Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Nội dung chính

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý, hệ thống kế toán đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện và phát triển góp phần tích cực vào việc quản lý tài chính Nhà nước nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng.

Xây dựng là ngành sản xuất vật chất góp phần tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Hoạt động của ngành xây dựng là hoạt động hình thành nên năng lực sản xuất cho các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế.Vai trò của doanh nghiệp xây lắp là vô cùng to lớn và quan trọng.

Tuy nhiên bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay đang đặt ra những thách thức vô cùng to lớn với các doanh nghiệp xây lắp: đó là tình trạng “đóng băng” lĩnh vực bất động sản, cắt giảm đầu tư công, hạn chế sửa chữa lớn hay xây mới những công trình, nhà ở, tình trạng “khát vốn” do chính sách thắt chặt tín dụng của ngân hàng….Để có thể đứng vững trong cạnh tranh và không ngừng lớn mạnh thì doanh nghiệp cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn. Để có được điều đó, một trong những biện pháp là mỗi doanh nghiệp đều không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phản ánh chính xác, kịp thời chi phí sản xuất, tính toán chính xác giá thành sản phẩm, kiểm soát chặt chẽ các chi phí phát sinh ở từng bộ phận trong doanh nghiệp.Qua số liệu do kế toán chi phí- giá thành cung cấp, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra các phương án thích hợp giữa sản xuất kinh doanh, xác định giá bán sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Vì vậy, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu trọng tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất. Việc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là việc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cùng vốn kiến thức đã được học ở trường, những hiểu biết thu thập được trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng, em đã mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu và lựa chọn đề tài : “Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

  • Hệ thống hóa lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
  • Mô tả và phân tích thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.
  • Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Đối tượng nghiên cứu: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
  • Về không gian: đề tài được thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số Hải Phòng.
  • Về thời gian: đề tài được thực hiện từ ngày 10/04/2012 đến ngày 20/06/2012
  • Việc phân tích được lấy từ số liệu của năm 2011.

4. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp kế toán. (phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối).

  • Phương pháp thống kê và so sánh.
  • Phương pháp chuyên gia.
  • Phương pháp điều tra.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu để kế thừa thành tựu.

5. Kết cấu của đề tài.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương chính :

  • Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
  • Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất

Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người, đây chính là điều kiện quyết định của sự tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội. Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất đi từ phương thức sản xuất giản đơn đến phương thức sản xuất hiện đại ngày nay. Nhưng nền sản xuất của bất cứ phương thức nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản để tạo ra kết quả sản xuất. Nói cách khác quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vì thế sự hình thành các chi phí sản xuất tạo ra giá trị sản phẩm là tất yếu khách quan. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Trên góc độ kinh tế học, chi phí là khoản phí tổn phải bỏ ra khi sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong kinh doanh.

Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất là các khoản phí tổn phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xem như lượng tiền phải trả cho những hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa…trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chắc chắn.

Như vậy các quan niệm trên thực chất chỉ là sự nhìn nhận bản chất chi phí từ các góc độ khác nhau. Từ đó ta có thể đi đến một biểu hiện chung nhất về chi phí sản xuất như sau:

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp thực tế chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của một doanh nghiệp.

1.2. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

1.2.1. Bản chất của giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá để hoàn thành một khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ, dịch vụ.

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong suốt quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kĩ thuật mà doanh nghiệp đang thực hiện nhằm đạt được những mục đích sản xuất khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí bỏ ra là thấp nhất.

Giá thành còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất cũng như hiệu quả quản trị chi phí của doanh nghiệp.

Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành.

1.2.2. Chức năng của giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm có hai chức năng chính : chức năng bù đắp chi phí và chức năng lập giá.

Chức năng bù đắp chi phí: Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ nhất định phải bù đắp bằng chính số tiền thu được về tiêu thụ sản phẩm, bán sản phẩm và có lãi.( Vì việc bù đắp chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản xuất, đồng thời cũng là nguyên tắc kinh doanh là không những phải đảm bảo trang trải, bù đắp được mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất mà còn phải có lãi ).

Chức năng lập giá: Giá bán sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào quy luật cung cầu thị trường. Giá bán là biểu hiện giá trị của sản phẩm và phải được dựa trên cơ sở giá thành để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.

