Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Rate this post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I. THỰC TRẠNG QUY MÔ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

1. Thực trạng quy mô.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có tên gọi là ngân hàng thương mại lần đầu tiên tại Quyết định thành lập số 403-CT ngày 14/ 11/ 1990 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng theo pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được quốc hội thông qua vào tháng 5/ 1990. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam lúc này là kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng với các thành phần kinh tế, chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại. Tuy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được kinh doanh tổng hợp nhưng nhiệm vụ chính vẫn là phục vụ kinh tế đối ngoại. Vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được cấp ban đầu là 200 tỷ đồng.

Tháng 11/ 2012, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thay đổi hoạt động trên cơ sở điều lệ mới do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Theo điều lệ này thì thời gian hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 99 năm kể từ ngày được Thủ tướng chính phủ kí quyết định thành lập và có thể gia hạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hoạt động dưới sự quản lí trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và có Hội đồng quản trị tư vấn. Tháng 3/ 2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định thành lập lại theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước. Đây là một quyết định mang tính chất thủ tục hành chính và để thực hiện đăng kí kinh doanh theo luật định cho hoạt động của một doanh nghiệp Nhà nước. Tháng 9/ 2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Quyết định số 286/QĐ-NH về việc thành lập lại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phù hợp với Luật doanh nghiệp mới theo mô hình Tổng công ty Nhà nước được quy định tại Quyết định 90/ TTG ngày 7/ 3/ 2014 của Thủ tướng Chính phủ (tổng công ty 90).

  • MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Tháng 9/ 2017, Điều lệ mới của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được chuẩn y theo Quyết định 324-QĐ/NHNN. Lúc này, vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được tăng lên 1.100 tỷ đồng và Hội đồng Quản trị quản trị trực tiếp ngân hàng mà không phải là hội đồng tư vấn như điều lệ cũ. Tháng 11/ 2021, hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức thay đổi theo điều lệ mới được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn y theo luật các tổ chức tín dụng. Một số các điểm mới của điều lệ như sau:

  • Điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam theo Luật các tổ chức tín dụng, không phải theo Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính.
  • Phân rõ trách nhiệm của Hội đồng Quản trị và Ban điều hành theo hướng tăng cường vai trò quản lý của Hội đồng Quản trị.
  • Xác định rõ hơn ranh giới giám sát của Ban kiểm soát Hội đồng Quản trị và bộ máy kiểm tra kiểm toán nội bộ trực thuộc ban điều hành. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
  • Về cơ cấu tổ chức: được thành lập chi nhánh cấp II trực thuộc Chi nhánh cấp I.

Về hoạt động kinh doanh: Thứ nhất, có thể huy động vốn bằng vàng và các công cụ tài chính khác. Thứ hai, tổng dư nợ tối đa cho vay một khách hàng bằng 15% vốn tự có, có thể cấp tín dụng bằng vàng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu. Được miễn, giảm lãi, cho vay đáo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Thủ tướng chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thứ ba, phải duy trì số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định. Thứ tư, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không được trực tiếp kinh doanh bất động sản và phải tuân thủ các chế độ an toàn trong kinh doanh.

  • Các sản phẩm dịch vụ cơ bản Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp.

Trong khuôn khổ pháp luật, hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và các đơn vị trực thuộc thực hiện cung cấp các sản phẩm dịch vụ chính cho các khách hàng như:

  • Nhận tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ;
  • Phát hành kỳ phiếu bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ;
  • Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ;
  • Thực hiện các dịch vụ về giao dịch tài khoản, giao dịch séc;
  • Chuyển tiền nhanh trong và ngoài nước;
  • Thanh toán xuất nhập khẩu (L/C- D/P- D/A);
  • Nhận mua bán ngay, có kỳ hạn và hoán đổi các ngoại tệ mạnh;
  • Bảo lãnh và tái bảo lãnh;
  • Phát hành thẻ tín dụng Vietcombank-Visacard, Vietcombank- Mastercard , Vietcombak – American Express (sử dụng trong và ngoài nước, rút tiền mặt trên máy VCB – ATM) và thẻ ATM – Connect 24 (sử dụng trong nước);
  • Làm đại lý thanh toán các loại thẻ quốc tế như: Visacard, Mastercard, ICB, American Express, JCB và Diners Club;
  • Thực hiện thanh toán quốc tế thông qua hệ thống SWIFT, Money Gram…;
  • Thực hiện các dịch vụ thuê mua tài chính, thực hiện dịch vụ bảo hiểm và kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật; Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
  • Thực hiện kinh doanh chứng khoán, làm môi giới, đại lý, phát hành chứng khoán;
  • Góp vốn liên doanh, mua cổ phần với các tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng khác;
  • Thực hiện nhiệm vụ uỷ thác của Nhà nước;
  • Dịch vụ E-banking, Home

Các dịch vụ khác như: Mã hộ điện của ngân hàng đại lí cho ngân hàng điện tử, chuyển tiếp điện của ngân hàng đại lí cho ngân hàng nội địa, thông báo mất chứng từ có giá, rút vốn vay nước ngoài…

Song song với phát triển các nghiệp vụ và sản phẩm ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục mở rộng hệ thống nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng. Tính đến cuối năm 2025, hệ thống của ngân hàng gồm:

  • 26 chi nhánh cấp I, 46 chi nhánh cấp II và 54 phòng giao dịch trên toàn quốc;
  • 3 chi nhánh nước ngoài là: Công ty Tài chính (Vinafico Ltd…) tại HongKong, Vietcombank Rep. office Paris tại Pháp và Vietcombank Rep. office Singapore tại Singapore;
  • 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài;
  • 3 công ty trực thuộc (Công ty Chứng khoán, Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài Sản);
  • Góp vốn cổ phần vào 6 doanh nghiệp (2 công ty bảo hiểm, 3 công ty kinh doanh bất động sản, 1 công ty đầu tư kỹ thuật), 7 ngân hàng và 1 quỹ tín dụng;
  • Tham gia 4 liên doanh với nước ngoài;
  • Có mối quan hệ thanh toán với 1250 ngân hàng tại gần 90 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới;
  • Mạng lưới hơn 500 máy ATM, hàng nghìn đơn vị chấp nhận thẻ và gần 01 triệu tài khoản thẻ ghi nợ trong cả nước;
  • Liên kết thành lập Liên minh thẻ gồm 12 Ngân hàng thương mại trong nước;

Trong những năm qua, nguồn nhân lực của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng được tăng cường cả về lượng và chất. Tính đến cuối năm 2025, đội ngũ cán bộ nhân viên lên tới 6.700 người (tăng gần 2,5 lần so với cuối năm 2020) trong đó có 21 tiến sĩ, 192 thạc sĩ và trên 600 người có trình độ đại học. Hàng năm, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cử hàng trăm lượt cán bộ tham dự các khoá đào tạo nghiệp vụ ngắn, trung, dài hạn ở trong nước cũng như ở nước ngoài nhằm tiếp thu kiến thức mới, củng cố và nâng cao trình độ để đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày một cao của khách hàng.

Từ 01/ 01/ 2026, Sở Giao dịch được tách ra khỏi Hội Sở chính và đã nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định. Đây là một bước đi nhằm tăng cường tính tự chủ trong kinh doanh, độc lập về tổ chức của Sở Giao dịch, tạo tiền đề cho việc triển khai ứng dụng các mô hình quản lý hiện đại theo khuyến nghị của Tư vấn dự án Hỗ trợ Hà Lan nói chung, quy trình tín dụng mới nói riêng tại Sở Giao dịch.

Để triển khai áp dụng quy trình tín dụng mới tại các chi nhánh trong hệ thống. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thành lập các phòng, bộ phận theo mô hình tổ chức tín dụng mới ở tất cả các chi nhánh trong hệ thống trên cơ sở cơ cấu lại phòng tín dụng trước đây, đảm bảo vừa thực hiện đúng quy trình mới, vừa giảm thiểu những xáo trộn không cần thiết trong khâu tổ chức của chi nhánh.

Theo quy định tại QĐ888/2025/QĐ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tiến hành triển khai việc cơ cấu lại hệ thống chi nhánh và phòng giao dịch. Đến nay Hội đồng Quản trị đã ra nghị quyết nâng cấp 32 chi nhánh cấp II thành chi nhánh cấp I, chuyển đổi 9 Chi nhánh cấp II thành Phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh. Với việc sắp xếp chuyển đổi này, các phòng ban tại Trung ương cũng như tại các chi nhánh đã tích cực chuẩn bị các công việc cần thiết để phù hợp với tình hình mới.

2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế thế giới có mức tăng trưởng cao, giá dầu mỏ tăng làm tăng nguy cơ lạm phát ở hầu hết các nước, giá vàng tăng, Đô la Mỹ mất giá so với các đồng tiền mạnh khác. Trước sức ép của lạm phát và giảm giá USD, ngân hàng Trung ương các nước (Mỹ, EBC v. v…) đã điều chỉnh tăng lãi suất chính thức. Như vậy, nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phát triển nhạy cảm. Đây cũng là giai đoạn mà thị trường tài chính đang bị tác động trái chiều, đan xen và khó dự đoán, gây ảnh hưởng tới sự vận động của các dòng vốn và hoạt động đầu tư.

