Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam – Một số bất cập và giải pháp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Nội dung chính
LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động sản xuất và tiêu dùng đều theo kế hoạch chủ quan của Nhà nước. Vì thế cạnh tranh – động lực cho sự cải tiến, đổi mới và phát triển – đều bị triệt tiêu. Cũng chính vì không có cạnh tranh nên các nhà sản xuất và kinh doanh cũng không có nhu cầu giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của mình. Vì vậy ở Việt Nam trước năm 1986, hoạt động quảng cáo hầu như chưa phát triển và cũng không tồn tại các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng của nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Sự đổi mới này đã tạo đà cho nền kinh tế nước ta đạt sự tăng trưởng vững chắc trong thời gian qua. Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nói chung thì một hoạt động kinh doanh mới cũng ra đời: dịch vụ quảng cáo. Khi nền kinh tế càng phát triển thì quảng cáo ngày càng đóng một vai trò quan trọng và ngày nay có thể nói con người đang phải “sống chung với quảng cáo”. Với tư cách là một loại hình kinh doanh đặc biệt, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người, dịch vụ này đòi hỏi phải có hệ thống văn bản pháp luật riêng điều chỉnh. Tuy nhiên do những yếu tố chủ quan cũng như khách quan mà pháp luật điều chỉnh về hoạt động quảng cáo tại Việt Nam còn nhiều bất cập. Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng hoạt động quảng cáo trong thời gian qua còn nhiều lộn xộn.
Với mong muốn tìm hiểu về pháp luật quảng cáo của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp để tạo một môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch và rõ ràng cho hoạt động này phát triển, em đã chọn đề tài Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam – Một số bất cập và giải pháp làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Có thể bạn quan tâm đến dịch vụ:
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm những mục đích sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quảng cáo và pháp luật quảng cáo.
- Tìm hiểu thực trạng về hoạt động quảng cáo tại Việt Nam thời gian qua.
- Nghiên cứu những quy định của Việt Nam về quảng cáo, đồng thời có so sánh với quy định của một số nước phát triển.
- Đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về hoạt động này, tạo điều kiện cho hoạt động quảng cáo phát triển lành mạnh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động quảng cáo có thể được xem xét dưới nhiều góc độ: là một loại hình dịch vụ dưới góc độ của nhà kinh doanh hay là một tác phẩm nghệ thuật dưới góc độ của một nhà thiết kế quảng cáo. Đề tài này nghiên cứu hoạt động quảng cáo với tư cách là một hành vi thương mại chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, tuy nhiên dưới góc độ của một thương nhân chứ không phải của một nhà làm luật. Vì thế, đề tài tập trung vào tìm hiểu khái quát thực trạng hoạt động quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua cũng như phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này như Luật thương mại 2005, Pháp lệnh quảng cáo 2001 và các văn bản có liên quan với mục đích đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động quảng cáo ở nước ta phát triển lành mạnh. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
- Tư duy trừu tượng
- Thu thập, tổng hợp, đánh giá và phân tích tài liệu
- Phân tích thống kê
Bên cạnh đó, để có thể đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối tượng nghiên cứu, đề tài còn sử dụng các phương pháp hiện đại như: – Quan sát
- So sánh
5. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương chính với nội dung như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quảng cáo và pháp luật quảng cáo
- Chương 2: Đánh giá thực trạng những bất cập về pháp luật quảng cáo của Việt Nam trong thời gian qua
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quảng cáo của Việt Nam trong thời gian tới
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO VÀ PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO
I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢNG CÁO
1. Khái niệm quảng cáo và các phương tiện quảng cáo
1.1. Khái niệm quảng cáo
Trong thời đại bùng nổ thông tin với rất nhiều phương tiện truyền thông như ngày nay, con người đang thực sự phải sống chung với quảng cáo. Hàng ngày mỗi chúng ta đều tiếp nhận rất nhiều thông tin quảng cáo từ các nguồn khác nhau. Vậy có phải quảng cáo là một sự truyền tin? Đúng thế. Nhưng không phải bất kỳ một sự truyền tin nào cũng có thể coi là quảng cáo. Một thông báo của chính phủ hay của một tổ chức xã hội nào đó thì không thể coi là quảng cáo được. Người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua quảng cáo để giới thiệu về sản phẩm của mình, thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm đó. Nhưng liệu họ có cam kết chắc chắn với khách hàng sẽ cung cấp sản phẩm đó khi khách hàng có nhu cầu mua? Điều đó cũng không. Khi tiến hành một chương trình quảng cáo cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp đều hướng tới một nhóm khách hàng tiềm năng nào đó, nhưng rõ ràng đối tượng tiếp nhận quảng cáo có thể là bất kỳ ai chứ không phải là một hay một số người cụ thể nào.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quảng cáo cũng ngày càng phát triển và khái niệm quảng cáo cũng mở rộng. Quảng cáo là một hoạt động kinh tế nhưng cũng đồng thời là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Mỗi hình ảnh quảng cáo là một tác phẩm hội họa, mỗi sản phẩm quảng cáo trên truyền hình là một đoạn phim ngắn. Quảng cáo đã sáng tạo ra thứ ngôn ngữ riêng của nó, cô đọng nhưng nói được nhiều nhất [17]. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Vậy quảng cáo là gì? Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra những khái niệm quảng cáo khác nhau.
Theo Từ điển quảng cáo thì “ Quảng cáo là một loại thông tin phải trả tiền, có tính đơn phương, không dành cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và phương tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… được nêu danh trong quảng cáo” [27].
Theo Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ (AAA), “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo, trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.
Còn Armand Dayan, tác giả cuốn Nghệ thuật quảng cáo lại có cách nhìn nhận riêng của mình. Theo ông, “Quảng cáo là một phương thức tuyên truyền, thông qua những phương tiện trung gian nhất định để truyền đạt một cách có kế hoạch đến mọi người về chất lượng của hàng hóa và tính hữu dụng của loại hàng hóa đó nhằm mở rộng tiêu thụ, bán hàng, tạo dư luận”.
Tóm lại, khó có thể liệt kê hết các khái niệm về quảng cáo, nhưng nhìn chung qua các khái niệm đó người ta đều thấy quảng cáo có những đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, quảng cáo là thông tin hướng tới khách hàng và thường nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp thông qua quảng cáo để giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình với khách hàng. Mục tiêu của họ không gì hơn là để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tức là nhằm tăng lợi nhuận. Chúng ta vẫn thường bắt gặp các loại quảng cáo có thể không nhằm mục tiêu lợi nhuận như thông báo, rao vặt. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, loại thông tin phục vụ cho mục tiêu lợi nhuận phổ biến và thường xuyên hơn rất nhiều.
Thứ hai, quảng cáo không dành riêng cho một cá nhân cụ thể nào. Các doanh nghiệp quảng cáo luôn muốn có thật nhiều người chú ý đến sản phẩm quảng cáo của mình. Một sản phẩm khó có thể phù hợp với tất cả người tiêu dùng, vì thế một sản phẩm quảng cáo cũng thường chỉ hướng tới những khách hàng tiềm năng của đối tượng mà nó đang quảng cáo. Tuy nhiên, rõ ràng quảng cáo không được gửi tới một cá nhân cụ thể nào. Đây là điểm phân biệt quảng cáo với chào hàng vì khi một thương nhân đưa ra một chào hàng thì anh ta bị ràng buộc đối với những cam kết mình đưa ra trong thời hạn hiệu lực của chào hàng.
Thứ ba, quảng cáo phải qua phương tiện trung gian. Đặc điểm này được coi là một thế mạnh rất lớn của quảng cáo. Quảng cáo có thể được tiến hành với nhiều hình thức, qua nhiều phương tiện khác nhau, nhờ đó có thể tạo được sự tác động sâu rộng tới nhiều đối tượng. Với cách tiếp cận khách hàng vô cùng phong phú, quảng cáo mang lại hiệu quả rất lớn.
