Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Tây Âu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp thực phẩm cũng đang trên đà phát triển với sản lượng ngày càng tăng, phần lớn đã đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Có thể nói các sản phẩm tạo ra từ ngành công nghiệp này luôn gắn liền với cuôc sống của con người và mang lại nhiều tiện lợi khi sử dụng. cùng với sự phát triển của ngành công nghệ thực phẩm nói chung thì ngành công nghiệp sản xuất bia nói riêng đã khẳng định được mình và ngày càng đứng vững trên thị trường trong nước.

Bia là một loại đồ uống đặc biệt bổ dưỡng, có độ cồn thấp (3 ÷ 5%V), giàu dinh dưỡng, có CO2 khoảng (3 ÷ 4g/l) có tác dụng giải nhiệt, có các chất đạm, chất khoáng, vitamin bổ dưỡng cơ thể và cung cấp một lượng calo khá lớn đặc biệt là nhóm enzim kích thích tiêu hoá.

Được sản xuất từ các loại nguyên liệu chính là đại mạch ươm mầm, hoa houblon và nước với một quy trình khá đặc biệt, cho nên bia có các tính chất cảm quan hấp dẫn đối với con người và ngày càng trở nên thông dụng trong đời sống hàng ngày.Trong những năm gần đây sản lượng bia được tiêu thụ ở nước ta có mức tăng trưởng khá cao, từ năm 1993 đến nay ngành công nghiệp sản xuất bia là một trong những ngành có nhịp độ tăng trưởng nhanh và mang lại lợi nhuận đáng kể ở Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu đó thì việc xây dựng và mở rộng các nhà máy bia có quy mô vừa và nhỏ càng trở nên cấp thiết.

Hơn nữa trong cơ chế thị trường mở cửa và ngày càng hội nhập, doanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh, chất lượng và sự khác biệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng. Do đó việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu xuyên xuất của mọi doanh nghiệp.

Qua tìm hiểu tình hình công ty kết hợp với kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Ts. Nghiêm Sĩ Thương cho nên em chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công Ty Cổ Phần Bia Tây Âu”. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Đề tài gồm 4 chương:

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH.
  • CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY BIA TÂY ÂU.
  • CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY BIA TÂY ÂU.
  • CHƯƠNG 4: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY BIA TÂY ÂU.

Để hoàn thành đồ án này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn được sự dạy bảo hết lòng của các thầy cô trong suốt quá trình học tập và sự giúp đỡ tận tình của thầy cô hướng dẫn. Em xin gửi lời cảm ơn trân thành tới các thầy cô Khoa Quản Trị kinh doanh – Trường đại học Dân lập Hải Phòng nói chung và đặc biệt là Ts. Nghiêm Sĩ Thương đã hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đồ án này. Cuối cùng, em xin cảm ơn ban lãnh đạo và các phòng ban của Công ty Cổ phần bia Tây Âu đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đồ án này!

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

1.1. Giới thiệu chung

1.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như: Nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí là thấp nhất.

Doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.

Các yếu tố đầu vào như: Lao động, vốn, máy móc, Thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên vật liệu.

Kết quả đầu ra sau một quá trình sản xuất kinh doanh là: Giá trị tổng sản lượng, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, số sản phẩm tính bằng hiện vật. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải chú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tuy nhiên để có thể hiểu rõ bản chất của hiệu quả ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả như sau: Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào. Sự so sánh ở đây có thể là so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối. Với kết quả đầu ra biểu hiện bằng giá trị tổng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, còn yếu tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn.

Có khá nhiều cách thức tiếp cận hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và do vậy, có nhiều chỉ tiêu khác nhau phản ánh hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, để đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

  • Sức sản xuất:

Sức sản xuất là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào đem lại mấy đơn vị kết quả sản xuất đầu ra. Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào càng cao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao. Ngược lại, trị số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ sẽ phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố thấp, dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao.