Như vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với lãng phí hay tiết kiệm lao động xã hội trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, giá thành sản phẩm phản ánh kết quả của việc quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn của doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

  • Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất, chi phí là biểu hiện về mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt về kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình. Chính vì vậy chúng giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tuy vậy do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành và chi phí sản xuất lại khác nhau trên hai phương diện:

Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất định mà không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Giá thành sản phẩm là giới hạn chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.

Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau khi có chi phí sản xuất dở dang. Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tổng quát sau đây:

Trong trường hợp đặc biệt khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kì ( hoặc không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ) thì tổng giá thành bằng tổng chi phí sản xuất trong kì.

Như vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phí sản xuất là đầu vào, là nguyên nhân dẫn đến kết quả đầu ra là giá thành sản phẩm. Mặt khác số liệu của kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Vì vậy tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành sản phẩm.

1.3. Phân loại chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều khoản mục với nội dung kinh tế, mục đích công dụng và phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau. Do vậy để đáp ứng yêu cầu quản lý thì chi phí sản xuất cần được phân loại theo những tiêu thức phù hợp.

1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí.

Theo chế độ hiện hành thuộc phạm vi kế toán tài chính thì căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí sản xuất, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:

  • Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản… mà doanh nghiệp sử dụng.
  • Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền công và các trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo lương của công nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
  • Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số phải trích khấu hao trong kỳ đối với tất cả các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.
  • Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
  • Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố trên.

Với cách phân loại này, các doanh nghiệp biết được cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, xây dựng kế hoạch cung ứng, đảm bảo các yếu tố chi phí sản xuất…,. Trên cơ sở các yếu tố chi phí đã tập hợp được để lập báo cáo chi phí sản xuất theo từng yếu tố chi phí.

1.3.2. Phân loại theo khoản mục chi phí(mục đích, công dụng của chi phí)

Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia ra thành các khoản mục:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ các chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực sử dụng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.
  • Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ tiền lương, tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
  • Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm: chi phí nguyên vật liệu dùng cho phân xưởng, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng sửa chữa, chi phí quản lý tại phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác.

Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.

Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế của chi phí có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí sản xuất theo định mức, dự toán chi phí, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản xuất sản phẩm và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm cơ sở để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuân cho doanh nghiệp.

Ngoài ra còn có một số cách phân loại chi phí sản xuất được sử dụng phổ biến trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán quản trị.

1.3.3. Phân loại theo cách ứng xử của chi phí (theo mối quan hệ giữa giữa CPSX với khối lượng hoạt động).

Cách ứng xử của chi phí nghĩa là: Những chi phí này tăng giảm như thế nào đối với các mức độ thay đổi của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo cách phân loại này, tổng chi phí được chia thành: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.

Biến phí (chi phí biến đổi): Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động của mức độ hoạt động. Biến phí thường bao gồm những khoản chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, một bộ phận của chi phí sản xuất chung( nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, công cụ lao động, chi phí lao động gián tiếp của công nhân phân xưởng).

Định phí (chi phí cố định): Là những chi phí không đổi trong phạm vi phù hợp khi mức độ hoạt động thay đổi.Trong các yếu tố của chi phí sản phẩm, chỉ có một số yếu tố của chi phí sản xuất chung là được xếp vào loại định phí như: chi phí thuê nhà xưởng, chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị, lương nhân viên phân xưởng…

Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và định phí. Ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc điểm của biến phí.

Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp dễ dàng thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng hoạt động và lợi nhuận. Đồng thời xác định xu hướng tác động lên chi phí. Nếu là biến phí tác động bằng cách giảm các chi phí không cần thiết nhằm tiết kiệm tổng biến phí và biến phí đơn vị. Còn đối với định phí thì tác động bằng cách tăng công suất hoạt động để đơn giá bình quân của sản phẩm thấp nhất….

Mặt khác, phân loại theo cách này còn để xem xét xác định điểm hoà vốn và xem xét các quyết định trong sản xuất kinh doanh.

1.3.4. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa CPSX với đối tượng kế toán tập hợp CPSX

Căn cứ vào mối quan hệ giữa CPSX và đối tượng kế toán tập hợp CPSX người ta chia CPSX thành:

Chi phí sản xuất trực tiếp : là chi phí sản xuất cấu thành lên sản phẩm, gắn liền với một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định đã hoàn thành. Đó là chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí, được tính trực tiếp cho đối tượng sử dụng. Kế toán căn cứ vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.

