Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng-Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế thế giới WTO, thị trường trong nước được mở cửa, điều này tạo cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam phát triển nhưng cũng không ít thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước. Nó đặt các doanh nghiệp vào những cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị thương trường. Các doanh nghiệp đứng trước hai khả năng hoặc là thất bại và phá sản hoặc là tạo dựng được uy tín và phát triển bền vững. Vì vậy, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng tìm mọi biện pháp để nâng cao doanh thu, giảm thiểu chi phí nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm, dịch vụ và thu được nhiều lợi nhuận nhất. Để đạt được mục tiêu này, nhà quản lý doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò của những thông tin kinh tế như: Quan hệ cung – cầu, mặt hàng giá cả, tình trạng cạnh tranh, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp… Các thông tin số liệu này chỉ có kế toán mới thu thập và tổng hợp được, qua đó giúp cho nhà quản trị hiểu được tình hình tài chính của doanh nghiệp, chính sách phát triển kinh tế của nhà nước Việt Nam cũng như chính sách kinh tế của các quốc gia có quan hệ thương mại và đầu tư để từ đó đưa ra những quyết định phù hợp nhằm gia tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Hiểu được tầm quan trọng của các thông tin kế toán, các doanh nghiệp luôn muốn tổ chức công tác kế toán của mình thật hoàn chình mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng làm được diều này vì còn phải cân nhắc đến yếu tố chi phí. Để xây dựng được bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện tốt chức năng phản ánh và giám đốc (hai chức năng quan trọng của kế toán) là không phải dễ dàng trong điều kiện kinh phí hạn hẹp.

Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình vận động liên tục của vốn kinh doanh theo chu kỳ T-H-T. Trong quá trình đó luôn có một bộ phận vốn dừng lại ở hình thái tiền tệ, bộ phận này được gọi là Vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền là loại tài sản đặc biệt, là vật ngang giá chung nên trong quá trình quản lý rất dễ xẩy rất tham ô lãng phí do vậy vốn bằng tiền cần được quản lý một cách chặt chẽ.

Xuất phát từ lý do trên, đồng thời qua thời gian thực tập tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ em đã đi sau tìm hiểu thực tế và nhận thấy tầm quan trọng của tiền và công tác kế toán vốn bằng tiền của Xí nghiệp, với những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập tài nhà trường, sự giúp đỡ nhiệt tình của cô chú anh chị trong ban Tài chính- Kế toán, đặc biệt với sự hướng dẫn tận tình của cô Hòa Thị Thanh Hương em đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng-Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ”.

Về mặt kết cấu, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

  • Phần 1: Lý luận chung về công tác kế toán vốn bằng tiền và tổ chức công tác vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp.
  • Phần 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ.
  • Phần 3: Một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp Dỡ Chùa Vẽ.

Do trình độ và thời gian thực tập có hạn, công tác quản lý hạch toán vốn bằng tiền rất phức tạp nên bản luận văn mới chỉ đi vào tìm hiểu một số vấn đề chủ yếu và chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em kính mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN BẰNG TIỀN VÀ TỔ CHỨC CÔNG KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về vốn bằng tiền và tổ chức kế toán vốn bằng tiền.

 1.1.1 Khái niệm vốn bằng tiền. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường là làm ăn có hiệu quả thì nhất thiết phải có một lượng vốn nhất định. Qua mội giai đoạn vận động không bao giờ ngừng biến đổi cả về hình thái biểu hiện lẫn quy mô.

Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản lưu động, được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, nó tồn tại dưới hình thái giá trị và thực hiện chức năng phương tiện thanh toán trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 1.1.2 Đặc điểm vốn bằng tiền.

Vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đói tượng của sự gian lận và ăn cắp. Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục nhằm bảo vệ vồn bằng tiền khỏi sự ăn cắp hoặc lạm dụng là rất quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của nhà nước.

 1.1.3 Phân loại vốn bằng tiền.

Theo hình thức tồn tại, vốn bằng tiền của doanh nghiệp được chia thành.

  • Tiền Việt Nam
  • Ngoại tệ
  • Vàng, Bạc, Kim khí quý, Đá quý.

Nếu phân loại theo hình thái tồn tại Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:

  • Tiền tồn tại quỹ: Gồm giấy bạc việt nam, ngoại tệ, bạc vàng, kim khí quý, đá quý, ngân phiếu hiện đang được giữ tại két của doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hằng ngày trong sản xuất kinh doanh.
  • Tiền gửi ngân hàng: Là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý,đá quý mà doanh nghiệp đang gửi tại ngân hàng.
  • Tiền đang chuyển: Là tiền đang trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác. Tiền đang chuyển bao gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc ngưng chưa nhận được giấy báo có của ngân hàng, kho bạc hoặc đã làm thủ tục chuyển tiền qua bưu điện để thanh toán nhưng chưa nhận được giấy báo của đơn vị được hưởng thụ.