Tùy theo mục đích phân tích, tử số chỉ tiêu “sức sản xuất” có thể sử dụng một trong các chỉ tiêu như: Tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần bán hàng…; Còn yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay, …

  • Sức sinh lợi:

Sức sinh lợi (hay khả năng sinh lời) là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào hay một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất đem lại mấy đơn vị lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu “sức sinh lợi” tính ra càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi càng cao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao. Ngược lại, trị số của chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ, chứng tỏ khả năng sinh lợi càng thấp, dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao

Như vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng tạo ra kết quả đó. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế kết hợp các yếu tố đầu vào để kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ được xem là có hiệu quả khi nó không ảnh hưởng đến lợi ích của nền kinh tế, đến toàn xã hội. Hoạt động của mọi doanh nghiệp thể hiện ở hai chức năng là sản xuất và thương mại hay còn là hoạt động kinh doanh.

Hiệu quả kinh doanh chính là chênh lệch giữa kết quả mang lại và những chi phí bỏ ra. Tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn thu sẵn có. Nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả là thước đo ngày càng quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như của toàn bộ nền kinh tế của mỗi khu vực, quốc gia nói chung. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất, đầu tư tài sản cố định, nâng cao mức sống của công nhân viên, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước.

1.1.2. Phân biệt kết quả và hiệu quả Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

1.1.2.1. Kết quả

Kết quả là số tuyệt đối, trong bất kỳ hoạt động nào của con người cũng cho ta một kết quả nhất định.

Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là những sản phẩm mang lại lợi ích tiêu dùng cho xã hội (sản phẩm vật chất hay phi vật chất). Những sản phẩm này phù hợp với lợi ích kinh tế và trình độ văn minh xã hội được người tiêu dùng chấp nhận.

Ví dụ: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh sau một chu kỳ kinh doanh có được kết quả như sau: Giá trị tổng sản lượng, doanh thu bán hàng, số sản phẩm tính bằng hiện vật.

Như vậy Kết quả là biểu hiện quy mô của một chỉ tiêu thực lực của một đơn vị sản xuất trong một kỳ kinh doanh nào đó chẳng hạn như: Giá trị tổng sản lượng, doanh thu bán hàng, số sản phẩm tính bằng hiện vật… Tuy nhiên, các kết quả của hoạt động kinh doanh chỉ nói lên bản chất bên trong của nó nhưng chưa thể hiện mối quan hệ giữa nó và các chỉ tiêu khác. Do đó, khi đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh, nếu dùng một chỉ tiêu kết quả thì sẽ trở nên phiến diện, không đầy đủ vì vậy để so sánh và đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh chúng ta cần phải so sánh các chỉ tiêu kết quả với nhau để có chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh.

1.1.2.2. Hiệu quả

Khi so sánh các chỉ tiêu kết quả với nhau và với các yếu tố đầu vào thì cho ta một chỉ tiêu hiệu quả như: Lợi Nhuận/Doanh Thu, Lợi Nhuận/Vốn, Lợi Nhuận/Chi Phí. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Hệ thống chỉ tiêu tổng quát:

  • Hiệu quả tuyệt đối = Kết quả đầu ra – Chi Phí đầu vào.
  • Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 hay kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào thì công ty làm ăn có hiệu quả và ngược lại.
  • Nếu chỉ tiêu này bằng 0 hay kết quả đầu ra bằng chi phí đầu vào thì hòa vốn.
  • Hiệu quả tương đối.

1.1.3. Phân loại hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu hiệu quả và phân loại các chỉ tiêu hiệu quả theo các căn cứ sau:

Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mục tiêu, người ta phân biệt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

Hiệu quả kinh tế: Là mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và kinh tế đạt được so với chi phí bỏ ra trong việc sử dụng các nguồn lực. Tức là hiệu quả kinh tế là tác dụng của lao động xã hội đạt được trong quá trình sản xuất và kinh doanh, cũng như quá trình tái tạo sản xuất xã hội trong việc tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ.

Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội đạt được trong kinh doanh biểu thị qua việc đóng góp của doanh nghiệp với nền kinh tế của đất nước dưới dạng tổng quát là việc thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước. Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, lợi ích xã hội mà doanh nghiệp mang lại thể hiện trên các khía cạnh sau:

  • Tăng sản phẩm xã hội
  • Nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành
  • Tạo việc làm cho nhiều lao động
  • Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Căn cứ theo yêu cầu tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế của các cấp quản lý trong nền kinh tế quốc dân. Phân loại hiệu quả kinh tế theo cấp hiệu quả của ngành nghề, tiềm lực và theo những đơn vị kinh tế bao gồm:

  • Hiệu quả kinh tế quốc dân; Hiệu quả kinh tế vùng (địa phương).
  • Hiệu quả kinh tế sản xuất xã hôi khác.
  • Hiệu quả kinh tế khu vục phi sản xuất.
  • Hiệu quả kinh tế các doanh nghiệp (được quan tâm nhất).
  • Hiệu quả kinh tế theo nguồn lực sử dụng.