Chi phí sản xuất gián tiếp : là những chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm. Kế toán phải tập hợp chung sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.

Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí một cách đúng đắn, hợp lý để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được nhanh chóng, đảm bảo độ chính xác cao, điều kiện cần thiết cho quản trị doanh nghiệp.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỐ 5 HẢI PHÕNG. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

2.1. Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng.

2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng.

Tên doanh nghiệp: Công ty CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỐ 5 HẢI PHÕNG. Tên đăng ký hợp pháp bằng tiếng Anh: HAI PHONG CONSTRUCTION INVESTMENT JOINT STOCK COMPANY NO 5.

Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 5 Hải Phòng tiền thân là xí nghiệp Xây lắp 2 thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp xây lắp Hải Phòng. Là Đơn vị hạch toán báo sổ, nhiệm vụ chính của XN là xây dựng các công trình phục vụ xã hội và thực hiện các nhiệm vụ do Liên Hiệp các XN xây lắp giao theo chỉ tiêu.

Ngày 21 tháng 01 năm 1993: XN Xây lắp 2 được chuyển đổi thành công ty Xây Dựng số 5 Hải Phòng. Công ty Xây dựng số 5 Hải Phòng là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quyết định số 155/QĐ/TCCQ của UBND thành phố Hải Phòng.Cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp là Sở Xây dựng Hải Phòng.

Ngày 25 tháng 3 năm 2005 Công ty xây dựng số 5 Hải Phòng được chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo quyết định số 459/QĐ-UB của UBND Thành phố Hải Phòng. Ngày 11 tháng 04 năm 2005, doanh nghiệp được đổi tên thành Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng.

Sự thay đổi này đã mở ra cho doanh nghiệp một bước phát triển mới đầy triển vọng trong cơ chế thị trường. Từ đó công ty không ngừng sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, tăng năng lực sản xuất, đổi mới phương thức quản lý để phù hợp với xu thế phát triển chung, đưa công ty phát triển vững mạnh, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng nâng cao.

Trải qua 19 năm thành lập, Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng số 5 Hải Phòng đã không ngừng lớn mạnh, tăng trưởng về mọi mặt, thường xuyên xây dựng và kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực chỉ huy điều hành, quản lý đổi mới trang thiết bị, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng địa bàn hoạt động. Tính đến thời điểm này công ty đã tiếp nhận và thi công hàng chục công trình với quy mô lớn, ở nhiều địa phương khác nhau với yêu cầu phức tạp nhưng vẫn đảm bảo tốt yêu cầu kỹ thuật, thẩm mĩ, chất lượng và tiến độ thực hiện.

Hoạt động SXKD đạt mức tăng trưởng cao. Giá trị công trình thi công ngày càng lớn. Hàng năm công ty đã tăng tổng tài sản và tổng nguồn vốn với tốc độ tăng bình quân cao,được minh họa bởi số liệu trong 3 năm gần đây:

2.2. Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

2.2.1. Đặc điểm và cách phân loại chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

2.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Do tính chất của Công ty mà chi phí sản xuất của Công ty bao gồm nhiều loại khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như việc ra quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất ở công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng được phân loại theo mục đích và công dụng, bao gồm:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Là toàn bộ các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính (gạch, xi măng, cát, đá, sắt, thép…)và nguyên vật liệu phụ.
  • Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, các khoản phụ cấp… phải trả cho công nhân trực tiếp thi công công trình, hạng mục công trình, tiền công thuê lao động hợp đồng thời vụ…
  • Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân vận hành MTC, chi phí nhiên liệu cho máy chạy, chi phí khấu hao máy móc thiết bị thi công, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy thi công,chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ máy thi công…
  • Chi phí sản xuất chung: gồm tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương phải trả cho nhân viên phân xưởng,khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí công cụ dụng cụ xuất dùng, và những chi phí bằng tiền khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt động xây lắp.

2.2.1.2. Phân loại giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí tính bằng tiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định. Trong Công ty, giá thành sản phẩm được phân thành giá thành dự toán và giá thành thực tế.

  • Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành công trình.
  • Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao công trình mà đơn vị đã thi công. Giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

2.2.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

2.2.2.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Do tính chất đặc thù của ngành xây dựng là sản xuất sản phẩm mang tính đơn chiếc nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường được xác định là từng công trình, hạng mục công trình, từng giai đoạn công việc hoàn thành theo quy ước.

Xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm tình hình sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất sẽ giúp cho đơn vị xây lắp tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất, phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác kịp thời.

Xuất phát từ đặc điểm của ngành xây dựng là sản phẩm mang tính đơn chiếc, thi công lâu dài, phức tạp, cố định và có giá trị lớn nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của công ty là từng đơn hàng”.

2.2.2.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Việc xác định đối tượng tính giá thành có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác kế toán tính giá thành sản phẩm. Để xác định đúng đối tượng tính giá thành, kế toán căn cứ vào đặc điểm sản xuất của công ty cũng như các loại sản phẩm và tính chất của các loại sản phẩm mà công ty tổ chức. Công ty đã xác định đối tượng tính giá thành là sản phẩm cụ thể của từng đơn đặt hàng.

2.2.3. Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

2.2.3.1.Kỳ tính giá thành tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất vào chu kỳ sản xuất sản phẩm. Công ty áp dụng kỳ tính giá thành là theo tháng. Việc xác định như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại công ty, đảm bảo tính giá thành một cách kịp thời, nhanh chóng, cung cấp thông tin cho lãnh đạo trong công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được hiệu quả.

2.2.3.2. Phương pháp tính giá thành tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng.

Do đặc điểm loại hình sản xuất, sản phẩm của công ty là những đơn đặt hàng do vậy phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp theo đơn đặt hàng. Đặc điểm của phương pháp này là tính giá thành riêng biệt theo từng đơn đặt hàng nên việc tổ chức công tác kế toán chi phí phải được chi tiết hóa theo từng đơn đặt hàng. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Mỗi công trình, đơn hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao đều được mở riêng các sổ chi tiết chi phí sản xuất.

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỐ 5 HẢI PHÕNG.

3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng.

Trong điều kiện kinh tế thị trường đầy thử thách như hiện nay, tìm được hướng đi đúng đắn, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, có lãi, tự chủ về tài chính là điều kiện cần để tồn tại một doanh nghiệp. Nhận thức được điều đó nên ngay từ những ngày đầu bước vào sản xuất kinh doanh với sự nỗ lực phấn đấu của ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên toàn công ty, sự quan tâm của sở Xây dựng, các cấp ban ngành thành phố cũng như địa phương, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng đã và đang khẳng định vị thế trên thương trường, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu để từng bước chiếm lĩnh thị trường với việc xây dựng ngày càng nhiều các công trình có tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chất lượng kỹ, mỹ thuật các công trình Công ty thi công ngày càng cao, tiến độ thi công ngày càng rút ngắn mang lại hiệu quả kinh tế cao và đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Thị phần của công ty ngày càng được mở rộng.Uy tín và hình ảnh công ty đã được khẳng định vị thế trong làng xây dựng Hải Phòng. Đó là cả một quá trình phấn đấu liên tục của ban lãnh đạo và tập thể công nhân viên toàn công ty, trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của phòng tài chính kế toán.

Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng, được tìm hiểu và tiếp cận với thực tiễn công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng, tuy còn hạn chế về khả năng nhận thức và kinh nghiệm thực tế nhưng qua đề tài này, em xin mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhận xét, kiến nghị về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình để hoàn thiện hơn công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty.

3.1.1. Ưu điểm trong tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh ở công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng.

  • Về tổ chức bộ máy quản lý: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng có mối quan hệ chỉ đạo thống nhất từ trên xuống, đồng thời có sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ qua lại giữa các phòng ban giúp cho Ban lãnh đạo Công ty thuận tiện trong việc quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

  • Về tổ chức bộ máy kế toán và hình thức kế toán áp dụng:

Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, chặt chẽ, quy trình làm việc khoa học , thêm vào đó lại có sự phân nhiệm rõ ràng đối với từng người tạo ra sự ăn khớp nhịp nhàng giữa các phần hành kế toán. Đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ, có chuyên môn tốt, ý thức trách nhiệm cao và nhiệt tình trong công việc, luôn phát huy hết khả năng của mình đồng thời không ngừng học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau về chuyên môn nghiệp vụ.

Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng thực hiện hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Phương pháp này cho phép công ty có thể kiểm soát được từng lần nhập, xuất vật tư, hàng hoá, hạn chế tình trạng thất thoát, sử dụng lãng phí. Sản phẩm xây lắp thường có kết cấu phức tạp, giá trị lớn, thời gian thi công kéo dài, vật tư sử dụng để sản xuất gồm nhiều chủng loại khác nhau. Hơn nữa trong một kỳ kế toán công ty thực hiện nhiều công trình, mỗi công trình lại gồm nhiều hạng mục công trình. Do đó tình hình nhập xuất vật liệu được phản ánh thường xuyên kịp thời cho từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cho phép tính đúng tính đủ chi phí sản xuất cho các đối tượng sử dụng, giúp nhà quản trị doanh nghiệp nắm bắt được tình hình sử dụng các loại nguyên vật liệu một cách chính xác, từ đó có những quyết định đúng đắn, kịp thời thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Về hệ thống sổ sách, chứng từ, tài khoản sử dụng:

Công ty thực hiện việc lập, luân chuyển và lưu giữ chứng từ theo đúng chế độ và quy định hiện hành về luân chuyển chứng từ.

Hệ thống sổ sách kế toán, tài khoản sử dụng của công ty cơ bản được mở đúng theo quy định của Bộ tài chính, có ưu điểm là đơn giản, gọn nhẹ, không cồng kênh. Kế toán áp dụng hình thức Nhật ký chung. Đây là hình thức đơn giản, dễ vận dụng, phù hợp với trình độ năng lực và yêu cầu quản lý của Công ty.

Ngoài ra, các sổ sách kế toán được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình giúp theo dõi một cách sát sao biến động chi phí của đối tượng hạch toán. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

  • Về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:

Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng và đối tượng tính giá thành là sản phẩm cụ thể của từng đơn hàng: là hoàn toàn hợp lý ,khoa học, phù hợp với đặc thù sản xuất thi công cuả công ty, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo sản xuất, quản lý giá thành và việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp.

Do Công ty giao quyền chủ động cho các đội sản xuất nên việc quản lý vật tư được thực hiện rất chặt chẽ, vật tư được cung ứng nhanh chóng kịp thời đảm bảo quá trình thi công diễn ra liên tục không gián đoạn góp phần đảy nhanh tiến độ và rút ngắn thời gian thi công,hiện tượng hao hụt, mất mát vật tư rất hiếm gặp. Việc tổ chức quản lý lao động tại công trình được tổ chức một cách linh hoạt, hợp lý và có chất lượng, gắn được tránh nhiệm của người lao động với công việc. Cách làm trên đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

Với những vật liệu mua về không qua nhập kho mà tập hợp đến chân công trình, công ty vẫn tiến hành lập phiếu nhập kho (viết phiếu nhập xong viết phiếu xuất luôn), kiểm kê và theo dõi rất chặt chẽ. Với cách làm này, công ty đã quản lý chặt chẽ tình hình biến động từng loại vật tư chi tiết từng công trình, từ đó góp phần quản lý tốt chi phí nguyên vật liệu xuất dùng.

Những ưu điểm trong công tác quản lý kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nêu trên đã có tác dụng tích cực đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty vẫn còn những tồn tại nhất định.

3.1.2. Một số tồn tại trong công tác kế toán tại công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên ở công ty còn một số hạn chế nhất định trong quá trình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cần được hoàn thiện, cụ thể là:

Thứ nhất, về việc hạch toán các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất: Là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp, với đặc thù riêng công ty có thể gặp phải những rủi ro khách quan hay chủ quan. Công ty hạch toán các khoản thiệt hại trong quá trình sản xuất (thiệt hại về sản phẩm hỏng,…) vào chi phí sản xuất chung. Những khoản thiệt hại này không những gây tổn thất cho Công ty mà còn làm chi phí sản xuất tăng lên, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.

Thứ hai, về trích các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN): đối với số công nhân trực tiếp sản xuất trong danh sách biên chế của công ty và công nhân trực tiếp vận hành máy thi công (công nhân biên chế): Công ty không tiến hành trích các khoản trích theo lương cho người lao động nên chưa bảo đảm được quyền lợi cho người lao động cũng như chưa khuyến khích được người lao động tích cực hơn trong công việc. Vì vậy, hiệu quả sản xuất chưa cao.