 1.1.4 Vị trí và vai trò của vốn bằng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.4.1 Vị trí. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Đối vơi bất kỳ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều nhất thiết cần một lượng vốn bằng tiền nhất định, trên cơ sở tạo lập vốn kinh doanh của doanh nghiệp, dùng nó vào việc mua sắm tài sản cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó vốn bằng tiền có một vị trí rất quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

1.1.4.2 Vai trò của vốn bằng tiền trong doanh nghiệp.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hóa sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Thiếu vốn là một trong những trở ngại và là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó vốn bằng tiền đóng một vai trò rất quan trọng đảm bảo cho công tác sản xuất, kinh doanh dược liên tục và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

1.2 Công tác kế toán vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

 1.2.1 Những quy định chung về hạch toán vốn kế toán vốn bằng tiền.

Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là động Việt Nam, trừ trường hợp được phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng khác.

Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải đối ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch ( Tỷ giá hối đoái thực tế, hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước việt nam công bố tại thời điểm phát sinh, để ghi sổ kế toán.

Trường hợp mua ngoai tệ về nhập quỹ tiền mặt, gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng đồng việt nam thì được quy đổi ngoại tệ ra đồng việt nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các tài khoản 1112,1122 được quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, Nhập trước- Xuất trước, Nhập sau – Xuất trước, Giá thực tế đích danh ( Như một loại hàng hóa đặc biệt).

Nhóm tài khoản vốn bằng tiền có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ngoại tệ ra đồng việt nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì phản ánh số chênh lệch này trên các tài khoản doanh thu, chi phí tài chính ( Nếu phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh, kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong hoạt động đầu tư XDCB) hoặc phản ánh vào TK 413 ( Nếu phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB-giai đoạn trước hoạt động) Số dư cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố ở thời điểm lập BCTC năm.

Ngoại tệ được kế toán chi tiết theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “ Ngoại tệ các loại” ( TK ngoại bảng cân đối kế toán ).

Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không có đăng ký kinh doanh, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý.

Vàng, Bạc, kim khí quý, đá quý theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách, phẩm chất và giá trị của từng loại. Giá trị vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế ( Giá hóa đơn hoặc giá được thanh toán) khi tính giá xuất vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được thanh toán, khi tính giá xuất vàng, bạc, kim khí quý, đá quý có thể áp dụng 1 trong 4 phương pháp tính giá hàng tồn kho. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Nhóm tài khoản 11- Vốn bằng tiền, có 3 tài khoản:

  • TK 111- Tiền mặt
  • TK 112- Tiền gửi ngân hàng
  • TK 113- Tiền đang chuyển.

 1.2.2 Hạch toán kế toán tiền mặt.

Mỗi doanh nghiệp đều có một lượng tiền mặt tại quỹ để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh doanh. Thông thường tiền giữ tại doanh nghiệp bao gồm: Giấy bạc Ngân hàng Việt Nam, các loại ngoại tệ, ngân phiếu, vàng bạc, kim loại quý, đá quý…

Để hạch toán chính xác tiền mặt, tiền mặt cảu doanh nghiệp được lập và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.

1.2.2.1 Kế toán chi tiết tiền mặt.

a, Đối với tiền mặt và tiền việt nam.

  • Các chứng từ, sổ sách sử dụng.

Việc thu chi tiền mặt tại quỹ có lệnh thu, chi. Lệnh thu, chi này phải có chữ ký của giám đốc ( hoặc người có ủy quyền) và kế toán trưởng. Trên cơ sở lệnh thu, chi kế toán tán thành lập các phiếu thu, chi.

Phiếu thu(hoặc phiếu chi): Do kế toán lập từ 2 đến 3 liên( đặt giấy than viết một lần hoặc in theo mẫu quy định). Sau khi ghi đầy đủ nội dung trên phiếu và ký tên vào phiếu, chuyển cho kế toán trưởng duyệt ( riêng phiếu chi phải có chữ ký của thủ trưởng đơn vị) một liên lưu tại nơi lập phiếu, các liên còn lại chuyển cho thủ quỹ để thu hoặc chi tiền. Sau khi nhập (hoặc xuất) tiền thủ quỹ phải đóng dấu “đã thu” hoặc “ đã chi” và ký tên vào phiếu thu, giữ một liên để ghi sổ quỹ, một liên cho người nộp (hoặc nhận) tiền. Cuối ngày chuyển cho kế toán để ghi sổ. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Trường hợp phiếu thu, phiếu chi gửi ra ngoài doanh nghiệp, liên gửi ra ngoài doanh nghiệp phải được đóng dấu. Phiếu thu, phiếu chi được đóng thành từng quyển và phải ghi sổ từng quyển dùng trong một năm. Trong mỗi phiếu thu( phiếu chi), sổ của từng phiếu thu, phiếu chi phải được đánh liên tục trong một kỳ kế toán.

Ngoài phiếu thu, phiếu chi là căn cứ chính để hạch toán vào TK 111 có cần các chứng từ gốc có liên quan khác và phiếu thu hoặc phiếu chi như giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tiền tạm ứng, hóa đơn bán hàng, biên lai thu tiền.