1.1.4. Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Phân tích thường được hiểu như là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó. Trong khi lĩnh vực tự nhiên, sự phân chia đó được tiến hành với các phương tiện cụ thể thì ở lĩnh vực kinh tế xã hội các hiện tượng cần phân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tượng nên việc phân tích cũng phải bằng các phương pháp trừu tượng.

Phân tích hoạt động kinh doanh hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình nghiên cứu tất cả các hiện tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh. Quá trình phân tích được tiến hành từ bước khảo sát thực tế đến tư duy trừu tượng, tức là từ quan sát, thu nhận xử lý thông tin số liệu, tìm nguyên nhân đến đề ra các hoạt động cũng như các giải pháp thực hiện nó.

Quá trình phân tích cũng như các kết luận của nó bao giờ cũng chứa đựng hai tính chất: Tính khoa học khách quan và tính nghệ thuật chủ quan. Thước đo cuối cùng xác nhận sự đúng đắn, chân lý của các kết luận phân tích là thực tế, là các quá trình diễn biến trong thực tế cũng như kết quả thu nhận được trong thực tế. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, với sự tác động của các nhân tố kinh tế.

1.1.5. Vai trò của phân tích hiệu quả kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

  • Phân tích hiệu quả kinh doanh là công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả.
  • Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá, xem xét việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế như thế nào, những mục tiêu đặt ra được thực hiện đến đâu, tồn tại là gì, nguyên nhân là do đâu và đề ra biện pháp khắc phục tận dụng triệt để thế mạnh của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa phân tích hoạt động kinh doanh không phải chỉ là điểm kết thúc một chu kỳ kinh doanh mà còn là điểm khởi đầu cho một hoạt động kinh doanh mới.
  • Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình hoạt động của doanh nghiệp và có tác dụng giúp doanh nghiệp chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh như: Sản xuất, tổ chức, mua bán, tài chính…

Phân tích hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa hết sức to lớn đối với mỗi doanh nghiệp. Nó là công cụ quản lý hiệu quả, là cơ sở cho những quyết định quan trọng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp.

1.2. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Cơ sở phương pháp luận của phân tích hoạt động kinh tế là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Do vậy việc phân tích phải thể hiện các điểm sau:

  • Nghiên cứu các đối tượng phân tích trong thế vận động và phát triển.
  • Nghiên cứu các đối tượng phân tích trong mối quan hệ nhân quả, lý giải các nguyên nhân, nhân tố tác động đến các đối tượng đó cũng như sự hoạt động tương hỗ giữa các nhân tố, các hiện tượng kinh tế có liên quan.
  • Nghiên cứu đối tượng phân tích một cách đầy đủ, toàn diện với sự sử dụng các chỉ tiêu, các công thức nhằm lượng hóa hiện tượng được phân tích theo một logic chặt chẽ.

Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh doanh là kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô và kinh tế học chuyên ngành. Khi phân tích một đối tượng cụ thể, cần phải nắm các đặc trưng nhất của đối tượng đó, các đặc trưng của ngành, của nơi mà đối tượng đó được hình thành và phát triển.

Để có thể đạt được mục đích của phân tích có thể sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau và mỗi phương pháp đều có thế mạnh và hạn chế của nó. Sau đây là các phương pháp thường sử dụng trong quá trình phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.1. Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp lâu đời nhất và được áp dụng rộng dãi nhất. So sánh trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất tương tự nhau. Vì vậy, để tiến hành so sánh phải giải quyết các vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh. Dựa vào đối tượng so sánh mà phương pháp so sánh được chia thành các loại:

  • So sánh các số liệu thực hiện với các chỉ tiêu định mức hay kế hoạch nhằm đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu đề ra Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.
  • So sánh các số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm giúp ta nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của hiện tượng.
  • So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật – kinh tế trung bình hoặc tiên tiến nhằm đánh giá được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
  • So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với số liệu của các doanh nghiệp khác tương đương hoặc đối thủ cạnh tranh giúp ta nhận định được mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp.
  • So sánh các thông số kỹ thuật – kinh tế của các phương án kinh tế khác nhau nhằm lựa chọn các phương án tối ưu.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp so sánh là cho phép tách ra được những nét chung, nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm ra các giải pháp quản lý hợp lý và tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể.