Thứ ba, về việc trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định: Tài sản cố định của Công ty do được mua sắm từ lâu nên một số tài sản đã xuống cấp. Mặc dù vậy kế toán vẫn không trích trước các khoản sửa chữa lớn cho chúng mà khi xảy ra kế toán sẽ hạch toán vào chi phí sản xuất trong kỳ. Vì vậy những kỳ chúng phát sinh làm chi phí sản xuất tăng đột biến, gây biến động lớn cho giá thành. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Thứ tư, về việc thu hồi phế liệu, vật tư thừa nhập kho: Công ty chưa chú trọng hạch toán thu hồi phế liệu, vật tư thừa nhập kho. Việc mua nguyên vật liệu đã được tính toán theo dự toán và kế hoạch thi công nhưng thực tế vẫn có vật liệu thừa, số vật liệu cuối kỳ còn lại tại các công trình do chưa sử dụng hết cũng chiếm một lượng không nhỏ, do đó chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ có thể chưa được phản ánh chính xác.

Thứ năm, về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán: Đối với các doanh nghiệp xây lắp, khối lượng công việc lớn, thời gian thi công dài, công trình nằm rải rác.. việc áp dụng kế toán thủ công gây ra không ít khó khăn cho công việc hạch toán, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Từ lâu Công ty đã trang bị hệ thống máy tính hiện đại tuy nhiên máy tính chỉ dùng để soạn thảo văn bản, kẻ mẫu sổ sách và ứng dụng Excel tính lương trong bảng thanh toán lương, khấu hao hàng tháng cho TSCĐ… Công việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dồn vào cuối tháng nên ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin kế toán.

Thứ sáu, về việc trích lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp: Hiện tại công ty không tiến hành trích lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp. Do đó khi các khoản chi phí này phát sinh sẽ làm tăng chi phí bất thường và giảm lợi nhuận trong kỳ của Công ty.Việc hạch toán giá thành của từng công trình sẽ không chính xác.

Thứ bảy, về tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình: Hiện tại công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là tiêu thức “giá thành dự toán”. Lựa chọn tiêu thức này là chưa hợp lý vì trong giá thành dự toán bao gồm cả 4 khoản mục chi phí ( chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung) mà các công trình khác nhau sẽ có mức sử dụng máy thi công là khác nhau. Ví dụ có thể cùng một giá trị như nhau nhưng công trình, hạng mục sửa chữa sẽ có mức độ sử dụng máy thi công ít hơn là công trình xây mới.

Thứ tám, về việc hạch toán các khoản chi phí, các khoản thu về thanh lý máy móc, thiết bị thi công chuyên dùng cho 1 hợp đồng xây lắp cụ thể và đã trính khấu hao hết vào giá trị của đơn hàng đó khi kết thúc hợp đồng xây dựng:

Trường hợp công ty có thi công những công trình lớn, có thời gian thi công dài (có thể kéo dài đến 2 hoặc 3 năm) có sử dụng những loại máy móc thiết bị chuyên dùng và các loại máy móc, thiết bị này đã được trích khấu hao hết vào trong giá trị của công trình đó. Khi thanh lý nhượng bán, kế toán hạch toán như sau: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Bt1: phản ánh số thu hồi về thanh lý:

  • Nợ TK 111,112,131: thu bằng tiền, bán chịu.
  • Có TK 711: thu nhập về thanh lý.
  • Có TK 3331:VAT đầu ra nếu có.

Bt2: Phản ánh chi phí thanh lý số máy móc, thiết bị thi công nếu có:

  • Nợ TK 811: chi phí thanh lý.
  • Nợ TK 133: VAT đầu vào nếu có.
  • Có TK liên quan: 111,112, 334….

Việc hạch toán như trên là không đúng chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp xây dựng, đồng thời phản ánh không chính xác giá thành công trình.

3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triên bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn. Để đạt được điều đó, mỗi doanh nghiệp đều không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì tiết kiệm chi phí, hạ giá thành vừa làm tăng thu nhập vừa là vũ khí cạnh tranh cuả doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn tồn tại nhiều nhược điểm, kế toán thiệt hại trong sản xuất chưa được quan tâm đúng mức.