1.2. Các phương tiện quảng cáo Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Các sản phẩm quảng cáo muốn tiếp cận được với khách hàng phải qua một phương tiện trung gian nhất định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự bùng nổ của ngành công nghiệp quảng cáo, ngày càng có nhiều loại phương tiện quảng cáo mới ra đời, tiếp cận tới mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Đó chính là lý do mà ngày nay chúng ta phải “sống chung với quảng cáo”. Tuy đa dạng và rất phong phú nhưng các phương tiện quảng cáo nhìn chung bao gồm những loại sau:
1.2.1. Quảng cáo qua truyền hình
Không ở đâu lại thể hiện một sự hội tụ lớn như ở truyền hình. Với sự hợp nhất của các hãng truyền hình, sự kết hợp của công nghệ và việc hợp tác cùng sản xuất các chương trình, truyền hình đã trở thành một phương tiện thông tin quảng cáo rất phổ biến.
Truyền hình có những ưu điểm lớn mà không một phương tiện thông tin đại chúng nào có được. Thứ nhất đó là sự phổ biến. Truyền hình có thể tiếp cận được với một số lượng rất đông đảo công chúng. Theo Otto Kleppner trong Kleppner’s Avertising Procedure, hơn 98% hộ gia đình ở Mỹ có ít nhất một tivi và trung bình một gia đình xem truyền hình hơn 7 giờ một ngày. Đặc biệt truyền hình rất phổ biến với những người độ tuổi từ 18 đến 34, những đối tượng được hướng tới trước tiên của các nhà quảng cáo. Mặc dù hiện nay số người xem truyền hình đã giảm đáng kể do sự xuất hiện của nhiều phương tiện thông tin và giải trí khác, nhưng truyền hình vẫn là lựa chọn số một của các nhà quảng cáo khi cần tiếp cận với đại đa số công chúng. Một ưu điểm lớn nữa của truyền hình là có thể đưa ra các thông điệp quảng cáo kết hợp được cả màu sắc, âm thanh và hành động, nhờ đó các thông điệp quảng cáo trên truyền hình có sự sáng tạo và sống động. Quảng cáo trên truyền hình có thể mang giọng điệu hài hước, nghiêm túc hay giật gân. Truyền hình cũng có thể cung cấp các dạng quảng cáo ngắn chỉ 10 giây hay một chương trình dài tới 30 phút. Ngoài ra, một chương trình truyền hình có thể được phát đi phát lại nhiều lần ở các kênh khác nhau, do đó sử dụng phương tiện truyền hình, các nhà quảng cáo có thể tiếp cận được với nhiều loại đối tượng khán giả.
Tuy nhiên, quảng cáo qua truyền hình cũng có những nhược điểm nhất định. Thứ nhất các thông điệp quảng cáo trên truyền hình rất nhanh chóng bị quên nếu không được nhắc lại. Trong khi đó đơn giá quảng cáo trên truyền hình khá cao nên việc quảng cáo nhắc đi nhắc lại này tương đối tốn kém đối với các doanh nghiệp. Đơn giá cho một chương trình quảng cáo khoảng mấy chục giây trên Đài truyền hình Việt Nam lên tới vài triệu đồng, đối với các chương trình được nhiều khán giả theo dõi như phim truyện hay giải trí có thể đến vài chục triệu đồng. Do đó những doanh nghiệp nhỏ khó có thể chịu được mức phí cao như vậy. Bên cạnh đó, việc xen quá nhiều quảng cáo vào các chương trình truyền hình như hiện nay có thể gây phản tác dụng đối với người xem. Khi đến chương trình quảng cáo, họ có thể tắt ti vi đi hoặc chuyển sang một kênh khác. Một nhược điểm nữa là khán giả xem truyền hình hầu hết thuộc phân đoạn những người tiêu dùng có thu nhập thấp. Khi thu nhập tăng lên thì thời gian xem truyền hình hàng ngày của họ có xu hướng giảm đi. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
1.2.2. Quảng cáo qua rađiô
Rađiô là một phương tiện thích hợp cho thị trường của các nước đang phát triển. Với rất nhiều dạng chương trình và hàng loạt các đài phát sóng, thậm chí chỉ ở trong một thành phố nhỏ, các nhà quảng cáo có nhiều lựa chọn để tiếp cận với những phân đoạn thị trường rất đa dạng đã được xác định. Nhìn chung, rađiô cũng là một trong những phương tiện truyền thông khá phổ biến.
Theo Cục Marketing qua Rađiô của Hoa Kỳ thì rađiô có những ưu điểm mà nhiều phương tiện khác truyền thông khác không có. Một trong những điểm mạnh nhất của rađiô là nó có thể truyền quảng cáo tới một nhóm nhỏ người nghe đã được xác định. Chúng ta có thể dễ dàng tìm được một chương trình phát sóng nào đó đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu, sở thích của một phân đoạn thị trường đã được lựa chọn. Một điểm nữa là quảng cáo qua rađiô có thể tác động mạnh tới người tiêu dùng vào thời điểm họ đang đi tới quyết định mua hàng. Rađiô cũng có thể kết hợp hiệu quả với các phương tiện khác như một phương tiện thứ cấp. Ví dụ, những người ít xem ti vi thường dành thời gian để nghe rađiô nhiều gấp hai lần thời gian họ xem ti vi. Đặc biệt, thanh thiếu niên nghe rađiô khá nhiều. Các nghiên cứu chỉ ra rằng thanh thiếu niên thường đặc biệt trung thành với một số đài phát thanh nào đó. Do đó, các nhà quảng cáo có thể tiếp cận tới một số lượng đông đảo tầng lớp trẻ thông qua một vài chương trình dành cho thanh thiếu niên được yêu thích. Ngoài ra, khi các nhà quảng cáo ngày càng chú ý đến tính hiệu quả về chi phí thì rađiô càng phát huy những ưu điểm của nó. Trừ phương tiện quảng cáo ngoài trời thì chi phí quảng cáo trên số lượng khách hàng có thể tiếp cận được của rađiô rẻ hơn bất kỳ một phương tiện nào khác. Thêm vào đó, quảng cáo qua rađiô có khả năng phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi của điều kiện thị trường. Đó là nhờ quá trình sản xuất ra một sản phẩm quảng cáo trên rađiô tương đối ngắn, do đó rađiô là phương tiện hiệu quả cho các doanh nghiệp nắm bắt những cơ hội thị trường chớp nhoáng.
Cũng giống như các phương tiện quảng cáo khác, rađiô cũng có những điểm yếu mà các nhà quảng cáo phải xem xét khi đưa ra quyết định lựa chọn phương tiện cho kế hoạch quảng cáo của mình. Thứ nhất, đó là sự chia nhỏ đối tượng khách hàng. Chính sự phân đoạn người nghe của các chương trình phát thanh đôi khi dẫn tới việc chia thị trường thành những đoạn quá nhỏ. Đối với những nhóm sản phẩm mà có thị trường tiềm năng rộng thì khó mà đạt được sự hiệu quả trừ khi là phải phát quảng cáo trên một vài đài phát sóng có uy tín lớn. Bên cạnh đó, cũng giống như truyền hình, việc tăng thời lượng cũng như số lượng của các chương trình quảng cáo trên rađiô đã gây ra phản tác dụng đối với người nghe đài. Một nhược điểm rất lớn nữa của rađiô là thiếu yếu tố hình ảnh. Nhược điểm này đặc biệt gây khó khăn cho các nhà quảng cáo khi muốn quảng bá cho hình ảnh của một nhãn hiệu và xây dựng sự nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm.
1.2.3. Quảng cáo trên báo chí Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Báo chí chỉ đứng sau truyền hình xét về phương diện doanh thu quảng cáo. Báo chí có nhiều loại: báo quốc gia, báo địa phương, báo chuyên ngành.
Mỗi loại đều thu hút được đối tượng người đọc phù hợp.