Nguyên tắc khi áp dụng phương pháp so sánh là:

  • Các chỉ tiêu hay kết quả tính toán phải tương đương nhau về nội dung và cách xác định.
  • Trong phân tích so sánh có thể so sánh số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân.

Số tuyệt đối: Là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tượng kinh tế được phản ánh. Ví dụ: Tổng sản lượng, tổng chi phí lưu thông, tổng lợi nhuận,… Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy được khối lượng quy mô của hiện tượng kinh tế. Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường của hiện tượng, vì thế, dung lượng ứng dụng tuyệt đối trong phân tích so sánh nằm trong một khuôn khổ nhất định.

Số tương đối: Là số biểu thị dưới dạng số phần trăm, số tỷ lệ hoặc hệ số. Sử dụng số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu các hiện tượng kinh tế, đặc biệt trong phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích so sánh. Chẳng hạn thiết lập mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu khối lượng hàng hóa tiêu thụ và lợi nhuận để suy diễn, nếu tăng khối lượng hàng hóa lên 1% thì có thể tăng tổng lợi nhuận lên 1%. Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được chất lượng bên trong cũng như quy mô của hiện tượng kinh tế. Bởi vậy, trong nhiều trường hợp, khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối lẫn số tương đối.

Số bình quân: Là số phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng kinh tế. Số bình quân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối (năng suất lao động bình quân, vốn lưu động bình quân…). Cũng có thể biểu thị dưới dạng số tương đối (tỷ suất phí bình quân, tỷ suất doanh lợi…). Sử dụng số bình quân cho phép nhận định tổng quát về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật…

1.2.2. Phương pháp thay thế liên hoàn Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Thay thế liên hoàn là thay thế lần lượt số liệu gốc hoặc số liệu kế hoạch bằng số liệu thực tế của nhân tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêu kinh tế được phân tích theo đúng logic quan hệ giữa các nhân tố.

Giả sử chỉ tiêu A có mối quan hệ với 2 nhân tố, mối quan hệ đó có thể biểu hiện dưới dạng hàm số: A = f(X,Y)

  • Và  A0 = f(X0,y0)
  • A1 =f(X1,Y1)

Để tính toán ảnh hưởng của các nhân tố X và Y tới chỉ tiêu A, ta thay thế lần lượt X, Y. Lúc đó giả sử thay thế nhân tố X trước Y ta có :

  • Mức độ ảnh hưởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A : = f(X1,Y0) – f(X0,Y0)
  • Mức độ ảnh hưởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A : = f(X1,Y1) – f(X1,Y0)

Có thể nhận thấy bằng cách tương tự như trên nếu ta thay nhân tố Y trước, nhân tố X sau, ta có : = f(X0,Y1) – f(X0,Y0) =f(X1,Y1) – f(X0,Y1)

Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu được các kết quả khác nhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu. Đây là nhược điểm nổi bật của phương pháp này.

Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng phương pháp này.Trình tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu thường được quy định như sau:

  • Nhân tố số lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau.
  • Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau.
  • Nhân tố nguyên nhân thay thế trước, nhân tố hệ quả thay thế sau.

1.2.3. Phương pháp liên hệ

Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ với nhau giữa các mặt, các bộ phận … Để lượng hóa các mối liên hệ đó trong phân tích kinh doanh còn sử dụng phương pháp liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến và liên hệ phi tuyến.

Liên hệ cân đối: Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế khi giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc là phải tồn tại sự cân bằng. Ví dụ như: Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

  • Giữa tài sản với nguồn vốn hình thành
  • Giữa các nguồn thu với các nguồn chi
  • Giữa nhu cầu sử dụng vốn với khả năng thanh toán
  • Giữa nguồn huy động vốn với nhu cầu sử dụng vốn …

Liên hệ trực tuyến : Là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích, ví dụ : Lợi nhuận có quan hệ với lượng hàng bán ra, giá bán có quan hệ ngược chiều với giá thành…

1.2.4. Phương pháp đồ thị

Phương pháp này mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế dưới nhiều dạng khác nhau của đồ thị: Biểu đồ tròn, các đường cong của đồ thị. Ưu điểm của phương pháp này là tính khái quát cao, thường được dùng khi mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế tổng quát, trừu tượng.