Vì vậy, đề tài “ Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Số 5 Hải Phòng” là đề tài có tính thời sự, cấp thiết.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

Đề tài đã hệ thống hóa được lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Đề tài đã mô tả và phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành của công trình “Cải tạo tầng 1 và tầng 2 dãy lớp học+ sân trường trường THCS Lương Khánh Thiện” tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định 15/2006/ QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ tài chính. Qua quá trình thực tập được tiếp cận thực tế tại công ty, em nhận thấy công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty còn tồn tại những nhược điểm chính sau:

  • Công ty hạch toán các khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng vào chi phí sản xuất chung làm tăng giá thành sản phẩm.
  • Công ty không tiến hành trích các khoản trích theo lương cho công nhân trực tiếp sản xuất và công nhân vận hành máy thi công nên chưa tạo được sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, chưa gắn được trách nhiệm và lợi ích của học với lợi ích chung của doanh nghiệp.
  • Công ty không tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ.
  • Công ty chưa chú trọng công tác thu hồi vật tư thừa, phế liệu cũng như hạch toán các khoản chi phí này, từ đó làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
  • Công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình là tiêu thức “giá thành dự toán” là chưa hợp lý.

Từ thực trạng nêu trên, đề tài đã đưa ra được một số kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng số 5 Hải Phòng, cụ thể:

Kiến nghị công ty áp dụng phần mềm kế toán để hiện đại hóa công tác kế toán, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác kế toán, phục vụ công tác mở, ghi, khóa sổ kế toán và lập báo cáo tài chính nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

Kiến nghị công ty nên trích lập dự phòng chi phí bảo hành công trình xây lắp nhằm hạch toán chính xác giá thành của từng công trình, tránh tình trạng chi phí bảo hành phát sinh của công trình A đã được bàn giao đưa vào sử dụng từ 1 hoặc 2 năm …về trước lại được tính vào giá thành của các công trình hiện tại, vô hình chung đã làm mất đi tính chính xác trong giá thành của mỗi công trình.

Kiến nghị công ty nên trích các khoản trích theo lương cho công nhân trực tiếp sản xuất và công nhân vận hành máy thi công trong danh sách biên chế công ty và số công nhân hợp đồng có thời gian làm việc từ 3 tháng trở lên nhằm tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp.

Kiến nghị công ty nên tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ nhằm đảm bảo khi các khoản chi phí sửa chữa lớn thực tế phát sinh không gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ ảnh hưởng đến việc tính giá thành sản phẩm, đồng thời chủ động về vốn và nguồn tài trợ cho việc sửa chữa lớn TSCĐ.

Kiến nghị công ty hạch toán vật tư thừa, phế liệu thu hồi cuối kỳ đồng thời tăng cường công tác giáo dục ý thức tiết kiệm vật tư cho người lao động nhằm làm giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng cường quản lý chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.

Kiến nghị công ty chú trọng công tác hạch toán, theo dõi và quản lý các khoản thiệt hại trong sản xuất để không những hạn chế được tổn thất của các khoản thiệt hại gây ra mà còn đảm bảo được độ chính xác trong giá thành sản phẩm.

Kiến nghị về khoản chi phí sản xuất chung, đối với khoản chi phí nào có thể tập hợp riêng được thì nên tập hợp riêng theo từng đơn hàng, còn khoản chi phí nào không tập hợp riêng được thì nên tập hợp chung rồi cuối tháng tiến hành phân bổ cho các công trình nhằm phản ánh chính xác chi phí chung thực tế phát sinh trong tháng, đảm bảo tính chính xác của giá thành sản phẩm.

Kiến nghị công ty lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức số ca máy để phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình chính xác hơn, từ đó góp phần phản ánh chính xác giá thành của mỗi công trình.

Kiến nghị đối với các khoản chi phí, các khoản thu về thanh lý máy móc, thiết bị thi công chuyên dùng cho 1 hợp đồng xây lắp cụ thể và đã trính khấu hao hết vào giá trị của đơn hàng đó khi kết thúc hợp đồng xây dựng: công ty nên sử dụng TK 154 để phản ánh chi phí (thay cho TK 811 đang dùng) và để phản ánh doanh thu (thay cho TK 711 đang dùng). Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty đóng tàu

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xây dựng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x