Quảng cáo trên báo mang lại rất nhiều ưu điểm cho doanh nghiệp, từ các tập đoàn lớn cho đến những người bán hàng nhỏ. Các dạng quảng cáo trên báo rất đa dạng. Nhà quảng cáo mua không gian trên báo rộng hẹp tùy theo yêu cầu của mình, có thể là nguyên một trang hay chỉ là một thông báo nhỏ ở một góc báo. Báo chí đặc biệt hữu ích trong việc tiếp cận với những người đọc thuộc tầng lớp cao, đặc biệt là những người từ 35 tuổi trở lên. Với các hình thức như tặng phiếu dự thưởng hay phiếu nhận xét thì việc đánh giá tỷ lệ trả lời lại của người tiêu dùng qua báo cũng dễ hơn qua các phương tiện thông tin khác. Cuối cùng, báo chí tạo ra sự tin tưởng và gần gũi đối với người tiêu dùng mà không một loại phương tiện nào có thể sánh được. Một số cuộc điều tra đã cho thấy người tiêu dùng coi quảng cáo trên báo là một nguồn thông tin quan trọng và đáng tin cậy.
Mặc dù vậy, quảng cáo trên báo chí cũng có nhiều bất lợi riêng. Hình ảnh quảng cáo trên báo không được sinh động như trên truyền hình. Và các báo ngày càng tăng số trang quảng cáo cũng đồng nghĩa với việc có rất nhiều mục quảng cáo trên báo bị người đọc bỏ qua không xem tới. Ngày nay, với sự phổ biến của mạng Internet thì văn hóa đọc cũng có nhiều thay đổi. Người ta ngày càng ít dành thời gian đọc báo, đặc biệt là giới trẻ. Điểm nữa là chi phí quảng cáo trên báo cũng tăng mạnh trong những năm qua làm cho hiệu quả của quảng cáo về mặt chi phí bị giảm đi.
1.2.4. Quảng cáo trên tạp chí
Thời đại của tạp chí xuất bản hàng loạt cho tất cả mọi người đã qua. Ngày nay những tạp chí thành công là những tạp chí phù hợp với một loại đối tượng người đọc nào đó, đặc biệt là những người có giá trị đối với các nhà quảng cáo. Ưu điểm trước hết của tạp chí là các tạp chí chuyên ngành cho phép nhà quảng cáo có thể tiếp cận với một phân đoạn thị trường phù hợp đã được xác định. Không giống các thông điệp quảng cáo được phát sóng dễ bị lãng quên hay các báo ngày, tạp chí thường được giữ và tham khảo đến trong một thời gian dài, thậm chí còn được độc giả truyền tay nhau. Theo MRI, một hãng nghiên cứu về tạp chí hàng đầu thì trung bình một tờ tạp chí có 4 người đọc. Tạp chí đặc biệt thích hợp với các bài quảng cáo dài, vì thế quảng cáo xe ô tô, thiết bị và các dịch vụ tài chính thường được đăng trên tạp chí. Khác với nhiều phương tiện quảng cáo khác, tạp chí có sự tham gia ở mức độ cao của người đọc. Tạp chí thường được nhiều độc giả coi như là nơi chia sẻ ý kiến và thông tin về những chủ đề như ô tô, thời trang hay sức khỏe. Chính sự liên kết giữa độc giả và tạp chí đã đưa tới sự liên kết giữa người đọc và nhà quảng cáo.
Tuy nhiên tạp chí nói chung là phương tiện quảng cáo đắt nhất nếu tính về chi phí quảng cáo trên số lượng khách hàng có thể tiếp cận được [28]. Một vấn đề nữa là vì tạp chí thường chỉ dành cho một số người đọc nhất định nên nhà quảng cáo phải sử dụng một vài tạp chí để có thể tiếp cận được tất cả khách hàng mục tiêu của mình. Điều đó có thể dẫn tới sự trùng lặp phân đoạn người đọc, và làm tăng thêm chi phí quảng cáo trên đầu người. Ngoài ra, do quá trình xuất bản kéo dài mà hầu hết các quảng cáo trên tạp chí phải được chuẩn bị kỹ trước khi xuất bản. Vì thế, tạp chí không linh hoạt như rađiô và báo ngày khi các điều kiện thị trường thay đổi. Và cũng giống như các phương tiện quảng cáo khác, việc ngày càng có quá nhiều nội dung quảng cáo trên tạp chí khiến cho người đọc thường lướt qua các nội dung này.
1.2.5. Quảng cáo ngoài trời Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Quảng cáo ngoài trời, với màu sắc rực rỡ, khẩu hiệu gây ấn tượng và kích thước lớn, đang ngày càng trở thành một phương tiện được chú ý. Đặc biệt là ngày nay khi con người phải thường xuyên di chuyển thì quảng cáo ngoài trời càng phát huy tác dụng.
Không có một phương tiện quảng cáo nào rẻ như quảng cáo ngoài trời nếu tính về chi phí quảng cáo trên số lượng khách hàng có thể tiếp cận được. Nhờ mức chi phí hợp lý mà quảng cáo ngoài trời là một phương tiện lý tưởng để lấp đầy chỗ trống của những phân đoạn thị trường bị bỏ qua hoặc những phân đoạn mà các phương tiện khác chưa khai thác đầy đủ. Mặc dù thị trường ngày nay được phân nhỏ nhưng vẫn có những loại hàng hóa hoặc những sản phẩm dành cho hầu hết tất cả mọi người. Khi đó quảng cáo ngoài trời là một phương tiện hữu hiệu cho những nhãn hiệu sản phẩm như thế. Ngoài ra, quảng cáo ngoài trời giúp tăng cường hình ảnh của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng.
Nhược điểm đầu tiên của quảng cáo ngoài trời là không thể truyền đạt được thông điệp quảng cáo chi tiết đến người tiêu dùng. Nội dung thông điệp thường chỉ dừng lại ở dạng tiêu đề. Điểm nữa là rất khó đánh giá hiệu quả của quảng cáo ngoài trời. Việc so sánh tác động đối với người tiêu dùng của quảng cáo ngoài trời với các phương tiện quảng cáo khác gần như là không thể. Bên cạnh đó, quảng cáo ngoài trời thường gặp phải một số quy định hạn chế của chính quyền hoặc sự phản đối của cộng đồng dân cư. Do đó các doanh nghiệp rất thận trọng trong việc lựa chọn phương tiện này.
Một số hình thức của quảng cáo ngoài trời bao gồm: bảng, biển có đèn rọi; hộp đèn quảng cáo và biển quảng cáo điện tử.
1.2.6. Quảng cáo qua Internet
Với sự phát triển của công nghệ thông tin thì Internet ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp quảng cáo. Quảng cáo qua Internet có những ưu điểm nổi bật là rẻ, nhanh chóng và nhà quảng cáo có thể tương tác với khách hàng, đặc biệt là trong việc xúc tiến bán hàng giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Internet còn là một công cụ điều tra vì nó có khả năng giúp cho nhà quảng cáo xác định được chính xác có bao nhiêu người sử dụng phương tiện này và/hoặc mua một sản phẩm qua Internet. Internet cũng là một trong những phương tiện có tính linh hoạt cao nhất. Nhà quảng cáo có thể thay đổi thông điệp quảng cáo ngay lập tức để thích ứng kịp những thay đổi của thị trường.
Mặc dù rất thuận tiện nhưng quảng cáo trên Internet không phải lúc nào cũng hiệu quả. Tuy số người sử dụng Internet đang tăng lên nhanh chóng nhưng người tiêu dùng vẫn còn lưỡng lự trong việc sử dụng dịch vụ này để mua sắm hàng hóa và dịch vụ. Đặc biệt người ta rất e dè trong việc cung cấp số thẻ tín dụng vì lo ngại những vấn đề về bảo mật cá nhân.