Trong nước, tình hình kinh tế – xã hội trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục phát triển và ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục đạt mức cao, tăng 7,4%. Việc thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế khác đạt mức khả quan: nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng 21%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 19,3%, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn cùng kỳ hai năm trước. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, kinh tế trong nước phải đối mặt với không ít khó khăn như: dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, hậu quả của cơn bão số 1 v.v…

Trong hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn giữ ổn định các mức lãi suất chủ đạo, tuy nhiên lãi suất huy động trên thị trường vốn tăng nhẹ. Vốn huy động từ nền kinh tế tăng 16,1%, cao hơn so với tốc độ tăng cùng kỳ năm trước (9,1%). Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 6,7%, thấp hơn cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 1/3 mức tăng trưởng vốn huy động. Trong nửa đầu năm 2026 hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã được tăng cường về chất lượng và được đánh dấu bởi các sự kiện: toàn hệ thống tập trung triển khai mô hình tín dụng mới; đạt được bước tiến mới trong việc kiện toàn, hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý và quy trình nghiệp vụ; từng bước sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống chi nhánh theo yêu cầu quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; tăng cường tiếp xúc khách hàng và chú trọng nâng cấp, phát triển sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Với sự nỗ lực phấn đấu của mình và được sự chỉ đạo quan tâm, giúp đỡ của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu về tài chính đề ra từ đầu năm và gặt hái được những thành tựu hết sức khả quan có ý nghĩa quyết định tạo đà tăng trưởng bền vững cho những năm sau. Tính đến cuối tháng 6/ 2026 tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 148.412 tỷ quy đồng, tăng 6,9% so với cuối năm 2025, đạt 46% chỉ tiêu tăng trưởng kế hoạch năm 2026 (chỉ tiêu tăng trưởng kế hoạch là 15%).

  • Biểu đồ 1: Tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tính đến cuối T6/2026

Qua biểu đồ 1, ta có thể thấy tổng tài sản của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục tăng qua các năm với tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản tăng trung bình từ năm 2020 đến năm 2025 là 16,17%. Tính đến cuối tháng 6/ 2026, tổng tài sản gấp hơn 2 lần so với năm 2020. Điều này thể hiện được quy mô nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày càng lớn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

2.1. Công tác huy động và quản trị vốn.

Nét nổi bật của thị trường tiền tệ trong vài năm trở lại đây là sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại cổ phần và các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam thông qua việc chào mời đa dạng các sản phẩm huy động (ví dụ như kì hạn lẻ, kì hạn không cam kết với lãi suất cao, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng…). Trước tình hình đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã linh hoạt thay đổi các mức lãi suất cho phù hợp nhằm thu hút khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã điều chỉnh lãi suất VNĐ, USD tăng nhẹ để tương ứng với mặt bằng chung, áp dụng các mức lãi suất khác nhau đối với các kỳ hạn khác nhau của các khoản tiền gửi trên 12 tháng. Đặc biệt, trong quý I/ 2026, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành kỳ phiếu hưởng lãi suất bậc thang đồng thời tăng cường các biện pháp thu hút tiền gửi như: khuyến mại cho khách hàng gửi tiết kiệm, nâng cao chất lượng phục vụ, mở rộng mạng lưới…

Song song với việc quan tâm đến công tác huy động vốn, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn chủ động quản trị thanh khoản, quản trị lãi suất, nhằm có được cơ cấu vốn an toàn và hiệu quả. Từ năm 2022 đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn đảm bảo mức dự phòng thanh khoản cần thiết. Chênh lệch lãi suất cho vay – huy động luôn được quản trị sát sao. Riêng đối với USD chênh lệch lãi suất trong tháng 6 đã tăng lên đáng kể (3,32% so với cùng kỳ năm 2025 là 3,03% ).

Hoạt động kinh doanh trái phiếu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có những bước tiến nhanh cả về doanh số giao dịch và số lượng đối tác tham gia giao dịch. Doanh số giao dịch trái phiếu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn (60,6%) trong tổng doanh số giao dịch. Vừa qua Ngân hàng đã ký thêm được hợp đồng với 4 đối tác hầu hết là những công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam. Lượng trái phiếu Chính Phủ mà Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tham gia bảo lãnh và đấu thầu là 963,5 tỷ. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt do các Ngân hàng thương mại đang tạm thời dư vốn, hoạt động kinh doanh và đầu tư trái phiếu sẽ tăng tính thanh khoản và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng.

  • Kết quả công tác huy động và quản trị vốn được thể hiện cụ thể như sau:

Tính đến cuối tháng 6/ 2026 tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 148.412 tỷ quy đồng, tăng 7% so với cuối năm 2025 (138.665 tỷ đồng), đạt 46% chỉ tiêu tăng trưởng kế hoạch năm 2026 (chỉ tiêu kế hoạch là 15%).

  • Biểu đồ 2: Tỷ trọng nguồn vốn huy động Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Vốn huy động từ khách hàng (thị trường I) đạt 115.977 tỷ đồng, chiếm 70% tổng nguồn vốn, tăng 6,2% so với cuối năm 2025. Mức tăng trưởng này thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng 16,1% của ngành ngân hàng và chỉ đạt 33% chỉ tiêu tăng trưởng kế hoạch năm (kế hoạch năm là 18 – 20%). Huy động từ khách hàng tăng ở vốn tiền đồng, giảm ở vốn ngoại tệ, trong đó sự biến động lớn đều rơi vào Tổ chức kinh tế. Vốn huy động tiền đồng từ Tổ chức kinh tế tăng 22,5% trong khi huy động từ dân cư chỉ tăng 8,7%. Vốn huy động ngoại tệ từ Tổ chức kinh tế giảm mạnh 7,7% đi ngược với xu thế tăng nhẹ của vốn huy động dân cư 4,3%. Nguyên nhân chính làm cho huy động ngoại tệ từ các Tổ chức kinh tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giảm mạnh là do chính sách cạnh tranh của một số ngân hàng nước ngoài thông qua việc đưa ra các sản phẩm có mức lãi suất hấp dẫn thu hút khách hàng truyền thống của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng (thị trường II) là 14.994 tỷ đồng, chiếm 10% tổng nguồn vốn, tăng 9,2% so với cuối năm 2025. Huy động tiền đồng trên thị trường II đạt 2.373 tỷ đồng, tăng 25,5%. Huy động bằng ngoại tệ đạt 79 triệu USD, tăng 6,1%.

Cơ cấu nguồn vốn VNĐ/ Ngoại tệ hiện là 48/52, thay đổi khá nhiều so với cơ cấu 43/57 vào cuối năm 2025. Nguồn vốn tiền đồng đạt 71.252 tỷ đồng, tăng 20% so với cuối năm 2025. Vốn huy động tiền đồng từ Tổ chức kinh tế tăng mạnh cho thấy nhu cầu gửi tiền để sử dụng các dịch vụ thanh toán của các Tổ chức kinh tế ngày càng tăng cao. Nhờ vậy thị phần huy động tiền đồng từ Tổ chức kinh tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng từ 17,7% lên 20,9% so với toàn ngành. Tuy nhiên, nguồn vốn ngoại tệ giảm 3,1% so với cuối năm ngoái. Thị phần huy động USD từ Tổ chức kinh tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với toàn ngành ngân hàng giảm mạnh trong vòng 6 tháng, giảm từ 49,6% còn 44,0%. Điều này cho thấy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải nhanh chóng đưa ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng để đẩy mạnh công tác huy động vốn ngoại tệ, cải thiện thị phần.

2.2. Hoạt động tín dụng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong giai đoạn 2021 – 2025, dư nợ tín dụng tăng trưởng mạnh, đặc biệt là năm 2022 khi có chủ trương bứt phá tín dụng. Dư nợ tăng trưởng trung bình 28%/ năm – cao hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng tài sản. Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản đến cuối năm 2025 đạt 44%, tăng cao so với mức 22,9% vào cuối năm 2020. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng tăng gằn 4 lần so với thời điểm cuối năm 2020 góp phần cải thiện đáng kể thị phần tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Tính đến hết tháng 6/ 2026, tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt 57.053 tỷ quy Việt Nam đồng, tăng 1,7% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 8,1% chỉ tiêu tăng trưởng kế hoạch năm 2026 (20% – 22%).

  • Biểu đồ 3: Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản

Cơ cấu cho vay:

  • Bảng 4: Số liệu phân loại cho vay tính đến T6/2026

Dư nợ tiền đồng và dư nợ ngoại tệ liên tục tăng qua các năm, tốc độ tăng trưởng trung bình qua các năm tương ứng là 16,7% và 10,6%. Cơ cấu dư nợ VNĐ/Ngoại tệ hiện là 51/49 so với cuối năm 2025 là 49/51.

Tính đến cuối T6/2026, dư nợ ngắn hạn đạt 33.704 tỷ quy đồng, chiếm 59,1% tổng dư nợ, tăng 0,23% so với cuối năm 2025. Dư nợ trung dài hạn đạt mức 23.349 tỷ quy đồng, chiếm 40,9% tổng dư nợ, tăng 3,5%.

Tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 1,8% tổng dư nợ cho vay – giảm so với mức 2,5% vào cuối quý IV/ 2025. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

2.3. Hoạt động thanh toán và kinh doanh ngoại tệ.

2.3.1. Hoạt động thanh toán.

  • Bảng 5: Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu 2023 – 2025.

Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu liên tục tăng, tốc độ tăng trưởng trung bình là 17,5 % và chiếm thị phần 28% so với kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trong đó tốc độ tăng trưởng trung bình của doanh số thanh toán xuất khẩu và doanh số thanh toán nhập khẩu lần lượt là 23% và 12,75%. Doanh số thanh toán xuất khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 6 tháng đầu năm đạt 5.914 triệu USD, tăng 45,7% – cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng xuất khẩu của cả nước (24,2%) và vươn lên chiếm 32,5% thị phần xuất khẩu. So với trước đây, nhiều chi nhánh đã làm tốt hơn việc phối hợp giữa các bộ phận liên quan trong việc hỗ trợ khách hàng, áp dụng chính sách ưu đãi và cải thiện phong cách giao tiếp với khách hàng. Doanh số thanh toán nhập khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 6 tháng đầu năm đạt 4.810 triệu USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi kim ngạch nhập khẩu của cả nước tăng 7,3%, và chiếm 24,6% thị phần nhập khẩu.

(ii) Hoạt động kinh doanh thẻ

  • Phát hành thẻ

Trong 6 tháng đầu năm 2026 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành 5.175 thẻ tín dụng quốc tế, đưa tổng số thẻ đang lưu hành đạt 57.256 thẻ với tổng doanh số sử dụng thẻ đạt 548 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ 2025. Thẻ ghi nợ quốc tế – Vietcombank MTV tuy mới bắt đầu phát hành từ cuối tháng 03/ 2026, nhưng đến nay đã đạt 4.500 thẻ. Tổng số thẻ Connect 24 lên tới 1.147.600 thẻ, riêng trong 6 tháng đầu năm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành 220.000 thẻ.

Biểu 4: Số thẻ connect 24 đang lưu hành

  • Thanh toán thẻ Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Doanh số thanh toán thẻ quốc tế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.048 tỷ quy VNĐ (trên 190 triệu USD), tăng 23% so với cùng kỳ năm 2025. Doanh số thanh toán thẻ Connect 24 đạt 13.000 tỷ đồng, tăng 70% so với cùng kỳ năm ngoái, với 12,3 triệu giao dịch tài chính (không kể các giao dịch vấn tin tài khoản, đổi PIN). Với việc sử dụng thẻ Connect 24, số tài khoản cá nhân mở tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng tăng lên. Đến nay số tài khoản cá nhân đạt 1,2 triệu tài khoản với số dư trung bình là 2,5 triệu đồng/ tài khoản, đưa tổng số dư tiền gửi cá nhân bình quân đạt gần 3.000 tỷ VNĐ.

  • Tăng cường hợp tác trong hoạt động kinh doanh thẻ

NHNTVN tiếp tục thắt chặt mối quan hệ hợp tác với các tổ chức thẻ quốc tế, giữ vững vị thế đối tác chiến lược của MasterCard, Visa và American Express tại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cho phép Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cùng Visa tổ chức mạng thanh toán giao dịch thẻ Visa nội địa (NNSS) trong đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng thanh toán bù trừ cho các ngân hàng thành viên Visa tại Việt Nam. Công việc đang được triển khai tích cực. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã chính thức cho phép Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mở rộng kết nối hệ thống thanh toán thẻ với China Union Pay (CUP).

2.3.2. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, để đáp ứng nhu cầu khách hàng, bên cạnh các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát triển thêm một số nghiệp vụ phái sinh như quyền chọn, tương lai. Quy trình giao dịch cụ thể cho các nghiệp vụ vay này đang được tiếp tục hoàn thiện nhằm triển khai trong toàn hệ thống. Để nâng cao chương trình hoạt động, các chương trình tự động trong kinh doanh như tỷ giá, quản lý trạng thái ngoại hối… tiếp tục được quan tâm đầu tư. Đội ngũ cán bộ trực tiếp kinh doanh được tăng cường cả về số lượng và trình độ nghiệp vụ. Doanh số mua bán ngoại tệ trong nước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 6.941 triệu USD

2.3.4. Kết quả kinh doanh.

Trong 6 tháng đầu năm, bên cạnh việc tập trung nguồn lực vào việc củng cố, nâng cao chất lượng các mặt hoạt động, hướng tới chuẩn mực quốc tế nhằm chuẩn bị những tiền đề vững chắc cho tiến trình cổ phần hoá của Ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh kinh doanh, duy trì nhịp độ tăng trưởng trên tất cả các mảng kinh doanh. Thu nhập của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 tăng 46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu lãi cho vay tăng 23,3%, thu lãi tiền gửi tăng 40,9%. Chi phí Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 6 tháng năm 2026 tăng 42% so với 6 tháng năm 2025. Tốc độ tăng của thu nhập lớn hơn chi phí cho thấy kết quả tài chính 6 tháng đầu năm 2026 rất khả quan.

Biểu đồ dưới đây thể hiện mức lợi nhuận trước thuế và tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn tự có giai đoạn 2020 – 2025:

  • Biểu đồ 5: Lợi nhuận trước thuế Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng bình quân 17%/ năm, và đạt 1.900 tỷ đồng trong năm 2025. Năm 2025, lợi nhuận trước thuế gấp gần 9 lần so với năm 2020. Điều này chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng tăng trưởng mạnh mẽ.

  • Biểu đồ 6: Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn tự có

Mức lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong những năm qua là một trong những nhân tố quan trọng tạo tiền đề cho việc củng cố một bước tiềm lực tài chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Các chỉ tiêu tài chính được cải thiện đáng kể, thể hiện qua bảng số liệu dưới đây:

  • Bảng 6: Một số chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2022 – 2025

Các chỉ số trên cho thấy tăng trưởng lợi nhuận duy trì đều đặn qua các năm, tỷ lệ an toàn vốn cải thiện về căn bản (8,5% theo IAS – các chuẩn mực kiểm toán quốc tế) nâng cao năng lực tài chính đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của Hội nhập Kinh tế Quốc tế.

II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Hội nhập vào hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế là góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các ngân hàng. Nhờ mở cửa mà các ngân hàng trong nước có thể bổ sung được nguồn vốn hoạt động từ các nguồn bên ngoài, tiếp cận được các công nghệ ngân hàng tiên tiến, mở rộng hoạt động kinh doanh về ngoại hối, chứng khoán quốc tế, phát triển dịch vụ ngân hàng mới, tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước đa dạng hoá hình thức kinh doanh, phân tán rủi ro. Mở cửa hội nhập quốc tế về ngân hàng là chấp nhận cơ chế cạnh tranh khốc liệt, chấp nhận quy luật “Mạnh thắng, yếu thua”. Trong quá trình cạnh tranh không cân sức, các ngân hàng trong nước với xuất phát điểm thấp về chất lượng hoạt động, khả năng hạn chế về nguồn vốn, công nghệ, con người có thể bị mất đi thị trường và khách hàng. Trước xu thế đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần nhìn nhận rõ vào thực trạng năng lực của mình để từ đó củng cố những mặt mạnh, đồng thời tăng cường khắc phục những điểm yếu kém để từ đó xác định phương thức cạnh tranh, phát triển nhằm chủ động tham gia vào thị trường quốc tế rộng lớn hơn. Trong thực tế, các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng thường đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên các phương diện sau:

Năng lực tài chính:

  • Vốn chủ sở hữu;
  • Khả năng phòng ngừa chống đỡ rủi ro;
  • Khả năng sinh lời như: lợi nhuận / tài sản có ( Returns on assets- ROA); lợi nhuận/ vốn (Returns on Equity- ROE).

Năng lực hoạt động:

  • Khả năng huy động vốn và cho vay đầu tư;
  • năng lực phát triển sản phẩm dịch vụ.
  • Năng lực quản trị điều hành.
  • Năng lực công nghệ thông tin, tin học ngân hàng.

Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam theo một số chỉ tiêu tương ứng như đã liệt kê ở trên với một số các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam tiêu biểu như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNN & PTNT), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (NHĐT & PT), Ngân hàng Công thương (NHCT) để có thể đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua. Giúp phát huy điểm mạnh và tìm ra những mặt còn hạn chế để có thể khắc phục nhằm nâng cao vị thế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhằm chuẩn bị Hội nhập Kinh tế Quốc tế trong thời gian tới.

1. Thực trạng về năng lực tài chính. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Tính đến 31/ 12/ 2025 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã cơ bản làm sạch bảng tổng kết tài sản với việc xử lý 4.920 tỷ VNĐ nợ tồn đọng phát sinh từ năm 2020 trở về trước, trong đó nợ tồn đọng xây dựng trong Đề án là 4.392 tỷ VNĐ, nợ tồn đọng không xây dựng trong Đề án là 528 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 30,8% vào 31/ 12/ 2020 xuống còn khoảng 2,7% vào 31/ 12/ 2025.

Công tác xử lý tài sản đảm bảo để lấy nguồn thu hồi nợ được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hết sức quan tâm. Trong giai đoạn 2020 – 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xử lý được 126 danh mục tài sản với tổng giá trị hợp đồng bán là 770 tỷ đồng, góp phần đưa tỷ lệ thu hồi nợ đạt 20%.