Kế toán tiền mặt sau khi nhận được phiếu thu,phiếu chi kèm theo chứng từ gốc do thủ quỹ chuyển đến phải kiểm tra chứng từ và cách ghi chép trên các chứng từ để tiến hành định khoản. Sau đó mới ghi vào “ Sổ kế toán chi tiết quỹ tiền mặt” dùng cho kế toán tiền mặt được mở theo mẫu sổ S07a-DN tương tự sổ quỹ tiền mặt, chỉ khác là có thêm cột F”tài khoản đối ứng” để kế toán định khoản nghiệp vụ phát sinh liên quan đến bên Nợ, bên Có Tk 111- Tiền mặt.

  • Nguyên tắc hạch toán.

Chỉ phản ánh vào Tk 111” Tiền mặt” số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với khoản tiền thu được chuyển nộp ngay vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị ) thì không ghi vào bên Nợ TK 111 “ Tiền mặt” mà ghi vào bên Nợ TK 113 “ Tiền đang chuyển”

Các khỏan tiền mặt do doanh nghiệp khác và cá nhân ký quỹ, ký cược tai doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng tiền của đơn vị.

Khi tiến hành Nhập, Xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của người nhận, người giao, người cho phép nhập, xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập quỹ xuất ký đính kèm.

Kế toán quỹ tiền mặt phải có trách nhiệm mở sổ quỹ tiền mặt, ghi chép hằng ngày liên tục theo trình tự phát sinh các khoản phải thu, chi, nhập, xuất quỹ tiền mặt ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm.

Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch kế toán và thủ quỹ phải kiểm kê trả lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

b, Đối với tiền mặt là ngoại tệ.

  • Các quy định chung:

Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ Liên Ngân hàng do Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để ghi sổ kế toán.

Bên Có TK 1112 được quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, Nhập trước- Xuất trước, Nhập sau-Xuất trước, Giá thực tế đích danh(như một loại hàng hóa đặc biệt).

Tiền mặt bằng ngoại tệ ngoài việc quy đổi ra đồng Việt Nam , kế toán còn phải theo dõi chi tiết theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “Ngoại tệ các loại” (TK ngoài bảng cân đối kế toán).

  • Việc quy đổi ra đồng Việt Nam phải tuân thủ các quy định sau:

Đối với tài khoản thuộc loại chi phí, thu nhập, vật tư, hàng hóa tài sản cố định dù doanh nghiệp có hay không sử dụng tỷ giá hạch toán, khi có phát sinh các nghiệp vụ bằng ngoại tệ đều phải luôn luôn ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.

Các doanh nghiệp có ít nghiệp vụ bằng ngoại tệ thì các tài khoản tiền, các tài khoản phải thu, phải trả được ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào TK 413-Chênh lệch tỷ giá.

Các doanh nghiệp có nhiều nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ có thể sử dụng tỷ giá hạch toán để ghi sổ các tài khoản tiền, phải thu, phải trả. Số chênh lệch giữa tỷ giá hạch toán và tỷ giá mua của ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào TK 413.

  • Hạch toán thu đối với ngoại tệ.

Nhập quỹ tiền mặt bằng ngoại tệ kế toán căn cứ vào tỷ giá giao dịch của nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá mua bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để quy đổi sang đồng Việt Nam. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

  • Hạch toán chi đối với ngoại tệ

Xuất quỹ tiền mặt bằng ngoại tệ để thanh toán, chi trả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu có chênh lệch giữa tỷ giá thực tế thu ngoại tệ trong kỳ là tỷ giá phát sinh nghiệp vụ chi ngoại tệ thì phản ánh số chênh lệch này trên TK 515( Nếu lãi tỷ giá hối đoái) hoặc TK 635 -Chi phí tài chính (Nếu lỗ tỷ giá hối đoái).

Thời điểm cuối năm tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ ( Đơn vị tiền tệ bằng với đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán) theo tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm cuối năm tài chính có thể phát sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái( Lãi hoặc Lỗ). Doanh nghiệp phải chi tiết khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ này của hoạt động đầu tư XDCB( giai đoạn trước hoạt động), (TK 4132) và của hoạt động sản xuất kinh doanh( TK 4131).

c, Đối với tiền mặt là Vàng, Bạc, Kim khí quý, Đá quý phản ánh ở tài khoản tiền mặt chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vang, bạc, kim khí quý, đá quý. Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các tài sản này thì phản ánh vào TK 111(1113). Do vàng, bạc, đá quý có giá trị cao nên khi mua cần có đầy đủ các thông tin như: Ngày mua mẫu mã, độ tuổi, giá thanh toán…Các loại vàng, bạc, đá quý được ghi sổ theo tỷ giá thực tế, khi xuất có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá thực tế như: Phương pháp bình quân gia quyền, Nhập trước-Xuất trước, Nhập sau-Xuất trước hay phương pháp thực tế đích danh.

PHẦN II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ CHÙA VẼ Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

2.1 Giới thiệu chung về Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ

 2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ.

Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ là đơn vị thành viên xí nghiệp liên hiệp Hải Phòng, được xây dựng năm 1997 do yêu cầu mở rộng, phục vụ tính chất sản xuất kinh doanh đa dạng hóa.