Ngày nay, ở các nước phát triển, một hình thức nữa là bưu điện trực tiếp (direct mail) cũng ngày càng trở nên phổ biến. Đây là loại hình quảng cáo dễ dàng đánh giá được hiệu quả. Bưu điện trực tiếp cho phép nhà quảng cáo có thể cá biệt hóa thông điệp quảng cáo của mình và xây dựng một mối quan hệ với những khách hàng được ưu tiên, điều mà thường là không thể thực hiện được qua các phương tiện quảng cáo truyền thống. Tuy nhiên vấn đề lớn nhất với loại hình này là chi phí cho mỗi lần liên lạc cao. Ngày nay con người có xu hướng di chuyển ngày càng nhiều, do đó danh sách khách hàng tương lai phải thường xuyên được cập nhật, làm tăng thêm chi phí cho nhà quảng cáo. Việc công chúng và chính phủ quan tâm nhiều hơn đến bảo mật cá nhân cũng là một vấn đề lớn khác đối với hình thức quảng cáo này.
2. Quy trình quảng cáo Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Mỗi doanh nghiệp có một cách thức tổ chức chương trình quảng cáo riêng của mình, nhưng nhìn chung một kế hoạch quảng cáo thường được tiến hành theo các bước như sau:
- Xác định mục tiêu của chương trình quảng cáo.
Trước khi đặt ra bất kỳ một kế hoạch nào đều phải xác định mục tiêu của hành động đó là gì. Một chương trình quảng cáo cũng vậy. Việc xác định mục tiêu của chương trình là cơ sở để đưa ra những quyết định tiếp theo. Nói chung, mỗi doanh nghiệp tùy theo từng hoàn cảnh, điều kiện mà có những mục đích khác nhau, nhưng với mỗi chương trình quảng cáo thường có hai nhóm mục tiêu chính: (1) Quảng bá sản phẩm, đẩy mạnh tiêu thụ. Doanh nghiệp thường đặt ra mục tiêu này khi bắt đầu tung một sản phẩm vào thị trường hoặc tìm thị trường mới cho một sản phẩm. Đây cũng là mục tiêu thường được đặt ra đối với những sản phẩm đã chín muồi và bắt đầu bước vào giai đoạn bão hòa cần củng cố doanh số bán hàng; (2) Tôn tạo hình ảnh doanh nghiệp. Đây là mục tiêu vì sự phát triển bền vững và lâu dài của một doanh nghiệp. Vì thế, các doanh nghiệp thường rất chú ý phát triển một chính sách quảng cáo phù hợp với hình ảnh về mình mà doanh nghiệp muốn xây dựng trong lòng khách hàng.
- Phân định trách nhiệm trong hợp đồng quảng cáo
Khi thực hiện một chương trình quảng cáo, mỗi doanh nghiệp tùy vào tình hình, khả năng của mình mà có thể lựa chọn một công ty quảng cáo chuyên nghiệp hay cắt cử một bộ phận trong doanh nghiệp chuyên trách thực hiện chương trình quảng cáo. Thuê một công ty quảng cáo chuyên nghiệp sẽ đảm bảo cho chương trình quảng cáo đạt hiệu quả cao và có tính nghệ thuật, tuy nhiên cách này không phù hợp với doanh nghiệp nhỏ vì chi phí cao. Ngoài ra sử dụng một công ty bên ngoài thì khó truyền đạt ý tưởng về sản phẩm của doanh nghiệp.
- Xác định ngân sách quảng cáo
Có nhiều cách để xác định ngân sách cho một chương trình quảng cáo. Ví dụ, doanh nghiệp có thể căn cứ vào mục tiêu của chương trình quảng cáo là gì để dự kiến ngân sách cho chương trình đó hoặc dựa vào doanh số bán hàng của sản phẩm hay dựa vào khả năng tài chính của mình. Một cách nữa là có thể căn cứ vào ngân sách của đối thủ cạnh tranh để xác định chi phí quảng cáo. Tuy nhiên cách này có thể dẫn đến việc bội chi ngân sách cho quảng cáo nên thường chỉ được áp dụng ở những công ty lớn và trên thị trường có một vài đối thủ chính cạnh tranh với nhau.
- Lựa chọn phương tiện quảng cáo Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Khi lựa chọn phương tiện quảng cáo, doanh nghiệp phải xem xét đến các yếu tố sau: Thứ nhất là phạm vi ảnh hưởng của phương tiện đó tới khách hàng mục tiêu, tức là phương tiện quảng cáo có khả năng tác động như thế nào đến khách hàng mục tiêu. Thứ hai là đối tượng nhận tin mục tiêu. Phải xác định xem khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp là ai. Có thể tiến hành xác định khách hàng mục tiêu dựa trên những căn cứ như nhân khẩu học, phong cách sống, vị trí địa lý hay mức độ sử dụng sản phẩm. Thứ ba là đặc điểm của hàng hóa. Đây cũng là một yếu tố quan trọng bởi vì không phải bất kỳ loại hàng hóa nào cũng thích hợp quảng cáo trên mọi loại phương tiện. Ngoài các yếu tố trên, doanh nghiệp còn phải tuân theo những quy định của pháp luật đối với quảng cáo trên từng loại phương tiện cụ thể.
- Soạn thảo nội dung thông điệp quảng cáo
Khi soạn thảo nội dung thông điệp quảng cáo phải đảm bảo tính chân thực và truyền đạt đủ thông tin đến cho người tiêu dùng. Nội dung của chương trình quảng cáo thường sắp xếp theo thứ tự: cái gì – cái đó như thế nào – cái đó ở đâu. Đối với một chương trình quảng cáo trên đài phát thanh hoặc truyền hình, để đạt được hiệu quả cao nhất, trong khoảng 14 giây đầu của quảng cáo phải nói được sản phẩm đó là cái gì và nó như thế nào.
- Lựa chọn thủ pháp quảng cáo
Các thủ pháp quảng cáo thường được sử dụng là nghiêm túc, hài hước và giật gân, gây hồi hộp, bất ngờ. Mỗi nhà quảng cáo đi theo một thủ pháp khác nhau lại có những lập luận riêng của mình. Các nhà quảng cáo theo thủ pháp nghiêm túc cho rằng quảng cáo là một hoạt động thông tin kinh tế nhằm quảng bá sản phẩm đến khách hàng. Với triết lý khách hàng là thượng đế, các nhà quảng cáo đi theo xu hướng này cho rằng phải vì quyền lợi của khách hàng để phục vụ khách hàng được tốt nhất. Vì thế, quảng cáo phải nghiêm túc, trung thực, đáng tin cậy, không thể là việc làm tùy tiện. Có như thế quảng cáo mới đạt được hiệu quả mong muốn. Các nhà quảng cáo theo trường phái hài hước, gây cười thì lại cho rằng dù vấn đề phức tạp cần thận trọng đến đâu song vẫn phải truyền tải thông tin đến khách hàng một cách hiệu quả. Theo họ, không có gì dễ tiếp thu bằng hình thức sinh động, thoải mái, gây cười. Khi tiếng cười được tạo ra thì dù vấn đề có khô khan cứng nhắc, dù người ta có đang mệt mỏi thì vẫn dễ dàng được tiếp thu. Với những người theo trường phái giật gân, quan điểm của họ là quảng cáo phải tạo ra được một sự quan tâm lớn nhất, có hiệu quả nhất đối với khách hàng. Vì thế, phải tạo ra một pha hồi hộp, giật gân, theo dõi đến nín thở. Người xem không chỉ tiếp thu một cách thụ động mà phải dành tất cả sự quan tâm của mình, phán đoán theo từng tình huống. Theo họ, thủ pháp quảng cáo này sẽ mang lại hiệu quả cao nhất. Mỗi thủ pháp đều có những điểm mạnh riêng, do đó doanh nghiệp khi áp dụng cần căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm, của khách hàng tiềm năng để lựa chọn một thủ pháp thích hợp hay có thể kết hợp các thủ pháp. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
- Lựa chọn thời gian và tần suất quảng cáo
Quảng cáo phải “đúng lúc” và “đủ liều”. Việc quyết định đúng đắn xem nên quảng cáo vào thời gian nào trong năm, ngày nào trong tháng, thời điểm nào trong ngày, bao nhiêu lần một ngày và quảng cáo đến khi nào thì dừng lại làm cho quảng cáo đạt hiệu quả như mong muốn; nếu không có thể phản tác dụng. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải gắn kết quảng cáo theo từng pha của vòng đời sản phẩm cho thích hợp.