Vào 31/ 12/ 2020 – thời điểm xây dựng Đề án – vốn chủ sở hữu (bao gồm Vốn Điều lệ và các quỹ) của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 2.052 tỷ đồng. Hệ số an toàn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 4,42% thấp hơn rất nhiều so với chuẩn mực quốc tế (8%). Sau 05 năm cố gắng, đến cuối năm 2025 vốn Chủ Sở Hữu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt 9.300 tỷ VNĐ theo tiêu chuẩn Việt Nam và khoảng 8000 tỷ theo tiêu chuẩn quốc tế; tỷ lệ an toàn vốn xấp xỉ 10% theo tiêu chuẩn Việt Nam, đạt 8,5% theo tiêu chuẩn quốc tế

1.1. Vốn chủ sở hữu.

Như đã trình bày ở chương I thì khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu đóng một vai trò to lớn để nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng. Bảng số liệu dưới đây thể hiện mức độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam và một Ngân hàng thương mại cổ phần tiêu biểu trong khu vực qua các năm:

  • Bảng 7: Vốn chủ sở hữu của 4 Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam và ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Bangkok – Thái Lan Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Qua bảng số liệu, có thể thấy nguồn vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là lớn nhất (9.600 tỷ VNĐ), điều này có thể giải thích do ngân hàng này là một trong những ngân hàng được thành lập đầu tiên ở Việt Nam và có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc, hơn thế lại được Ngân hàng Trung ương quan tâm tăng vốn chủ sở hữu nhiều nhất. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân qua các năm của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là lớn nhất nhất (50,41%). Điều này phản ánh rõ ràng một phần năng lực tài chính vượt trội của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác.

Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực và chỉ bằng 1/6 so với các ngân hàng hàng đầu trong khu vực, đơn cử như Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok vốn chủ sở hữu của ngân hàng này tính đến cuối năm 2025 đã vào khoảng hơn 139.232 triệu Bạt Thái (tương đương với 61.202 tỷ VNĐ). Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thị trường tài chính khu vực và trên thế giới vẫn còn rất thấp, đòi hỏi có sự nỗ lực của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng cũng như sự quan tâm của Ngân hàng Nhà nước trong việc góp phần nâng cao vốn chủ sở hữu, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá ngành ngân hàng để có thể nâng cao được năng lực tài chính.

1.2. Khả năng sinh lời.

Khả năng sinh lời của một ngân hàng được đặc trưng bởi hai chỉ số: lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản.

  • Biểu đồ 7: Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Biểu đồ trên phản ánh khả năng sinh lời ROE của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Qua biểu đồ có thể thấy rằng khả năng sinh lời của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ ROE của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tăng từ 11,3% lên 14,9% trong giai đoạn 2021-2025. Trong khi đó, tỷ lệ ROE của các Ngân hàng khác đều dưới 11%. Có được tốc độ tăng trưởng này là do mức lợi nhuận của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm qua tăng trưởng mạnh, tạo tiền đề cho việc củng cố một bước tiềm lực tài chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ ROE của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn thấp hơn so với Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok (năm 2025 là 15,97%). Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Biểu đồ 8: Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản có (ROA)

Biểu đồ trên phản ánh tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tài sản có của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025. Trong khi chỉ số ROA của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác đều dưới 0,8% thì đến năm 2025 chỉ số ROA của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt con số 1%. Điều này thể hiện rằng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hơn các đối thủ Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác và cũng thể hiện khả năng sinh lời khá cao trong hoạt động ngân hàng. Nhưng nếu so sánh với Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok – một ngân hàng hàng đầu của khu vực Asean thì tỷ lệ này chỉ bằng 70% ( Tỷ lệ ROA năm 2025 của Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok là 1,45%).

Như vậy, qua hai tiêu chí để đánh giá khả năng sinh lời là ROE và ROA, chúng ta đều thấy được vị trí cao nhất của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong số các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam ở Việt Nam và đang cố gắng theo kịp với các ngân hàng lớn trong khu vực. Để có được điều này, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã không ngừng cố gắng trong nhiều năm qua và ngày càng thể hiện được năng lực cũng như uy tín của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

1.3. Khả năng phòng ngừa chống đỡ rủi ro.

Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro trước hết được thể hiện qua tỷ lệ an toàn vốn thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 8: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAR) Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Biểu trên cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok giai đoạn 2021-2025. Tỷ lệ này cho thấy mức độ đủ vốn của các ngân hàng và khả năng mở rộng hoạt động một cách an toàn. Qua bảng trên cho thấy tỷ lệ CAR (tính theo tiêu chuẩn quốc tế) của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam đã được cải thiện, nhưng nhìn chung đều thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế là 8%, duy chỉ có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã vượt qua được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của quốc tế. Điều này một lần nữa khẳng định năng lực tài chính vượt trội của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác. Trong khi các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác đang cố gắng đạt được tỷ lệ 8% thì mục tiêu tới đây của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là nâng tỷ lệ CAR lên từ 11% đến 12% vào cuối năm 2026 và vươn tới tỷ lệ an toàn vốn xấp xỉ so với các ngân hàng hàng đầu trong khu vực như Ngân hàng thương mại cổ phần Bangkok (năm 2025 là 14,02%).

Tiếp đến phải kể đến chất lượng cho vay, tiêu biểu là tỷ lệ nợ xấu trên tổng cho vay của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam.

  • Bảng 9: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng cho vay

Biểu trên phản ánh tỷ lệ nợ có vấn đề trên tổng cho vay và cho thuê của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam. Qua bảng trên có thể thấy tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam giảm một cách nhanh chóng. Kết quả này là do các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến chất lượng quản lý tín dụng hơn. Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam đã áp dụng sổ tay tín dụng vào hoạt động cho vay của mình. Thêm vào đó, tỷ lệ nợ xấu giảm là do tốc độ tín dụng tăng nhanh làm giảm tương đối tỷ lệ nợ xấu. Hơn nữa, một số lượng lớn nợ tồn đọng tính đến cuối năm 2020 được chuyển ra ngoại bảng để xử lý, đó là lý do tỷ lệ nợ xấu trong bảng cân đối giảm.

Trong 4 Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu và nợ đọng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên quan đến các vụ án kinh tế lớn thứ hai sau Ngân hàng Công thương. Trong những năm qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam triển khai đồng bộ các giải pháp: phát mại tài sản, khai thác tài sản, cho thuê tài sản, trích lập Dự phòng rủi ro, đề nghị chính phủ xử lý các khoản nợ đọng theo chính sách từ thời bao cấp,… nên đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đã cơ bản xử lý xong nợ xấu, đang khẩn trương triển khai kế hoạch cổ phần hoá. Do kết quả xử lý nợ xấu đạt được tiến độ đề ra và hàng năm có mức lợi nhuận sau thuế vượt kế hoạch được để lại khá, nên số vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng tăng đáng kể và có tỷ lệ an toàn vốn được cải thiện và đứng cao hàng đầu trong số các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam, vượt cả tiêu chuẩn quốc tế.

2. Thực trạng năng lực hoạt động. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

2.1 Khả năng huy động vốn và cho vay đầu tư.

  • Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ cho vay của các NHTMNN năm 2025

Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chỉ cao hơn 1% so với Ngân hàng Công thương và đều thấp hơn nhiều so với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Chứng tỏ khả năng huy động vốn từ khách hàng, đặc biệt là trong dân cư của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn thấp. Dẫn đến thị phần tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với toàn ngành vẫn chưa cao (khoảng 10%) trong khi riêng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thị phần tín dụng đã chiếm đến 18% toàn ngành. Bảng số liệu trên thể hiện một phần yếu kém của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong hoạt động cho vay đầu tư so với các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác, tốc độ tăng trưởng dư nợ chỉ có 14,9% thấp hơn nhiều so với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (47%) và NHĐT &PT (18%).

2.2. Năng lực phát triển sản phẩm dịch vụ.

Ngoài các sản phẩm dịch vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, hối đoái, đổi tiền, dịch vụ thẻ, tư vấn…các ngân hàng cũng đã chú trọng xây dựng chính sách phát triển sản phẩm phù hợp với thế mạnh riêng của mình. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

NHNTVN với thế mạnh đặc trưng so với các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác như: thanh toán xuất nhập khẩu (L/C- D/P- D/A), thương hiệu nổi tiếng VCB –Connect 24, làm đại lí thanh toán các loại thẻ quốc tế như: Visacard, Mastercard, ICB, American Express, JCB và Diners Club; thực hiện thanh toán quốc tế thông qua hệ thống SWIFT, Money Gram….Đồng thời tiếp tục phát triển các tiện ích gia tăng dựa trên dịch vụ thẻ Connect 24 và dịch vụ thương mại điện tử V – CBP như dịch vụ bán thẻ Internet, Phonecard qua hệ thống ATM và mạng Internet; dịch vụ thanh toán Billing cho hệ thống thuê bao điện thoại di động VMS và thanh toán tiền điện tại các thành phố lớn và tiến tới thanh toán tiền điện trên quy mô lớn. Hơn thế nữa, các tiện ích tiếp tục được gia tăng trên mạng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phép khách hàng truy cập các thông tin về thẻ tín dụng và cho phép thanh toán, sao kê trên Internet, ATM. Trong thời gian tới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ triển khai dịch vụ Phone banking, SMS banking và cho ra đời hàng loạt các sản phẩm mới như các sản phẩm huy động vốn, kinh doanh trái phiếu, các sản phẩm thẻ liên kết, thanh toán billing, VCB money…

Tuy nhiên, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn chưa có thế mạnh trong việc phát triển các sản phẩm phái sinh so với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là những ngân hàng đầu tiên tại thị trường Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép thực hiện các sản phẩm như quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ (foreign currency Option), quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ (foreign currency & VNĐ Option), sản phẩm tiền gửi cơ cấu.