  • Trước năm 1995 xí nghiệp gồm hai khu vực:

Khu vực 1: Xây dựng phòng ban. nơi giao dịch và điều hành hoạt động Cảng. Trong thời kỳ chiến tranh và thời kỳ bao cấp cảng chủ yếu khai thác hàng bách hóa, hàng viện trợ và nông sản xuất khẩu.

Khu vực 2: Trong thời kỳ chiến tranh chủ yếu khai thác hàng quân sự và vật liệu xây dựng.

Đến năm 1995 do yêu cầu tổ chức sản xuất tách ra làm hai xí nghiệp: Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ và xí nghiệp xếp dỡ Đoạn Xá. Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ được giữ nguyên về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, thiết bị xếp dỡ.

Sau hai năm 1995-1996 được bộ giao thông vận tải và Cảng Hải Phòng đầu tư xây dựng, xí nghiệp đã thay đổi cơ bản về quy mô. Xí nghiệp làm mới 70.000 m2 bãi, xây dựng nhà điều hành sản xuất, kho CFS, một số công trình phục vụ sản xuất và sinh hoạt,trang bị một số phương tiện, thiết bị phù hợp với yêu cầu sản xuất.

Ngày 13/7/2000 sau khi cải tạo và xây dựng, bến container Chùa Vẽ thuộc dự án cải tạo và nâng cấp cảng Hải Phòng đã chính thức đi vào hoạt động. Hiện nay xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ vẫn đang tiếp tục nhận vốn ODA để cải tạo và nâng cấp Cảng. Tương lai đây sẽ là một bến cảng hiện đại và lớn nhất miền Bắc.

Chi nhánh công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng-Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ là đơn vị phụ thuộc của công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng có đầy đủ tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản tại ngân hàng, được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, tài chính, tổ chức nhân sự theo phân cấp của Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng. Chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng.

Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng- Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ có trụ sở tại đường bao Trần Hưng Đạo, quận Hải An thành phố Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Cảng Chùa Vẽ hiện có 5 cầu tầu dài 895m, 3200 m2kho CFS, bãi container rộng 140.000 m2và có hệ thống đường sắt dài 2 km.

2.1.1.1 Tình hình, đặc điểm của Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ.

  • Tên đầy đủ của xí nghiệp: Chi nhánh công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng- Xí nghiệp Xếp Dỡ Chùa Vẽ.
  • Tên viết tắt: Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ.

Đơn vị chủ quản lý: Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng. Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ hoạt động trên một số lĩnh vực:

  • Xếp dỡ container tại cầu và vùng nước với công nghệ hiện đại năng suất cao- an toàn-hiệu quả.
  • Các dịch vụ thuê bãi, giao nhận, đóng rút hàng, phục vụ, kiểm hóa kiểm dịch.
  • Dịch vụ kho CFS: gom hàng và phân phối hàng lẻ.
  • Cân container và hàng hóa bằng cân điện tử 80 tấn.
  • Sửa chữa các phương tiện vận tải bộ, các thiết bị bốc xếp vệ sinh và sửa chữa container.
  • Vận tải container và hàng hóa khác bằng đường bộ.

Các bộ phận phòng ban của xí nghiệp chủ động xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh của xí nghiệp phù hợp với yêu cầu khách hàng và yêu cầu của các hợp đồng kinh tế đã ký kết. Bảo toàn và phát triển vốn, khai thác sử dụng hợp lý bảo đảm tính hiệu quả. Chú trọng đầu tư mở rộng nguồn khách hàng cũng như khách hàng, chủ hàng, đảm bảo kinh doanh trên cơ sở tuân thủ các chế độ chính sách về quản lý kinh tế, tôn trọng pháp luật, thực hiện công bằng xã hội. Bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho cán bộ công nhân viên, làm tốt công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động.

 2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ trong quá trình hoạt động.

2.1.2.1 Thuận lợi. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Chi nhánh công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng-Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ là một trong những Cảng Container lớn nhất và được đầu tư nguồn vốn lớn nhất trong tất cả các Cảng trực thuộc Cảng Hải Phòng. Với đội ngũ cán bộ công nhân chuyên nghiệp được trang bị cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến nhất.

Ba năm gần đây, Cảng Chùa Vẽ có doanh thu ngày càng phát triển mạnh do có cơ sở vật chất tiên tiến, với nhiều cần cẩu dàn, cần cẩu chân đế, xe nâng chụp…có công suất lớn. Cảng Chùa Vẽ có bãi container lớn nhất trong các Cảng, với hệ thống kho bãi rộng lớn tạo điều kiện bảo quản và lưu trữ hàng hóa.

Cảng Chùa Vẽ là Cảng có nhiều cầu tầu nhất của Hải Phòng vì vậy rất thuận tiện cho việc neo đậu của các cầu tầu nước ngoài cập bến, nhập hàng và xuất khẩu hàng trong nước và ngoài nước.

2.1.2.2. Khó khăn.

Phạm vị hoạt động SXKD của Xí nghiệp chủ yếu là bốc xếp hàng hóa, thuê kho bãi. Tốc độ phát triển đến mức đột biến vào những năm gần đây, lượng hàng hóa ra vào Cảng ngày càng tăng dẫn đến thiếu kho bãi và máy móc không đủ để phục vụ, đó là khó khăn lớn nhất mà Xí nghiệp đang gặp phải.