1.2.5. Phương pháp phân tổ

Phương pháp phân tổ là sự phân chia các bộ phận, cấu thành của hiện tượng được phân tích theo dấu hiệu cơ bản của hiện tượng đó. Đây là phương pháp thống kê, được áp dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế đặc biệt là kinh tế vĩ mô. Phương pháp phân tổ cho phép nghiên cứu các hiện tượng trong mối liên kết tương quan hoặc phụ thuộc, tách ra từ những tác dụng ảnh hưởng tới chỉ tiêu được phân tích những nhân tố xác định hơn, tìm ra những quy luật và xu hướng đặc trưng cho các hiện tượng kinh tế… Phương pháp này còn dùng để thăm dò nghiên cứu thị trường hàng hóa, phân nhóm bạn hàng, khách hàng…

1.3. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu bộ phận.

1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng quát

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ hoạt động, toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.

Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: Tổng doanh thu thuần, giá trị sản lượng, tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần, lợi tức gộp… Các yếu tố đầu vào: Lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn…

Chỉ tiêu này phản ánh mức sản xuất hay sức sinh lời của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào, chỉ tiêu này đặc trưng cho kết quả nhận được trên một đơn vị tính chi phí và yêu cầu chung là cực đại hóa.

1.3.2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Tỷ suất lợi nhuận theo nguồn vốn kinh doanh: Được tính bằng cách lấy lợi nhuận so với vốn kinh doanh đã bỏ ra. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng một đồng nguồn vốn kinh doanh bỏ ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó có tác dụng khuyến khích việc quản lý chặt chẽ, tiết kiệm đồng vốn trong mỗi khâu của quá trình kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu: Chỉ tiêu này được so sánh giữa phần lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được và doanh thu tiêu thụ. Nó cho biết cứ một đồng doanh thu đạt được thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

1.3.3. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu bộ phận để phân tích hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động, từng yếu tố cụ thể. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận đảm nhận 2 chức năng sau:

  • Phân tích có tính chất bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để trong một số trường hợp kiểm tra và khẳng định rõ kết luận được rút ra từ các chỉ tiêu tổng hợp.
  • Phân tích hiệu quả của từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm tìm biện pháp tối đa hóa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp, đây là chức năng chủ yếu của chỉ tiêu này.

1.3.3.1. Hiệu quả sử dụng lao động

Trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, thì con người được xem như là một yếu tố quan trọng nhất. Sử dụng lao động có hiệu quả sẽ làm tăng khối lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả lao động trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Để đánh giá về tình hình lao động, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:

Đây là cặp chỉ tiêu phản ánh tương đối đầy đủ về hiệu quả sử dụng lao động trong kỳ của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để có thể đánh giá toàn diện về hiệu quả sử dụng lao động, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu khác như hiệu suất sử dụng thời gian lao động. Các chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng lao động và sử dụng số lượng thời gian lao động hiện có, giảm lượng lao động dư thừa, nâng cao hiệu suất sử dụng lao động trong doanh nghiệp.

1.3.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản

  • a. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản

Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ phương tiện vật chất và phi vật chất phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.

  • Sức sản xuất của tổng tài sản Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Chỉ tiêu này cho thấy mỗi đồng tài sản đã mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả.

  • Suất sinh lời của tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng tài sản sẽ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi lợi nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:

  • Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
  • Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh trong mỗi kỳ nhất định tài sản ngắn hạn luân chuyển được bao nhiêu vào hay mỗi đồng tài sản ngắn hạn tham gia vào quá trình kinh doanh sẽ tạo được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh giữa các kỳ của một đơn vị hoặc giữa các đơn vị cùng quy mô trong một thời kỳ.

  • Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn bỏ vào đầu tư tài sản ngắn hạn thì sẽ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng lớn.

  • Hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Tài sản cố định là bộ phận tài sản phản ánh năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Tài sản cố định là điều kiện cần thiết để giảm nhẹ sức lao động và nâng cao năng suất lao động.