Như vậy, mỗi ngân hàng đều có những chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp nhất với thế mạnh của mình nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và uy tín của sản phẩm dịch vụ ngân hàng mình. Có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng có hệ thống sản phẩm đa dạng, uy tín và có chất lượng nhất trong hệ thống các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam và có khả năng cạnh tranh so với các ngân hàng khác trong khu vực

  • Biểu đồ 9: Số lượng thẻ ATM của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam năm 2025

Qua biểu đồ trên có thể thấy số lượng thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là rất lớn so với các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác, đây cũng là một trong những kênh huy động vốn lớn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Gần đây ở Việt Nam đã có sự liên kết trong hoạt động thẻ của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Hiện nay, tổng số lượng thẻ nội địa của các ngân hàng đạt khoảng 3,3 triệu thẻ; số lượng thẻ quốc tế khoảng 260.000 thẻ. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có số lượng thẻ ATM lớn nhất trong các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam (940.000 thẻ vào cuối năm 2025). Doanh số thanh toán quốc tế cũng tăng cao, riêng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt khoảng 200 triệu USD (chiếm 72% thị phần); mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ của toàn hệ thống Hội thẻ gồm 12.000 đơn vị (trong đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam dẫn đầu với 7.000 đơn vị chấp nhận thẻ). Số lượng máy rút tiền tự động ATM cũng phát triển tới 2.000 máy (trong đó số lượng máy của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chiếm hơn 500 máy). Chỉ riêng những con số đó đã phần nào nói lên được năng lực của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng mình.

3. Thực trạng về năng lực quản trị điều hành.

3.1. Khả năng nguồn nhân lực. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, ngành Ngân hàng Việt Nam đã và đang rất nỗ lực cải cách toàn diện trên các mặt công nghệ, quản lý, tài chính và hoạt động, tất nhiên bao gồm cả con người nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng hiện đại và hội nhập quốc tế. Để làm được điều đó, đòi hỏi nguồn nhân lực của ngành ngân hàng Việt Nam phải có sự phát triển tương xứng để có khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ ngân hàng tiên tiến. Lực lượng lao động của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam tăng nhanh từ gần 42 ngàn người năm 2018 đến nay là gần 60 ngàn người, trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là trên 30 ngàn người, Ngân hàng Công thương 15 ngàn người, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có số lượng ít nhất là 6.700 người. Về chất lượng của lực lượng lao động trong ngành ngân hàng cũng có sự cải thiện về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bước đầu tạo ra được đội ngũ cán bộ ngân hàng có khả năng tiếp cận với công nghệ ngân hàng hiện đại. Ngày càng có nhiều cán bộ ngân hàng có trình độ đại học trở lên.

Đây là tiêu chí định tính nên rất khó có thể đưa ra được những đánh giá cụ thể về điểm mạnh cũng như điểm yếu của từng ngân hàng. Nên có thể đi vào xem xét một phần thực trạng về nguồn nhân lực như sau:

NHNTVN có số lượng cán bộ công nhân viên ít nhất trong các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam, chỉ bằng một phần tư so với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có chất lượng khá tốt và đồng đều. Công tác cán bộ trong thời gian qua đã được quan tâm.

  • Bảng 11: Một số chỉ tiêu đào tạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2022-2025

Nếu so sánh với một số chỉ tiêu đào tạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2024 là khoảng 13.000 lượt người được đào tạo/ tổng số hơn 30.000 cán bộ công nhân viên với tổng chi phí hơn 23 tỷ đồng. Theo bảng 9 ta thấy các con số tương ứng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 788 lượt người được đào tạo/ tổng 5.800 cán bộ công nhân viên, với tổng chi phí 7.896 triệu đồng. Như vậy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vừa có số người được đào tạo ít hơn nhiều, vừa có tỷ lệ chi phí trên lượt người được đào tạo lại cao hơn nhiều. Vì vậy, nhu cầu đào tạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là rất bức thiết. Khi sự phát triển của công nghệ, của việc áp dụng quản lý mới… ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang diễn ra với tốc độ cao đòi hỏi những con người làm chủ thể trong các hoạt động đó phải nâng cao, cập nhật thường xuyên kiến thức. Do đó, vấn đề quan tâm phát triển, thu hút nguồn nhân lực là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu để từ đó có thể nâng cao được trình độ cán bộ cũng như năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập Kinh tế Quốc tế khi mà các ngân hàng nước ngoài có các đãi ngộ và mức lương hấp dẫn hơn nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

3.2. Quản trị tài sản.

Mỗi ngân hàng đều có Hội đồng quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có (ACLO). Hội đồng có nhiệm vụ xây dựng các chỉ tiêu tài chính để quản lý tài sản nợ và tài sản có kịp thời; quản lý khả năng thanh toán và chênh lệch thời gian đáo hạn của từng loại tiền tệ; quy định mức dự trữ thanh khoản; quản lý rủi ro lãi suất, tỷ giá; quyết định về cấu trúc vốn và nguồn vốn, chính sách lãi suất, và phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mục tiêu quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có (TSNC) là duy trì sự cân bằng giữa ba mục tiêu giá trị kinh tế vốn, tính thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng, sự cân bằng này sẽ hỗ trợ các mục tiêu khác của ngân hàng.

  • Về mô hình quản lý:

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có một đầu mối thống nhất, chịu trách nhiệm điều phối và thống nhất chức năng quản lý TSNC của ngân hàng giúp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể kiểm soát chặt chẽ những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động hàng ngày, đặc biệt là rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán và rủi ro ngoại hối giúp cho hiệu quả quản lý ngày càng cao. Trong khi tại các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác, tiêu biểu như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thì chức năng này đang bị phân tán thực hiện tại nhiều đơn vị tại Hội sở chính và các chi nhánh. Sự phân tán chức năng này làm hạn chế khả năng quản lý TSNC của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro điều này dẫn đến vốn chưa được quản lý hợp lý, bị phân tán, hiệu lực điều hành thấp.

  • Về cơ chế quản lý: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Quản lý TSNC thực chất là quản lý được các rủi ro thanh khoản, lãi suất, thị trường và rủi ro ngoại hối. Trong thời gian gần đây, công tác quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối trong hoạt động hàng ngày đã được quan tâm mạnh mẽ, tuy nhiên khả năng quản lý so với các ngân hàng lớn trong khu vực vẫn còn hạn chế, các quy định quản lý như quy trình tác nghiệp, các giới hạn cơ bản đã được áp dụng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

Cơ chế quản lý rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường cũng như các biện pháp phòng chống rủi ro hầu như chưa được đi sâu vào nghiên cứu áp dụng. Vì vậy, chất lượng quản lý TSNC đang một phần phụ thuộc vào kinh nghiệm của các cán bộ thực hiện cụ thể.

  • Về hệ thống thông tin quản lý:

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có các cơ chế quản lý được xây dựng và vận hành trên cơ sở mô hình thông tin tập trung có lợi thế hơn rất nhiều so với mô hình thông tin phân tán của các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác, vì vậy, nguồn thông tin đầu vào được cập nhật thường xuyên, chất lượng thông tin ngày càng cao. Đồng thời, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng đang hoàn thiện dự án Hiện đại hóa Ngân hàng là nền tảng công nghệ để đổi mới công tác quản lý TSNC theo thông lệ quốc tế. Trong khi đó, các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đang thiếu các chương trình xử lý cung cấp thông tin quản lý, đặc biệt các thông tin phục vụ công tác quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro thị trường luôn đòi hỏi các chương trình xử lý với mức độ phức tạp cao, dẫn đến các đơn vị chức năng quản lý TSNC như Ban Nguồn vốn kinh doanh không có đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ công tác quản lý tài sản nợ tài sản có. Đây là nguyên nhân cơ bản làm giảm chất lượng quản lý TSNC của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển trong thời gian qua.

Tóm lại, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những ngân hàng đi đầu trong số các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam trong việc quản lý tài sản Nợ – Có. Với bề dầy kinh nghiệm, quy mô và những thành tích đã đạt được, có thể nói bộ máy quản trị tài sản của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thực sự phát huy tác dụng của mình, góp phần nâng cao vị thế của ngân hàng mình trên thị trường tài chính trong nước và khu vực.

4. Năng lực công nghệ thông tin, tin học ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng Việt Nam đã thấy sự cần thiết và đang từng bước cố gắng hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và coi đây là một trong những trụ cột chính để nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhiều hệ thống công nghệ và phần mềm tiên tiến đã được áp dụng để xử lý các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng hiện đại.