2.1.2.3 Những thành tích cơ bản mà Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ đạt được trong những năm gần đây.

Trải qua quá trình phát triển, là Xí nghiệp Xếp dỡ lớn nhất miền Bắc, Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ được đầu tư nguồn vốn ngân sách lớn nhất toàn Cảng Hải Phòng, và được viện trợ vốn ODA hàng năm để xây dựng Xí nghiệp. Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ khi mới xây dựng gồm 2 cầu cảng chính, khi được viện trợ xây dựng nguồn kinh phí Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ có thêm 5 cầu Cảng nữa và là Xí nghiệp có nhiều cầu cảng nhất trong khu vực Miền Bắc.

Để lập thành tích chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công nhân Cảng Hải Phòng(24/11/1929-24/11/2010) cán bộ công nhân viên toàn cảng đã sôi nổi trong phong trào thi đua, phấn đấu hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh. Cảng Chùa Vẽ là cảng đi đầu trong việc thi đua lập thành tích về xếp dỡ hàng hoá.

Những thành tích mà Xí nghiệp đạt được thể hiện cụ thể trong bảng kết quả về một số chỉ tiêu chủ yếu của Xí nghiệp ba năm gần đây như sau:

Qua những số liệu trên ta thấy được chỉ trong 3 năm sản lượn Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.g bốc xếp của xí nghiệp đã tăng từ 356.986 tấn năm 2008, sang năm 2010 xí nghiệp đã đạt được 534.935 tấn, về số tương đối tăng lên 66%. Từ đó cũng làm cho doanh thu của xí nghiệp tăng từ 14.572.089.636 năm 2008 lên đến 22.735.365.324 năm 2010, về số tương đối tăng lên 56,02%. Doanh thu và sản lượng bốc xếp tăng lên là do:

Thứ nhất: Xí nghiệp đã được Cảng giao cho quản lý và sử dụng giá trị lớn hơn cụ thể năm 2008, tổng vốn kinh doanh của Xí nghiệp quản lý chỉ có 9.436.015.200 thì đến năm 2010 tổng vốn kinh doanh tăng lên gấp đôi. Đến năm 2010 tổng vốn kinh doanh là 21.613.695.139.

Thứ hai: Số lượng lao động trong xí nghiệp giảm đi đáng kể, cụ thể: năm 2008 số lượng lao động trong xí nghiệp là 524 người thì sang năm 2010 số lượng lao động trong xí nghiệp giảm đi còn 436 người. Điều này chứng tỏ xí nghiệp đã sử dụng khoa học kỹ thuật. Xí nghiệp luôn đặt ra mục tiêu cho mình là phải nâng cao thu nhập cho mỗi công nhân. Năm 2008 thu nhập bình quân mỗi lao động là 3.220.500 thì sang năm 2010 thu nhập bình quân mỗi lao động đạt 5.570.700 tăng trên 50% về mặt tương đối.

Những thành tựu trên của xí nghiệp tuy không lớn nhưng thể hiện quyết tâm muốn phát triển, muốn thành công của toàn bộ công nhân viên trong xí nghiệp.

2.2 Thực trạng công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Vốn bằng tiền của Xí nghiệp bao gồm tiền mặt tồn quỹ và tiền gửi ngân hàng. Xí nghiệp sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam để phục vụ cho việc ghi chép. Trường hợp phát sinh các giao dịch liên quan đến ngoại tệ thì sẽ quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam để ghi chép kế toán.

 2.2.1 Thực tế công tác kế toán tiền mặt tại Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ.

Tiền mặt là số Vốn bằng tiền được thủ quỹ bảo quản trong két sắt an toàn của Xí nghiệp.Xí nghiệp không phát sinh về ngoại tệ hay vàng, bạc, kim khí quý, đá quý.

Nguyên tắc quản lý tiền mặt tại xí nghiệp được chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và chế độ quản lý, lưu thông tiền tệ hiện hành của Nhà nước.

Thủ quỹ là người chịu trách nhiệm quản lý và nhập xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày hoặc định kỳ phải kiểm kê tiền mặt thực tế đối chiếu với số dư trên sổ quỹ để đảm bảo sự phù hợp giữa số dư trên sổ quỹ với tiền mặt thực tế.

2.2.1.1. Chứng từ sử dụng.

  • Phiếu thu (Mẫu 01-TT)
  • Phiếu chi (Mẫu 02-TT)
  • Hóa đơn GTGT (Mẫu 01-GTKT/3LL)
  • Giấy đề nghi thanh toán.

Các phiếu thu, phiếu chi…. Sau khi được ghi đầy đủ các nội dung sẽ được đính kèm các chứng từ liên quan để chuyển cho giám đốc, kế toán trưởng ký duyệt, sau đó chuyển cho thủ quỹ làm căn cứ nhập, xuất quỹ. Các phiếu thu, phiếu chi…. Phải được đánh số thứ tự liên tục tránh các trường hợp biển thủ công quỹ hay gian lận.