- Phối hợp các lực lượng trong quảng cáo
Khi tiến hành một chương trình quảng cáo, để đạt được hiệu quả cao, người quảng cáo phải biết phối hợp nhiều lực lượng đồng thời trong quảng cáo, ví dụ như kết hợp quảng cáo trên bao bì, quảng cáo tại điểm bán hàng cùng với việc quảng cáo qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả của quảng cáo
Đây là một bước quan trọng nhưng rất khó thực hiện vì thường nhà quảng cáo không có được phản hồi của người tiêu dùng về sản phẩm quảng cáo. Tuy nhiên, có thể đánh giá tương đối tác động đó bằng cách so sánh doanh số trước và sau quảng cáo hay phỏng vấn khách hàng để kiểm tra về mức độ ghi nhớ của người xem đối với một chương trình quảng cáo.
II: VAI TRÒ CỦA QUẢNG CÁO Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
1. Khái quát về lịch sử và quá trình phát triển của quảng cáo
Sự hình thành và phát triển của quảng cáo gắn liền với những điều kiện xã hội và kinh tế nhất định bao gồm sự phát triển của phương tiện thông tin đại chúng, của hệ thống giao thông vận tải, của việc sản xuất công nghiệp và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu trong xã hội.
Quảng cáo hiện đại đã có lịch sử 100 năm, những kỹ thuật tinh tế của ngành công nghiệp này như nghiên cứu sâu hành vi người tiêu dùng hay phân tích các phương tiện quảng cáo đã hình thành từ 30 năm nay [28]. Mặc dù vậy, trao đổi hàng hóa cũng như sự cần thiết phải có mối liên hệ giữa người mua và người bán đã có từ thời tiền sử. Một số hình vẽ trên các hang động từ thời này đã đề cập đến người chế tạo ra các vật dụng nguyên thủy.
Quảng cáo không ra đời từ hư không mà nó đòi hỏi những điều kiện nhất định. Bỏ qua mục đích của một số quảng cáo đặc biệt, chức năng cơ bản của các quảng cáo là giống nhau. Đó là cung cấp thông tin thị trường, nối liền người bán và người mua, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hàng hóa. Như vậy vai trò chính của quảng cáo là một công cụ liên lạc để xúc tiến việc trao đổi hàng hóa theo một cách hiệu quả nhất có thể.
Theo Otto Klepper trong Kleppner’s Advertising Procedure, quảng cáo đã trải qua ba thời đại phát triển lớn:
- Thời đại tiền marketing (the premarketing era):
Thời đại này bắt đầu từ khi có sự trao đổi hàng hóa trong thời tiền sử đến giữa thế kỷ 17. Khi đó, người mua và người bán liên lạc với nhau bằng những hình thức rất thô sơ. Bàn để bày hàng, tiếng rao hàng hay những biển hiệu ở các quán rượu là những cách thức hữu hiệu nhất vào thời đó mà người bán sử dụng để tiếp cận với khách hàng tiềm năng của mình.
- Thời đại thông tin liên lạc đại chúng (the mass communication era): Bắt đầu từ thế kỷ 17, khi những phương tiện in ấn đầu tiên ra đời cho đến giữa thế kỷ 20. Trong thời đại này, các nhà quảng cáo có thể tiếp cận được với những phân đoạn lớn hơn của thị trường nhờ vào các phương tiện quảng cáo hiện đại hơn, trước hết là các báo in, sau đó là đến các phương tiện thu phát sóng. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
- Thời đại nghiên cứu (the reseach era):
Thời đại này mới bắt đầu trong vòng 50 năm trở lại đây. Ở thời kỳ này, các nhà quảng cáo đã phát triển những kỹ thuật cho phép xác định và tiếp cận với những thị trường mục tiêu nhỏ hơn. Các thông điệp quảng cáo được chuẩn bị riêng cho mỗi nhóm khách hàng, thậm chí là cho một cá nhân (trong trường hợp gửi thư trực tiếp).
Nước Mỹ là nơi ra đời của quảng cáo hiện đại. Nhờ xu thế chuyên môn hóa trong marketing bắt đầu từ thế kỷ 19 mà quảng cáo phát triển. Trong thời này, có ba động lực quan trọng nhất đã thúc đẩy quá trình đó, gồm: sự hoàn thiện của các tư tưởng dân chủ; cuộc cách mạng công nghiệp trong nửa sau của thế kỷ 19 với sự ra đời của sản xuất hàng loạt; và việc di chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị của dân cư. Tiếp theo, tính hiệu quả của hệ thống giao thông vận tải và sự xuất hiện của các nhãn hiệu hàng hóa được phân phối rộng rãi với chất lượng ổn định là những nhân tố đặt nền móng cho sự phát triển của quảng cáo thế kỷ 20. Trước cuộc cách mạng công nghiệp hóa của Hoa Kỳ, hầu hết hoạt động thương mại chỉ giới hạn ở khu vực địa phương và phải thông qua các thương nhân. Tuy nhiên, sự ra đời của những hàng hóa có thương hiệu được phân phối trên toàn quốc đã thay đổi quan hệ này. Sự hội tụ của những yếu tố như sự xuất hiện của những sản phẩm có thương hiệu, khả năng cung cấp hàng hóa trong toàn quốc và sự phát triển của tầng lớp những người trung lưu – khách hàng cho những sản phẩm này – vào những năm 1920 đã tạo điều kiện cho sự ra đời của ngành công nghiệp quảng cáo. Tuy nhiên, quảng cáo trong những năm đầu của thế kỷ 20 thiếu hai yếu tố quan trọng của quảng cáo hiện đại ngày nay là: (1) một quy cách chuẩn để sáng tạo các thông điệp quảng cáo và (2) những nghiên cứu đáng tin cậy và có giá trị để đánh giá hiệu quả của quảng cáo. Phải mất rất nhiều năm, ngành công nghiệp này mới tạo ra được những quy trình chuẩn chính thức cho mình.
Theo O. Klepper, ngày nay chúng ta đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên thứ tư của quảng cáo: thời đại tương tác (the interactive era). Trong thời kỳ này, người tiêu dùng rồi sẽ sử dụng những phương tiện liên lạc theo cơ chế tương tác. Thay vì các phương tiện gửi thông điệp một chiều đến người tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ kiểm soát việc phương tiện có thể tiếp cận mình khi nào và ở đâu, và sự thay đổi này sẽ có một ảnh hưởng lớn đến các giai đoạn phát triển tiếp theo của các phương tiện thông tin đại chúng cũng như quảng cáo.
2. Vai trò của quảng cáo trong nền kinh tế thị trường
Quảng cáo là một trong những yếu tố có tính thích nghi và linh hoạt nhất trong marketing. Từ các tập đoàn công nghiệp lớn đến các tổ chức phi lợi nhuận và các nhà bán lẻ đều sử dụng quảng cáo với nhiều mục đích khác nhau. Quảng cáo phải hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu ưu tiên của doanh nghiệp được đề ra trong một chiến lược phát triển tổng thể.
Chức năng cơ bản của quảng cáo là thông tin. Quảng cáo là một công cụ của quá trình thông tin marketing (marketing communication) nhằm truyền tin về sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng tới khách hàng mục tiêu, làm cho khách hàng biết rằng sản phẩm đó tồn tại, cung cấp thông tin cho họ về những nhãn hiệu đang cạnh tranh trên thị trường, và cuối cùng là cho phép khách hàng đưa ra được quyết định đúng đắn khi lựa chọn sản phẩm. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Tuy nhiên, vượt qua chức năng cơ bản này, quảng cáo phải vừa như một công cụ thuyết phục, phải vừa thể hiện các tiêu chuẩn và quy tắc trong xã hội. Ví dụ, việc cá biệt hóa sản phẩm bao gồm nhiều yếu tố chứ không chỉ là danh sách các đặc trưng vật chất của sản phẩm. Nếu chức năng của quảng cáo chỉ là thông tin về những đặc tính của sản phẩm thì khi đó quảng cáo có lẽ sẽ chỉ là danh sách những thành phần có trong sản phẩm. Quảng cáo kem đánh răng sẽ cung cấp cho người tiêu dùng những thành phần hóa học để làm trắng răng hơn là cho người ta thấy những khía cạnh về một cuộc sống được cải thiện.