Trong khi các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam khác như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới cơ bản triển khai xong đề án Hiện đại hoá Ngân hàng giai đoạn I; Ngân hàng Công thương đang triển khai giai đoạn II vào cuối năm 2025 thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai giai đoạn II của đề án Hiện đại hoá Ngân hàng và hệ thống thanh toán từ năm 2023 với nhiều nội dung như: triển khai áp dụng hệ thống chuyển tiền đi, đến nước ngoài theo mô hình tập trung tại Hội sở chính; triển khai các môđun tài trợ thương mại và kinh doanh vốn trên tất cả các chi nhánh; xây dựng hệ thống kho dữ liệu, hệ thống thông tin quản lý (MIS), hệ thống báo cáo phục vụ Ngân hàng Nhà nước.

NHNTVN vinh dự là ngân hàng duy nhất được tặng giải thưởng “Sao Khuê” 2025 do Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) tổ chức dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin và bộ Bưu chính viễn thông. Giải thưởng Sao Khuê – Giải thưởng về công nghệ uy tín nhất trong năm ở Việt Nam – là một sự công nhận xứng đáng đối với những bước phát triển vượt bậc của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc áp dụng những công nghệ tiên tiến hiện đại nhất vào hoạt động ngân hàng nhằm đưa tới công chúng những sản phẩm – dịch vụ đa tiện ích trên nền tảng công nghệ hiện đại. Cho đến nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn luôn là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực đổi mới và phát triển công nghệ ngân hàng tại Việt Nam và vươn tầm khu vực.

III. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Để xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh Hội nhập Kinh tế Quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngoài việc nắm vững chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước và của ngành, đánh giá những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, còn cần phải phân tích những kết quả đạt được của việc đổi mới và những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại nhằm rút ra những điểm mạnh điểm yếu làm hành trang cho tiến trình tiếp tục nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.

1. Những kết quả đã đạt được.

Cho đến khi tiến hành tái cơ cấu, với hơn 10 năm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, những thành công nổi bật, đồng thời cũng là lợi thế cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:

  • Nâng cao năng lực tài chính:

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã cơ bản làm sạch bảng tổng kết tài sản với việc xử lý các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước năm 2020. Công tác xử lý tài sản đảm bảo để lấy nguồn thu hồi nợ được hết sức quan tâm và đạt được nhiều thành công lớn.

Kết quả hoạt động kinh doanh ngày càng cao giúp tăng lợi nhuận, nâng cao uy tín của ngân hàng đồng thời tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ an toàn vốn đã đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế (xấp xỉ 10% theo tiêu chuẩn Việt Nam, đạt 8,5% theo tiêu chuẩn quốc tế) và tiến tới ngày càng nâng cao tỷ lệ an toàn vốn lên từ 10 – 12% theo tiêu chuẩn quốc tế.

  • Giữ vững vị trí là ngân hàng đối ngoại hàng đầu của Việt Nam:

Là một ngân hàng chuyên doanh phục vụ đối ngoại, trong nhiều năm liên tục, nguồn vốn huy động ngoại tệ đều tăng, ngay cả các năm có khủng hoảng kinh tế khu vực và luôn chiếm trên 70% tổng nguồn vốn. Lượng ngoại tệ huy động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với toàn hệ thống ngân hàng luôn giữ thị phần trên 45% qua nhiều năm. Tỷ trọng trong thanh toán quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn chiêm tỷ trọng cao. Trên cơ sở đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có thể mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động đặc biệt nguồn vốn ngoại tệ do tạm thời quản lý được vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán qua ngân hàng. Ngân hàng tiếp tục phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác. Dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển tiếp tục nâng cao uy tín của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế.

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng có hệ thống thanh toán tương đối hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh và chính xác cho khách hàng. NHNTVN đã được ngân hàng Chase Mahattan, một ngân hàng hàng đầu thế giới trao giải thưởng về chất lượng thanh toán tốt nhất. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo tiền đề hội nhập với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

Tuy đầu tư cho công nghệ mới ở mức ban đầu so với quốc tế nhưng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được đánh giá là một Ngân hàng thương mại ở Việt Nam đi đầu trong việc phát triển công nghệ. Trung bình mỗi năm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đầu tư trên 10 triệu USD cho việc trang bị máy móc, cải tiến và nâng cấp các chương trình công nghệ thông tin. Mức độ tin học hoá ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam khá cao so với toàn ngành ngân hàng, nhờ đó đã nâng cao được hiệu suất làm việc, phục vụ nhanh, tốt hơn các nhu cầu khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã mạnh dạn triển khai một số ứng dụng công nghệ mới như ngân hàng bán lẻ, cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử cho một số khách hàng lớn. Năm 2018, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thông qua 11 đề án và tiểu đề án công nghệ nhằm thiết lập một hạ tầng tin học hiện đại cho hoạt động ngân hàng trong những năm đầu của kỷ nguyên mới.

Trong giai đoạn 2020 – 2025, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai ứng dụng thành công trong toàn hệ thống phần mềm ngân hàng bán lẻ mang tên VCB – Vision 2030. Đây là nền tảng để phát triển hàng loạt các hệ thống ứng dụng thích hợp, đảm bảo khả năng giao diện và xử lý liên hoàn giữa các chức năng của các hệ thống hiện hành. đưa hệ thống giao dịch tự động (ATM) Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Connect 24 vào sử dụng, góp phần tích cực trong việc cải thiện văn minh thanh toán, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, đưa các sản phẩm ngân hàng hiện đại tới quảng đại dân cư. Hệ thống giao dịch tự động VCB Connect 24 đã thực sự đi vào cuộc sống với 1.147.600 thẻ được phát hành. Phát triển thành công các ứng dụng hỗ trợ cho việc triển khai các tiện ích xử lý trực tuyến (On-line) và triển khai dịch vụ ngân hàng trực tuyến VCB ở nhiều nơi. Đây là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam cung cấp dịch vụ giao dịch hiện đại này, giúp khách hàng không bị hạn chế bởi không gian và thời gian giao dịch. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong 6 tháng đầu năm 2026 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã quan tâm hoàn thiện những sản phẩm điện tử hiện có như dịch vụ ngân hàng điện tử VCB-Money, dịch vụ Ngân hàng trực tuyến Internet Banking… để tăng cường các tiện ích, nâng cao tính bảo mật nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất. Trong thời gian tới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ triển khai dịch vụ Phone banking, SMS banking. Đặc biệt là trong giai đoạn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam triển khai mô hình tín dụng mới, Hội Sở Chính đã phối hợp đồng bộ với các chi nhánh triển khai quy trình tín dụng mới nhằm phân định quyền truy cập hệ thống, chuyển đổi quản lý tài sản đảm bảo, mã nhân viên… để đáp ứng yêu cầu hoạt động.

Dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong 6 tháng đầu năm 2026 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát triển, nâng cấp và hoàn thiện nhiều sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Một số sản phẩm tiêu biểu như: quản lý giới hạn tín dụng, dịch vụ Moneygram… đã đi vào ứng dụng và hỗ trợ Ngân hàng hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng được tạp chí “The Banker”, một tạp chí có uy tín trong giới tài chính- ngân hàng ở Anh đánh giá là “ngân hàng tốt nhất Việt Nam” trong 3 năm liền, là ngân hàng đi tiên phong trong việc phát triển dịch vụ, tạo nhiều tiện ích, thuận tiện trong giao dịch cho khách hàng, có khả năng cạnh tranh khá tốt. Một số dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được đánh giá là đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

  • Xây dựng được cơ cấu tổ chức theo mô hình hướng tới khách hàng, nâng cao năng lực điều hành và chất lượng nguồn nhân lực.

Trước những yêu cầu mới của cơ chế thị trường, của khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng Quy định mới về công tác khách hàng với việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác huy động vốn với việc cho vay, thực hiện các dịch vụ ngân hàng với cơ chế mua bán ngoại tệ nhằm đưa đến cho khách hàng những sản phẩm ngân hàng đa dạng, tiện ích hấp dẫn khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tổ chức lại các bộ phận quản lý quan hệ khách hàng tại Hội sở chính: Tháng 8/ 2021 thành lập Phòng Quan hệ khách hàng (phục vụ khách hàng là doanh nghiệp) và phòng Quan hệ ngân hàng đại lý (đối tượng phục vụ là các định chế tài chính). Hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu khách hàng trực tuyến từ TW đến sở giao dịch và các chi nhánh, bước đầu phát triển hệ thống đánh giá, xếp loại khách hàng. Đồng thời, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam triển khai phòng khách hàng đặc biệt và phòng tín dụng bán lẻ để chuyên môn hoá phục vụ đối tượng khách hàng là thể nhân. Tháng 9/2021, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thành lập Uỷ ban quản lý rủi ro (RMC) trực thuộc Hội đồng quản trị và Hội đồng quản lý tài sản Nợ/ Có (ALCO) trực thuộc Ban điều hành. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trước trào lưu cải cách, đổi mới doanh nghiệp và cổ phần hoá như hiện nay, cơ hội kinh doanh quản lý quỹ và đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp cổ phần hoá rất lớn. Nắm bắt thời cơ thuận lợi, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã quyết định liên doanh với Công ty VIET Capital Holdings PTE (Singapore) thành lập Công ty liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư (VCBF) với vốn điều lệ 8 tỷ đồng. Trong liên doanh này, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam góp 51% vốn. Với nghiệp vụ kinh doanh quản lý quỹ đầu tư, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thêm một bước hoàn thiện danh mục sản phẩm của mình, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và cạnh tranh trên trường quốc tế. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thành lập được 3 chi nhánh nước ngoài là: Công ty Tài chính (Vinafico Ltd…) tại Hồng Kông, Vietcombank Rep. office Paris tại Pháp và Vietcombank Rep. office Singapore tại Singapore tại nước ngoài giúp nâng cao tỷ trọng thanh toán xuất nhập khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Đây được xem là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần được duy trì và phát huy.