2.2.1.2 Tài khoản sử dụng

Tài khoản 111- Tiền mặt. Tài khoản tiền mặt có 3 tài khoản cấp 2 nhưng Xí nghiệp chỉ sử dụng một tài khoản cấp 2: TK 1111- Tiền Việt Nam tại quỹ.

2.2.1.3 Sổ sách sử dụng

  • Sổ quỹ tiền mặt
  • Sổ chi tiết quỹ tiền mặt
  • Nhật ký chứng từ số 1
  • Bảng kê số 1
  • Sổ cái tài khoản 111

PHẦN III. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI XÍ NGHIỆP XẾP DỠ CHÙA VẼ

3.1 Nhận xét đánh giá chung về bộ máy kế toán và công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ được thành lập từ lâu, Xí nghiệp đã trải qua không ít khó khăn và thử thách. Để khằng định chỗ đứng của mình trên thương trường ban lãnh đạo Xí nghiệp cùng toàn thể cán bộ nhân viên đã phải phấn đấu, nỗ lực rất lớn. Xí nghiệp không ngừng nâng cao trình độ quản lý, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên. Xí nghiệp thực hiện tốt các kế hoạch kinh doanh, các nhiệm vụ đề ra trong từng chu kỳ kinh doanh cụ thể. Chính sự nỗ lực liên tực không ngừng đó mà uy tín của Xí nghiệp ngày càng mở rộng, doanh thu tăng dẫn tới lợi nhuận tăng nhờ đó mà đời sống của cán bộ công nhân viên cũng được nâng cao.

Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động có tính linh hoạt cao nhất trên bảng Báo cáo tài chính. Nó phản ánh khả năng thanh toán tức thời của Xí nghiệp tài thời điểm. Ý thức được tầm quan trọng của Vốn bằng tiền và để đáp ứng nhu cầu thanh toán Xí nghiệp, thực hiện việc mua sắm, chi phí nhằm đảm bảo công tác sản xuất, kinh doanh được liên tục, đem lại hiệu quả cao, Xí nghiệp đã tổ chức quản lý một cách tối đa vốn bằng tiền.

Bộ máy kế toán của Xí nghiệp được tổ chức một cách hợp lý, hoạt động có nề nếp. Độ ngũ cán bộ trẻ nhiệt tình, yêu nghề, tiếp cận kịp thời với chế độ kế toán hiện hành và vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo, khoa học, có tính tương trợ nhau trong công việc đem lại hiệu quả cao.

Tuy Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ không phải là một Xí nghiệp sản xuất nhưng công tác kế toán vốn bằng tiền cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với xí nghiệp. Nắm bắt được điều này nên trong quá trình thực tập tại Xí nghiệp em đã đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp. Qua thời gian thực tập, được sự giúp đỡ của các cô chú tong xí nghiệp em có một vài ý kiến nhận xét về công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp như sau:

3.1.1 Ưu điểm. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Xí nghiệp đã tạo được một mô hình quản lý và hạch toán khá khoa học, phù hợp với yêu cầu cảu nền kinh tế thị trường, bộ máy quản lý hoạt động một cách khá nhịp nhàng, giúp cho Giám đốc Xí nghiệp diều hành một cách có hiệu quả. Hiện nay với yêu cầu nâng cao của công tác kế toán, ban kinh tế thường xuyên chú trọng đến nâng cao, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kế toán. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi và cùng với bộ máy gọn nhẹ, sự phân nhiệm rõ ràng cho từng người đã tạo ra sự ăn khớp nhịp nhàng giữa các phần hành kế toán đã cung cấp số liệu cụ thể, chi tiết, chính xác và tổng hợp cho nhau một cách đầy đủ kịp thời nhằm thực hiện công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền.

Với bộ máy kế toán được tổ chức theo hình thức tập trung đã tạo điều kiện cho việc kiểm tra, chỉ đạo và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Xí nghiệp đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh.

Vốn bằng tiền là loại tài sản đặc biệt, do vậy trong quá trình quản lý rất dễ xảy ra tham ô, lãng phí. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, bên cạnh việc chấp hành các quy định và chế độ quản lý, lưu thông tiền tệ hiện hành như:

  • Mọi vấn đề biến động của vốn bằng tiền đều có đầy đủ thủ tục và có chứng từ gốc hợp lệ.
  • Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền đúng mục đích, đúng chế độ.

Để hạch toán vốn bằng tiền, Xí nghiệp đã phân chia công việc rõ ràng:

  • Một kế toán chịu trách nhiệm kế toán tiền mặt.
  • Một kế toán chịu trách nhiệm kế toán tiền gửi ngân hàng.
  • Một người là thủ quỹ

Việc thực hiện phân tách công việc kế toán của những người liên quan đến vốn bằng tiền giảm thiểu được thất thoát vốn bằng tiền. Hay nói cách khác là một khâu kiểm soát chặt chẽ vốn bằng tiền. Đặc biệt là giữa thủ quỹ với kế toán tiền mặt. Nếu không tách biệt hai người này thì khả năng biển thủ công quỹ là rất lớn.