Một cách lý tưởng, các nhà quảng cáo muốn sản phẩm của mình có những đặc tính vật chất riêng để phân biệt với những sản phẩm khác. Nhưng trong hầu hết các nhóm mặt hàng, sự khác biệt là rất ít, và vì thế trong trường hợp này sự phân biệt thường được dựa trên cơ sở tinh thần và tâm lý hơn là vật chất. Thông qua quảng cáo, những giá trị tinh thần được xây dựng cho một nhãn hiệu hàng hóa mà thực chất về mặt vật chất thì chỉ khác với những hàng hóa khác ở tên gọi và bao bì. Nhờ có quảng cáo mà giá trị tinh thần của sản phẩm được phát triển và nâng lên. Quảng cáo cũng phải thể hiện tính đạo đức, tức là phải cung cấp những thông tin trung thực về sản phẩm. Tóm lại, khách hàng đưa ra quyết định mua hàng dựa trên những yếu tố xã hội và tinh thần cũng như sự cân nhắc kỹ lưỡng về tính thiết thực của sản phẩm. Người ta mua xe Cadillac chứ không phải xe Chevrolet, không chỉ vì sự khác biệt về nhu cầu đi lại mà bởi vì nhãn hiệu Cadillac thỏa mãn nhu cầu về uy tín, địa vị xã hội, và một số những nhân tố về tâm lý khác nữa.
Một số người có thể tranh cãi là chính quảng cáo đã tạo ra những mong muốn (chứ không phải nhu cầu) đó. Nhưng, trên thực tế quảng cáo chỉ là chiếc gương phản ánh xã hội, và qua thời gian, nó cũng có thể góp phần mang đến những thay đổi nhỏ trong tập quán và thói quen của công chúng mà nó tác động tới. Vai trò của quảng cáo có thể được xem xét cụ thể trên ba khía cạnh sau:
2.1. Vai trò của quảng cáo đối với người tiêu dùng
Quảng cáo cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về hàng hóa, dịch vụ và giúp cho người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn khi muốn mua một mặt hàng nào đấy.
Nhưng hơn thế nữa, quảng cáo còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của họ. Muốn bán hàng có hiệu quả thì phải xuất phát từ quan điểm của khách hàng. Tất cả các khâu của quá trình kinh doanh đều phải thể hiện tư tưởng đó: từ việc phát triển những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, đến việc tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng làm sao cho khách hàng thấy là sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu đó tốt hơn các sản phẩm khác, xây dựng kênh phân phối để đưa sản phẩm đến với khách hàng một cách thuận tiện và xác định mức giá sao cho khách hàng thấy là vừa phải với túi tiền của mình. Vì thế một quảng cáo có hiệu quả phải trả lời được câu hỏi: “Liệu sản phẩm của tôi có giúp cho khách hàng thỏa mãn nhu cầu của mình tốt hơn những nhãn hiệu cạnh tranh khác?”
Bằng cách trả lời câu hỏi từ phương diện của khách hàng, quảng cáo đã thực sự bắt đầu phát triển một chiến lược sáng tạo. Quảng cáo cần phải đưa ra cách thức sao cho sản phẩm gắn với những băn khoăn, lo lắng của khách hàng. Khách hàng cho sản phẩm của tôi nghĩ gì, lo lắng gì? Họ mong chờ lợi ích gì từ một loại hàng hóa và từ nhãn hiệu hàng hóa của tôi?
Xu thế marketing quan trọng nhất trong vòng 25 năm qua là làm cho khách hàng trở thành trung tâm của quá trình truyền thông. Quan điểm khách hàng là trung tâm sẽ tạo ra một môi trường mà ở đó hàng hóa được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng chứ không phải thúc đẩy khách hàng chấp nhận những hàng hóa sẵn có trên thị trường. Rõ ràng, quá trình này cũng dẫn tới những thay đổi cơ bản trong quảng cáo.
2.2. Vai trò của quảng cáo đối với doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Quảng cáo chỉ cần thiết khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định. Ở những xã hội mà cung vượt quá cầu, các doanh nghiệp phải sử dụng các kỹ thuật truyền thông marketing để có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả. Nếu không có quảng cáo, các doanh nghiệp sẽ không thể đưa sản phẩm của mình tới một số lượng khách hàng đủ lớn trong một thời gian nhanh chóng, do đó sẽ không thể bù đắp được những chi phí khổng lồ của việc sáng tạo, phát triển, sản xuất và phân phối sản phẩm. Nói cách khác, quảng cáo vừa là một công cụ, vừa là một yêu cầu đối với một nền kinh tế dư thừa.
Quảng cáo rất quan trọng trong việc tung một sản phẩm mới ra thị trường, tăng doanh số của những sản phẩm hiện hữu và duy trì doanh số của những sản phẩm đã bước vào giai đoạn chín muồi. Thị trường không tĩnh tại mà luôn luôn thay đổi. Do đó, doanh nghiệp vẫn còn cần đến quảng cáo. Những nhãn hiệu hàng hóa đã từng được một nhà marketing ví như một cái xô rò: “Những sản phẩm này thường xuyên mất khách hàng. Quảng cáo trên diện rộng giúp cho những cái xô này luôn đầy. Quảng cáo chữa những chỗ rò bằng cách nhắc nhở những người mua hiện tại về sản phẩm, và nó làm đầy chiếc xô bằng cách thu hút những khách hàng mới. Quảng cáo còn giúp xây dựng sự nhận thức về nhãn hiệu với những người thậm chí còn chưa ở trong cái xô đó” [28].
2.3. Vai trò của quảng cáo đối với xã hội
Những lợi ích mà quảng cáo đem lại không chỉ với người tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh mà còn góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Trước hết quảng cáo cũng là một ngành kinh tế góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều người và đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế. Doanh thu trong ngành quảng cáo là nguồn thu của nhiều tờ báo, tạp chí mà không được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Quảng cáo thúc đẩy quan hệ cung – cầu hàng hoá, dịch vụ trong từng lĩnh vực, từng ngành và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân có điều kiện gặp nhau. Bởi trên thực tế, thông tin không phải lúc nào cũng đến đúng lúc, đúng nơi cần đến nếu không có một kế hoạch truyền thông hiệu quả. Không những thế, quảng cáo cũng tham gia vào việc hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thương mại, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, người tiêu dùng. Những thông tin do quảng cáo mang lại ít nhiều cũng cung cấp những hiểu biết nhất định về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu trên thị trường. Điều đó giúp người tiêu dùng tự bảo vệ mình trước các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, ổn định.
III. VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
1. Tóm tắt sự hình thành và phát triển của pháp luật về quảng cáo của Việt Nam
1.1. Giai đoạn trước năm 1994
Từ năm 1986 trở về trước, nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Mọi quan hệ kinh tế trên thị trường đều được thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước. Người bán không phải lo tìm người mua vì vấn đề bán cái gì, cho ai, với số lượng bao nhiêu đã được Nhà nước lên kế hoạch và thực hiện. Ngược lại, trong thời kỳ hàng hóa khan hiếm do cung cầu không gặp nhau, người mua phải “chạy theo” người bán. Với một cơ chế như thế thì tất nhiên hoạt động quảng cáo là không cần thiết vì người bán không cần phải giới thiệu, tiếp thị cho sản phẩm của mình mà người mua tự tìm đến người bán. Trong giai đoạn này, quảng cáo không phát triển và do đó pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo của Việt Nam cũng không tồn tại vì một điều đơn giản là chưa có vấn đề nảy sinh gì khiến xã hội và chính quyền phải quan tâm.