  • Xây dựng được đội ngũ cán bộ có trình độ cao hơn.

Thời gian qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có nhiều đổi mới trong công tác tổ chức và cán bộ như mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phát triển các công ty và văn phòng đại diện, tăng cường số lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, tích cực tổ chức tập huấn đào tạo lại cán bộ dưới nhiều hình thức và chú ý ngay từ khâu tuyển chọn ban đầu. Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng có ít cán bộ nhất trong 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh. Nhìn chung cán bộ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong công tác, nhất là trong lĩnh vực hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng đối ngoại, được trang bị kiến thức tốt hơn so với cán bộ các ngân hàng khác.

Những kết quả đạt được của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua thực sự là nền tảng quan trọng để Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tiếp tục đổi mới và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn còn một số tồn tại và bất cập cần được khắc phục để tiếp tục phát triển và tăng cường khả năng cạnh tranh của mình trong bối cảnh Hội nhập Kinh tế Quốc tế.

2. Một số tồn tại chính. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

2.1. Năng lực tài chính, cơ cấu nguồn vốn.

  • Xử lý nợ tồn đọng:

Việc xử lý nợ tồn đọng có thể coi như một thành công. Tuy nhiên còn một nội dung quan trọng khác là tỷ lệ thu hồi số nợ đã tính dự phòng còn thấp so với yêu cầu. Theo yêu cầu của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á tỷ lệ thu hồi nợ đọng này là 20%/ năm, tức là cứ sau 5 năm sẽ thu hồi hết đối với một khoản nợ đọng. Riêng nợ khoanh và nợ chờ xử lý đã chiếm hơn 70%, trong đó các doanh nghiệp có nợ khoanh đến 99% là rất khó khăn về tài chính hoặc đã giải thể. Nợ chờ xử lý đến 50% là trong vụ án lớn như Minh Phụng – Epco, Tamexco, Thuận Hưng…Các doanh nghiệp Nhà nước khoảng 23% tổng số nợ chờ xử lý. Các khoản nợ này đều rất khó thu hồi.

Một nội dung quan trọng khác liên quan đến phân loại nợ là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho ra đời quyết định số 493/2025/QĐ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 22/4/2025 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Đây là một bước tiến quan trọng tiếp cận với thông lệ quốc tế nhưng cũng đặt ra vấn đề khó khăn cho việc thiếu quỹ dự phòng nói riêng, tài chính nói chung của các Ngân hàng thương mại trong thời gian tới.

  • Cơ cấu nguồn vốn:

Nguồn vốn trung, dài hạn không những đảm bảo cho tính ổn định cơ cấu vốn mà còn ảnh hưởng rất lớn đến việc tham gia đầu tư vào các công trình trọng điểm của quốc gia, của ngành và của địa phương. Theo bảng 4, tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn đầu tư vào nền kinh tế (tính phần vốn > 12 tháng) chỉ chiếm 3,52% (2.562 tỷ/ 72.661 tỷ).

Tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn nhỏ sẽ hạn chế việc tham gia vào các dự án trọng điểm, những dự án luôn được coi là rủi ro thấp hơn đầu tư thông thường, bởi việc đầu tư này thường có sự hỗ trợ, ưu đãi của Chính phủ về thuế, vốn, kỹ thuật, tiền thuê đất… Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Bảng 12: Huy động và sử dụng vốn trung, dài hạn từ nền kinh tế của NHNTVN 2022 – 2025

Thực tế với cơ cấu vốn từng thời hạn cụ thể của vốn huy động và vốn sử dụng trung, dài hạn có thể thấy sự mất cân đối khá lớn. Theo bảng 4, trong khi vốn huy động > 12 tháng là 5.026 tỷ thì dư nợ cho vay trung, dài hạn (> 12 tháng) là 22.258 tỷ. Trong khi không huy động được vốn trên 5 năm thì riêng dư nợ cho vay thời hạn > 10 năm đã hơn 9000 tỷ. Theo số liệu tính toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam về quản trị kỳ hạn thì hiện tượng mất cân bằng đang xảy ra phổ biến ở tất cả kỳ hạn. Nguyên nhân chủ yếu là các công cụ, sản phẩm ngân hàng để huy động vốn nói chung, vốn trung, dài hạn nói riêng chưa phong phú thuận tiện, mạng lưới chưa hiệu quả. Chẳng hạn sản phẩm tiết kiệm dân cư: theo nghiên cứu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thì Việt Nam vẫn tiếp tục là thị trường rộng lớn. Vấn đề là ngân hàng phải cải tiến sản phẩm, tăng cường mạng lưới để tăng khả năng huy động vốn nói chung, vốn trung, dài hạn nói riêng. Điểm yếu này của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ phát triển theo chiều hướng tiêu cực khi tiến trình Hội nhập Kinh tế Quốc tế càng đi vào chiều sâu. Các Ngân hàng nước ngoài, các công ty bảo hiểm … sẽ được cởi bỏ dần các hạn chế theo các hiệp định ký kết. Họ sẽ cạnh tranh gay gắt trong huy động vốn trung, dài hạn bằng nhiều công cụ hiện đại (thậm chí chưa có những nghiệp vụ này ở Việt Nam). Đây chắc chắn cũng sẽ là một thách thức lớn cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong các nghiệp vụ tài sản nợ, có, trung, dài hạn.

2.2. Cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng.

Mặc dù thời gian gần đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã đầu tư tập trung nghiên cứu triển khai tích cực một số dịch vụ mới theo hướng từng bước hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt từ chỗ cung cấp khoảng 100 loại dịch vụ năm 2021, đã có thể cung cấp khoảng 3000 loại dịch vụ vào năm 2026. Nhưng nếu so với khoảng 6000 loại dịch vụ mà một ngân hàng hiện đại có thể cung cấp thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn cần cố gắng nhiều. Hiện nay trong khi hoạt động của các ngân hàng hiện đại tăng nhanh tỷ trọng trong dịch vụ thanh toán và cung cấp các tiện ích gắn liền với ứng dụng công nghệ tin học- viễn thông hiện đại thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn tập trung nhiều vào thị phần tín dụng. Ngay trong hoạt động tín dụng, khách hàng phần lớn chỉ gồm các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp lớn. Thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa được đánh giá đúng tầm. Chính vì thế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam còn kém năng động trong chiến lược khách hàng.

2.3. Tồn tại trong lĩnh vực công nghệ. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Tuy được đánh giá là một ngân hàng trong nước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ, công nghệ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn còn có một số tồn tại lớn:

  • Nền tảng công nghệ thấp kém, khả năng ứng dụng công nghệ còn hạn chế so với các nước trong khu vực;
  • Công tác triển khai thực hiện các dự án công nghệ còn yếu;
  • Chưa đủ trình độ thiết kế tổng thể, còn nhiều hệ thống ứng dụng tự phát triển và mang tính tạm thời để phục vụ yêu cầu kinh doanh trước mắt. Do đó việc kiểm soát còn nhiều khó khăn và hệ thống có nhiều rủi ro. Thiếu sự cập nhật thường xuyên tin tức về công nghệ ngân hàng, đặc biệt là trong điều kiện những công nghệ và dịch vụ ngân hàng mới liên tục ra đời và thay đổi;
  • Thiếu vốn đầu tư cho công nghệ. Mặc dù Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã xây dựng nhiều dự án công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và đổi mới cho phù hợp với xu thế hiện đại, tuy nhiên do thiếu vốn đầu tư nên nhiều dự án chưa thể triển khai trên diện rộng được.