Việc nhập xuất tiền mặt đều được dựa trên những chứng từ gốc hợp lý, hợp lệ, được kế toán trưởng soát xét, và Giám đốc Xí nghiệp phê duyệt, có đầy đủ chữ ký của người nộp tiền, nhận tiền, thủ quỹ… Vì vậy không xảy ra tình trạng chi tiêu lãng phí, đảm bảo các khoản chi đều hợp lệ, và có mục đích rõ ràng.

Các thủ tục chứng từ liên quan đến việc hạch toán vốn bằng tiền được thực hiện đầy đủ. Từ những công việc hạch toán ban đầu đến việc kiểm tra tính hợp lý của các chứng từ được tiến hành một cách khá cẩn thận, đảm bảo số liệu phản ánh trung thực, hợp lý, rõ ràng và dễ hiểu. Trong công tác theo dõi vốn bằng tiền, kế toán vốn bằng tiền tiến hành chặt chẽ theo quy định luân chuyển chứng từ. Chứng từ được lưu trữ và đóng quyển theo thứ tự để thuận lợi cho công việc kiểm tra, thanh tra, tổ chức hệ thống Báo cáo tài chính và thống kê nội bộ đầy đủ kịp thời để lãnh đạo nắm bắt tình hình nhanh chóng.

3.1.2 Những hạn chế Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Có thể nói công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ đã tiến hành có kế hoạch đảm bảo tuân thủ theo chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện cụ thể cảu Xí nghiệp. Với những ưu điểm trên công tác quản lý vốn bằng tiền ngày càng được phát huy nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn Xí nghiệp. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về công tác tài chính kế toán vốn bằng tiền thì công tác kê toán ở Xí nghiệp vẫn còn những hạn chế cần nghiên cứu và cần được tiếp tục bổ sung và hoàn thiện:

  • Về chứng từ sổ sách kế toán:

Hiện nay, mặc dù Xí nghiệp sử dụng khá đầy đủ các chứng từ, sổ sách có liên quan đến kế toán vốn bằng tiền như phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị thanh toán… nhưng mẫu phiếu thu, phiếu chi và sổ sách kế toán vẫn sử dụng theo QĐ 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 1 tháng 11 năm 1995.

  • Về vấn đề ứng dụng tin học trong công tác kế toán:

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội nền sản xuất cũng không ngừng phát triển đáp ứng các yêu cầu công tác quản lý đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng cũng như khối lượng thông tin hạch toán ngày càng tăng. Đặc biệt là công tác quản trị Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi khối lượng thông tin phải chính xác, kịp thời để đưa ra những quyết định đúng đắn. Tất cả điều này thể hiện sự cần thiết phải sử dụng máy tính trong quản trị Doanh nghiệp, nhất là phần mềm kế toán đối với công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng.

  • Về việc quản lý quỹ tiền mặt

Hàng tháng Xí nghiệp chưa tiến hành lập Bản kiểm kê quỹ tiền mặt để xác định số tiền tồn quỹ thực tế và số thừa, thiếu so với sổ quỹ, trên cơ sở đó có biện pháp tăng cường quản lý quỹ tìm ra nguyên nhân của sự chênh lệch đó, tránh được thất thoát về tiền, đưa ra những biện pháp quản lý quỹ tốt và đạt hiệu quả cao hơn.

  • Về hệ thống tài khoản Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Hiện nay Xí nghiệp không sử dụng tài khoản 113- Tiền đang chuyển để hạch toán. Đây là số tiền của doanh nghiệp trong quá trình xử lý như chuyển tiền đang gửi vào Ngân hàng kho bạc, chuyển trả cho khách hàng qua đường bưu điện(trong nước hoặc nước ngoài ) nhưng chưa nhận được giấy báo Có, đã làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản tại Ngân hàng để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo Nợ hay bản sao kê của Ngân hàng. Thường thì Xí nghiệp không dùng tài khoản này mà chờ chuyển tiền hoàn thành rồi hạch toán vì thường tiền chuyển qua Ngân hàng sẽ chi phải chờ một vài ngày là người thụ hưởng sẽ nhận được tiền. Nhưng nó sẽ ảnh hưởng nếu như rơi vào cuối kỳ kế toán hàng tháng hay năm. Trường hợp cuối tháng lên báo cóa tài chính mà có phát sinh tiền khách hàng đã chuyển(nhưng chưa tới sẽ nhận được vào ngày đầu tháng sau). Nếu nghiệp vụ này không sử dụng tài khoản 113 thì số dư công nợ cuối năm trên báo cáo tài chính không chính xác và sẽ gặp khó khăn khi xác nhận số dư công nợ với khách hàng khi có kiểm toán.

3.2 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ.

3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện.

Như chúng ta đã biết đối với bất kỳ doanh nghiệp hoạt động sản xuất nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì vấn đề sống còn là không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường để tồn tại và phát triển. Muốn làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược tốt, không ngừng nâng cao hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra ban đầu và trong đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn là một trong các biện pháp tích cực phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp.

Để thực hiện tốt hơn nữa việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền doanh nghiệp cần phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế để việc kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.