  • Sức sản xuất của tài sản cố định Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn bỏ vào đầu tư tài sản cố định thì sẽ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiều đồng doanh thu.

  • Sức sinh lời của tài sản cố định

Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra thì sẽ thu lại được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế trong kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất của người chủ doanh nghiệp. Nó phản ánh hiệu quả của việc đầu tư.

1.3.3.3. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh về tài chính cũng như sức mạnh chung của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, có vị trí cao hơn trên thị trường và ngày càng có điều kiện mở rộng kinh doanh từ nguồn vốn của chính bản thân doanh nghiệp.

  • Sức sản xuất của vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu sức sản xuất của vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng hiệu quả của việc đầu tư từ mỗi đồng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu.

  • Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho thấy cứ một đồng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra thì sẽ thu lại được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế trong kỳ. Đây chính là chỉ tiêu ROE và là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với người chủ doanh nghiệp.

  • Vòng quay khoản phải thu

Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của DN.

Vòng quay khoản phải thu càng lớn thể hiện hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

  • Vòng quay hàng tồn kho. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.

Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao.

Trong trường hợp không có thông tin về giá vốn hàng bán thì có thể thay thế bằng doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó thông tin về hàng tồn kho sẽ có chất lượng kém hơn.

1.3.3.4. Hiệu quả sử dụng chi phí

Chi phí kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng. Đó là tất cả các chi phí tồn tại và phát sinh gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh từ khâu hình thành và tồn tại doanh nghiệp, đến khâu tạo ra sản phẩm và tiêu thụ xong.

Hiệu quả sử dụng chi phí đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể mang lại bao nhiều đồng doanh thu hay bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng chi phí.

  • Sức sản xuất của chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra thì sẽ thu về được bao nhiêu đồng doanh thu.

  • Sức sinh lời của chi phí

Qua những phân tích trên đây, ta có thể hệ thống các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tại bảng 1.

  • Bảng 1. Hệ thống chỉ tiêu chính đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.4. Cơ sở phân tích

Để có thể phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần dựa vào các số liệu về kinh doanh trong hai năm gần nhất như:

  • Kết quả kinh doanh: Doanh thu, lợi nhuận
  • Các yếu tố khác của doanh nghiệp như: Cơ cấu lao động, tài sản , chi phí …
  • Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh.

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, nó liên quan tới các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Trong đó, chỉ tiêu về doanh số bán hàng và tổng chi phí ảnh hưởng mạnh và trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các nhân tố đó có thể tác động đến hai chỉ tiêu một cách tích cực hoặc tiêu cực hoặc có tính hai mặt tùy từng thời điểm. Vì vậy các doanh nghiệp cần nghiên cứu nhân tố này để phát huy hay hạn chế sự tác động của nó đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó làm cơ sở để đề ra đường lối, chính sách thích hợp.

1.5.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.5.1.1. Thị trường cạnh tranh

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cùng ngành và cùng sản xuất một ngành hàng hoặc một nhóm hàng, có thể trở thành bạn hàng của nhau trong kinh doanh, giúp nhau về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm. Nhưng ngược lại, các doanh nghiệp này cũng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau trên thị trường đầu vào và đầu ra.

Đối với thị trường đầu vào: Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận, đồng nghĩa với việc tăng hiệu quả buộc doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp để giảm chi phí, nhất là chi phí vật tư, nguyên vật liệu bằng cách mua chúng trực tiếp từ người sản xuất, tránh nhập theo nhiều khâu trung gian và thực hiện việc so sánh giá cả cũng như chất lượng từ các nhà cung cấp để có quyết định đúng đắn.

Đối với thị trường đầu ra: Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sản phẩm thuộc nhân tố khách quan, nó phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng. Do đó doanh nghiệp phải xây dựng các chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt, thúc đẩy doanh số bán hàng, chiếm lĩnh thị trường và tăng hiệu quả. Nếu doanh nghiệp định giá cao hơn thị trường thì tất yếu sức mua hàng hóa đó sẽ giảm vì còn vô số kẻ cạnh tranh với những doanh nghiệp đang bán những sản phẩm tương tự, có chất lượng tương đương hoặc kém hợn một chút và cũng có thể là tốt hơn. Ngược lại, nếu doanh nghiệp định giá quá thấp thì hiệu quả kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng.

