối được quản lý chuyên nghiệp, kết hợp nhu cầu, lợi ích của nhà sản xuất và nhà phân phối.

Công ty thành lập một bộ phận chuyên trách về phân phối để vạch ra mục tiêu, kế hoạch, biện pháp xúc tiến hỗ trợ tiêu thụ. Các hoạt động hỗ trợ đó làm cho các thành viên cảm thấy yên tâm và gắn bó với công ty như là một thành viên trong hệ thống Marketing của công ty.

  • Đánh giá các thành viên trong kênh

Đánh giá công bằng hoạt động của các thành viên trong kênh là việc làm cần thiết, có tác dụng khuyến khích các trung gian hoạt động tốt. Những trung gian hoạt động kém hiệu quả cần được góp ý, huấn luyện hoặc chấm dứt hợp đồng với họ.

Các tiêu chuẩn đánh giá:

  • Mức doanh số đạt được.
  • Mức lưu kho trung bình.
  • Thời gian giao hàng cho khách.
  • Cách xử lý hàng hóa thất thoát hoặc hư hỏng.
  • Mức hợp tác trong chương trình quảng cáo, huấn luyện của DN.
  • Mức độ thực hiện các dịch vụ phải làm đối với khách hàng.

2.1.8 Cơ sở thực tiễn

  • a/ Tình hình thị trường sản phẩm gạch ngói. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Cùng với các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác, ngành sản xuất gạch ngói đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng cao của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của đất nước và xây dựng dân dụng. Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghệ sản xuất, tuy nhiên sản lượng hàng năm chỉ chiếm gần 35%. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ gia đình sản xuất hơn 65% sản lượng gạch toàn ngành.

Hiện nay, nước ta đang trong tiến trình đổi mới, tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao, vì vậy nhu cầu xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng cũng tăng tương ứng. Trong những năm gần đây, ngành xây dựng nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ. Thị trường sản phẩm vật liệu xây dựng đã hình thành và phát triển nhanh chóng trên địa bàn cả nước. Trong sự phát triển đó các sản phẩm gạch, ngói cao cấp phục vụ cho công trình có chuyển biến lớn về số lượng, chất lượng cũng như phong phú về mẫu mã và chủng loại.

b/ Tình hình thị trường trên thế giới

  • Ở Mỹ

Với một nền kinh tế phát triển từ rất sớm, tốc độ đô thị hoá và xây dựng ở Mỹ nở rộ từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và luôn duy trì ở tốc độ cao. Nhu cầu về vật liệu xây dựng và thiết bị nội thất cũng tăng lên rất nhanh. Home Depot là một công ty bán lẻ vật liệu xây dựng hoàn thiện và nội thất lớn thứ 2 nước Mỹ và thứ 3 thế giới. Bắt đầu từ một công ty nhỏ với 3 cửa hàng đầu tiên khai trương năm 1979, hiện giờ Home Depot đã có một chuỗi gần 2012 cửa hàng cũng như trung tâm thương mại hoạt động trên khắp nước Mỹ và một số nước lân cận như Canada, Mehico. Một trung tâm điển hình của hệ thống này là trung tâm trang thiết bị nội thất EXPO với 10 showroom trưng bày với 40.000 chủng loại sản phẩm khác nhau về đồ bếp, đồ gia dụng, các trang thiết bị văn phòng, gạch ốp lát, đèn trang trí…

  • Trung Quốc

Theo thống kê chưa đầy đủ của phân hội thị trường nội thất Hiệp hội thị trường Bắc Kinh, chỉ tính riêng tại Bắc Kinh tính đến đầu năm 2016 đã có tới 194 trung tâm loại lớn và vừa. Các doanh nghiệp không chỉ đặt các trung tâm ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu mà còn xây dựng tại các huyện và thành phố nhỏ. Tại thành phố Haimen- jiangsu năm 2020 khánh thành Trung tâm thương mại vật liệu xây dựng thiết bị nội thất lớn nhất Trung Quốc – Trung tâm GSL( Haimen) International business port real Estate Co.,LTd( liên doanh Trung Quốc – Mỹ) được xây dựng trên tổng diện tích đất là 1,17 triệu m2 với 18.000 gian hàng. Ra đời và phát triển theo nhu cầu phát triển của xã hội, các trung tâm thương mại vật liệu xây dựng và thiết bị nội thất Trung Quốc ngày càng tăng về số lượng và dịch vụ đi kèm ngày một hoàn thiện.

2.1.9. Các nghiên cứu có liên quan Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

  • NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH NHỰA ĐẠT HOÀ.

Tác giả: Tạ Văn Khánh ( Luận văn thạch sĩ quản trị kinh doanh trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội).

Nội dung: Đưa ra được thực trạng quản trị hệ thống kênh phân phối sản phẩm của công ty TNHH Nhựa Đạt Hòa. Từ đây xác định được mục tiêu kênh phân phối của công ty. Bên cạnh đó còn đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện quản trị kênh phân phối của công ty TNHH Nhựa Đạt Hòa. Định hướng chiến lược marketing cho công ty, tìm những mục tiêu phân phối. Đưa ra các giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản trị kênh phân phối của công ty TNHH Nhựa Đạt Hoà cũng như các giải pháp marketing bổ trợ cho kênh.

  • QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DƯỢC PHẨM VÀ THƯƠNG MẠI THÀNH CÔNG

Tác giả: Nguyễn Ngọc Yến (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội)

Nội dung: Nhận dạng và phân loại được sản phẩm của công ty TNHH dược phẩm và thương mại Thành Công đang cung cấp, từ đó đưa ra các mức quản trị kênh phân phối tại công ty TNHH dược phẩm thương mại Thành Công. Bên cạnh đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm cho công ty.

  • NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH DẦU THỰC VẬT CÁI LÂN

Tác giả: Lê Thị Phượng (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội)

Nội dung: Nếu ra được thực trạng quản lý kênh phân phối của công ty từ đây phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị kênh phân phối nhằm đưa ra định hướng và một số giải pháp hoàn thiện quản trị hệ thống kênh phân phối. Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối của công ty TNHH Dầu Thực vật Cái Lân.

2.2 Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

2.2.1. Khung phân tích

  • Sơ đồ 2.7. Khung phân tích

2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

  • Thu thập số liệu sơ cấp.

Để có nguồn tài liệu này phải tiến hành thu thập qua việc trao đổi trực tiếp với nhân viên kế toán, nhân viên tiếp liệu, thủ kho…hoặc trực tiếp quan sát và thu thập số liệu.

  • Thu thập số liệu thứ cấp.

Là nguồn tài liệu sẵn có như sách báo, tạp chí, các thông tin sẵn có như các loại báo cáo mà doanh nghiệp đã tổng hợp sẵn: sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, tình hình lao động, bảng thống kê tình hình lao động, tình hình tài sản nguồn vốn, hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh tại Phòng kế toán, các báo cáo tổng hợp khác. Ngoài ra, tôi tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ điện tử, mạng internet. Đây là nguồn thông tin phong phú làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.

  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia.

Là phương pháp nghiên cứu trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các thầy cô hướng dẫn, các nhân viên kế toán…các ý kiến này cùng các số liệu là cơ sở để đánh giá, đưa ra những nhận xét.

2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

Sau khi thu thập số liệu đầy đủ, số liệu được tiến hành phân loại, sắp xếp hợp lý theo trình tự thời gian hay đối tượng nghiên cứu. Quá trình xử lý số liệu trong đề tài chủ yếu áp dụng kỹ thuật tính toán trên Excel (sử dụng các hàm sum, sumif, sumproduct, .. ). và thao tác lọc, kết xuất dữ liệu trên phần mềm kế toán máy của Công ty.

Phân tích số liệu là phương pháp dùng lý luận và dẫn chứng cụ thể dựa vào số liệu đã được xử lý. Sau đó phân tích chiều hướng biến động của sự vật hiện tượng, tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của hiện tượng trong phạm vi nghiên cứu, từ đó tìm ra biện pháp giải quyết. Để có kết quả phân tích hiệu quả cần thông tin số liệu chính xác, cụ thể, đầy đủ và kịp thời.

  • Phương pháp thống kê mô tả.

Thực chất đây là tổ chức điều tra thu thập số liệu trên cơ sở quan sát số lớn, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu đã thu thập được bằng các biện pháp phân tổ thống kê, lập nên các bảng, biểu, đồ thị để mô tả làm nổi bật tình hình biến động về hiện tượng.

Đề tài sử dụng phương pháp này để mô tả tình hình cơ bản của công ty trong 3 năm qua, tình hình lao động, tài sản, kết quả kinh doanh và hiện trạng hệ thống kênh phân phối của công ty.

  • Phương pháp thống kê so sánh.

Phương pháp được sử dụng để xem xét một chỉ tiêu so sánh với các chỉ tiêu cơ sở, qua đó xác minh hướng biến động của chỉ tiêu cần phân tích. Tùy theo mục đích phân tích, tính chất và nội dung của chỉ tiêu kinh tế mà có thể sử dụng các kỹ thuật so sánh thích hợp: phương pháp số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân.

  • Phương pháp số tuyệt đối: là so sánh giữa các chỉ tiêu tuyệt đối, hiệu số giữa các chỉ tiêu số lượng.
  • Phương pháp số tương đối: Là sử dụng các chỉ tiêu tỷ lệ giữa kỳ so sánh và kỳ gốc để thể hiện tốc độ tăng trưởng.

Phương pháp số bình quân: Sử dụng các chỉ tiêu bình quân, bỏ qua sự chênh lệch giữa các bộ phận, các đối tượng khác nhau để đánh giá chung cho sự phát triển của một nhóm các đối tượng có những đặc trưng tương ứng giống nhau trong một quá trình hay của những quá trình phát triển có tính chất tương tự nhau. Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Thực trạng kênh phân phối của nhà máy gạch tuynel

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoạt động của kênh phân phối sản phẩm Gạch tuynel […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x