3.2.2 Mục đích, yêu cầu, phạm vi hoàn thiện.

Đối với Doanh nghiệp, yếu tố thông tin và cơ chế quản lý có ảnh hưởng rất lớn tới tổ chức công tác kế toán. Do vậy cần phải thấy được những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường và sự tác động của các nhân tố khác tới việc tổ chức công tác kế toán, để tìm ra biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán, đáp ứng được yêu cầu quản lý của doanh nghiệp đặt ra. Muốn vậy việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng cần phải tuân thủ các yêu cầu sau: Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

  • Phải tuân thủ chế độ tài chính, chế độ kế toán hiện hành.

Phải tuân thủ chế độ tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự quản lý, điều hành và kiểm soát của Nhà nước bằng pháp luật và các biện pháp hành chính, các công cụ quản lý kinh tế. Chính vì vậy, các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán phải dựa trên chế độ quản lý tài chính và chế độ kế toán hiện hành, có như vậy kế toán mới thực sự là công cụ quản lý không chỉ trong phạm vi doanh nghiệp mà của cả Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Việc tuân thủ chế độ kế toán hiên hành thể hiện từ việc tuân thủ tài khoản sử dụng, phương pháp và trình tự kế toán đến việc sử dụng hệ thống sổ kế toán, lập báo cáo.

  • Phải phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Xí nghiệp.

Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như yêu cầu quản lý riêng. Nhà nước ban hành các chính sách, các quy định chung cho tất cả các doanh nghiệp chỉ mang tính chất định hướng, hướng dẫn cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải biết vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp cũng cần đảm bảo sự thống nhất về phương pháp đánh giá, về việc sử dụng chứng từ, tài khoản cũng như hệ thống sổ sách báo cáo.

  • Phải đáp ứng được việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác.

Đây là yêu cầu không thể thiếu được trong tổ chức công tác kế toán nói chung và kế toán vốn bằng tiền nói riêng. Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp. Do vậy hoàn thiện công tác kế toán phải đáp ứng được yêu cầu đối với thông tin là phải kịp thời, chính xác, phù hợp giúp việc ra quyết định đạt kết quả tối ưu.

  • Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả.

Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này, cùng với việc không ngừng tăng doanh thu các doanh nghiệp cần phải có các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí có thể được, đây là một yêu cầu tất yếu đặt ra với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công việc hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền, làm cho kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả. Sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu các phần hành nói chung và đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ.

Em xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tốt hơn công tác kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

3.2.3 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Xí nghiệp xếp dỡ Chùa Vẽ.

  • Ý kiến thứ nhất: Hạch toán việc kiểm kê quỹ vào cuối tháng hoặc định kỳ.

Việc kiểm kê quỹ được tiến hành định kỳ vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm hoặc khi cần thiết có thể kiểm kê đột xuất hoặc khi bàn giao quỹ. Biên bản kiểm kê phải ghi rõ số hiệu chứng từ và thời điểm kiểm kê.

Trước khi kiểm kê quỹ, thủ quỹ phải ghi sổ quỹ tất cả các phiếu thu, phiếu chi va tính số dư tồn quỹ đến thời điểm kiểm kê. Mọi khoản chênh lệch đều phải báo cáo Giám đốc xem xét.

Khi tiến hành kiểm kê phải tiến hành kiểm kê riêng từng loại tiền có trong quỹ, và khi có sự chênh lệch phải ghi rõ nguyên nhân gây ra thừa thiếu và phải báo giám đốc doanh nghiệp xem xét giải quyết.

Bảng kiểm kê quỹ phải được lập thành hai lần: Một bản lưu ở thủ quỹ, một bản lưu ở kế toán quỹ tiền mặt hoặc kế toán thanh toán.

Ưu điểm: Giúp cho các nhà quản lý nắm bắt được số tồn quỹ thực tế, số tiền thừa thiếu so với sổ quỹ để có biện pháp tốt hơn trong việc….quỹ làm cơ sở quy trách nhiệm vật chất, ghi sổ kế toán chênh lệch.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

Công tác kế toán vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp là vô cùng cần thiết vì nó rất quan trọng. Thông qua công tác kế toán vốn bằng tiền giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt được tình hình tăng giảm của vốn bằng tiền, từ đó có kế hoạch sử dụng vốn bằng tiền sao cho hợp lý để thúc đẩy sản xuất kinh doanh

Qua thời gian thực tập tại Xí nghiệp Xếp dỡ Chùa Vẽ, cùng với sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của các cô chú phòng kế toán và cô giáo hướng dẫn. Em đã tìm hiểu được sâu hơn về công tác hạch toán kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng.

Cũng trong thời gian thực tập này em đã nhận thức được rằng lý luận phải gắn liền với thực tiễn, phải biết vận dụng linh hoạt lý thuyết đã được học cho phù hợp với tình hình thực tế và cũng tại đây em đã học được nhiều kinh nghiệm bổ ích sau này.

Do hạn chế về hiểu biết lý luận và thực tiễn, hơn nữa thời gian thực tập tại công ty có hạn trong quá trình nghiên cứu. Bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong có được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Xí nghiệp Xếp Dữ Chùa Vẽ cùng toàn thể cô chú trong ban Tài chính – Kế toán của công ty và cám ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn – Thạc sĩ Hòa Thị Thanh hương đã giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>> Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cảng Hải Phòng […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x