1.5.1.2. Nhân tố tiêu dùng Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

Nhân tố này chịu sự tác động của giá cả, chất lượng sản phẩm, thu nhập, thói quen và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhưng bản thân nhân tố sức mua và cấu thành sức mua chịu ảnh hưởng của nhân tố số lượng và cơ cấu mặt hàng sản xuất. Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp có hiệu quả riêng nên nhân tố sức mua và cấu thành sức mua cũng khác nhau, làm cho hiệu quả chung của doanh nghiệp cũng thay đổi. Nếu sản xuất kinh doanh các mặt hàng phù hợp với nhu cầu, có hiệu quả, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ mặt hàng của doanh nghiệp thì hiệu quả của doanh nghiệp cũng tăng lên. Do vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhân tố này để đưa ra một kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất.

1.5.1.3. Nhân tố tài nguyên môi trường

Tài nguyên môi trường cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh rất lớn đối với nền kinh tế. Nếu nguồn tài nguyên dồi dào sẽ làm cho giá nguyên vật liệu rẻ, chi phí sản xuất giảm, dẫn đến giá thành sản phẩm giảm và làm tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh và làm cho hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn. Bên cạnh những thuận lợi về tài nguyên mang lại cũng có lúc nó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí khắc phục hậu quả thiên tai, chi phí an toàn lao động, giá nguyên vật liệu tăng do tài nguyên thiên nhiên khan hiếm cũng làm cho hiệu quả kém đi.

1.5.1.4. Các chế độ, chính sách của nhà nước

Từ khi nhà nước thay đổi cơ chế, chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước, phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, bộ mặt kinh tế có nhiều thay đổi. Các doanh nghiệp trong nước có thể liên doanh, liên kết với nước ngoài mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, các chính sách đầu tư thông thoáng hơn. Mục tiêu phát triển doanh nghiệp phải gắn chặt với lợi ích kinh tế – xã hội của đất nước.

Một trong những công cụ chính của nhà nước để điều tiết nền kinh tế là các chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng, luật pháp. Đó là hệ thống các nhân tố tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chính sách lãi suất tín dụng quy định mức lãi suất quá cao sẽ gây cản trở cho việc vay vốn của doanh nghiệp và làm tăng chi phí vốn, lợi nhuận giảm, hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm.

1.5.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

1.5.2.1. Bộ máy quản lý

Quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp là việc tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất sao cho hợp lý.

Nhân tố quản trị liên quan trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức thực hiện kinh doanh hay nói cách khác là liên quan đến toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp muốn có bộ máy quản trị tốt phải có một đội ngũ cán bộ trình độ học vấn cao, không những nắm vững được kiến thức về tổ chức, quản lý và kinh doanh mà còn phải nắm bắt được xu hướng biến động về nhu cầu tiêu dùng, thích ứng với cơ chế thị trường, phải có khả năng nhìn xa trông rộng, khả năng tiên đoán, phân tích các tình huống để hoạch định cho mình một bước đi trong tương lai.

Hơn nữa, việc lựa chọn bộ máy quản trị phù hợp với từng doanh nghiệp, từng loại hình kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, thống nhất linh hoạt sẽ giúp cho quá trình sản xuất trôi chảy, có thể kết hợp với các nguồn lực đầu vào tối ưu nhất, từ đó nâng cao hiệu quả.

1.5.2.2. Nhân tố lao động

Lao động là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mọi nỗ lực đưa khoa học kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại vào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh doanh đều do con người tạo ra và thực hiện chúng. Song để đạt được điều đó đội ngũ nhân viên lao động cũng cần phải có một lượng kiến thức chuyên môn ngành nghề cao, góp phần vào ứng dụng trong sản xuất tốt, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng trên thị trường mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

1.5.2.3. Vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh cũng là một yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh lớn nó sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Vốn là nền tảng, là cơ sở cho doanh nghiệp hoạt động, góp phần đa dạng hóa phương thức kinh doanh, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa mặt hàng, xác định đúng chiến lược thị trường. Ngoài ra vốn còn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo độ cạnh tranh cao và giữ ưu thế lâu dài trên thị trường. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