Trong giai đoạn 1986 – 1993, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, quảng cáo có dấu hiệu phát triển, nhu cầu phải có sự can thiệp của Nhà nước cũng được đặt ra. Ngay từ năm 1990, nắm bắt được sự phát triển của quảng cáo, Bộ Văn hoá Thông tin – Thể thao và Du lịch đã ra Chỉ thị số 738/VP ngày 10/08/1990 quy định về công tác quảng cáo. Tiếp đó, năm 1991, Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Văn hoá Thông tin – Thể thao và Du lịch đã ra Thông tư liên bộ số 1191-TT/LB ngày 29/06/1991 quy định về quản lý nhãn và quảng cáo sản phẩm hàng hoá. Trên cơ sở đó, Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng có văn bản cụ thể để quản lý hoạt động quảng cáo trên địa bàn mình: Quyết định số 3248/QĐ-UB (19/12/1991) của UBND Thành phố Hà Nội quy định về quảng cáo bằng biển hiệu trên địa bàn Hà Nội là một ví dụ.
1.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2001
Từ sau năm 1994, cùng với chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhận thức về tầm quan trọng của quảng cáo đã được nâng cao. Với ý thức quản lý vĩ mô và cũng để tạo cho hoạt động quảng cáo có điều kiện phát triển, Chính phủ đã giao cho Bộ Văn hoá – Thông tin soạn thảo một văn bản nhằm quản lý thống nhất hoạt động này. Qua 18 lần soạn thảo, sửa đổi, có sự góp ý xây dựng của nhiều bộ, ngành có liên quan, ngày 31/12/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 194/CP về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm 7 chương, 27 điều. Tiếp đó, Bộ Văn hoá – Thông tin đã ban hành Thông tư số 37/VHTT-TT (01/07/1995) hướng dẫn thực hiện Nghị định số 194/CP. Nghị định số 194/CP và Thông tư số 37/VHTT-TT được xem là những văn bản pháp lý chủ yếu cho hoạt động quảng cáo và các cơ quan quản lý cũng như những người tham gia hoạt động quảng cáo. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Năm 1997, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật Thương mại, trong đó có dành Mục 13 quy định về quảng cáo thương mại gồm 13 điều. Đây là văn bản rất quan trọng điều chỉnh về hoạt động quảng cáo thương mại ở nước ta, lần đầu tiên hoạt động quảng cáo thương mại được quy định trong một văn bản có giá trị pháp lý cao là Luật Thương mại. Tiếp đến, ngày 05/05/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/1999/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại. Sau đó Bộ Văn hóa – Thông tin đã ban hành Thông tư số 85/VHTT -TT để hướng dẫn chi tiết, song do có sự mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn nên chỉ sau 15 ngày kể từ ngày Thông tư được ký ban hành, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị tạm ngừng thi hành Thông tư này.
Cũng trong giai đoạn này, rất nhiều quy định pháp luật của các ngành, các lĩnh vực có liên quan đến quảng cáo cũng được ban hành như:
- Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông (02/12/1994);
- Nghị định số 91/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị;
- Nghị định số 36/CP ngày 29/05/1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị;
- Công văn số 2676/BC ngày 14/09/1995 của Bộ Văn hoá Thông tin về hoạt động quảng cáo trên báo chí;
- Thông tư của Bộ Tài chính số 81/TC-HCSN ngày 23/12/1996 hướng dẫn quản lý, sử dụng nguồn thu quảng cáo để đầu tư phát triển ngành Truyền hình Việt Nam;
- Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999;
- Pháp lệnh về chất lượng hàng hóa năm 1999;
- Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 14/08/2000 của Chính phủ về chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá trong giai đoạn 2000-2010…
Có thể nói, những văn bản pháp luật này đã góp phần tạo ra hành lang pháp lý quan trọng, có tác động tích cực vào sự phát triển của ngành quảng cáo Việt Nam, phục vụ công cuộc đổi mới kinh tế đất nước và từng bước xây dựng đội ngũ những người làm quảng cáo Việt Nam. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống văn bản pháp luật về quảng cáo đã bộc lộ những nhược điểm đòi hỏi phải có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn nữa.
1.3. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Ngày 16/11/2001, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 10 đã thông qua Pháp lệnh Quảng cáo gồm 7 chương, 35 điều. Pháp lệnh Quảng cáo thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 về xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Pháp lệnh Quảng cáo ra đời đã điều chỉnh các loại hình quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam; xác định những vấn đề cơ bản về nội dung, hình thức, phương tiện, điều kiện quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo.
Ngày 13/03/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo. Tiếp đó, Bộ Văn hoá – Thông tin đã ban hành Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT ngày 16/07/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 24/2003/NĐ-CP. Đây được xem là văn bản có ý nghĩa quan trọng bởi nó góp phần đưa hoạt động quảng cáo đang có chiều hướng “thái quá” vào quỹ đạo cần thiết. Đó cũng được xem là bước khởi đầu của quá trình triển khai thực hiện cụ thể Pháp lệnh Quảng cáo và Nghị định số 24/2003/NĐ-CP.
Ngày 14/06/2005, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Thương mại gồm 9 chương, 324 điều thay thế cho Luật Thương mại 1997, trong đó có các quy định điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại. Để cụ thể hóa Luật Thương mại 2005, ngày 04/04/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có hoạt động quảng cáo thương mại.
Trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, ở mỗi địa phương tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình cũng đã ban hành văn bản để quản lý hoạt động quảng cáo trên địa bàn mình như:
- Quyết định số 10/2001/QĐ-UB ngày 09/03/2001 của UBND Thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định quảng cáo bằng biển, bảng và băng rôn trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Quyết định số 108/2002/QĐ-UB ngày 25/09/2002 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy định về hoạt động quảng cáo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về quảng cáo có thể nhận thấy hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta tương đối đầy đủ, qua đó đã thiết lập một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên hoạt động quảng cáo hiện vẫn chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống văn bản pháp luật tương đối tách biệt về nội dung và cơ chế pháp lý là Pháp lệnh Quảng cáo và Luật Thương mại, dẫn đến hệ quả là các doanh nghiệp vẫn lúng túng trong quá trình thực hiện.
2. Pháp luật về quảng cáo và một số vấn đề có liên quan Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
2.1. Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong một nền kinh tế có sự dư thừa thì người tiêu dùng là người quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì thế, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng là sự sống còn đối với doanh nghiệp. Không những thế, quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo còn thể hiện sự văn minh của xã hội, và đây là mối quan tâm ngày càng lớn của các nước tiến bộ trên thế giới. Điều này rất hiển nhiên bởi vì khi nền kinh tế càng phát triển, ngày càng có nhiều loại hàng hóa, nhiều nhãn hiệu sản phẩm thì các nhà sản xuất phải cạnh tranh với nhau để giành được thị phần nhiều nhất. Khi đó, người tiêu dùng có được nhiều nguồn thông tin, có nhiều sự lựa chọn hơn, có “quyền” nhiều hơn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, đôi khi vì mục tiêu lợi nhuận trước mắt mà ở đâu đó người tiêu dùng vẫn bị xâm phạm về quyền lợi. Để có thể tiêu thụ được hàng hoá, cung ứng ngày càng nhiều dịch vụ, các nhà kinh doanh sử dụng nhiều phương thức khác nhau, trong đó có quảng cáo. Nhưng trong cuộc chạy đua thông tin này, đôi khi người ta sẵn sàng sử dụng những thủ đoạn xâm phạm một cách trực tiếp hay gián tiếp đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Chính vì thế vẫn cần đến sự can thiệp của Nhà nước, của các tổ chức để quyền lợi của người tiêu dùng luôn luôn được tôn trọng.