2.4. Tồn tại trong phương thức quản lý và tổ chức.

Hiện trong lĩnh vực quản trị ngân hàng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được đánh giá như giai đoạn thí điểm, thử nghiệm với phương thức quản lý mới. Các công cụ quản lý mới đang ở giai đoạn được giới thiệu. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên ở giai đoạn I chương trình đổi mới cho thấy cơ cấu và hoạt động hiện tại của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam bộc lộ ngay những hạn chế đòi hỏi phải có những bước cải cách tiếp theo. Các nội dung chính chưa đáp ứng yêu cầu như sau:

Chưa có định hướng chiến lược đối với khách hàng, và thị trường một cách rõ ràng, bài bản. Đối với các ngân hàng nước ngoài nội dung này rất được quan tâm và chú trọng;

Công tác quản lý khách hàng và phục vụ khách hàng còn nhiều lúng túng, mặc dù đã có nhiều cố gắng từ Hội sở chính, lý do chủ yếu là công tác triển khai trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, chưa có được cơ chế và cơ cấu tổ chức phù hợp ở mức toàn hệ thống; Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Cơ chế điều hành quản lý từ Hội sở chính đến từng đơn vị kinh doanh, chi nhánh chưa được tổ chức hợp lý, do phân công công việc thuần tuý mang tính theo “nghiệp vụ” chứ không theo đối tượng kinh doanh- nên chưa tạo được thẩm quyền quản lý thống nhất xuyên suốt từ các cấp điều hành đến từng đơn vị kinh doanh;

Phát triển chưa thực sự hài hoà giữa các lĩnh vực- như công nghệ tin học đang phát triển với tốc độ rất cao trong khi trình độ quản lý cũng như kỹ năng về sản phẩm mà tin học lại chưa phát triển tương ứng;

Chính sách phân loại khách hàng chưa nhất quán (do Hội sở chính quy định). Hiện các chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có những khách hàng riêng và Ban giám đốc chi nhánh tự phân loại tại địa phương của mình. Đối với ngân hàng các nước tiên tiến khách hàng được phân loại một cách nhất quán tại Hội sở chính chẳng hạn như: khách hàng toàn cầu, khách hàng bán buôn (công ty và định chế tài chính); khách hàng là cá nhân; khách hàng thực hiện các giao dịch chính, phụ…

  • Về quản lý rủi ro:

Với tốc độ tăng dư nợ như hiện tại, các điều kiện để quản lý các khoản vay như: cán bộ quản lý, công tác kiểm tra giám sát… không đảm bảo hoặc chứa đựng rất nhiều rủi ro khách quan đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý rủi ro như một nội dung có tính cấp thiết cao. Tuy nhiên, dưới góc độ nhìn nhận của một ngân hàng hiện đại thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mặc dù có mức tăng dư nợ “nóng” nhưng chưa có một cơ chế quản lý rủi ro đảm bảo. Các nội dung cần lưu ý như sau:

  1. Chưa phân định được bộ phận khách hàng và bộ phận tín dụng (front offices và back offices)
  2. Các loại hình cấp tín dụng trung, dài hạn (có độ rủi ro cao hơn) còn phân tán ở các chi nhánh nhỏ.
  3. Chính sách quản lý tín dụng/ rủi ro chưa nhất quán và tập trung tại Hội sở chính.
  4. Chưa có tính chuyên nghiệp trong việc xử lý, quản lý rủi ro: chưa có bộ phận quản lý chuyên biệt và làm đầu mối.

2.5. Nguồn nhân lực. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trên tầm vĩ mô, đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, trong bối cảnh thời đại được đặc trưng bởi xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, với ưu thế của kinh tế tri thức và của công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin. Trong bối cảnh đó, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất của sự phát triển bền vững. Không ngoài nguyên tắc đó, vấn đề nguồn nhân lực luôn luôn là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quá trình tồn tại, phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, nhất là trong giai đoạn có nhiều yêu cầu đặt ra từ quá trình Hội nhập Kinh tế Quốc tế.

Trong nhiều năm qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã chú ý tập trung tuyển chọn những nhân viên giỏi qua các kì thi tuyển công chức, chú ý đào tạo và bồi dưỡng các cán bộ nhân viên của ngân hàng để phục vụ cho khách hàng được tốt hơn. Tuy nhiên, các cán bộ ngân hàng vẫn chưa có điều kiện tốt nhất để có thể phát huy hết những năng lực của mình. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chưa có được cơ chế khuyến khích người lao động tích cực, làm việc, còn có hiện tượng người làm không hết việc, người lại quá nhàn rỗi.

Sự đầu tư của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho đội ngũ tin học- đội ngũ có công lớn trong việc phát triển các dịch vụ mới và hiện đại của ngân hàng còn nhiều bất cập. Thực tế hiện nay cho thấy cho dù có thể bỏ hàng trăm tỷ đồng để mua các sản phẩm phần mềm ứng dụng ngân hàng từ bên ngoài nhưng hệ thống đó chỉ phát huy tác dụng và mang lại hiệu quả thực sự nếu như ngân hàng đó có một đội ngũ cán bộ tin học tốt, am hiểu nghiệp vụ và có khả năng tích hợp hệ thống. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay theo một số chuyên gia nước ngoài nhận xét thì đang thiếu những “key person” có khả năng vừa am hiểu nghiệp vụ vừa am hiểu về công nghệ thông tin.

Công tác kiểm tra nội bộ chưa thực sự độc lập và có hiệu quả. Bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Trung ương và các chi nhánh có chức năng kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ tại các cấp cơ sở chưa phát hiện kịp thời các tồn tại và sai phạm, những nhân tố rủi ro, những khiếm khuyết trong quy trình nghiệp vụ và đề ra giải pháp xử lý. Tuy nhiên, do cán bộ thuộc bộ phận kiểm tra nội bộ của các chi nhánh là cán bộ công tác tại chi nhánh, có quyền lợi lao động phụ thuộc lãnh đạo các chi nhánh nên công tác kiểm tra nội bộ đã phần nào mất đi tính độc lập, rơi vào thế bị động. Mặt khác công tác đào tạo cán bộ kiểm tra kiểm toán nội bộ còn yếu. Cán bộ kiểm soát đều là những cán bộ tuyển dụng tại chỗ, trong khi đó ngân hàng vẫn chưa tổ chức được việc lớp huấn luyện đạt chất lượng cao cho các cán bộ kiểm soát.

Trước thực trạng năng lực cạnh tranh và những tồn tại lớn đã được trình bày ở trên, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần phải tìm ra những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp hợp lý để có thể phát triển hoạt động ngân hàng, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh để có thể cạnh tranh được với các Ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng nước ngoài vốn rất mạnh về vốn, công nghệ, chiến lược kinh doanh và nguồn nhân lực .

3. Một số nguyên nhân của tồn tại. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trước những tồn tại cần khắc phục kịp thời để phát triển ngày một tốt hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước mắt cần phải tập trung khắc phục những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất – năng lực tài chính còn chưa tốt: Năng lực tài chính quyết định rất nhiều đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh, phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng. Đồng thời, dựa vào năng lực tài chính của ngân hàng, khách hàng sẽ quyết định có nên sử dụng dịch vụ của ngân hàng này cung cấp hay không?

Vốn tự có của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng, Ngân hàng thương mại quốc doanh nói chung thấp có thể kể đến nguyên nhân khách quan vốn tự có cơ bản được cấp từ ngân sách nhà nước vốn đã eo hẹp và thường xảy ra trường hợp “lực bất tòng tâm”. Ngoài ra, có thể kể đến các nguyên nhân quan trọng khác như: cơ chế chính sách của Nhà nước chưa thật phù hợp để phát huy nguồn hình thành từ lãi trong hoạt động kinh doanh và các nguồn cổ đông không phải Nhà nước…

Cơ cấu sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chưa đa dạng là vì việc triển khai dịch vụ mới gắn liền với công nghệ, tin học, viễn thông đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, trong khi vốn tự có của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn đang là một trong những vấn đề bất cập như đã nói ở trên.

Thứ hai – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chưa có một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng. Việc xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng mang tính chất xuyên suốt trong một giai đoạn ngắn hạn và dài hạn có ý nghĩa quyết định đến việc ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả hay không. Tuy nhiên, chiến lược công nghệ thông tin không thể tách rời với chiến lược kinh doanh của ngân hàng đó. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có chiến lược kinh doanh khá rõ ràng nhưng chưa có ý tưởng mang tính chất chỉ đạo xuyên suốt làm cơ sở để xây dựng chiến lược công nghệ thông tin cho mình. Đây cũng là điều dễ hiểu, giải thích tại sao các hệ thống ứng dụng hoạt động thiếu ổn định, không có tính chuẩn tắc xét trên phương diện kĩ thuật.

Thứ ba – tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông vẫn chiếm một tỷ lệ lớn. Hoạt động của Ngân hàng thương mại trên nguyên tắc kinh doanh phải có lợi nhuận nhưng hiện nay, việc triển khai dịch vụ ngân hàng hiện đại đang rất hạn hẹp thị trường bởi hầu hết dân chúng Việt Nam vẫn còn quen tiêu dùng tiền mặt. Trình độ phát triển chung của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá thấp so với thế giới dẫn đến cầu về dịch vụ ngân hàng mới mẻ và hiện đại như thanh toán thẻ, máy rút tiền tự động, thương mại điện tử chưa cao. Điều này đòi hỏi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải đẩy mạnh công tác tiếp thị.

Thư tư – mặt bằng trình độ quản lý nước ta còn yếu kém. Kiến thức về quản lý, nhất là kiến thức quản lý ngân hàng hiện đại ở Việt Nam còn có một khoảng cách rất lớn so với các nước trong khu vực. Dù Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được coi là một ngân hàng cấp tiến vào loại bậc nhất ở Việt Nam, nhưng hệ thống đào tạo, cũng như hệ thống quản lý cũng đã trở nên lạc hậu so với những thay đổi nhanh chóng của các phương pháp quản lý hiện đại.

Trên đây mới chỉ là một số nguyên nhân chủ yếu cần có những giải pháp khắc phục kịp thời. Ngoài ra, trong bối cảnh NHKTQT ngày càng sâu rộng, hẳn sẽ còn nhiều tồn tại và các nguyên nhân cần được giải quyết. Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tích cực phát hiện và có những biện pháp cần thiết để xoá bỏ những tồn tại và phát huy các mặt tích cực nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh của mình hơn nữa. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x