1.5.2.4. Trang thiết bị kỹ thuật

Ngày nay, có lẽ công nghệ là nguồn thay đổi năng động nhất trong tương lai. Sự thay đổi này mang lại những thách thức cũng như những đe dọa đối với các nhà doanh nghiệp, đòi hỏi phải có nguồn chi lớn bỏ ra cho công nghệ mới, phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, tư duy tốt, tiếp cận tốt với công nghệ mới. Nhưng bù lại nhờ có công nghệ mới, cho ta những sản phẩm mới thay thế các sản phẩm cũ, nhờ đó con người được giải phóng sức lao động, năng suất tăng lên rất nhiều lần trong cùng một thời gian, dẫn tới tăng hiệu quả. Mặt khác trang thiết bị kỹ thuật không những đáp ứng cho khách hàng sản phẩm tốt, hình dáng đẹp, không xâm hại đến sức khỏe mà còn thỏa mãn những nhóm khách hàng đòi hỏi sản phẩm có tính đặc biệt.

1.6. Phương hướng, biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp. Vì nó là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại trong điều kiện bình thường thì hoạt động sản xuất kinh doanh ít nhất cũng phải bù đắp các chi phí bỏ ra. Còn doanh nghiệp muốn phát triển thì kết quả kinh doanh chẳng những phải bù đắp những chi phí mà còn phải dư thừa để tích lũy cho quá trình tái sản xuất mở rộng.

Tuy nhiên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều khâu, cho nên muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phải giải quyết tổng hợp, đồng bộ nhiều vấn đề, nhiều biện pháp có hiệu lực. Trước hết các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau:

  • Nắm bắt nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp để xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp nhất.
  • Chuẩn bị các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, cho sản phẩm chất lượng cao và hạ giá thành sản phẩm. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.
  • Tổ chức quá trình tiêu thụ để đạt doanh thu lớn nhất với chi phí thấp và trong thời gian ngắn nhất

Tóm lại, hiểu một cách đơn giản thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là:

  • Tăng kết quả đầu ra.
  • Giảm các nguồn lực đầu vào.

=> Để làm được điều này thì ta có các biện pháp sau:

1.6.1. Đối với nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động

Các biện pháp nhằm tăng hiệu quả sử dụng lao động là:

  • Thực hiện giảm biên chế sắp xếp lại sản xuất và lao động.
  • Nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn hóa cho cán bộ và công nhân viên, tận dụng thời gian làm việc đảm bảo thực hiện các định mức lao động.
  • Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
  • Thực hiện chế độ thưởng phạt, đảm bảo khuyến khích vật chất nhằm phát huy hết năng lực người lao đông.

1.6.2. Đối với nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

  • Tăng tốc độ luân chuyển vốn.
  • Phấn đấu sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trên tất cả các khâu dự trữ.

Đối với vốn cố định (tài sản cố định) phải tận dụng hết thời gian và công suất của đồng vốn (tài sản). Muốn vậy việc đầu tiên cần xác định trên cơ cấu vốn cố định, hợp lý theo hướng tập trung vốn cho máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ thực hiện hiện đại hóa thiết bị và ứng dụng trong công nghệ tiên tiến.

1.6.3. Giảm chi phí

Giá thành sản phẩm có một chỉ tiêu chất lượng quan trọng có tính chất tổng hợp phản ánh chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Để hạ giá thành sản phẩm doanh nghiệp cần thực hiện tốt các chỉ tiêu sau:

  • Sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý.
  • Xác định chế độ khấu hao tài sản một cách thích hợp.
  • Giảm chi phí trả lãi vay.
  • Giảm chi phí quản lý.

Để làm rõ những vấn đề được học, liên hệ với tình hình thực tế tại công ty em sẽ vận dụng lý thuyết nêu ở trên để phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Qua đó đánh giá được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ Phần Bia Tây Âu trong thời gian qua. Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Phân tích sản xuất kinh doanh của công ty bia tây âu

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

5 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu […]

Heath4348
Heath4348
2 tháng trước

Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu

Joel1120
Joel1120
2 tháng trước

Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu

Lyla2537
Lyla2537
2 tháng trước

Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu

Josie644
Josie644
2 tháng trước

Khóa luận: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Bia Tây Âu

Contact Me on Zalo
0877682993
5
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x