Ngày 09/05/1985 Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 39/948 có tên gọi là Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người tiêu dùng – Guidelines for Consumer Protection, trong đó công bố 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng. Với công bố này, người tiêu dùng đã thực sự trở thành một đối tượng đặc biệt được quan tâm và bảo vệ không chỉ trong khuôn khổ một quốc gia [23].
Ở Việt Nam trong thời kỳ bao cấp thì quyền lợi của người tiêu dùng chưa được đảm bảo và chưa thực sự là đối tượng được quan tâm của các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, từ sau khi tiến hành cải cách đổi mới thì vị thế của người tiêu dùng trong xã hội đã thay đổi. Điều 28 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng”. Đây là lần đầu tiên, quyền lợi người tiêu dùng được quy định trong văn bản có tính hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Cụ thể hóa Điều 28 Hiến pháp 1992, trong các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo cũng có những quy định về vấn đề này. Ví dụ, tại Điều 3 Pháp lệnh Quảng cáo quy định: “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo và người tiêu dùng”. Có thể nhận thấy pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng đã đề cập vấn đề này trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Báo chí 1990, Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá 1999, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, Pháp lệnh Quảng cáo 2001, Luật Thương mại 2005, tuy nhiên những quy định này chưa đầy đủ và do đó chưa thể đảm bảo mọi quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.
2.2. Pháp luật quảng cáo với vấn đề cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh vừa là động lực, vừa là hệ quả tất yếu của sự phát triển. Cho đến nay, có nhiều học thuyết về cạnh tranh cũng như những định nghĩa, khái niệm khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ phải ngăn ngừa và nghiêm cấm những hành vi được coi là cạnh tranh không lành mạnh, gây rối và tác hại đến thị trường, ngăn cản hoặc hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên như thế nào được coi là không lành mạnh. Việc xác định nội hàm của khái niệm “không lành mạnh” tùy thuộc vào hệ thống kinh tế, quan niệm, truyền thống, đạo đức xã hội của mỗi quốc gia. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Điều 10bis của Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp đã định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh trái với hành xử trung thực trong các hoạt động thương mại hay công nghiệp [24]. Theo đó, Công ước liệt kê một số ví dụ điển hình về cạnh tranh không lành mạnh, và với tinh thần đó thì quảng cáo không trung thực cũng là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh của nhiều nước cũng quy định hành vi quảng cáo không trung thực là một biểu hiện của cạnh tranh không lành mạnh, bất hợp pháp. Theo đó, quảng cáo không trung thực được hiểu là hành vi quảng cáo trái với pháp luật hoặc trái với thuần phong mỹ tục đồng thời đe dọa quyền lợi của các doanh nghiệp khác hoặc của khách hàng. Quảng cáo không trung thực thường có những biểu hiện như: quảng cáo hàng hoá không đúng quy cách, phẩm chất, có tính chất nhử mồi, giật gân hoặc bắt chước sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng; có hành vi nói xấu, lăng mạ đối thủ cạnh tranh, làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh; quảng cáo gây sức ép tâm lý, lợi dụng ấn tượng sợ hãi một cách không chính đáng; quảng cáo so sánh; quảng cáo về nhân thân…
Quan điểm của Việt Nam về cạnh tranh không lành mạnh được thể hiện trong Luật Cạnh tranh 2004 nhìn chung cũng đi theo những nội dung này, trong đó quy định một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” (Điều 39 Luật Cạnh tranh). Cụ thể tại Điều 43, Luật Cạnh tranh cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau:
- So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;
- Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;
- Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong những nội dung quan trọng của sản phẩm (giá, số lượng, chất lượng…).
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam chủ yếu mang tính chất quản lý mà chưa thể hiện rõ hậu quả pháp lý của các hành vi quảng cáo không trung thực. Hơn nữa, so với pháp luật các nước và thực tiễn áp dụng thấy rằng, các quy định này còn rất chung chung, không đi vào cuộc sống, do đó chỉ có tính hình thức mà thôi.
2.3. Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ văn hóa, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội
Quảng cáo muốn đạt được hiệu quả mong muốn thì phải được chấp nhận trong môi trường của nó. Môi trường của quảng cáo ngoài các yếu tố kinh tế, pháp luật, chính trị còn bao gồm cả yếu tố văn hóa, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội. Đây là những khái niệm hết sức trừu tượng và được nhìn nhận, đánh giá rất khác nhau tùy theo truyền thống, trình độ văn minh của mỗi dân tộc. Trong Từ điển Tiếng Việt 1995 có định nghĩa “văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”; “thuần phong mỹ tục là những phong tục tốt đẹp, lành mạnh”; còn “đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
Một sản phẩm quảng cáo có thể phù hợp với xã hội này nhưng lại không được chấp nhận ở xã hội khác vì nó đi ngược lại với những truyền thống, nền tảng đạo đức của xã hội ấy. Tuy nhiên hầu hết đều có sự thống nhất chung là quảng cáo cần phải phác họa một xã hội công bằng, phác họa sự bình đẳng giữa các nhóm người đa dạng khác nhau trong một cộng đồng. Để các giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực văn hoá, xã hội không bị xâm phạm, đồng thời, giữ gìn trật tự công cộng, an ninh xã hội, thông thường các quốc gia đều bảo vệ những giá trị, chuẩn mực này thông qua một trong những phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất đó là các quy định pháp luật. Bằng pháp luật, Nhà nước định ra những hành vi được phép hay không được phép khi tham gia các hoạt động quảng cáo.
Ngoài Từ điển Tiếng Việt, trong các văn bản pháp lý của Việt Nam chưa bao giờ những khái niệm về văn hóa, thuần phong mỹ tục hay đạo đức được luật hoá. Song, Pháp lệnh Quảng cáo Việt Nam và một số văn bản pháp luật về hoạt động quảng cáo đều quy định cấm quảng cáo vi phạm, trái với văn hoá, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội Việt Nam. Như vậy, việc không cho phép quảng cáo làm ảnh hưởng đến các giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được pháp luật thừa nhận và bảo đảm.
2.4. Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Ngày nay vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không còn là xa lạ. Nhằm khuyến khích cho các hoạt động sáng tạo và tìm tòi, nghiên cứu khoa học, hầu hết các Nhà nước đều bảo hộ cho quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên mức độ bảo hộ như thế nào thì khác nhau ở mỗi nước. Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật với mong muốn bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của những người đã có công trong hoạt động sáng tạo. Điều 60 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”.
Trong hoạt động quảng cáo, sản phẩm quảng cáo cũng là kết quả của sự sáng tạo, là sự kết hợp giữa nghệ thuật với công nghệ, kỹ thuật… Cũng vì vậy, nó dễ bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với người sáng tạo mà tạo nên những tác động tiêu cực đối với xã hội. Do đó, các sản phẩm liên quan đến sự sáng tạo trong hoạt động quảng cáo phải được pháp luật bảo vệ. Mỹ, việc giữ bản quyền trong hoạt động quảng cáo là một thủ tục đảm bảo cho chủ sở hữu bản quyền được độc quyền in, phát hành hoặc tái bản một tác phẩm gốc về văn học, âm nhạc hoặc nghệ thuật sử dụng để tạo ra một sản phẩm quảng cáo trong một thời hạn nhất định. Việc giữ bản quyền không bảo vệ một khái niệm, một ý tưởng hay chủ đề mà chỉ bảo vệ sự thể hiện của nó [15; 373].
Tại Việt Nam, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động quảng cáo cũng được quy định trong Luật Thương mại dưới dạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Theo Pháp lệnh Quảng cáo tại điểm c khoản 1 Điều 23 và điểm c khoản 1 Điều 24, quyền được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo thuộc về người quảng cáo và người kinh doanh dịch vụ quảng cáo. Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>> Khóa luận: Thực trạng về pháp luật quảng cáo của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietthuethacsi.com/ – Hoặc Gmail: dicvuluanvanthacsi@gmail.com
[…] ===>> Khóa luận: Pháp luật về quảng cáo của Việt Nam […]